***
MÌ QUẢNG, HƯƠNG VỊ GÂY THƯƠNG
NHỚ CỦA QUẢNG NAM
MỤC LỤC
I.
PHẦN TỔNG QUAN
1.
2.
3.
4.
5.
II.
Lý do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Dự kiến những kết quả sau khi nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn:
1. Cơ sở lý luận
2. Cơ sở thực tiễn
CHƯƠNG 2: Những vấn đề chung:
2.1 Giới thiệu thuật ngữ
2.1.1. Khái niệm văn hóa
2.1.2. Khái niệm văn hóa ẩm thực - ẩm thực Việt Nam
2.2 Vài nét về vùng đất Quảng Nam và văn hóa Quảng Nam:
2.2.1.Đặc điểm vùng đất Quảng Nam:
2.2.2.Vài nét về bản sắc văn hóa Quảng Nam:
CHƯƠNG 3: Mì Quảng, hương vị gây thương nhớ của Quảng Nam:
3.1 Mì Quảng – đặc sản Quảng Nam:
3.1.1. Giới thiệu về mì Quảng:
3.1.2.Nguồn gốc xuất xứ
3.1.3. Quy trình chế biến
3.1.4. Trình bày
3.1.5. Thành phẩm
3.2 Bản sắc văn hóa Quảng Nam qua món mì Quảng:
3.3 Vai trị của mì Quảng và vấn đề bảo tồn văn hóa ẩm thực Quảng
Nam.
III. PHẦN KẾT LUẬN
I.
PHẦN TỔNG QUAN
1. Lý do chọn đề tài:
Ăn uống là một nhu cầu không thể thiếu được trong cuộc sống của tất cả mọi
người, từ xưa khi các công cụ sản xuất lương thực thực phẩm chưa ra đời thì tổ
tiên của chúng ta đã săn bắt hái lượm để phục vụ nhu cầu sinh sống. Dần dần
khi xã hội phát triển thì nhu cầu ăn uống của con người cũng phát triển theo và
đến ngày này việc ăn uống không chỉ đơn thuần là nhu cầu của con người nữa
mà nó cịn là thể hiện tính thẩm mỹ trong từng món ăn. Hiện nay trong những
món ăn cịn thể hiện được đẳng cấp và địa vị trong xã hội. Nước ta là một nước
có nền văn hóa lâu đời. Văn hóa đó khơng chỉ thể hiện ở các lĩnh vực như âm
nhạc, hội họa điêu khắc mà nó thể hiện ngay trong ẩm thực. Ăn uống chịu ảnh
hưởng bởi những yếu tố về phong tục tập quán và tín ngưỡng, góp phần tạo nên
văn hóa của một dân tộc hay một địa phương. Đó là văn hóa ẩm thực. Văn hóa
ẩm thực Việt Nam rất phong phú và đa dạng. Đến với Quảng Nam, người ta
không chỉ ngây ngất trước vẻ đẹp của Hội An thơ mộng, Cù Lao Chàm nắng
gió, thánh địa Mỹ Sơn cổ kính... mà cịn bởi những món ngon đặc trưng, nức
tiếng khắp mọi vùng. Xứ Quảng có rất nhiều đặc sản mà khi bạn đã một lần
thưởng thức thì sẽ khơng dễ gì qn được, có khi vương vấn một đời khơn
ngi. Khách đường xa khi đến nơi đây sẽ được người Quảng hào sảng chào
đón và tiếp đãi rất nhiều món ăn ngon. Mỳ Quảng, cao lầu, bánh tráng, cơm gà,
bê thui, hến trộn, chà rá, mối đất... đều là những niềm tự hào rất đỗi lớn lao của
người Quảng. “Về Quảng Nam chưa ăn mì Quảng coi như chưa về” ... Câu nói
vui của cơ chủ qn mì Quảng thấp bụng. Từ rất lâu mì Quảng đã được xem là
đặc sản của vùng đất nơi đây. Khơng hiểu điều gì đã làm cho món xì xụp này
trở thành nét biệt lập đến thế. Đến đây, bạn có thể dễ dàng thưởng thức được tơ
mì đúng chất ở bất cứ ngóc ngách nào, từ thành thị đến thôn quê, từ nhà hàng
cao sang hay những gánh hàng rong ngồi phố Hội. Ví mì Quảng như một thứ
tín ngưỡng của người dân nơi đây cũng khơng phải là q lời tí nào! Là một
người con sinh ra ở Quảng Nam, mặc dù lớn lên ở Sài Gòn nhưng vẫn được
thưởng thức mì Quảng của mẹ làm rất nhiều và nhiều lần từ khi còn bé. Mẹ
được bà ngoại truyền cho những bí kíp nấu mì Quảng mang đậm chất hương vị
quê hương. Nhưng từ nhỏ đến bây giờ chỉ đơn giản là một tơ mì Quảng nhưng
chưa từng biết rõ về nó. Và để hiểu thêm về ẩm thực đặc trưng của q mình,
tơi đã quyết định tìm hiểu về đề tài: “ Mì Quảng, hương vị gây thương nhớ
của Quảng Nam”. Chính vì sự gây thương nhớ này, tơi sẽ tự mình tìm hiểu về
câu chuyện của mì Quảng, mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu
văn hóa, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa của quê hương nói riêng, của
Việt Nam nói chung. Mì Quảng nó khơng chỉ đơn thuần là món ăn mà cịn
mang trong mình hương vị, niềm tự hào của cả một vùng đất.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài:
Tìm hiểu “ Mì Quảng, hương vị gây thương nhớ của Quảng Nam” giúp tôi hiểu
rõ về cách chế biến, nguồn gốc hình thành, qua đó hiểu thêm về món ăn Quảng
Nam. Đồng thời hiểu thêm về bản chất con người Quảng Nam, phong cách ăn
uống cũng như đặc điểm địa chí Quảng Nam quy định cách ăn uống, đặc trưng
món ăn. Hiểu rõ hơn về văn hóa ẩm thực dân gian vùng miền Trung nói chung,
Quảng Nam nói riêng trong cơ tầng văn hóa ẩm thực Việt Nam. Nhằm nâng cao
thương hiệu mì Quảng sánh cùng các món mì nổi tiếng của thế giới như mì
Quảng Đơng, mì trường thọ, mì Spaghetti nhằm phát triển du lịch Quảng Nam.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng là văn hóa ẩm thực Quảng Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này tơi có sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp khảo sát điều tra
+Phương pháp thống kê, phân loại
+Phương pháp lựa chọn phân tích
+Phương pháp so sánh, tổng hợp
5. Dự kiến những kết quả sau nghiên cứu:
Nếu như tìm hiểu vấn đề này thành cơng, sẽ góp phần nhỏ cung cấp một cách
tổng qt, chính xác, đầy đủ kiến thức về mì Quảng của người dân Quảng Nam.
Và qua đó, làm nổi bật ý nghĩa triết lí của món ăn này trong văn hóa ẩm thực
Việt Nam nói chung và ẩm thực dân gian Quảng Nam nói riêng.
Nhằm góp phần nâng cao những hiểu biết của người thực hiện đề tài văn hóa
ẩm thực Việt Nam và ẩm thực các vùng miền trong nước. Ngồi ra, góp phần
kiến thức chính xác về văn hóa ẩm thực mì Quảng, văn hóa tận dụng mơi
trường tự nhiên. Và nếu thật sự thành cơng sẽ đóng góp có ý nghĩa trong việc
phát triển văn hóa du lịch ở Quảng Nam. Đưa người đọc đến gần hơn với ẩm
thực miền Trung. Hiểu thêm về lối sống, đặc sản làng Việt Trung Bộ. Mở ra
thêm một vương quốc tinh hoa của nền ẩm thực Việt Nam nói riêng và nền ẩm
thực thế giới nói chung. Đặt chân ghi dấu ấn của nét văn hóa ẩm thực Việt
Trung Bộ lan tỏa ra nước nhà và cả nước bạn. Khi nhắc đến ẩm thực Việt Nam,
du khách nước ngồi khơng chỉ nhắc về ẩm thực Bắc, Trung, Nam mà là nhắc
đến “ Ẩm thực và con người Việt Nam” một cách thống nhất với thái độ khâm
phục và trên tinh thần học tập Việt Nam ta.
II.
NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
1. Cơ sở lý luận:
• Văn hóa: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do
con người sáng tạo và tích lũy trong q trình hoạt động thực tiễn, trong sự
tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.” (Tìm Về Bản
Sắc Văn Hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm)
• Ẩm thực: là nét văn hóa tự nhiên hình thành trong cuộc sống nhất là đối với
con người Việt Nam, ẩm thực không chỉ là nét văn hóa về vật chất mà cịn là
văn hóa về tinh thần và qua ẩm thực người ta có thể hiểu được nét văn hóa
thể hiện phẩm giá con người, trình độ văn hóa, địa lý, phép tắc, phong tục
trong cách ăn uống.
2. Cơ sở thực tiễn:
Quảng Nam là một trong những điểm du lịch hấp dẫn, đóng vai trị quan
trọng trong việc phát triển kinh tế khơng chỉ ở miền Trung mà cịn của cả
nước. Bên cạnh những loại hình du lịch truyền thống như văn hóa - lịch sử,
sinh thái, nghỉ dưỡng biển, tham quan nghiên cứu, lễ hội,... những năm gần
đây, nhiều loại hình du lịch như tham dự, hội nghị và mạo hiểm, văn hóa ẩm
thực được xem là những sản phẩm du lịch mới của Quảng Nam.
Đối với người Việt, ẩm thực không chỉ đơn thuần là nhu cầu thiết yếu để
duy trì sự sống, mà trên hết là hình thức biểu hiện của văn hóa, một bộ phận
cấu thành của bản sắc dân tộc Việt Nam. Trong quá trình thưởng thức ẩm
thực, người Việt không chỉ cầu no, đủ, mạnh khỏe, mà còn cầu ngon. Họ
xem ẩm thực là khoa học, nghệ thuật mà người chế biến đã thổi hồn và gửi
gắm vào đó những sắc thái văn hóa địa phương. Như vậy, văn hóa ẩm thực
có thể được hiểu là cách ăn, kiểu ăn, món ăn đặc trưng của từng dân tộc, địa
phương, qua đó ta biết được trình độ văn hóa, lối sống, tính cách của con
người trong xã hội.
Chương 2: Những vấn đề chung
1.1 Giới thiệu thuật ngữ:
1.1.1 Khái niệm văn hóa:
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau,
liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần con người. Trong cuộc
sống hằng ngày, văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ thuật như thơ ca,
mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh... Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi
định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau.
Định nghĩa đầu tiên về văn hóa có thể kể đến Edward. Burnett Tylor – nhà khoa
học người Anh: “Culture, or civilization, taken in its broad, ethnographic
sense, is that complex whole which includes knowledge, belief, art, morals, law,
custom and any other capabilities and habits acquired by man as a member of
society” (Edward. Burnett Tylor, Primitive Culture: page 1)
“Văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể
phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và
bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách
là một thành viên của xã hội”. (Huyền Giang dịch, trong Văn hóa ngun
thủy, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật – Hà Nội, 2001: trang 13).
Như vậy, định nghĩa về văn hóa là khá đa dạng và phức tạp. Từ những định
nghĩa khác nhau về văn hóa chúng ta có thể hiểu rằng: Văm hóa là bao gồm tất
cả những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra để phục vụ cho
chính mình và làm cho con người thực sự người hơn. Văn hóa là một khái niệm
thuộc phạm trù giá trị - nó gắn với sự nhìn nhận, đánh giá của con người, văn
hóa hịa nhịp với lao động sáng tạo, hay nói gọn hơn văn hóa là những khái
niệm chỉ Giá Trị - Người.
Từ đó có thể khẳng định bản sắc văn hóa là hạt nhân năng động nhất trong toàn
bộ tinh thần sáng tạo truyền từ đời này sang đời khác, và được phát huy, bổ
sung qua mỗi thế hệ với đà phát triền của dân tộc, với sự sống luôn luôn sáng
tạo của nhân dân. Bản sắc văn hóa làm cho một dân tộc mình, khác với các dân
tộc khác.
1.1.2 Khái niệm văn hóa ẩm thực - ẩm thực Việt Nam:
Từ ngàn xưa ông cha ta đã không hề xem nhẹ việc ăn uống. Việc dạy ăn như
thế nào, học ăn như thế nào phải được bắt đầu từ chính gia đình. Đây là cái nơi
đầu tiên giúp con người hồn thiện bản thân, hình thành nhân cách, trau dồi
kiến thức ứng xử, thể hiện được truyền thống văn hóa của dân tộc từ bao đời
nay. Có thể hiểu văn hóa ẩm thực là cách ăn, kiểu ăn, món ăn đặc trưng từng
dân tộc, từng địa phương mà qua đó ta biết được trình độ văn hóa, lối sống, tính
cách của con người đó, của dân tộc đó.
Văn hóa ẩm thực là nét văn hóa tự nhiên hình thành trong cuộc sống nhất là đối
với con người Việt Nam, ẩm thực không chỉ là nét văn hóa về vật chất mà cịn
là văn hóa về tinh thần và qua ẩm thực người ta có thể hiểu được nét văn hóa
thể hiện phẩm giá con người, trình độ văn hóa, địa lý, phép tắc, phong tục trong
cách ăn uống.
Văn hóa ẩm thực người Việt được biết đến với những nét đặc trưng như tính
hịa đồng, tính đa dạng, đậm hương vị. Đặc biệt là ăn thành mâm, sử dụng đũa
và không thể thiếu cơm là tập quán chung của cả dân tộc. Bên cạnh những nét
chung đó thì mỗi một vùng miền lại có những nét đặc trưng ẩm thực riêng. Văn
hóa ẩm thực Việt Nam rất phong phú và đa dạng từ cách chế biến đến hương vị
các món ăn đặc trưng riêng biệt khơng thể hịa lẫn. Người miền Trung lại ưa
dùng những món ăn thường có vị cay đặc trưng. Ẩm thực miền Trung thường
nổi tiếng với mắm tôm chua, các loại mắm ruốc.Ẩm thực cung đình Huế khơng
chỉ cay, rất nhiều màu sắc mà còn chú trọng vào số lượng các món ăn, cách bày
trí món. Người miền Nam, là nơi chịu ảnh hưởng của ẩm thực Trung Quốc,
Campuchia, Thái Lan, có đặc điểm là thường gia thêm đường và hay sử dụng
sữa dừa (nước cốt và nước dão của dừa). Nền ẩm thực này cũng sản sinh ra vơ
số loại mắm khơ (như mắm các sặc, mắm bị hóc, mắm ba khía,...). Món ăn
miền Nam dân dã, hiện nay nhiều khi đã trở thành đặc sản: chuột đồng khìa
nước dừa, dơi quạ hấp cháo, rắn hổ đất nấu cháo đậu xanh, cá lóc nướng trui.
Người miền Bắc thì thường không đậm vị cay, béo, ngọt, bằng các vùng khác,
chủ yếu sử dụng nước mắm lỗng, mắm tơm. Sử dụng nhiều món rau và các
loại thủy sản nước ngọt dễ kiếm như tôm, cua, cá,... Nhiều người đánh giá cao
Ẩm thực Hà Nội một thời, cho rằng nó đại diện tiêu biểu nhất của tinh hoa ẩm
thực Hà Nội một thời, cho rằng nó đại diện tiêu biểu nhất của tinh hoa ẩm thực
miền Bắc Việt Nam với những món phở, bún thang, bún chả, các món quà như
cốm Vịng, bánh cuốn Thanh Trì...
2.2. Vài nét về vùng đất Quảng Nam và văn hóa Quảng Nam:
2.2.1 Đặc điểm vùng đất Quảng Nam:
Quảng Nam là một tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Việt Nam. Tỉnh
Quảng Nam phía bắc giáp Thừa Thiên Huế, phía đơng giáp biển Đơng, phía
nam giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía tây giáp Lào. Tổng diện tích đất tự nhiên của
tỉnh là 10.438km vng. Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió
mùa, nhiệt độ trung bình trên 25 °C. Quảng Nam có đường bờ biển dài 125 km,
ven biển có nhiều bãi tắm đẹp, nổi tiếng, như: Hà My (Điện Bàn), Cửa Đại (Hội
An), Bình Minh (Thăng Bình), Tam Thanh (Tam Kỳ), Bãi Rạng (Núi Thành),...
Cù Lao Chàm là cụm đảo ven bờ với hệ sinh thái phong phú được công nhận là
khu dự trữ sinh quyển của thế giới.
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên của Quảng Nam (thời tiết-khí hậu, địa hình, tài
ngun nước, biển) có nhiều thuận lợi, tiềm năng cho phát triển sự nghiệp văn
hóa đa dạng, độc đáo (phát triển những tiểu vùng văn hóa), phát triển ngành du
lịch (du lịch văn hóa, du lịch sinh thái).
Tên tỉnh theo phát âm địa phương nghe như là “Quảng Nôm”. Quảng Nam là
vùng đất giàu truyền thống văn hóa với hai di sản văn hóa thế giới là phố cổ
Hội An và thánh địa Mỹ Sơn. Quảng Nam còn là vùng đất địa linh nhân kiệt,
nơi sản sinh ra nhiều con người ưu tú cho đất nước. Quảng Nam là mảnh đất có
lịch sử hình thành lâu đời, gắn liền với lịch sử tồn vong và hưng thịnh của dân
tộc, đất nước. Trước hết, trong địa danh Quảng Nam “ quảng có nghĩa là mở ra,
mở rộng về phương nam, như một khát vọng mảnh liệt, cháy bỏng, một ý chí
kiên định, một tư thế hào hùng của cha ông xưa nhằm xây dưng nên giang sơn
cầm tú hơm nay.
Người Quảng Nam có tố chất thơng minh, sáng tạo, cứng cỏi và có truyền
thống đấu tranh kiên cường, bất khuất.
Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm
Rượu Hồng Đào chưa nhấm mà đã say.
Sức sống, sức sáng tạo của người dân nơi đây luôn gắn liền với sự “nhạy cảm
với cái mới, khao khát cái mới như đất hạn khát mưa, háo hức hút ngay từ giọt
nước đầu tiên. Thậm chí khi chưa thật sự có giọt nước nào, chưa thật sự mưa
đã náo nức hóng về mưa, cảm nhận ra nó rất sớm, chờ đón nó nồng nhiệt.”
(Ngun Ngọc, Tìm hiểu về con người xứ Quảng, trang 370). Đất và người
Quảng Nam luôn là những bí ẩn đối với những ai muốn khám phá.
2.2.2 Vài nét về bản sắc văn hóa Quảng Nam:
Quảng Nam có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên khá thuận lợi, nằm ở trung độ
của cả nước, địa hình phong phú đa dạng vừa có miền núi; trung du; đồng bằng
ven biển và đơ thị, có các tộc người thiểu số cư trú lâu đời và một số tộc người
thiểu số mới di cư đến. Quá trình cộng cư giữa các dân tộc anh em đã tạo cho
Quảng Nam một kho tàng văn hóa đồ sộ, đặc sắc. Nói đến Quảng Nam là nói
đến vùng đất hội tụ và kết tinh của nhiều nền văn hóa khác nhau, mảnh đất có
nhiều di tích văn hóa, lịch sử, nơi đã sản sinh ra nhiều thế hệ danh nhân; mảnh
đất “Trung dũng kiên cường” giàu lòng yêu nước và truyền thống cách mạng.
Nói đến văn hóa Quảng Nam là nói đến những di sản văn hoá vật thể tiêu biểu
và độc đáo với 55 di tích cấp quốc gia và 282 di tích cấp tỉnh. Nổi bật nhất là 2
Di sản văn hoá thế giới là khu Phố cổ Hội An và khu Đền tháp Mỹ Sơn; ngồi
ra, có thể kể đến hệ thống tháp Chăm, Kinh đô cổ Trà Kiệu,... Bên cạnh đó,
Quảng Nam có nhiều di sản văn hố phi vật thể đặc sắc. Theo thống kê sơ bộ,
toàn tỉnh hiện có trên 300 di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu, trong đó có 120
lễ hội dân gian tiêu biểu và nhiều di sản phi vật thể khác có giá trị, như: về âm
nhạc có Tuồng, hát bài chòi, hò bả trạo; nghệ thuật ẩm thực; những tri thức dân
gian; làng nghề truyền thống...
Miền núi Quảng Nam, địa bàn cư trú lâu đời của các tộc người thiểu số như Cơtu, Cor (Koh), Gié-Triêng, Xê-đăng… nét đặc trưng trong văn hóa tộc người Cơ
tu như Gươl, cồng chiêng, nói lý, hát lý… đến các nghi lễ, tập quán, nghệ thuật
diễn xướng của đồng bào Cor, Cadong, Xêđăng... những giá trị văn hoá đặc sắc
(phong tục, tập quán, lễ hội...) tạo ra một bức tranh sinh động, đa sắc về văn hóa
phi vật thể đang hiện hữu trong đời sống của nhân dân các vùng, miền làm cho
văn hóa Quảng Nam thêm phong phú và đa dạng.
Bên cạnh đó, văn hóa ẩm thực với mì Quảng, cao lầu Hội An, bò tái Cầu Mống,
bánh tráng cuốn thịt heo, giò ốc, ốc vú nàng, bánh vạc, bánh bao, bánh tổ,... đã
làm nên nét riêng của vùng đất này. Các món ăn đất Quảng đi vào đời sống, vào
câu ca dao dân ca, vào tâm linh – tâm hồn người Quảng Nam. Những món ăn từ
dân dã đến cầu kì mà từ cách ăn đến cách chế biến cũng như tính cách người
Quảng: cần kiệm, dè sén mà lại phóng khống, vui tươi, mộc mạc mà đậm chất.
Từ con cá nục cuốn bánh tráng, rau muống chấm nước mắm “gin” (nguyên
chất), cái bánh bèo con con, đến món mì Quảng sợi vàng óng ánh, còn bò thui
bên trong nhét lá ổi, lá sả thơm phức. Mì Quảng bây giờ đã món ngon thân
quen của người Việt ở nhiều nơi, khơng thua gì phở Bắc, bún bị Huế, hủ tiếu
Mỹ Tho,..
Nói tiểu vùng văn hóa Quảng Nam thì cũng phải nhắc tới kho tàng văn nghệ
dân gian của nó với vè Quảng, hị đi cấy, hò xay lúa, hò tát nước, hò giã gạo, hị
gãi vơi, hị đạp xe nước, hị khoan, hị ba lý, hát bã trạo, hát nhân ngãi, hò bài
chòi... với thổ ngữ và cái giọng chắc nịch, đầm đà:
Ví dầu tình bậu muốn thơi
Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra
Bậu ra cho khỏi tay qua
Cái xương bậu nát cái da bậu mịn!
Với những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể quý báu còn được lưu giữ,
Quảng Nam hôm nay thực sự là một tiểu vùng văn hóa giàu bản sắc trong tổng
thể các vùng văn hóa Việt Nam.
1.1.2 Đặc điểm văn hóa ẩm thực Quảng Nam:
Quảng Nam cũng như các tỉnh miền Trung khác ăn cay và mặn đã thấm nhuần
trong bữa ăn của họ (Yêu cầu là cốt phải ăn no.)
Cái tinh hoa trong khẩu vị Quảng Nam có thể nói chính là có chế biến nấu
nướng thế nào đi nữa thì cũng phải giữ cho được cái hương vị nguyên thuỷ của
món ăn.
Người Quảng Nam dù giàu hay nghèo thì cách ăn uống vẫn có nhiều điểm
giống nhau. Điểm chính vẫn là cầu no. Đã no phải mặn mịi. Mặn khơng chỉ
trong thức ăn mà còn trong chất béo, chất ngọt, cả trong điếu thuốc, bát chè.
Béo thì phải thật béo, ngọt thật ngọt, thuốc lá, nước chè rất đậm, rất đặc.
Quảng Nam đất hẹp, có khi hẹp q nên "làm thì có, ăn thì khơng". Nơng dân
ăn gạo khơng đủ nên cơm phải ghế sắn, ghế khoai, ghế bắp. Nhiều nhà quanh
năm nhờ vào sắn khoai, được bữa giỗ, bữa Tết, ăn cơm không (mà khắp Nam
Bộ đều ăn như thế hàng ngày) là một điều "thỏa ước mong". Làm việc cật lực
và cần giữ cái no lâu dài nên món canh ít khi được chiếu cố, kể cả đàn bà cấy
lúa. Canh là thứ no giả, chỉ có cá mặn, thịt mặn mới là no thật, no lâu bền. Mỗi
bữa ăn như thế chủ cũng khơng dám dọn rau nhiều vì "Lắm rau, đau mắm" sợ
tốn nhiều mắm. Mắm phần lớn được quý chuộng nhất là mắm cái. Bữa ăn, có
mắm cái nguyên chất như là điều hằng ao ước. Đã ăn no thì phải uống đậm.
Người Quảng Nam xưa uống không dùng ly tách mà dùng tô lớn, nước uống
phổ biến là nước chè nấu bằng lá chè tươi hay chè khô, mỗi lần nấu cả nồi lớm
cho cả nhà uống suốt ngày.
Đặc sản Quảng Nam nhiều người biết đến, đó là mì Quảng, bánh tráng thịt heo
va nhiều món ăn khác. Khơng chỉ ăn mặn uống đậm, các món ngọt của Quảng
Nam quá thật là ngọt gắt. Ngày Tết ở đây có các loại bánh nổ, bánh tổ, bánh in,
bánh tét... Riêng bánh tổ được xem là đặc sản các vùng đất này. Ngồi ra Quảng
Nam cịn có loại bánh già lam bày lửa (làm nó phải qua bảy lần trên bếp), bánh
rò, bánh tráng ngọt... Vào các ngày Tết, ở các gia đình truyền thống người xứ
Quảng ln ln có đủ các loại bánh này, nó mang hương vị quê hương. Những
người xa xứ chỉ cần nhìn thấy những chiếc bánh quen thuộc này sẽ khơng thể
kìm lịng sự nhớ nhà, nhớ mùi vị rất đỗi quen thuộc, những cái bánh gắn liền
với tuổi thơ của nhữ ng đứa trẻ ở đây.
Món ăn Quảng Nam ln được bảo tồn và phát triển. Cịn rất nhiều món ăn đặc
sản đến nay đã gắn liền với địa danh của xứ sở, như cao lầu Hội An, món thịt
bị Cầu Mống, nước mắm nhĩ Nam Ô, nước chè Phú Thượng, Tiên Phương...
Phong cách ẩm thực của Quảng Nam trải qua bao nhiêu thế kỉ, từ một địa danh
cổ do Lê Thánh Tông đặt ra sau cuộc Nam tiến năm 1471, cho đến nay vẫn giữ
được bản sắc riêng, truyền từ đời này sang được đời khác. No và đậm là một lối
sống ở đời, là nét đẹp ăn uống chỉ có riêng trong ẩm thực Quảng Nam.
Chương 3: Mì Quảng, hương vị gây thương nhớ của
Quảng Nam.
3.1.
Mì Quảng – đặc sản Quảng Nam:
3.1.1
Giới thiệu về mì Quảng:
“Quảng Nam với gió Lào và bão lũ liên miên đã buộc nhiều người Quảng xưa
phải tha phương. Theo chân họ là món mì địa phương nặng tình tri kỷ. Nơi đâu
có người Quảng Nam, ở đó có món này. Trên đất khách q người, mì Quảng
khơng chỉ là món ăn quen miệng mà đã trở thành “cá tính”, thành “nỗi hồi
hương”, thành “hành trang”của bao người bơn ba khắp chốn… Chính vì thế
cứ phải “lang thang mì Quảng” nghĩa là “gặp đâu nói đó, gặp chi nói nấy”
như cách nói mộc mạc của người địa phương về món mì này.” (Lê Thí, Lang
Thang Mì Quảng, )
Trước hết là tên gọi: Xưa, cùng giữa miền Trung gọi là”ngũ Quảng” gồm
Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Nghĩa và Quảng Đức vốn là tên
một thời của Thừa Thiên. Nhưng, nói đến “mì Quảng” là có thể biết ngay nơi
xuất xứ. Nói khơng ngoa, chẳng có nơi nào trên cả nước lại như Quảng Nam:
Khơng có dịp thì thơi, hễ có dịp là ăn mì Quảng, nói mì Quảng bất cứ đâu, khắp
nơi khắp chốn. Ăn mì Quảng bất kể cả đám giỗ, đầy tháng, thi đậu đại học,
người thân về thăm nhà, bạn bè họp mặt, khao tiệc... đề lấy mì làm “chính vị”.
Điều này khơng q xa lạ với người dân ở đây, họ có thể ăn mì từ ngày này qua
ngày khác mà chẳng thấy chán hay ngán. Bởi lẽ, mì Quảng đã gắn với cuộc
sống mưu sinh của người xứ Quảng, là một phần không thể thiếu, mang giá trị
vật chất lẫn giá trị tinh thần của con dân vùng quê này.
Mì Quảng là thứ đồ dễ làm gồm có sợi mì mềm mượt, trắng tinh được làm bằng
thứ gạo quê thơm dẻo, đĩa rau sống xanh mướt sực nức hương thơm đồng nội,
đậu phộng được rang vàng tới độ béo ngậy, thơm lừng. Và đương nhiên không
thể thiếu chút chất đạm mặn mịi, hoặc đơi lúc cũng tùy theo tiết trời lúc nắngmưa hay nóng-lạnh cho phù hợp. Chính điều này đã tạo nên sự thú vị về món
mì Quảng trứ danh. Đó có thể là vị ngọt tươi mang mùi biển cả của tôm, chút
hương đồng gió nội của thịt ếch đồng, hay sự đầm đà quen thuộc của các loại
thịt gà, vịt,cá...
( )
Ai ăn mì Quảng mà buộc miệng, “cho xin thêm miếng nước lèo” thì thật là trật
lất! Chẳng ai gọi nước ăn với mì là nước lèo bao giờ, ấy là nước nhân, khác biệt
ở chỗ nước chỉ chan vừa đủ ngấm vào sợi mì, khơng đầy ngập như phở Hà Nội,
hay bún bò Huế. Mặc kệ ai kêu người Quảng tần tiện, người ta vẫn giữ cái cách
ăn ấy, bởi chỉ xấp xấp nước như ăn tơ mì mới đậm đà, thấm thía. Phần nước
nhân được chăm chút, nêm nếm kỹ lưỡng bởi nó tạo nên hương vị đặc trưng
cho cả tơ mì. Mỗi nhà nấu mỗi khác, các thứ nguyên liệu được xem là dễ giải,
thường thì là người ta nấu với thịt heo, tôm, và trứng cút luộc, nhưng ai có gà
thì nấu gà, cá lóc thì lại càng ngon chứ chẳng sao, nấu thịt vịt cũng được nịi
nước nhân ngon lành... Biến hóa khơn lường là thế, nhưng để ngon thì phải nấu
đúng cơng thức là các loại thịt phải thật tươi, được ướp cho thấm gia vị, sau đó
đem rim trên chảo khử sẵn tỏi, hành thơm lựng, chờ cho thịt săn lại mới đem
nếu cùng nước dùng. Lượng nước trong nồi cũng vừa đặc, cô đọng, nếm nước
phải ngọt tự nhiên, đậm đà. Để nước dùng có màu hấp dẫn thì phải cho thêm
chút màu điều, kích thích người dùng từ màu sắc tới hương vị.
3.1.2 Nguồn gốc xuất xứ:
Vào thế kỷ thứ 16 dưới triều các Chúa Nguyễn đất Quảng Nam đã ổn định từ
lâu và thành phố Hội An đã thành một hải cảng quốc tế bn bán phồn thịnh.
Ngồi người Tàu đến lập nghiệp ở đây rất đông lập hẳn một cái làng Minh
Hương đến nay vẫn cịn, cịn có các thương nhân Nhật Bản, Hòa Lan, Tây Ban
Nha… đến mở cửa hiệu hoặc lui lới làm ăn. Trong một thành phố như thế thì dĩ
nhiên việc ăn uống phát triển cửa hàng ăn phải nhiều, và người Tàu, với truyền
thống nấu nướng phong phú nổi tiếng của họ, chắc chắn là nhiều ưu thế. Những
món ăn nổi tiếng của Hội An về sau nầy như hoành thánh, cao lầu cũng vẫn là
món ăn của người Tàu. Và vào thời xa xưa ấy dĩ nhiên người Tàu đã đem món
mì của họ vào Hội An, cái món mì sợi trứ danh mà người Ý đã học được từ
nhiều thế kỷ trước để biến hóa thành món spaghetti cũng nổi tiếng khơng kém.
Nếu gọi “thức ăn là văn hóa” thì dân Quảng Nam vào thời ấy đã ở trong một
luồng giao lưu văn hóa rất sớm, ít ra chỉ mới trong việc nếm thức ngon vật lạ
của bốn phương. Những nhà cách mạng của Quảng Nam sau ngày dễ nhạy cảm
với phong trào Duy Tân, đi tiền phong trong nhiều cơng cuộc đổi mới có lẽ một
phần cũng nhờ là hậu duệ của một lớp người đã có dịp mở rộng tầm mắt từ ba
bốn thế kỷ trước, trong đó có cả việc tiếp xúc với những khẩu vị mới lạ của thế
giới.Món mì của người Tàu tất nhiên rất gần với khẩu vị của dân nước ta, và
theo đúng truyền thống dung hóa của dân tộc Việt Nam, ta lại dung nạp và biến
hóa món mì ấy để phù hợp với sản vật và cái “gu” ăn uống của ta. Và thế là dù
khơng có bột mì, người Quảng Nam vẫn có món mì của mình, chẳng khác nào
sau này món pot-au-feu biến thành món phở ở miền Bắc vậy.
Quảng Nam là địa phương duy nhất trong cả nước có món mì như thế, và khi
xét về các đặc tính của nó ta sẽ hiểu sự hình thành và vai trị của nó trong đời
sống của người dân Quảng Nam.Ai cũng biết nước ta có rất nhiều tỉnh bắt đầu
bằng tên Quảng, nhưng khi nói đến mì Quảng thì ai cũng hiểu đó là món mì của
đất Quảng Nam. Nhưng ngay tại Quảng Nam thì người ta khơng gọi là mì
Quảng, chỉ gọi là mì, mà khơng sợ lẫn lộn với mì của bất cứ một ơng Tàu nào.
Món mì tàu chỉ có tại các cửa hiệu ở Hội An và Đà Nẵng, trong khi mì của dân
Quảng Nam là một món ăn rất dân dã, phổ biến đến từng làng mạc xa xơi nhất,
có mặt ở tất cả mọi gia đình Quảng Nam giàu nhất hoặc nghèo nhất. Bạn có tìm
thể tìm thấy mì Quảng từ chân đèo Hải Vân phía nam đến vùng An Tân, Bến
Ván mà sau này gọi là Chu Lai, từ vùng cao Dùi Chiêng, Tí, Sé, Tiên Phước
cho đến cáìnhc làng ven biển đơng. Ở đâu cũng có thể làm lấy sợi mì được, chỉ
cần một cái cối đá xay bột, khi gạo đã được xay ra thành bột nước, người ta
“tráng mì” trên một nồi nước sơi bịt vải theo kiểu như làm bánh tráng, nhưng lá
mì dày hơn bánh tráng, sau đó dùng dao xắt lá mì thành sợi, thế là xong. Người
ta ít khi nói nấu nước lèo cho mì, món mì Quảng khơng có nước lèo, mà chỉ có
làm nhưn. Đây thật ra cũng là một loại nước lèo, nhưng rất cơ đặc, ít nước, làm
cho tơ mì Quảng thường rất khơ. Vì thế, tại các qn mì ở thôn quê người ta
thường thấy thực khách vừa ăn mì vừa nhâm nhi một cút rượu trắng, một điều
ta ít khi thấy ở những người ăn phở hay ăn bún riêu, bún bị. Nghĩa là khi cần
thì mì Quảng tạm dùng làm món nhậu cũng được.
3.1.3 Quy trình chế biến:
Món mì quảng gà miền Trung có hương vị thơm ngon, độc đáo là sự kết hợp
hoàn hảo giữa sợi mì gạo vừa mềm, vừa dai, thịt gà ta thơm béo, nước dùng
đậm đà ăn kèm với nhiều loại rau sống tươi ngon và chút nước mắm nguyên
chất, chút đậu phộng rang, bánh tráng nướng miền Trung.
Nguyên liệu chuẩn bị
• Một con gà ta khoảng 1kg (cho 5-6 người ăn)
• 1 lít nước dừa tươi
• 4-5 củ hành khơ
• 2 củ tỏi
• Ớt tươi, dầu phộng (dầu lạc), ớt màu (ớt bột khơ xay nhuyễn)
• Mì quảng
• Đậu phộng rang (lạc rang)
• Bánh tráng nướng (bánh đa)
• Hành ngị, rau ăn kèm gồm xà lách, rau húng lủi
• Rau sống: bắp chuối bào, giá, cải non
• Gia vị: hạt tiêu, muối, nước mắm ngon, bột ngọt, đường, một trái chanh.
Sơ chế nguyên liệu
• Thịt gà mua về bạn làm sạch, rửa với nước muối pha lỗng để khử mùi hơi
của gà. Sau đó, bạn lóc thịt để riêng, cắt miếng nhỏ vừa ăn để nhân. Phần
xương gà hoặc những bộ phân không lóc thịt được như cánh, cổ, chân chặt
thành từng miếng vừa ăn.
/>
• Giã dập hành, tỏi và ớt tươi (nếu khơng ăn cay có thể khơng cho ớt tươi). Ướp
thịt gà, lòng gà với hành, tỏi, ớt đã giã dập, thêm tiêu xay, đường, bột ngọt,
nước mắm ngon, muối (có thể thay bằng bột nêm), trộn đều rồi để ít nhất 30
phút để thịt ngấm gia vị. Với xương gà, bạn ướp tương tự như trên.
• Hành ngị rửa sạch, cắt nhỏ. Xà lách nhặt sạch và cắt thành miếng vừa ăn, trộn
cùng với các loại rau khác rửa sạch và để ráo nước.
Cách nấu món mì quảng gà tại nhà
• Bước 1: Bắc chảo lên bếp, cho dầu ăn vào, phi thơm tỏi rồi cho thịt gà và
xương gà vào xào cho đến khi chúng săn lại.
• Bước 2: Sau đó, bạn cho nước dừa vào nồi, nấu cùng với gà trong vòng 15 20 phút. Khi thịt gà mềm và xương gà cũng đã tiết hết nước ngọt, bạn tiến hành
nêm nếm lại cho vừa miệng thì tắt bếp. Bạn có thể cho thêm một ít dầu ớt để
nước dùng có màu đẹp mắt.
• Bước 3: Nấu một nồi nước sơi khác, cho mì quảng vào chần trong 2 phút rồi
vớt ra để ráo.
• Bước 4: Chuẩn bị ớt cắt lát, nước mắm ớt nguyên chất, chanh cắt lát và các
loại rau sống, bày ra đĩa. Cho rau sống vào tơ, thêm mì đã chần lên trên rồi chan
nước dùng và thịt gà vào, thêm đậu phộng rang, hành, ngị cắt nhỏ nữa là xong.
• Bước 5: Khi thưởng thức, bạn vắt chanh, bẻ nhỏ bánh tráng nướng vào, trộn
đều và thưởng thức. Món ăn này sẽ càng ngon hơn nếu có thêm một ít tương ớt
rim kiểu miền Trung.
3.1.4. Trình bày:
Trước hết cho một lớp rau sống vào tơ, trụng mì rồi phù lớp mì lên trên trên
rau. Chan nước dùng đang sơi vào tơ mì sao cho nước chỉ vừa thấm vào sợi mì
lẫn rau sống. Bên trên là một lớp màu dầu điều, chiếm một khoảng tròn đỏ cam
giữa màu vàng mịn của sợi mì. Tiếp theo múc một ít nhân là thịt heo, thịt gà
nạc, một ít tơm, cho thêm vào đó một ít tóp mỡ, đậu phụng rang vàng giã nhỏ
và một ít bánh tráng nướng bể vụn phủ lên lớp mì.
3.1.5. Yêu cầu thành phẩm:
Tất cả các nguyên liệu như hành lá tươi xắt nhuyễn, chanh ớt, là những phần
phụ làm tăng độ béo, thêm vị chua cay, đồng thời điểm thêm màu sắc khiến tơ
mì chưa ăn đã thấy ngon và hấp dẫn. Tơ mì ngon là tơ mì hội đủ các yếu tố:
nước nhân đậm đà gia vị, sợi mì, rau sống và khơng thiếu một phụ gia nào. Nếu
thiếu đi một ngun liệu thì sẽ khơng ra tơ mì Quảng.
Mì quảng gà là sự hịa quyện của thịt gà ngọt dai, béo ngậy bởi đậu phộng, ngọt
thanh của nước lèo, rau thơm nồng tươi mát…dùng vào những ngày se lạnh là
tuyệt vời nhất. Ngồi mì quảng gà, người miền Trung cịn có món mì quảng
tơm thịt, mì quảng cá lóc... Món nào cũng hấp dẫn với hương vị riêng. Vì vậy,
nếu có dịp, mời bạn hãy tìm đến và thưởng thức những món ngon ấy nhé!
3.2.
Bản sắc văn hóa Quảng Nam qua món mì Quảng:
Nếu ở Hà Nội, thủ đơ ngàn năm văn vật có món phở bắc thơm ngon, ở Huế mảnh đất thần linh hữu tình, thơ mộng có món bún bị đặc sắc, thì ở Quảng
Nam nổi danh với món mì Quảng truyền thống. Cũng như phở Hà Nội, hủ tiếu
Sài Gịn, bún bị Huế, mì Quảng đã bước vào thực đơn điểm tâm và các món ăn
của người miền Nam. Ban đầu, mì Quảng chi để phục vụ cho những người
Quảng Nam xa quê, ăn để đỡ nhớ nhà. Nhưng rồi món mì Quảng ngon thu hút
rất nhiều người. Cái tên mì Quảng khơng biết có phải xuất xứ từ Quảng Đông,
Quảng Tây, Quảng Châu của Trung Quốc theo người dân di cư sang đây nhưng
nó đã hiện diện ở vùng đất này từ lâu lắm rồi. Cũng như phở Hà Nội hay bánh
canh Trảng Bàng, dù xuất xứ ở đâu thì đến giờ cũng chỉ đọng lại một nơi và
làm nên cái hồn của nơi đó. Khắp làng quê xứ Quảng, từ những nơi cư dân
đông đúc, ghe thuyền tấp nập, đến những vùng xa xôi hẻo lánh, trước đây
thường cứ một vài nhà là có một cối xay bằng đá để ở sau hè hay bên cạnh mái
tranh, và có cả lị bánh tráng bằng đất. Cối xay bột và lò bánh tráng là cơng cụ
quan trọng để làm mì. Đầu tiên, gạo dùng để xay là gạo lức, cịn lớp vỏ lụa bên
ngồi. Gạo lức cung cấp nhiều vitamin B1 tốt cho cơ thể. Chọn gạo, sau đó sẽ
đem ngâm gạo đến khi mềm, sẽ dễ xay hơn. Gạo phải được xay thật kĩ, thật mịn
sau đó múc đổ lên khn nồi hơi bánh tráng thành từng tấm bánh tròn, xếp
chồng lên nhau để giữ độ ẩm cho bánh không khô trước khi xắt bánh ra thành
từng sợi. Người ta xoa một lớp dịng phụng đã khử chín để mì khỏi bị dính.
Nước lèo của mì Quảng có thể nấu từ xương heo, gà, cua, tôm, cá... Rau sống là
nguyên liệu không thể thiếu trong tơ mì, thường là rau muống bào hoặc cải sắt
nhỏ trộn với bắp chuối non, rau thơm, rau răm và rau húng lùi.
Bánh tráng nướng giòn đã làm tăng ý vị của mì. Tùy vào sở thích cá nhân, có
người để nguyên bánh tráng rồi cắn một miếng rồi gắp một đũa mì, có người thì
bẻ nhỏ cho vào tô và trộn đều thấm gia vị của mì. Ở quê Quảng Nam, thì mì
Quảng được bày bán khắp nơi, từ bến xe, bến đò, các ngã ba, ngã tư, đặc biệt là
thành phố Đà Nẵng có những qn mì với lịch sự lâu đời nổi tiếng đến bây giờ.
Trước đây, khơng gọi là mì Quảng chỉ gọi gắn gọn mỗi một từ là “mì”. Và dần
dần phát triển, theo bước chân của những người con tha hương thì để phân biết
với các loại mì như mì Tàu, người ta đành gọi cụ thể mì Quảng và tồn tại cho
đến ngày nay. Ngoài ra, người xưa cịn gọi mì Quảng với cái tên lạ là “mì gỗ”
ra đời trong thập niên 40 của thế kỉ XX, cụ thể là trong kháng chiến chống
Pháp. Thời đó, gạo là thức phẩm rất quý hiểm nên chỉ ưu tiên ni qn, người
Quảng Nam nhớ đến mì q nên dùng bột sắn và bột bắp để chế biến.
Mì Quảng ngày xưa gắn liền với sơng nước lênh đênh thì cịn gọi là “ mì ghe”,
đơn giản là người bán trên ghe phục vụ cho khách đi thuyền trên bến sông nào
đó. Các bến đị dọc sơng Vu Gia, Thu Bồn... nơi nào cũng có “mì ghe” mãi mãi
là nỗi nhớ của những người con xứ Quảng xa quê. Hình ảnh đó đã đi vào ca
dao:
Đường về phố Hội cịn xa
Trên trăng, dưới nước, cịn ta...với mì!
/>
Ngồi ra, người xưa cịn gọi là “mì gánh” một thời hưng thịnh ở các lành quê.
Hình ảnh người mẹ, người bà lam lũ, đi chân đất, đầu đội nón tơi gánh mì cất
tiếng rao... Người Quảng với sự mộc mạc, giản dị gánh đi bán. Ăn tơ mì Quảng,
xong, uống một bát chè xanh Tiên Phước thì tuyệt nhất rồi:
Thương nhau múc bát chè xanh
Làm tơ mì Quảng mời anh xơi cùng!
Các món ăn đất Quảng đã đi vào đời sống, vào câu ca dao dân ca, vào tâm linh
– tâm hồn người Quảng Nam.
Bản sắc của Mì Quảng là cái gì đó chơng chênh, bất định. Khơng nói gì đến
vùng này và vùng kia, từ nhà này đến nhà kia, Mì Quảng đã có thể khang chút
đỉnh hay khác nhau rất nhiều, khác từ màu của sợi mì, khác ở những cọng rau
và khác cả ở phần hồn nằm trong màu nước sềnh sệch. Mì Quảng là sự kết hợp
của nhiều nguyên liệu, khi phải chan hòa với bao nhiêu thứ “rất đa dạng thể
hiện ở dấu chấm lửng nối dài như để hứa hẹn thêm bao nhiêu điều. Mì Quảng
khó mà hình thành nên một bản sắc riêng. Trong ngôn ngữ của các nhà kinh tế
học, của khoa học về thị trường hay về nghệ thuật bán bn, mì Quảng vẫn
chưa đạt đến một trình độ tiêu chuẩn “tiêu chuẩn hóa”.
“Nếu anh u cái mặn mà thì về Quảng Nam quê em. Nếu anh yêu cái nồng cay
thì về Quảng Nam ân tình. Người ở miền trung khơng ngại mưa ngại gió, người ở
miền trung anh về anh sẽ thương...”. Câu hát vang lên để lại lắng đọng cho người
nghe. Những người xa quê bỗng sẽ nhớ quê hương da diết, ai chưa một lần đến
thăm thì luôn mong mỏi đặt chân đến mảnh đất này. Xứ Quảng đã làm chốn dừng
chân không biết bao nhiêu khách du lịch từ trong nước và cả nước ngoài. Từ xa
xưa, Quảng Nam được biết đến bởi Hội An cổ kính tĩnh mịch những đầy sức
sống, một thánh địa Mỹ Sơn phiêu mị lúc hồng hồn, đặc biệt là tơ mì Quảng nức
mùi thơm, là cái mặn mà khơng thể lẫn của người dân xứ Quảng. Đến với xứ
Quảng du khách có thể tận hưởng tất cả những thi vị của cuộc sống mà mảnh đất
văn hóa này mang lại.
3.3.
Vai trị của mì Quảng và vấn để bảo tồn văn hóa ẩm thực
Quảng Nam:
Mỗi vùng đất đều có biểu tượng riêng, thì biểu tượng của Quảng Nam chính là
mì Quảng. Mì Quảng khơng chỉ là một món ăn ngon còn cung cấp cho con người
dưỡng chất sau những ngày lao động mà nó cịn thể hiệ được bản chất, tính cách
cũng như văn hóa của người dân nơi đây. Nó cịn là hương vị mà giúp người xa
q cảm thấy an lòng và tự hào hương vị quê hương mà khơng nơi nào có được.
Mì Quảng khơng cịn bị giới hạn hẹp nữa mà đã phát triển vượt trội khi đi vào
miền Nam. Mì Quảng bị tha hương nên cũng nhiều thay đổi để hợp với con
người khẩu vị ở miền đất mới. Nhưng cũng không thể nào phai đi được nét riêng
biệt gắn liền với đất Quảng.Mì Quảng được bán khắp mọi nơi những để có được
và giữ được hương vị truyền thống đặc trưng thì lại là chuyện khơng dễ dàng. Mì
Quảng tồn tại lâu đời hơn cả phở, có hương vị khơng thua kém gì phở, và có một
giá trị nhất định, đi vào ca dao một cách tự nhiên:
“Ai ơi hãy đến xứ ta
Ăn tô mì Quảng mà thương nhau cùng”
IV. PHẦN KẾT LUẬN
Mảnh đất Quảng Nam được khai hoang đến nay đã gần 550 năm. Trong nhiều
thế kỉ trôi qua, nơi đây vẫn được xem là đinh cao của cuộc sống. Trong nơi
phồn hoa, đơ thị với sự phát triển nhanh chóng, sầm uất, đơng đảo khách du lịch
của Hội An, thì Quảng Nam đã được giao lưu văn hóa với nhiều nước trên thế
giới như Trung Hoa, các nước phương Tây. Không những thế nơi đây còn là
nơi in đậm dấu ấn Chăm – một nền văn hóa tồn tại lâu năm và có nhiều thành
tựu. Chính những đặc điểm đó, Quảng Nam được giao lưu những tinh túy từ
những nền văn hóa khác nhau. Có thể khẳng định cái đẹp trong bản sắc văn hóa
của ngời Quảng hơm nay là sự hội tụ, chắt lọc tinh hoa văn hóa nhiều vùng
miền.
Cùng với những điều kiện địa lý lẫn tựu nhiên mà tạo hóa ban cho, cùng với
tinh thần của người dân ở đây với sự gan dạ, cần cù, chịu khó vốn có. Thơng
qua q trình lao động và sáng tạo người dân nơi đây đã tạo nên những giá trị
văn hóa khác biệt mang đậm bản chất địa phương. Vẻ đẹp của nền văn hóa giàu
sức sống đã in đậm dấu ấn trong các phong tục, tập quán, văn học dân gian... và
đặc biệt là trong đặc sản của vùng đất.
Mì Quảng có nguồn gốc khá lâu, một món ăn ngon hấp dẫn bởi sự hài hịa trong
món ăn, phù hợp với con người Quảng Nam, và để lại nhiều dư âm đối với
người dẫn xa quê. Tuy nhiên, tính truyền thống, bản sắc đậm đà nhưng cần phải
có một xúc tác đề tài để cái truyền thống được tiếp xức với hiện đại. Mì Quảng
là một món ăn hết sức bình dị, đậm chất dân dã như chính mảnh đất này. Nhưng
lại khơng ngờ một món ăn như vậy lại là biểu tượng đặc trưng của Quảng Nam.
Nhắc đến mì Quảng thì biết ngày là Quảng Nam, kể về Quảng Nam thì chắc
chắn phải kể đến mì Quảng. Tuy một mà hai, tuy hai mà một, như một nét gắn
bó khơng thể thiếu. Chính vì vậy, Mì Quảng là một món ăn mang đậm bản sắc
văn hóa Quảng Nam mà khơng có nơi nào có được. Dù có trải qua bao nhiêu
thời gian, món mì Quảng đã trở thành niềm tự hào của người dân nơi đây. Mỗi
khi nhắc đến mì Quảng chúng ta lại khơng khỏi bồi hồi xao xuyến không chỉ
bởi hương vị đặc trưng vốn có của nó. Mà nó nhắc nhớ chúng ta nhớ tới những
giá trị văn hóa tốt đẹp của quê hương. Tôi là một người con của xứ Quảng,
cũng sẽ giữ gìn và bảo tồn giá trị ẩm thực đặc trưng của nơi đây. Và sẽ lan tỏa
niềm tự hào đến bạn bè, người thân cùng chia sẻ, đưa những giá trị đặc trưng
của quê hương đến những người bạn nước ngồi. Ln Ln duy trì vẻ đẹp vốn
có của ẩm thực quê hương – Mì Quảng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bùi Tiến Dũng, Mì Quảng – Nét tinh tế của ẩm thực miền Trung.
/>Nguyễn Văn Hiệu, EDWARD BERNETT TYLOR.
/>Trần Hạnh, Văn hóa ẩm thực Quảng Nam qua mì Quảng.
/>Tú Minh Võ, Mì Quảng “Sợi nhớ, sợi thương”.
/>Wikipedia, Văn hóa, 2020
/>Wikipedia,Quảng Nam
/>