Tải bản đầy đủ (.docx) (25 trang)

TL Chính trị. dấu ấn Đảng bộ Hà Nội qua các kỳ Đại hội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (202.49 KB, 25 trang )

BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ QUẢN LÝ TT&TT

LỚP “TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH”
K13-TCCT.A01
MÃ SỐ: 051

CHUYÊN ĐỀ BÁO CÁO I

Họ và tên: LÊ ANH PHÚC
Chức vụ: Nhân viên
Đơn vị công tác: TRUNG TÂM SX VÀ PT NỘI DUNG SÔ

Hà Nội, Tháng 9 năm 2021


BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ QUẢN LÝ TT&TT

LỚP “TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH”
K13-TCCT.A01
MÃ SỐ: 051

CHUYÊN ĐỀ BÁO CÁO I

Họ và tên:
Chức vụ:
Đơn vị công tác:

Hà Nội, Tháng 9 năm 2021


1


MỤC LỤC
MỤC LỤC......................................................................................................................2
I. SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG BỘ HÀ NỘI VÀ THÀNH TỰU CỦA ĐẢNG BỘ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI..................................................................................................3
1. Sự ra đời của Đảng bộ thành phố Hà Nội...............................................................3
2. Một số thành tựu của Đảng bộ Hà Nội...................................................................4
II. DẤU ẤN ĐẢNG BỘ HÀ NỘI QUA CÁC KỲ ĐẠI HỘI........................................7
1. Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ I...........................................7
2. Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ II..........................................8
3. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ III.....................................................9
4. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ IV.....................................................9
5. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ V......................................................9
6. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ VI.....................................................9
7. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ VII..................................................10
8. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ VII..................................................10
9. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ IX...................................................10
10. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ X..................................................11
11. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ XI.................................................11
12. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ XII...............................................12
13. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ XIII..............................................12
14. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ XIV..............................................12
15. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ XV...............................................13
16. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ XV...............................................13
2


17. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ XVII.............................................14

III. VỀ MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ TỔNG QUÁT ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG
ĐẾN NĂM 2030 VÀ TẦM NHÌN PHÁT TRIỂN THỦ ĐÔ ĐẾN NĂM 2045..........20
1. Mục tiêu tổng quát...............................................................................................20
2. Các chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2025......................................................................20
3. Những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trong giai đoạn 2020-2025..........................22

3


Đề bài: Thành lập ngày 17/3/1930, đến nay sau 90 năm lãnh đạo toàn diện, Đảng bộ
TP Hà Nội đã tổ chức 17 kỳ Đại hội:
Anh/chị hãy phân tích các dấu ấn Đảng bộ Hà Nội qua các kỳ Đại hội để thấy được
các kỳ đại hội Đảng bộ TP Hà Nội là những mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước
trưởng thành to lớn về công tác xây dựng Đảng, phong trào cách mạng của Đảng bộ
TP trong mỗi giai đoạn lịch sử.
BÀI LÀM
I. SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG BỘ HÀ NỘI VÀ THÀNH TỰU CỦA
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1. Sự ra đời của Đảng bộ thành phố Hà Nội
Tháng 3-1929, các đồng chí lãnh đạo trong Kỳ bộ Bắc Kỳ và Tỉnh bộ Hà Nội của Hội
Việt Nam cách mạng thanh niên đã họp tại nhà 5D phố Hàm Long, thành lập Chi bộ
Cộng sản. Ngày 17-9-1929, tại số nhà 312 phố Khâm Thiên, Hà Nội, Đông Dương
Cộng sản Đảng ra đời. Như vậy, Chi bộ Cộng sản 5D Hàm Long và Đông Dương
Cộng sản Đảng là những tổ chức cộng sản đầu tiên ở trong nước được thành lập tại
Hà Nội, tiếp đó là An Nam Cộng sản Đảng (tháng 9-1929 ở Nam Kỳ) và Đông Dương
Cộng sản Liên đoàn (ngày 1-1-1930) ở Trung Kỳ.
Mùa xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Sau sự kiện lịch sử vĩ đại đó,
ngày 17-3-1930, tại nhà số 42, phố Hàng Thiếc, Ban Chấp hành lâm thời của Đảng bộ
thành phố Hà Nội được thành lập. Đảng bộ thành phố Hà Nội có vinh dự rất lớn là
Đảng bộ được thành lập sớm nhất cả nước.

Những bức ảnh tư liệu về quá trình hình thành và phát triển của Thủ đô phần nào sẽ
tái hiện những thành tựu lớn lao của Hà Nội đã đạt được trong 90 năm qua. Từ đó
giúp chúng ta thêm nâng niu trân trọng những thành quả cách mạng của các thế hệ
cha anh, tăng thêm ý chí quyết tâm, bồi đắp trang sử vàng của Thủ đô anh hùng.

4


Số nhà 177 phố Hàng Bông, nơi thành lập Ban Chấp hành chính thức của Đảng Bộ
thành phố Hà Nội gồm 3 đồng chí Nguyễn Ngọc Vũ (Bí thư), Lê Đình Tuyển và Đỗ
Danh Cưu, Ủy viên, tháng 6 năm 1930.
Sau khi ra đời Đảng bộ thành phố Hà Nội bị địch vây ráp, khủng bố gắt gao, nhiều
đồng chí bị địch bắt giam, tra tấn và anh dũng hy sinh. Dưới sự chỉ đạo của Trung
ương Đảng và Xứ ủy Bắc kỳ, Thành ủy nhiều lần được thành lập lại, giữ vững phong
trào cách mạng Thủ đô. Trải qua 15 năm đấu tranh gian khổ (1930-1945), Đảng bộ
Thành phố Hà Nội đã tập hợp, lôi cuốn nhân dân tiến hành Tổng khởi nghĩa giành
chính quyền. Thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng 8 năm 1945 đã biến Hà Nội thành
trung tâm cách mạng của cả nước.
2. Một số thành tựu của Đảng bộ Hà Nội

5


Đảng bộ thành phố Hà Nội đã lãnh đạo thành cơng cuộc đấu tranh giành chính
quyền về tay nhân dân với cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945
Nắm bắt thời cơ, với sự nhạy bén, năng động, sáng tạo, chỉ với gần 50 đảng viên (1) của
Đảng bộ, song sức mạnh của cách mạng đã nhân lên gấp bội khi Đảng bộ tập hợp
được đông đảo các tầng lớp nhân dân nhất tề đứng dậy, giành chính quyền về tay nhân
dân. Cách mạng Tháng Tám thành công ở Hà Nội là kinh nghiệm thực tiễn đầy quý
giá để Đảng ta kịp thời chỉ đạo cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thắng lợi trong cả

nước, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hịa.
Ngày 19-8-1945, cả Thủ đơ ngập tràn cờ đỏ sao vàng. Hàng chục vạn người dân ở Hà
Nội và các tỉnh lân cận theo các ngả đường kéo về quảng trường Nhà hát lớn Hà Nội
dự cuộc mít tinh lớn chưa từng có của quần chúng cách mạng, hưởng ứng cuộc Tổng
khởi nghĩa giành chính quyền_Ảnh Tư liệu TTXVN
Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo cuộc đấu tranh bảo vệ thành quả cách mạng và
tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
Trong thế hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc”, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng
và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ thành phố Hà Nội đã lãnh đạo nhân dân thực hiện
cuộc đấu tranh chống thù trong, giặc ngồi, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ
của Trung ương và Hà Nội. Hà Nội đã mở đầu tồn quốc kháng chiến với ý
chí “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, sáng tạo nhiều hình thức chiến đấu, làm tiêu
hao lực lượng địch và kìm chân địch ở Thủ đô, chặn đứng âm mưu “đánh nhanh thắng
nhanh” của địch. Đây là đóng góp có ý nghĩa to lớn giúp Trung ương cùng cả nước
chuẩn bị và chủ động tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ. Trong những năm kháng
chiến, Đảng bộ thành phố Hà Nội vừa gây dựng, củng cố tổ chức ở cả vùng tự do và
vùng địch tạm chiếm, vừa lãnh đạo quân và dân Hà Nội tham gia cuộc chiến đấu
chung trên chiến trường cả nước, vừa trực tiếp chiến đấu trên địa bàn Hà Nội. Sau
chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu” vào ngày 7-51954, đến ngày 10-10-1954, Hà Nội sạch bóng qn xâm lược, Thủ đơ được giải
phóng, trở lại vị trí trung tâm, đầu não chính trị của cả nước.
6


Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong sự nghiệp xây
dựng, bảo vệ Thủ đô trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu
tranh thống nhất đất nước
Từ năm 1954 - 1975 là quãng thời gian có nhiều khó khăn, thách thức, song cũng rất
tự hào của Đảng bộ thành phố Hà Nội. Trên thực tế, từ năm 1954 - 1964, về cơ bản
Hà Nội có hịa bình, nhưng đặt trong tình hình nửa đất nước đang phải sống dưới ách
thống trị tàn bạo của đế quốc Mỹ và tay sai. Hà Nội, một mặt, tập trung sức khôi phục

và phát triển kinh tế; mặt khác, nhanh chóng hàn gắn các vết thương chiến tranh; đồng
thời, cùng miền Bắc tích cực chi viện sức người, sức của cho cách mạng miền Nam.
Từ năm 1965 - 1975, đế quốc Mỹ tăng cường và mở rộng chiến tranh xâm lược ra cả
nước bằng khơng qn và hải qn, trong đó Hà Nội phải đối đầu và đã đánh thắng
cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, lập
nên kỳ tích “Điện Biên phủ trên không”, được thế giới ngợi ca là “Thủ đô của lương
tri và phẩm giá con người”. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Bác Hồ, sau đó
là thực hiện Di chúc của Bác, Đảng bộ và nhân dân Hà Nội đã lập nên nhiều chiến
công và thành tựu mới, to lớn; đồng thời, ra sức chi viện cho cách mạng miền Nam.
Chỉ tính riêng sức người, thành phố Hà Nội đã có hơn 11.000 người con ưu tú hy sinh
anh dũng cho sự nghiệp bảo vệ miền Bắc, giải phóng hồn tồn miền Nam, góp phần
thu non sơng về một mối, thống nhất đất nước.
Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo nhân dân Thủ đô cùng cả nước thực hiện công
cuộc đổi mới
Giai đoạn từ năm 1975 - 1985, cả nước cùng Hà Nội lâm vào cuộc khủng hoảng kinh
tế - xã hội ngày càng trầm trọng. Cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao độ gắn với chế độ
bao cấp vốn thích ứng với thời kỳ chiến tranh, thì nay khơng cịn phù hợp nữa. Trong
bối cảnh đó, Thành ủy Hà Nội đã mạnh dạn đổi mới tư duy, phong cách làm việc, vừa
lãnh đạo giải quyết những nhiệm vụ cấp bách trước mắt, vừa chỉ đạo sửa đổi, tìm tịi
cơ chế, chính sách mới để khắc phục tình trạng trì trệ, tạo tiền đề để Hà Nội bứt phá
trong phát triển kinh tế - xã hội. Bắt đầu từ Đại hội X của Đảng bộ thành phố Hà Nội
7


tháng 8-1986, Đảng bộ thành phố Hà Nội đã cùng toàn Đảng xây dựng, phát triển,
hoàn thiện cơ chế kinh tế mới; từng bước đưa Hà Nội thoát khỏi khủng hoảng kinh tế
- xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội
chủ nghĩa.
Từ ngày 1-8-2008, thành phố Hà Nội mở rộng địa giới hành chính để đáp ứng nhu cầu
xây dựng Thủ đơ trong thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập

quốc tế, đưa thành phố Hà Nội phát triển xứng tầm là Thủ đô của Việt Nam - một đất
nước có 100 triệu dân trong tương lai gần và 120 triệu dân trong tương lai không xa.
Thủ đô Hà Nội đang tiếp tục phấn đấu vươn lên vị thế mới “đàng hoàng hơn, to đẹp
hơn”, như tâm nguyện của Bác Hồ. Tăng trưởng GRDP của thành phố Hà Nội ln
duy trì ở mức cao, bình qn đạt hơn 7%/năm; thu ngân sách được bảo đảm, tăng liên
tục qua các năm; xuất khẩu tăng, môi trường đầu tư, kinh doanh tích cực được cải
thiện (chỉ số PCI năm 2018 xếp thứ 9/63 tỉnh, thành cả nước), hoàn thành sớm 2 năm
mục tiêu nhiệm kỳ; thu hút đầu tư nước ngồi ln dẫn đầu cả nước (năm 2019 đạt
8,05 tỷ USD, mức cao nhất trong hơn 30 năm đổi mới và hội nhập); an sinh xã hội
được bảo đảm, tỷ lệ số huyện, số xã đạt chuẩn nông thôn mới tăng cao hằng năm...
Với những thành tựu to lớn đã đạt được, thành phố Hà Nội vinh dự được Trung ương
Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý, như Huân chương Sao vàng
lần thứ nhất năm 1984; lần thứ hai năm 2004; lần thứ ba năm 2010; Danh hiệu “Thủ
đô anh hùng” năm 2000; Huân chương Hồ Chí Minh năm 2014; được UNESCO tặng
danh hiệu “Thành phố vì hịa bình” năm 1999; và đón nhận Hn chương Độc lập
hạng Nhất, Cờ thi đua Chính phủ...
II. DẤU ẤN ĐẢNG BỘ HÀ NỘI QUA CÁC KỲ ĐẠI HỘI
1. Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ I
Từ ngày 21 - 30/4/1959, Đảng bộ TP Hà Nội đã tổ chức Hội nghị cán bộ toàn Đảng
bộ tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Theo chỉ thị của T.Ư, hội nghị này có ý nghĩa như một
Đại hội của Đảng bộ (Đại hội lần thứ I). Đại hội đã vinh dự được đón Chủ tịch Hồ
8


Chí Minh đến dự và phát biểu. Bác đã căn cặn: "Đảng bộ Hà Nội phải làm gương mẫu
cho các Đảng bộ khác. Đảng bộ Hà Nội gương mẫu sẽ góp phần đưa miền Bắc tiến
lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở vững mạnh đấu tranh giành thống nhất nước nhà".
Đồng chí Trần Danh Tuyên làm Bí thư Thành ủy Hà Nội.
Đại hội đã đề ra nhiều mục tiêu trong 2 năm (1959 - 1960) thực hiện công cuộc cải
tạo chủ nghĩa xã hội. Đây được coi là nhiệm vụ trung tâm của Đảng bộ TP mà khâu

chính là cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh với hình thức cao. Tăng
cường lực lượng kinh tế quốc doanh, phát động quần chúng cải tiến chế độ quản lý xí
nghiệp; tích cực xây dựng cơ bản; phát triển giao thông vận tải; ra sức sản xuất công
nghiệp, thủ công nghiệp và nông nghiệp. Trên cơ sở cải tạo và phát triển kinh tế thắng
lợi, đẩy mạnh công cuộc phát triển văn hóa, giáo dục, cải thiện dân sinh và dần dần
kiến thiết TP về mọi mặt.
2. Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ II
Đại hội đại biểu Đảng bộ TP lần thứ II được tổ chức từ 25/1 - 2/2/1961 xác định
nhiệm vụ của Thủ đô trong 2 năm (1961 - 1962) ra sức phát triển sản xuất công
nghiệp và nông nghiệp, đẩy mạnh công cuộc phát triển kinh tế, lấy sản xuất cơng
nghiệp làm trọng tâm, tiếp tục hồn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa (XHCN). Đồng
thời ra sức phát triển văn hóa giáo dục, đề cao trình độ quản lý và kỹ thuật, chăm lo
cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân. Tiến thêm một bước trên mọi con
đường xây dựng Hà Nội thành Thủ đô xã hội chủ nghĩa, thành một TP cơng nghiệp
góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà.
Lần thứ hai Đảng bộ TP Hà Nội được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và phát biểu
chỉ đạo Đại hội. Người tiếp tục căn dặn: "Đảng bộ Thủ đô và đồng bào, trước hết là
công nhân Thủ đô phải gương mẫu, làm đầu tàu để đưa tồn miền Bắc giành lấy thắng
lợi".
Đồng chí Hồng Văn Hoan làm Bí thư Thành ủy (sau Đại hội, ơng Hồng Văn Hoan
đã vi phạm kỷ luật Đảng, tháng 2/1961, đồng chí Nguyễn Lam được Bộ Chính trị
phân cơng về làm Bí thư Thành ủy).
9


3. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ III
Tháng 7/1963, Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ III đã xác định các giải
pháp phấn đấu thực hiện một bước chuyển mới trong phát triển kinh tế, hoàn thiện
quan hệ sản xuất mới. Đồng chí Nguyễn Lam tiếp tục làm Bí thư Thành ủy. Đến tháng
8/1965, đồng chí Nguyễn Văn Trân được T.Ư cử về làm Bí thư Thành ủy thay đồng

chí Nguyễn Lam được điều lên T.Ư.
Đại hội đề ra mục tiêu chính trong 3 năm 1963 - 1965 là tiếp tục hoàn thành cải tạo
XHCN, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, từng bước cải thiện đời sống vật
chất và tinh thần của Nhân dân, xây dựng Hà Nội thành Thủ đơ XHCN, góp phần tăng
cường miền Bắc về mọi mặt làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.
4. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ IV
Tại Đại hội lần thứ IV (tháng 4/1968), đồng chí Nguyễn Văn Trân tiếp tục được bầu
làm Bí thư Thành ủy. Đại hội đặt mục tiêu vừa cùng cả nước chiến thắng giặc ngoại
xâm, vừa tiếp tục xây dựng XHCN, đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật,
phát triển sản xuất. Thực hiện mạnh mẽ ba cuộc cách mạng, đặc biệt là cách mạng
khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa trong cả nước; xây dựng con
người mới XHCN với phong cách người Thủ đô…
5. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ V
Đại hội lần thứ V được tổ chức tháng 4/1971, đồng chí Nguyễn Văn Trân tiếp tục
được bầu làm Bí thư Thành ủy. Đảng bộ TP đã tập trung lãnh đạo Nhân dân Thủ đô
đẩy mạnh phát triển sản xuất, chống chiến tranh phá hoại của địch, chi viện cho tiền
tuyến và làm tốt công tác hậu phương quân đội. Đặc biệt, quân và dân Thủ đô đã đập
tan chiến dịch tập kích chiến lược đường khơng của địch cuối tháng 12/1972, góp
phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ đến thắng lợi.
6. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ VI
Đại hội lần thứ VI (tháng 4/1974) diễn ra trong năm kỷ niệm lần thứ 20 Ngày Giải
phóng Thủ đô, bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng chí Nguyễn Lam
10


làm Bí thư Thành ủy. Tại thời điểm này, Đại hội đã đề ra nhiệm vụ quan trọng là tích
cực khắc phục hậu quả chiến tranh, ra sức khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa,
đẩy mạnh việc xây dựng và cải tạo XHCN ở Thủ đô. Thực hiện nghĩa vụ đối với miền
Nam ruột thịt để góp phần hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam, làm
tốt công tác tuyển quân, công tác hậu phương. Ln đề cao cảnh giác, sẵn sàng đối

phó với mọi tình hình diễn biến, bảo vệ thành quả cách mạng.
7. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ VII
Đại hội lần thứ VII được tổ chức hai vòng (vòng 1 vào ngày 12 - 22/11/1976 và vòng
2 vào ngày 25/5 - 2/6/1977), đồng chí Lê Văn Lương làm Bí thư Thành ủy. Đại hội đề
ra phương hướng nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm 1976 - 1980 và mục tiêu chủ yếu của
2 năm 1977 - 1978 là từng bước xây dựng một cơ cấu kinh tế với tiềm năng và vị trí
của Thủ đơ, phát huy mạnh mẽ 3 phong trào lớn: Sản xuất và tiết kiệm; Xây dựng Thủ
đô; Xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa mới…
Trong giai đoạn 1947 - 1963, Đảng bộ tỉnh Hà Đông, tỉnh Sơn Tây đã tiến hành 4 kỳ
Đại hội, trước khi hợp nhất thành Đảng bộ tỉnh Hà Tây. Từ năm 1969 - 1974, Đảng bộ
tỉnh Hà Tây đã tiến hành Đại hội lần thứ V, VI, xác định các mục tiêu đã tập trung
khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế...
8. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ VII
Tháng 2/1980, Đảng bộ TP Hà Nội tổ chức Đại hội lần thứ VIII. Đại hội xác định
nhiệm vụ chủ yếu của Đảng bộ trong 2 năm 1980 - 1981 là tiếp tục tiến hành đồng
thời 3 cuộc cách mạng, thực hiện nhiệm vụ chính trị cơ bản là vừa xây dựng Thủ đô
XHCN vừa sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Thủ đô.
9. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ IX
Tháng 1/1982 và tháng 6/1983, Đại hội lần thứ IX đã diễn ra hai vịng, đồng chí Lê
Văn Lương tiếp tục làm Bí thư Thành ủy. Trong giai đoạn này, Hà Nội thực hiện 4
mục tiêu kinh tế - xã hội để từng bước xây dựng và bảo vệ Thủ đơ về mọi mặt. Trong
đó, u cầu trọng tâm là đáp ứng các nhu cầu cấp bách và thiết yếu của đời sống Nhân
11


dân; chú trọng sửa chữa, cải tạo, xây dựng kết cấu hạ tầng, tích cực phát triển sức sản
xuất; lập lại trật tự kinh tế - xã hội, nhất là trên mặt trận phân phối lưu thơng; phát
động tồn Đảng bộ đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại trên nhiều mặt của địch,
đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
10. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ X

Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ X (tháng 10/1986) là Đại hội mở đầu cho
công cuộc đổi mới ở Hà Nội. Đồng chí Nguyễn Thanh Bình làm Bí thư Thành ủy, đến
tháng 10/1988 được điều lên T.Ư. Đồng chí Phạm Thế Duyệt được T.Ư điều về làm
Bí thư Thành ủy Hà Nội. Đại hội đã đề ra nhiều mục tiêu, giải pháp vừa xây dựng cơ
chế chính sách đổi mới, vừa lựa chọn bước đi phù hợp để tổ chức triển khai. Trong
đó, ổn định tình hình kinh tế - xã hội của Thủ đô, bao gồm ổn định cung ứng vật tư,
năng lượng điều kiện kỹ thuật để phát triển sản xuất đều đặn và có hiệu quả. Đồng
thời ổn định đời sống Nhân dân, bảo đảm cung ứng hàng hóa cho tiêu dùng cả về số
lượng, chất lượng, thời gian; lập lại kỷ cương, trật tự XHCN trong quản lý đơ thị và
trên thị trường TP… Nhờ đó, Đảng bộ TP đã vượt qua nhiều khó khăn, lãnh đạo TP
giành kết quả khá toàn diện, kinh tế tăng trưởng rõ rệt; đời sống vật chất và tinh thần
của Nhân dân được cải thiện; chính trị - xã hội ổn định.
11. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ XI
Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ XI (tháng 4/1991 và tháng 11/1991),
đồng chí Phạm Thế Duyệt tiếp tục làm Bí thư Thành ủy. Trong 5 năm (1991 - 1995),
Đại hội xác định phải thực hiện tốt nhiệm vụ chủ yếu là ổn định và phát triển kinh tế,
giải quyết việc làm, từng bước ổn định, cải thiện đời sống vật chất cũng như tinh thần
của Nhân dân. Phấn đấu tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân hàng năm trong 5
năm tăng 6 - 7%; tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người hang năm tăng từ 4,2 5,1%; bình quân hàng năm giải quyết việc làm cho ít nhất 4 vạn lao động. Tiếp tục
phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở

12


đơn vị cơ sở và cấp TP. Trong giai đoạn này, Hà Nội tiếp tục tạo ra những bước
chuyển rõ về cơ cấu ngành kinh tế, phát triển mạnh mẽ về đô thị.
12. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ XII
Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ XII (tháng 5/1996), đồng chí Lê Xuân
Tùng làm Bí thư Thành ủy. Đến tháng 1/2000, đồng chí được điều lên T.Ư cơng tác,
đồng chí Nguyễn Phú Trọng được T.Ư điều về giữ chức Bí thư Thành ủy. Đại hội đã

xác định mục tiêu đẩy nhanh hơn nữa nhịp độ tăng trưởng kinh tế sau 10 năm đổi
mới; tăng cường vai trò quản lý của các cấp chính quyền đối với nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần; quản lý tốt đô thị. Năm 1999, Hà Nội đã được UNESCO trao tặng
danh hiệu “Thành phố vì hịa bình”.
13. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ XIII
Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ XIII (tháng 12/2000) được tiến hành vào
thời điểm TP vừa tổ chức kỷ niệm trọng thể 990 năm Thăng Long - Hà Nội vừa đón
nhận danh hiệu “Thủ đơ anh hùng”… Đồng chí Nguyễn Phú Trọng làm Bí thư Thành
ủy. Hà Nội xác định phát triển theo những định hướng cơ bản như tiếp tục xây dựng
và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN; nâng cao chất lượng, hiệu quả và
sức cạnh tranh của kinh tế Thủ đơ. Tăng cường vai trị chủ đạo của kinh tế Nhà nước;
củng cố nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; tạo điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh
và liên kết chặt chẽ giữa các thành phần kinh tế trên địa bàn, giữa kinh tế Hà Nội với
cả nước; đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại. Trong giai đoạn này, Hà Nội tiếp tục
có sự bứt phá mạnh mẽ, hoàn thành nhiều tuyến đường, khu đô thị mới hiện đại…
14. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ XIV
Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ XIV (tháng 12/2005) là Đại hội phát huy
truyền thống văn hiến, anh hùng và thành tựu đổi mới, xây dựng Thủ đô phát triển
toàn diện, bền vững, thiết thực kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Đồng chí
Nguyễn Phú Trọng làm Bí thư Thành ủy, đến tháng 6/2006, được Kỳ họp thứ 9, Quốc
hội khóa XI bầu giữ chức Chủ tịch Quốc hội; đồng chí Phạm Quang Nghị được phân
13


cơng về làm Bí thư Thành ủy. Đại hội xác định, trong giai đoạn 2006 - 2010, TP phải
chủ động, sáng tạo phát huy tiềm năng, nguồn lực, đẩy mạnh q trình cơng nghiệp
hóa, hiện đại hóa, đơ thị hóa hội nhập kinh tế quốc tế; phát triển kinh tế - văn hóa - xã
hội; đẩy nhanh tiến độ xây dựng nền tảng vật chất - kỹ thuật và văn hóa của thủ đơ
XHCN giàu đẹp, văn minh, hiện đại; nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân.
Trong 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới (1986 - 2006), Đảng bộ tỉnh Hà Tây đã

trải qua các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X (10/1986), XI (3/1992), XII (4/1996),
XIII (12/2000) và lần thứ XIV (12/2005). Những kết quả đạt được về phát triển kinh
tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng và an ninh là động lực quan trọng, điểm tựa vững
chắc để cùng với Đảng bộ Hà Nội thúc đẩy cơng cuộc đổi mới tồn diện sau khi TP
Hà Nội được mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8/2008.
15. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ XV
Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ XV (tháng 10/2010), là Đại hội nhiệm kỳ
đầu tiên sau điều chỉnh mở rộng địa giới hành chính Thủ đơ thực hiện theo Nghị quyết
15 của Quốc hội khóa XII, được tổ chức trong bối cảnh TP vừa tổ chức thành công
Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Đồng chí Phạm Quang Nghị tiếp tục
làm Bí thư Thành ủy. Trong giai đoạn này, TP đã tập trung nâng cao sức cạnh tranh
của kinh tế, phát triển đô thị văn minh, hiện đại, thúc đẩy xây dựng nơng thơn mới,
tích cực chăm lo phát triển văn hóa, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh; ưu
tiên phát triển khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển Thủ đô trong thời kỳ mới.
16. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ XV
Tháng 11/2015, Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ XVI, đã đề ra các giải
pháp cho giai đoạn 2015 - 2020, trong đó có 3 khâu đột phá, 16 chỉ tiêu cụ thể. Đại
hội xác định mục tiêu tổng quát xây dựng Đảng bộ thực sự trong sạch, vững mạnh,
nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức Đảng và đảng viên; phát
huy truyền thống văn hiến, anh hùng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; huy động mọi
14


nguồn lực, đẩy mạnh tồn diện, đồng bộ cơng cuộc đổi mới, sự nghiệp cơng nghiệp
hóa, hiện đại hóa; xây dựng Thủ đô ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại… 5 năm
qua, Đảng bộ TP đã nỗ lực phấn đấu, vận dụng sáng tạo, tập trung chỉ đạo thực hiện
đồng bộ, có hiệu quả các nghị quyết của T.Ư và của Thành ủy, lãnh đạo thực hiện tốt
8 chương trình cơng tác trọng tâm, tạo ra bước chuyển biến mới, toàn diện trên mọi
lĩnh vực hoạt động của Đảng bộ.

Đồng chí Phạm Quang Nghị được Bộ Chính trị giao phụ trách Đảng bộ Hà Nội. Đến
tháng 2/2016, đồng chí Hồng Trung Hải được Bộ Chính trị điều động, phân cơng làm
Bí thư Thành ủy Hà Nội. Tháng 2/2020, đồng chí Vương Đình Huệ được Bộ Chính trị
điều động, phân cơng làm Bí thư Thành ủy Hà Nội nhiệm kỳ 2015 - 2020 thay đồng
chí Hồng Trung Hải chuyển cơng tác khác.
17. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ XVII
Đại hội đại biểu lần thứ XVII Đảng bộ thành phố Hà Nội họp từ ngày 11-10 đến ngày
13-10-2020 tại Cung Văn hóa lao động hữu nghị Việt - Xơ. Dự Đại hội có 500 đại
biểu chính thức, đại diện cho hơn 45 vạn đảng viên của tồn Đảng bộ. Đồng chí Tổng
Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng dự và chỉ đạo trực tiếp Đại hội.
Đại hội đã thảo luận, góp ý các dự thảo văn kiện Đại hội XIII của Đảng; thảo luận,
biểu quyết và thông qua những nội dung quan trọng trong Báo cáo chính trị của Ban
Chấp hành Đảng bộ Thành phố khóa XVI; bầu Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố
khóa XVII (nhiệm kỳ 2020-2025) và bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII của Đảng.
17.1. Kết quả đạt được
Kinh tế Thủ đô tiếp tục được cơ cấu lại, nhất là trên các lĩnh vực trọng tâm, chuyển
đổi mơ hình tăng trưởng đạt kết quả tích cực, kinh tế tăng trưởng khá, cao hơn bình
qn chung cả nước, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng hiện đại, đóng
góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của cả nước. Tổng sản phẩm trên địa bàn
(GRDP) bình quân giai đoạn 2016-2020 tăng 7,39%, cao hơn giai đoạn 2011-2015
15


(6,93%); GRDP bình quân đầu người ước đạt 5.420 USD, tăng 1,5 lần so với năm
2015, gấp 1,8 lần bình quân cả nước. Tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng;
khu vực nơng nghiệp giảm cịn 2,09%. Tài chính, ngân sách ln ổn định, các cân đối
được bảo đảm; thu ngân sách nhà nước trên địa bàn giai đoạn 2016-2020 tăng gấp
1,64 lần giai đoạn 2011-2015.
Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện, tích cực hỗ trợ doanh nghiệp khởi

nghiệp, đổi mới sáng tạo; khu vực kinh tế tư nhân phát triển, tiếp tục phát huy vai trò
là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Mơ hình kinh tế tập thể mà nịng cốt là
HTX ngày càng đa dạng, tỷ lệ hoạt động hiệu quả ngày càng nâng cao. Xây dựng
nông thôn mới thu được kết quả toàn diện, nổi bật, đứng đầu cả nước về số xã đạt
chuẩn, với nhiều mơ hình sản xuất có hiệu quả kinh tế cao. Thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài đạt kết quả vượt bậc, giai đoạn 2016-2020 đạt 25 tỷ USD, gấp 3,9 lần giai
đoạn 2011-2015. Mặc dù chỉ chiếm 1% về diện tích, 8,5% về dân số nhưng Hà Nội
đóng góp trên 16% GDP, 18,5% thu ngân sách, 20% thu nội địa và 8,6% tổng kim
ngạch xuất, nhập khẩu của cả nước, ngày càng xứng đáng vai trò là trung tâm lớn về
kinh tế và giao dịch quốc tế, một động lực phát triển của vùng Đồng bằng sông Hồng
và cả nước.
Diện mạo Thủ đô có nhiều thay đổi, ngày càng sáng, xanh, sạch đẹp hơn; khang trang,
văn minh, hiện đại hơn. Hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội được quan tâm đầu tư, một
số cơng trình, dự án quy mơ lớn, hiện đại được hồn thành và khởi cơng. Xử lý rác
thải, nước thải, ô nhiễm ao, hồ... cải thiện đáng kể. Công tác quy hoạch, xây dựng và
quản lý đất đai, quản lý đơ thị, trật tự, an tồn giao thơng, trật tự, kỷ cương xã hội
được tăng cường. Nếp sống văn minh đơ thị có chuyển biến tích cực.
Sự nghiệp văn hóa - xã hội; giáo dục - đào tạo; y tế; khoa học - công nghệ tiếp tục
phát triển, đạt được nhiều kết quả quan trọng. Chăm lo cho con người và xây dựng
người Hà Nội thanh lịch, văn minh có chuyển biến tích cực; các giá trị văn hóa truyền
thống ngàn năm văn hiến được gìn giữ và phát huy. Tiếp tục dẫn đầu cả nước nhiều
chỉ tiêu về văn hóa, giáo dục - đào tạo, thể dục, thể thao, nhất là thể thao thành tích
16


cao. Năng lực y tế được nâng lên. Chất lượng cuộc sống của người dân Thủ đô từ
thành thị đến nông thôn, khu vực xa trung tâm, đồng bào dân tộc được cải thiện rõ rệt.
Chính trị - xã hội ổn định; quốc phịng, an ninh của Thủ đơ tiếp tục được củng cố; trật
tự, an tồn xã hội có chuyển biến tốt hơn; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế được
mở rộng, tạo dấu ấn quan trọng; phối hợp với các cơ quan Trung ương, hợp tác, liên

kết với các tỉnh, thành phố trong nước được đẩy mạnh.
Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng có nhiều đổi mới. Đảng bộ Hà Nội gương mẫu,
đi đầu thực hiện nghiêm túc, sáng tạo các Nghị quyết Trung ương (4, 6, 7 khóa XI,
XII) gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh, đạt kết quả toàn diện và quan trọng; củng cố các cơ sở Đảng yếu kém; giải
quyết tốt nhiều vấn đề phức tạp về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Năng lực
lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng các cấp, chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng
viên được nâng lên. Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền được tăng cường,
có chuyển biến tích cực. Nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các
tổ chức chính trị - xã hội được đổi mới. Truyền thống đoàn kết, thống nhất, hợp tác,
trách nhiệm, bản lĩnh trong cấp ủy và tổ chức Đảng các cấp được giữ vững và phát
huy, kể cả những lúc khó khăn nhất khi có biến động về lãnh đạo chủ chốt hay thiên
tai, dịch bệnh nghiêm trọng.
17.2. Hạn chế, yếu kém
- Lĩnh vực phát triển kinh tế chưa tạo được các “đột phá lớn” và chưa tương xứng với
tiềm năng, thế mạnh của thành phố. Ngành dịch vụ tăng trưởng dưới tiềm năng, thấp
hơn mức tăng GRDP chung, đóng góp trong cơ cấu GRDP có xu hướng giảm. Năng
suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm chủ lực chưa cao. Sản xuất nông
nghiệp chưa ổn định, hiệu quả cịn thấp; nơng nghiệp cơng nghệ cao cịn ít; chuyển
dịch cơ cấu nội ngành chưa theo kịp yêu cầu. Chuyển dịch cơ cấu lao động chưa đồng
bộ với chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư, nhất là đầu tư cơng
cịn chậm. Việc sắp xếp, cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước chưa
17


đạt mục tiêu. Khu vực kinh tế tư nhân chưa thực sự là một động lực của nền kinh tế.
Kinh tế hợp tác, hợp tác xã có quy mơ cịn nhỏ; năng lực tiếp thu tiến bộ kỹ thuật,
công nghệ mới còn hạn chế. Nhiều hoạt động liên kết kinh tế vùng chưa thật hiệu quả.
Các chỉ số SIPAS (chỉ số hài lịng về sự phục vụ hành chính) và PAPI (chỉ số hiệu quả
quản trị và hành chính cơng) cịn ở vị trí thấp so với cả nước.

- Một số mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ trong công tác quy hoạch của thành phố chưa
đạt yêu cầu về tiến độ đề ra. Tỷ lệ đơ thị hóa thấp, phát triển đô thị chưa đồng đều và
chưa tương xứng với tiềm năng; tỷ lệ đất dành cho giao thông, tỷ lệ vận tải hành
khách công cộng, xử lý ô nhiễm mơi trường khơng khí, kiểm sốt và xử lý nước thải...
chưa đạt kế hoạch. Tiến độ triển khai một số dự án hạ tầng kỹ thuật thiết yếu cịn
chậm. Cơng tác quy hoạch và phát triển các đô thị vệ tinh, phát triển nhà ở xã hội, cải
tạo chung cư cũ chưa đạt tiến độ. Cơng tác phịng, chống cháy nổ, tai nạn giao thơng
cịn hạn chế. Việc di dời một số cơ sở gây ô nhiễm môi trường trong khu vực nội đô
chưa bảo đảm tiến độ; công tác quản lý, phát hiện, xử lý các vi phạm trật tự xây dựng,
đất đai, đơ thị, mơi trường có lúc, có nơi chưa đáp ứng yêu cầu, để phát sinh nhiều vụ
việc phức tạp, nổi cộm, chậm được xử lý, gây bức xúc dư luận. Việc xử lý úng ngập,
ùn tắc giao thơng cịn nhiều thách thức; cơng tác bồi thường, tái định cư, giải phóng
mặt bằng cịn chậm, gặp nhiều vướng mắc.
- Công tác bảo tồn, khai thác, phát huy vai trị của văn hóa chưa tương xứng với các
tiềm năng, thế mạnh, vai trị, vị thế Thủ đơ. Hệ thống thiết chế văn hóa cả ở cấp thành
phố và cơ sở còn thiếu, chưa đồng bộ; hiệu quả sử dụng chưa cao. Xã hội hóa và huy
động, sử dụng nguồn lực xã hội trong lĩnh vực văn hóa cịn bất cập. Đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ làm cơng tác văn hóa chưa được chú trọng đúng mức. Phát triển cơng
nghiệp văn hóa; quảng bá văn hóa và xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh
chưa đạt kết quả như mong muốn. Văn hóa ứng xử của người dân trong gia đình và
nơi cơng cộng chuyển biến chưa đồng đều, thiếu bền vững.
- Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thực sự trở thành động lực quan
trọng, đột phá. Hệ thống cơ chế, chính sách về khoa học - cơng nghệ chưa hồn thiện;
18


chưa đáp ứng yêu cầu khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp
thực hiện đổi mới, chuyển giao, nâng cao trình độ cơng nghệ; kết nối hoạt động
nghiên cứu giữa các nhà khoa học với thị trường và doanh nghiệp nhìn chung cịn
yếu. Thị trường khoa học - cơng nghệ ở Thủ đơ cịn nhiều hạn chế; thiếu thơng tin và

các sản phẩm có giá trị; vai trò của các tổ chức trung gian, tư vấn chuyển giao cơng
nghệ cịn mờ nhạt.
- Cơ sở vật chất phục vụ giáo dục - đào tạo ở những khu vực mật độ dân số cao, đơ thị
hóa nhanh cịn chưa đáp ứng được yêu cầu; hiệu quả giáo dục đạo đức học đường, nếp
sống, ứng xử văn minh ở các cấp học có lúc, có nơi cịn hạn chế; chất lượng đào tạo
nghề, nhất là cho lao động nông thôn chưa theo kịp yêu cầu của thị trường lao động.
Việc chuyển đổi các cơ sở giáo dục - đào tạo cơng lập có khả năng xã hội hóa sang
mơ hình tự chủ cịn chậm. Các chính sách thu hút, sử dụng nhân tài làm việc tại các
cơ quan, đơn vị của thành phố hiệu quả chưa cao.
- Chất lượng khám, chữa bệnh chưa đồng đều ở các tuyến; chưa giải quyết hiệu quả
tình trạng quá tải ở một số chuyên khoa tại các bệnh viện tuyến thành phố; công tác y
tế dự phòng, nhất là ở cơ sở chưa thực sự bền vững, còn để xảy ra một số ổ dịch lớn.
Tỷ lệ giảm nghèo nhanh nhưng chưa thực sự bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao.
Chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị chậm cải thiện; vẫn còn xảy ra một
số vụ bạo lực gia đình, bạo hành, xâm hại trẻ em gây bức xúc xã hội.
- Cơng tác nắm bắt, dự báo tình hình, tham mưu với cấp ủy, chính quyền trong giải
quyết khiếu nại, tố cáo, mâu thuẫn, xử lý một số vụ việc phát sinh còn hạn chế. Chưa
tạo được chuyển biến rõ nét trong giải quyết khiếu kiện đông người, vượt cấp. Một số
vụ việc vi phạm trật tự xây dựng, sử dụng đất đai... chưa được tập trung xử lý kiên
quyết, còn để kéo dài gây bức xúc dư luận. Tình hình tội phạm, bạo lực xã hội, tín
dụng đen, tội phạm ma túy, băng nhóm hoạt động theo kiểu xã hội đen... còn diễn biến
phức tạp.
- Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số cấp ủy, tổ chức Đảng cịn thấp; cá biệt,
có cấp ủy mất vai trị lãnh đạo, chỉ đạo. Tính chiến đấu, tinh thần đấu tranh tự phê
19


bình và phê bình ở một số nơi cịn hạn chế; có cấp ủy đã có biểu hiện mất “đồn kết
nội bộ”. Ý thức, thái độ phục vụ người dân, doanh nghiệp của một bộ phận cán bộ,
công chức, viên chức chưa tốt, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Cịn có biểu hiện

suy thối tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một số cán bộ, đảng viên, cá biệt
có đảng viên cịn có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm, bị kỷ luật và
xử lý hình sự. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội ở một số
cơ sở cịn hạn chế; cơng tác vận động quần chúng có nơi, có việc chưa đáp ứng được
yêu cầu, nội dung, hình thức vận động chưa phong phú, chưa sát đối tượng, hiệu quả
thấp.
17.3. Bài học kinh nghiệm
Thứ nhất, luôn quán triệt và chấp hành nghiêm túc, đồng thời vận dụng sáng tạo, có
hiệu quả sự lãnh đạo, chỉ đạo, các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước vào tình hình thực tiễn của Thủ đơ; chủ động, tích cực tranh thủ sự phối
hợp, giúp đỡ của các bộ, ban, ngành Trung ương, các tỉnh, thành.
Thứ hai, kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết, hợp tác, trách nhiệm của Đảng
bộ; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống
chính trị.
Thứ ba, coi trọng đổi mới tư duy, phương thức lãnh đạo của các cấp ủy, vừa tồn diện,
vừa có trọng tâm, trọng điểm, lựa chọn trúng và đúng những vấn đề quan trọng của
thành phố.
Thứ tư, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; phát huy dân chủ trong Đảng
và trong xã hội gắn liền với kỷ cương, gắn bó mật thiết, tơn trọng và phát huy quyền
làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.
Thứ năm, chú trọng công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học, thường xuyên
sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, khen thưởng, nhân rộng gương điển hình; nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ; phát huy vai trị, trách nhiệm, tính tiên phong, gương mẫu
của người đứng đầu và của cán bộ, đảng viên.
20


III. VỀ MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ TỔNG QUÁT ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH
HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030 VÀ TẦM NHÌN PHÁT TRIỂN THỦ ĐÔ ĐẾN NĂM
2045

1. Mục tiêu tổng quát
Đến năm 2025, xây dựng Đảng bộ thành phố có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao
và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu; phát triển nhanh và bền vững
Thủ đô theo hướng đô thị xanh, thành phố thông minh, hiện đại, có sức cạnh tranh cao
trong nước và khu vực; cơ bản hồn thành mục tiêu cơng nghiệp hóa, GRDP/người
đạt 8.300-8.500 USD.
Đến năm 2030, Hà Nội trở thành thành phố “xanh - thông minh - hiện đại”; phát triển
năng động, hiệu quả, có sức cạnh tranh khu vực và quốc tế; hồn thành cơng nghiệp
hóa Thủ đơ; GRDP/người đạt 12.000-13.000 USD.
Đến năm 2045, Hà Nội có chất lượng cuộc sống cao; kinh tế, văn hóa, xã hội phát
triển toàn diện, bền vững; là thành phố kết nối toàn cầu, có sức cạnh tranh quốc tế,
GRDP/người đạt trên 36.000 USD.
2. Các chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2025
Về kinh tế:
(1) Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình qn giai đoạn 20212025: 7,5-8,0%; trong đó: Dịch vụ: 8,0-8,5%; công nghiệp và xây dựng 8,5-9,0%;
nông, lâm nghiệp và thủy sản: 2,5-3,0%.
(2) Cơ cấu kinh tế năm 2025: Dịch vụ 65,0-65,5%; công nghiệp và xây dựng 22,523,0%; nơng, lâm nghiệp và thủy sản 1,4-1,6%.
(3) GRDP bình qn/người: 8.300-8.500 USD.
(4) Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội: 3,1 - 3,2 triệu tỷ đồng (giá hiện hành, tăng 12,513,5%/năm).
(5) Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP khoảng 30%.
(6) Tốc độ tăng năng suất lao động từ 7,0-7,5%.
Về văn hóa - xã hội:
21


(7) Tỷ lệ tổ dân phố được công nhận và giữ vững danh hiệu Tổ dân phố văn hóa:
75%; thơn, làng được công nhận và giữ vững danh hiệu Thôn, làng văn hóa: 65%; gia
đình được cơng nhận và giữ vững danh hiệu Gia đình văn hóa: 86-88%.
(8) Tỷ lệ trường công lập (mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông)
đạt chuẩn quốc gia: 80-85%.

(9) Số giường bệnh/vạn dân: 30-35; số bác sĩ/vạn dân: 15; duy trì 100% xã, phường
đạt chuẩn quốc gia về y tế.
(10) Tỷ lệ lao động qua đào tạo: 75-80%; tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ: 5560%.
(11) Tỷ lệ thất nghiệp thành thị: Dưới 3%.
(12) Khơng cịn hộ nghèo và hộ tái nghèo theo tiêu chuẩn của thành phố.
Về quy hoạch, đô thị, nông thôn và môi trường:
(13) Tỷ lệ huyện đạt chuẩn nông thôn mới: 100%; tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới
nâng cao: 40%, nông thôn mới kiểu mẫu: 20%; hoàn thành mục tiêu xây dựng nơng
thơn mới cấp thành phố.
(14) Tỷ lệ đơ thị hóa: 60-62%; tỷ lệ diện tích phủ kín của các quy hoạch chung, quy
hoạch phân khu: 100%.
(15) Tỷ lệ hộ dân thành thị và nông thôn được cung cấp nước sạch: 100%.
(16) Tỷ lệ các chất thải và nước thải được xử lý đạt tiêu chuẩn về môi trường: Tỷ lệ
thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị và nông thôn bảo đảm tiêu chuẩn, quy
chuẩn: 100%; tỷ lệ chất thải nguy hại được xử lý: 100%; tỷ lệ chất thải y tế được xử
lý đạt tiêu chuẩn môi trường: 100%; tỷ lệ cụm công nghiệp, cụm công nghiệp làng
nghề (đang hoạt động và xây dựng mới) có trạm xử lý nước thải: 100%; tỷ lệ nước
thải đô thị được xử lý: 50-55%.
(17) Tỷ lệ vận tải hành khách công cộng: 30-35%.
Về xây dựng Đảng:
(18) Số lượng đảng viên mới được kết nạp hằng năm: 9.000-10.000 đảng viên.
(19) Tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ hằng năm: Trên 75%.
22


(20) Tỷ lệ tổ chức Đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ hằng năm: Trên 75%.
3. Những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trong giai đoạn 2020-2025
Đại hội thống nhất thông qua 14 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trong giai đoạn
2020-2025 đã trình bày chi tiết trong Báo cáo chính trị là:
(1) Tăng cường cơng tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng bộ thành phố

trong sạch, vững mạnh.
(2) Tiếp tục phát triển kinh tế nhanh và bền vững.
(3) Tiếp tục đẩy mạnh công tác quy hoạch, xây dựng và quản lý đô thị theo hướng
thông minh, xanh và bền vững.
(4) Hồn thành nhiệm vụ xây dựng nơng thôn mới cấp thành phố, triển khai mạnh mẽ
nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu.
(5) Phát huy giá trị văn hóa và con người Hà Nội, khơi dậy ý chí, niềm tự hào, khát
vọng phát triển của nhân dân Thủ đô.
(6) Đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao.
(7) Phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, góp phần phát triển
Thủ đơ hiện đại, văn minh.
(8) Tiếp tục phát triển hệ thống an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội, chất lượng
cuộc sống của nhân dân Thủ đô.
(9) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, sử dụng tài nguyên, bảo vệ mơi trường; chủ
động phịng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, ứng phó với biến đổi khí hậu.
(10) Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an
tồn xã hội trên địa bàn Thủ đơ trong mọi tình huống.
(11) Tiếp tục mở rộng và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế, hợp
tác phát triển, nâng cao uy tín, vị thế Thủ đơ.
(12) Nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp
gắn với thực hiện thí điểm quản lý theo mơ hình chính quyền đơ thị.
23


(13) Đổi mới nội dung, phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ
quốc và tổ chức chính trị - xã hội các cấp, hoạt động của các hội quần chúng thành
phố, phát huy quyền làm chủ của nhân dân Thủ đô.
(14) Nâng cao hiệu quả cơng tác phịng, chống tham nhũng, tiêu cực; thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí.


24


×