Tải bản đầy đủ (.pdf) (30 trang)

TÍN NGƯỠNG THỜ TRỜI CỦA NGƯỜI VIỆT TÂY NAM BỘ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (800.86 KB, 30 trang )

TIỂU LUẬN CUỐI KÌ

TÍN NGƯỠNG THỜ TRỜI CỦA NGƯỜI VIỆT
TÂY NAM BỘ


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU....................................................................................................3
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................... 3
2. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu ............................................. 4
2.1. Mục đích nghiên cứu ........................................................................... 4
2.2. Đối tượng nghiên cứu.......................................................................... 4
2.3. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................. 4
3. Phương pháp nghiên cứu và tài liệu nghiên cứu .................................... 4
3.1. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................... 4
3.2. Tài liệu nghiên cứu.............................................................................. 5
NỘI DUNG ............................................................................................... 6
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn............................................... 6
1.1 Cơ sở lý luận ........................................................................................ 6
1.2 Cơ sở thực tiễn ..................................................................................... 8
1.2.1 Đôi nét Tây Nam Bộ ......................................................................... 8
1.2.2 Sơ lược tín ngưỡng thờ Trời ở Tây Nam Bộ ..................................... 9
Chương 2: “Trời” của người Việt Tây Nam Bộ ....................................... 10
2.1 Quan niệm “Trời” .............................................................................. 10
2.2 “Trời” trong tâm thức người Tây Nam Bộ ......................................... 11
2.3 “Trời” trong thần thoại sáng thế ......................................................... 12
Chương 3: Thờ cúng Trời của người Việt Tây Nam Bộ .......................... 13
3.1 Thờ Trời của người Việt không tôn giáo ........................................... 13
3.2 Thờ Trời của người Việt có tơn giáo.................................................. 14
3.2.1 Thờ Trời trong đạo giáo Hòa Hảo ................................................... 14
1




3.2.2 Thờ Trời trong đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa ........................................... 16
3.2.3 Thờ Thiên Bàn của đạo Cao Đài ..................................................... 16
3.3 Vai trị của tín ngưỡng thờ Trời với người Việt ................................. 17
3.3.1 Tín ngưỡng thờ Trời là chỗ dựa tâm linh ........................................ 17
3.3.2 Tín ngưỡng thờ Trời cố kết cộng đồng ........................................... 18
3.3.3 Tín ngưỡng thờ Trời giúp giữ gìn bản sắc văn hóa ......................... 18
Chương 4: Một số vấn đề liên quan bàn thờ Thiên .................................. 19
4.1 Bàn thờ Thiên là gì? ........................................................................... 19
4.2 Cấu trúc và cách đặt bàn thờ Thiên .................................................... 21
4.2.1 Cấu trúc của bàn thờ Thiên ............................................................. 21
4.2.1.1 Bàn thờ Thiên của người Việt ...................................................... 21
4.2.1.2 So sánh đôi nét với tộc người khác .............................................. 23
4.2.2 Cách đặt bàn thờ đúng phong thủy.................................................. 26
4.3 Ý nghĩa bàn thờ Thiên........................................................................ 27
KẾT LUẬN ............................................................................................. 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................... 29

2


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa tơn giáo, tín ngưỡng . Dân tộc Việt Nam
rất coi trọng tín ngưỡng và coi đó là một truyền thống văn hóa từ lâu đời.
Các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều có những tín ngưỡng
riêng gắn liền với đời sống kinh tế và tâm linh của mình . Góp phần làm
phong phú đa dạng và biến đổi trong văn hóa Việt về tín ngưỡng.
Tín ngưỡng của nhân dân Nam Bộ xuất phát từ những hiện thực của

cuộc sống khi nhân dân sợ trước những sinh vật tự nhiên như Cọp, Rắn,
Sấu,…hay là xuất phát từ những điều bí ẩn mà con người khơng thể giải
thích được. Tín ngưỡng tại vùng đất này bên cạnh mang trong mình những
đặc điểm của bản xứ mà còn ảnh hưởng bởi những lưu dân từ miền ngồi
như Bắc, Trung vào. Tổng hịa những đặc điểm đó, tín ngưỡng ở Nam Bộ đã
hình thành nên những điểm độc đáo, mang đậm dấu ấn dân gian trong nền
văn hóa sơng nước miền Tây.
Khi nhắc đến những tín ngưỡng mà nhân dân Nam Bộ nói chung và
Tây Nam Bộ nói riêng thì khơng thể khơng kể đến tín ngưỡng thờ Trời. Thờ
Trời là tín ngưỡng cổ xưa của cư dân nơng nghiệp. Đây là một dạng tín
ngưỡng sơ khai của con người khi chưa giải thích được các hiện tượng tự
nhiên nên cho rằng: mỗi sự vật, hiện tượng xung quanh mình đều có các vị
thần linh chi phối, dần dần hình thành nên tín ngưỡng sùng bái tự nhiên.
Trong tín ngưỡng sùng bái tự nhiên ở Nam Bộ, Trời là một trong những vị
thần có tầm ảnh hưởng sâu rộng, chi phối đến cuộc sống của người dân. Ở
Tây Nam Bộ, hình thức thờ Trời đã được thay đổi ít nhiều cho phù hợp với
điều kiện hồn cảnh và cuộc sống của người dân. Tuy nhiên, thờ Trời là một
3


tín ngưỡng vẫn khơng hề mờ nhạt của người dân ở Tây Nam Bộ. Bởi lẽ
những ảnh hưởng sâu sắc của nó trong tâm thức của người dân và tầm quan
trọng to lớn đối với nhân dân Tây Nam Bộ nên tơi đã lựa chọn đề tài trên để
tìm hiểu về những giá trị văn hố dân gian của tín ngưỡng thờ Trời. Từ đó,
giúp mọi người có cái nhìn sâu sắc và có thái độ trân trọng bản sắc văn hố
này.
2. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.1


Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu về tín ngưỡng ở Tây Nam Bộ, cụ thể là tín ngưỡng thờ Trời
của người Việt ở Tây Nam Bộ góp phần giúp mọi người hiểu hơn về văn
hố bản địa miền sơng nước. Trên cơ sở đó, phát huy nét độc đáo, mặt tích
cực đồng thời có thái độ trân trọng, giữ gìn bản sắc văn hoá tinh thần của
người Việt ở Tây Nam Bộ.

2.2

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu đó là tín ngưỡng thờ Trời của người Việt ở
vùng đất Tây Nam Bộ.

2.2

Phạm vi nghiên cứu

Tín ngưỡng thờ Trời ta có thể bắt gặp một số vùng miền, dân tộc của
Tổ quốc, tuy nhiên ở đây, tơi muốn chú trọng nghiên cứu tín ngưỡng thờ
Trời này trong phạm vi Tây Nam Bộ của người Việt.
3. Phương pháp nghiên cứu và tài liệu nghiên cứu

3.1 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích tổng hợp là phương pháp chủ yếu để thực hiện
đề tài này. Tôi thu thập tài liệu chủ yếu là từ sách, từ cơng trình nghiên cứu
4



trước, từ các bài báo và những thông tin từ Internet có liên quan đến đề tài
này. Dựa trên những nguồn tài liệu này, tơi đã phân tích và đưa ra những dữ
liệu phù hợp, cần thiết với đề tài. Sau đó, tiến hành lấy những đặc điểm và
tổng hợp những thông tin kiến thức cho đối tượng.
Phương pháp so sánh để chỉ ra nét tương đồng và dị biệt của hình thức
tín ngưỡng thờ Trời của người Việt và các tộc người khác, chỉ ra điểm khác
nhau trong việc thờ Trời và thời thần thánh khác như Thành Hoàng, Mẫu,…
Khơng những thế, tơi cịn đặt tín ngưỡng này trên phương diện người Việt
có tơn giáo và khơng có tơn giáo để nhận ra điểm sự khác nhau đó.
Phương pháp phỏng vấn sâu: tôi tiến hành phỏng vấn những bạn sinh
viên q ở Tây Nam Bộ có tín ngưỡng thờ Trời. Từ đó thu thập thơng tin, dữ
liệu ngay chính người tại địa phương.
Phương pháp hệ thống cấu trúc: thông qua phương pháp này, tín
ngưỡng thờ Trời khơng chỉ được xem xét, phân tích trên một bình diện chỉnh
thể, trong phạm vi nội tại mà còn cả trong hệ thống của tín ngưỡng.
Phương pháp hệ thống liên ngành: tơi nghiên cứu tín ngưỡng thờ Trời
trong đời sống người dân Tây Nam Bộ từ góc độ Dân tộc học, Địa lý học,
Tâm lý học, Văn hoá học,…

3.2 Tài liệu nghiên cứu
Tổng hợp từ những nguồn tài liệu như sách, báo, Internet và cơng
trình nghiên cứu trước để tiến hành phân tích và tổng hợp những điểm liên
quan đến đề tài trên.

5


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Cơ sở lý luận

Khái niệm văn hoá:
Theo Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua q trình hoạt động thực
tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội
của mình.” [tr.27- Tìm về bản sắc văn hố Việt Nam, NXB TP. Hồ Chí
Minh, 1997]
Theo E.B.Tylor: “Văn hoá hay văn minh, hiểu theo nghĩa rộng về tộc người
học, là chỉnh thể phức hợp gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức,
luật pháp, phong tục, các năng lực và thói quen khác con người đạt được với
tư cách là thành viên của xã hội”. [E.B.Tylor, 2001: 13]
Khái niệm văn hoá dân gian: Văn hoá dân gian là những sản phẩm
phục vụ đời sống vật chất và đời sống tinh thần, những quy ước xã hội do
người bình dân sáng tạo, giữ gìn qua nhiều thế hệ.
Khái niệm tín ngưỡng:
Theo Lý Nhạc Nghị trong “Tìm về cội nguồn chữ Hán”, có thể định nghĩa
“Tín ngưỡng chính là sự tin tưởng, kính ngộ của con người trước một đối
tượng siêu nhiên nào đó.” [Lý Nhạc Nghị 1997:471:753]
Theo Đào Văn Tập trong “Từ Điển Việt Nam Phổ Thơng”: “Tín ngưỡng là
lịng tin tưởng và ngưỡng mộ một tôn giáo hay một chủ nghĩa.” (dẫn theo
Toan Ánh 2005: 11)
6


Khái niệm thờ
Theo từ điển tiếng Việt “thờ” là tỏ lịng tơn kính thần thánh, vật thiêng hoặc
linh hồn người chết bằng hình thức lễ nghi cúng bái theo phong tục hoặc tín
ngưỡng. [Hồng Phê (chủ biên):1184]
“Thờ” cũng là hành vi mang tính văn hóa, bao hàm những hành động của
con người nhằm thể hiện sự sùng kính, tơn vinh một đấng siêu nhiên nào đó
như: thần, thánh, tiên, phật,...đồng thời “Thờ” cũng có nghĩa là cách ứng xử

với những người lớn hơn, bề trên cho phải đạo làm người như: thờ cha mẹ,
ông bà,...Hay một người mà bản thân và dân tộc mình mang ơn như: vua
Hùng Vương, Bác Hồ,…
Trời trong văn hoá dân gian:
Trong tiếng Hán, từ “thiên” có nghĩa là “trời” và từ xa xưa đến nay, trời
luôn được xem là đấng tối cao, là cấp bậc cao nhất trong tam giới và có vị trí
vơ cùng quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng của người xưa. Theo đó, trời
ln được xếp ở vị trí cao nhất thậm chí cao hơn cả Phật trong danh sách thờ
cúng, trong đó thứ tự thờ như sau: Trời – Phật – Thánh – Thần.
Dân gian Việt Nam từ trước luôn có những hành động và tâm thức mà gắn
Trời vào trong chính những hoạt động cuộc sống thường ngày như kính
Trời, cầu Trời: Lạy Trời mưa xuống/ Lấy nước tơi uống/ Lấy ruộng tôi cày/
Lấy đầy bát cơm…Hay tin vào Trời và thờ Trời: “Trời cho ai nấy hưởng”,
“Trời kêu ai nấy dạ”.

7


1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Đôi nét về vùng đất Tây Nam Bộ
Vùng đất Tây Nam Bộ là vùng cực nam của Việt Nam, còn được gọi
là Vùng đồng bằng sông Mê Kông, Vùng đồng bằng Nam Bộ, vùng đồng
bằng sông Cửu Long, Cửu Long hoặc theo cách gọi của người dân Việt Nam
ngắn gọn là Miền Tây, có 1 thành phố trực thuộc trung ương là thành phố
Cần Thơ và 12 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh,
Hậu Giang, Sóc Trăng, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà
Mau.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2019, Đồng bằng
sông Cửu Long là đồng bằng có tổng diện tích các tỉnh, thành phố trực thuộc

Trung ương lớn nhất Việt Nam (40.548,2 km²) và có tổng dân số tồn vùng
là 17.273.630 người.[Tổng cục thống kê Việt Nam, 2019]
Khơng gian văn hố Tây Nam Bộ ngày nay có nguồn gốc trước hết là
vùng đồng bằng Bắc Bộ, nơi từng là cái nôi của vùng văn hố Đơng Sơn
thời thượng cổ, văn hố Đại Việt thời trung cổ. Với vị trí đặc biệt của mình,
Tây Nam Bộ đã định hình nên những nét riêng biệt và một nếp sống khá độc
đáo. Vùng đất này chỉ từ khi có việc dân người Việt đến mới trở nên phong
phú, nếu như vùng đất này trước đây khi người Việt mới đến khai phá thì:
Tới đây xứ sở lạnh lùng/ Chim kêu phải sợ cá vùng phải ghê. Thì nay vùng
đất ấy đã trở nên: Ruộng đồng mặc sức chim bay/ Biển hồ lai láng mặc bầy
cá đua.
Tây Nam Bộ là vùng đất đa văn hoá, là nơi cư trú xen kẽ của nhiều tộc
người từ nhiều thế kỉ, với mối giao lưu văn hoá rộng rãi và phong phú, nơi
đây là gùng hỗn hợp của các dân tộc Việt, Khmer, Hoa, Chăm,…Nhưng tộc
8


người chỉ thể có vài trị quyết định sự phát triển của nơi đây là người Việt
với nhiều phong tục, nét văn hố và tín ngưỡng đa dạng.

1.2.2 Đơi nét về tín ngưỡng thờ Trời của người Việt ở Tây Nam Bộ
Nói đến vùng đất Tây Nam Bộ, ngồi những đặc trưng về vùng đất,
ẩm thực, con người thì khơng thể khơng kể đến văn hố dân gian của người
Việt được thể hiện qua các phong tục, tín ngưỡng mà điển hình là tín
ngưỡng thờ Trời ở nơi đây.
Việc thờ cúng ông Trời của người Việt ở Tây Nam Bộ là nét tín
ngưỡng chung của người Việt ở các địa phương trong nước. Tuy nhiên, niềm
tin và các nghi thức có phần khác biệt, liên quan đến lịch sử và không gian
sinh tồn của người Việt ở Tây Nam Bộ, mà bàn thờ Thiên là một dẫn liệu.
Người Việt Nam Bộ gọi bàn thờ vị thần được thờ là Thiên, hoặc Ơng Thiên,

khơng gọi là ơng Trời, hoặc như trong văn hóa Trung Hoa là Ngọc Hồng,
Ngọc Hồng Thượng Đế. Chữ “Thiên” trong bàn thờ Thiên chỉ Trời, và liên
quan đến thiên cung (nơi ở của Trời) trong bài vị trên bàn thờ Trời của
người Hoa là Thiên Cung Tứ Phúc. Trong chừng mực nào đó, từ Thiên đối
với người dân miền Tây thể hiện sự kính trọng hơn là gọi Trời, ông Trời và
gần gũi hơn với cách gọi Ngọc Hoàng, Thượng Đế. Người Việt miền Tây
Nam Bộ đã ý thức về cách gọi bàn thờ Trời của mình với tên gọi bàn thờ
Thiên, vừa bày tỏ sự tôn kính vừa khơng q cách biệt với vị thần tối thượng
cai quản cả thế gian và nhân loại.
Đối với người Việt ở đây, thờ Trời là một nét văn hoá luôn gắn liền và
hầu như là không thể tách rời với cuộc sống của họ, từ bao thế hệ, từ đời này
sang đời khác cứ tiếp nối nhau duy trì tín ngưỡng này, nó như ăn sâu vào
tiềm thức của họ, không cần phải truyền bá, không cần phải bắt buộc hay
9


phải giáo lí mà nó cũng tự động đi vào người dân với các hình thức thờ cúng
truyền thống. Ngày nay, cuộc sống ngày càng đổi mới, tư duy con người
theo đó cũng ngày càng khác đi ít nhiều, tuy nhiên việc thờ Trời của người
Việt ở Tây Nam Bộ vẫn giữ được nét đặc trưng cho dù từ người theo tơn
giáo đến người khơng tơn giáo.Tín ngưỡng thờ Trời vẫn còn là thế, nhưng
chúng ta, những thế hệ tiếp sau nữa hãy luôn trân quý và lưu giữ nét văn hố
này bằng cách nào đó trong khả năng của chúng ta .

CHƯƠNG 2: “TRỜI” CỦA NGƯỜI VIỆT Ở TÂY NAM BỘ
2.1 Quan niệm “Trời”
Từ thời xa xưa, người Việt đã có nhiều ý niệm về “Ơng Trời”. Ơng
Trời của người Việt có một số điểm khác với Trời của các đạo giáo, dân tộc
nước ngoài từ cách xưng danh cho đến ý niệm. Trời có nhiều tên gọi khác
nhau nhưng tùy theo tơn giáo và tín ngưỡng của tộc người mà Trời được gọi

khác như: người Hoa hay một số nhà nho chịu ảnh hưởng văn hóa Trung
Quốc, họ gọi Trời là Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thượng Đế, Đức Chí Tơn,…
Theo từ ngun “Trời” trong Từ Điển Tiếng Việt Phổ Thơng: chữ
Trời có năm nghĩa thứ nhất, trời là một khoảng khơng gian vơ tận ta nhìn
thấy như một vòm úp trên mặt đất; thứ hai, trạng thái của khí quyển, của
khoảng khơng gian bao quanh con người ở một nơi, vào một lúc nào đó; thứ
ba, thiên nhiên, về mặt đối lập với con người; thứ tư, hoang dại, có sẵn
trong tự nhiên, khơng phải do con người nuôi trông; thứ năm lực lượng siêu
tự nhiên, coi như ở trên cao, sáng tạo và quyết định số phận của con người
dưới mặt đất, theo tơn giáo, tín ngưỡng dân gian. [Từ Điển Tiếng Việt Phổ
Thông 2002:963]
10


2.2 “Trời” trong tâm thức của người Việt ở Tây Nam Bộ
Ông Trời trong tâm thức dân gian là vị thần tối cao, linh thiêng nên ai
ai cũng hướng về. “Trời” ở đây khơng chỉ được nhìn nhận bằng giới trí thức
nho học un thâm mà Trời cịn được dân gian khắc họa qua những ca dao
thành ngữ, tục ngữ thể hiện uy trời.
Con người cho rằng vẻ đẹp của một cá thể được xét từ bên trong cốt
cách, phẩm chất “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, đã cho thấy sự đề cao nhân tính,
bên cạnh đó người ta lại có câu “cha mẹ sanh con, trời sanh tánh”, điều này
đã cho thấy tầm quan trọng của Trời, bản tính con người là phần quan trọng
nhất nhưng nó lại được nảy sinh từ Trời. Trời ban cho con người những điều
thiêng liêng, quý giá nhưng cũng nhờ đó, con người dựa vào quyền uy của
Trời để dạy dỗ người ta hướng thiện, sống tốt, sống đúng với những gì Trời
ban cho chúng ta ở trên cõi đời này. Dân gian thường hay nói “trời cao có
mắt” nhằm chê trách những ai ở đời khơng có đức, làm nhiều việc ác với
hàm ý là sẽ bị quả báo; những kẻ đầu trộm đi cướp, lưu manh ba đá, làm
việc khơng có quy tắc, khơng có kỷ luật, qua mặt người khác là thứ “bán trời

không mời thiên lôi”; những người phá làng, phá xóm sẽ bị thiên hạ chửi là
“đồ trời đánh”; để nói tránh việc tuổi già sắp chết thì bảo là “gần đất xa trời”;
những người không thể thay đổi được hồn cảnh thì cho rằng đó là do “số
trời đã định”; những kẻ vô lo, sinh con đàn cháu đống, khơng ngại hồn
cảnh khó khăn thường bảo là “trời sinh voi sinh cỏ”… Cịn khi nói “thiên bất
dung gian” là ý nói Trời sẽ khơng tha những kẻ gian; “mưu sự tại nhân thành
sự tại thiên” hàm ý việc tính tốn là do con người, cịn thành cơng hay không
là ở Trời; “thuận thiên giả tồn nghịch thiên giả vong” là ý nói thuận theo
Trời thì sống, trái ý Trời là chết…
11


Ông Trời tuy ở trên cao, có quyền năng siêu việt nhưng cũng rất gần
gũi với dân gian. Đặc biệt, ơng Trời cịn có chức năng như vị thần cơng lý là
khuyến thiện trừ ác. Hễ ai làm điều ác thì Trời sẽ khơng tha, cịn ngược lại
nếu làm điều thiện sẽ được Trời ban phước lành. Vì lẽ đó, ông Trời thường
là đối tượng để con người hướng đến cầu cạnh, nhất là những người có hồn
cảnh khó khăn. Vì vậy, nếu gặp chuyện chẳng lành trong cuộc sống người ta
đều kêu Trời để than thở, những khi ốm đau bệnh tật người ta cũng van vái
Trời cao: Mỗi đêm mỗi thắp đèn trời/ Cầu cho cha mẹ sống đời với con.

2.3 “Trời” trong thần thoại sáng thế
Thần thoại sáng thế của người Việt kể rằng thoạt kỳ thủy, trời đất là
một khối mờ mịt, hỗn độn. Từ trong khối hỗn độn đó, thần Trụ trời đào đất,
đắp đá thành một trụ cao to, chống màn trời lên khỏi mặt đất, làm cho trời
đất phân định rõ ràng: trời tròn như cái chén úp xuống, đất phẳng như cái
mâm vuông. Trời ở trên cao (dương), tạo ra mưa nắng, bão táp; Đất là mẹ, ở
dưới mang nữ tính (âm), hàm chứa khả năng sinh sản. Tín ngưỡng cha Trời,
mẹ Đất cịn mang nội dung mối quan hệ ba ngơi tam tài (tam hoàng): Thiên
hoàng (Trời), Địa hoàng (Đất) và Nhơn hồng (Người); Người ở giữa Trời

và Đất phải thơng thiên, đạt địa. Người ở giữa Trời và Đất phải thơng thiên,
đạt địa. Ơng Trời trong tâm thức dân gian là vị thần tối cao, linh thiêng nên
ai ai cũng hướng về.

12


CHƯƠNG 3: THỜ CÚNG TRỜI CỦA NGƯỜI VIỆT
3.1 Nghi thức thờ cúng “Trời” của người Việt không tôn giáo
Những nghi thức thờ cúng Trời ở bàn thờ Thiên khá đơn giản, đó
cũng là nét chung của nghi thức tín ngưỡng của người Việt ở Tây Nam Bộ.
Trước hết việc thờ cúng Trời và nhiều vị thần linh khác là một nhu cầu tinh
thần, chỗ dựa tâm linh của những lưu dân người Việt đến khẩn hoang vùng
đất Nam Bộ từ nhiều thế kỷ về trước. Vùng đất Tây Nam Bộ nhiều tiềm
năng nhưng cũng đầy thách đối với người mở đất, thiên nhiên hoang dã,
rừng rậm, sơng ngịi nhiều hiểm nguy chờ chực. Vì vậy, ngồi sức mạnh của
bản thân và cộng đồng, lưu dân người Việt cịn trơng cậy vào sức mạnh siêu
nhiên, sự giúp đỡ của thần thánh. Ông trời, một vị thần quen thuộc nơi quê
hương, đã được người Việt mang theo, tiếp tục thờ cúng và cầu xin sự trợ
giúp quan trọng. Trong buổi đầu khởi dựng làng xóm, khai khẩn đất đai,
cuộc sống của lưu dân người Việt hẳn gặp nhiều khốn khó, nên các nghi
thức, nghi lễ thờ cúng vừa tôn nghiêm nhưng cũng vừa giản dị, đơn sơ. Bàn
thờ, đồ thờ (tự khí), thức cúng, cung cách cúng bái cũng gọn nhẹ, giản lược
so với nhiều địa phương phía Bắc, miền Trung, là cách tư duy và lựa chọn
của người Việt ở Tây Nam Bộ.
Về nghi thức cúng ở bàn thờ Thiên cũng có phần giản đơn hơn so với
một số lễ cúng các vị thần thánh khác như thờ Mẫu, thờ Thành
Hoàng,…Thường sáng sớm khi mặt trời vừa lên, và chiều tối khi mặt trời đã
lặn, gia chủ thắp nén hương (3 cây hoặc 5 cây), có khi chỉ cần một cây
hương vái trời đất, bốn phương rồi cắm ở bát nhang, khơng có đọc kinh và

khấn vái gì. Vào ngày mùng một và rằm hàng tháng (theo âm lịch), chủ nhà
kiếm một ít hoa và trái cây, thường là hoa trái vườn nhà, bày lên bàn thờ
13


thiên, thay nước lạnh (thường là nước mưa trữ trong lu ở nhà). Sau đó gia
chủ thắp hương và vái, cũng có thể khấn xin trời đất, thần thánh ban cho gia
đình sức khỏe bình yên. Trong những ngày gia đình có việc như giỗ chạp,
cưới xin, tang ma, hoặc vào dịp tết, lễ, gia chủ cũng thay nước, đặt hoa và
trái cây, thắp hương nơi bàn thờ thiên.
3.2 Nghi thức thờ cúng của người Việt có tơn giáo

3.2.1 Thờ Trời trong Đạo Phật giáo Hòa Hảo
Yếu tố đơn giản, giản dị và thực tế trong thờ cúng Trời có sự tương
đồng, hoặc là nét chung với đời sống tín ngưỡng tôn giáo của cộng đồng cư
dân Việt Tây Nam Bộ. Đạo Hịa Hảo là một tơn giáo phổ biến trong nông
dân người Việt miền Tây Nam Bộ, về nghi thức, nghi lễ cũng có nét đơn
giản gần với cúng trời nơi bàn thờ thiên. Đạo Hịa Hảo khơng có nhà thờ,
giáo đường như một số tôn giáo khác, việc sinh hoạt tơn giáo chủ yếu diễn ra
trong gia đình. Một trong ba hương án tín đồ Hịa Hảo thờ tại nhà đó là Ngơi
Thơng Thiên tức bàn thờ Thiên đặt ngoài trời

14


Bàn thờ thơng thiên (ngồi trời) chỉ có bát hương, ly nước lạnh, hoa quả trái
cây. ( />
Bàn thờ của đạo Hịa Hảo là một tấm trần điều làm phơng, trên bàn
thờ chỉ có hương, hoa, trái cây. Về cách lễ cúng, chỉ nên cúng nước lạnh,
bông hoa và nhang. “Nước lạnh tiêu-biểu cho sự trong sạch, bông hoa tiêubiểu cho sự tinh khiết, còn nhang, dùng đặng bán mùi uế-trược. Ngồi ra

chẳng nên cúng một món gì khác cả. Bàn thờ ơng bà cúng món chi cũng
đặng”. (lời Đức Huỳnh Giáo chủ).
Ngôi thờ Tam Bảo và ngôi Thông Thiên chỉ đặt lư hương, bình hoa, ly
nước sạch, ngồi ra khơng cúng gì khác nữa. Bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ
thì ngồi ba thứ trên có thể dâng cúng thêm thực phẩm: bánh trái, thức ăn
nhưng nên cúng chay.

15


3.2.2 Thờ Trời trong Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa
Cũng như các tín đồ của Đạo Phật giáo Hịa Hảo, tín đồ Đạo Tứ Ân
Hiếu Nghĩa cũng thờ Trời thông qua bàn thờ Thiên trước sân nhà. Trước cửa
mỗi nhà của các tín đồ có bàn thờ thơng thiên hai tầng, tầng trên thờ “Chánh
Đức Thiên La Thần” và tầng dưới thờ “Thổ Trạch Long Thần”.

3.2.3 Thờ Thiên Bàn của Đạo Cao Đài
Các tín đồ đạo cao đài ở Tây Nam Bộ đều lập bàn thờ trong gia đình
gọi là Thiên Bàn, để thờ Ngọc Hồng Thượng đế (tức Ơng Trời)
Thiên Bàn phải đặt nơi thanh khiết, trang trọng nhất trong nhà, thường
là gian giữa. Thiên Bàn bằng gỗ, đóng thành hai tầng. Tùy theo tín đồ của
mỗi chi phái mà thiên bàn được thiết lập có quy cách khác nhau. Như thiên
bàn của tín đồ Minh Chơn Lý và Chiêu Minh Tam Thanh Vơ Vi hồn tồn
khác biệt so với Thiên Bàn của các chi phái khác như Tây Ninh, Minh Chơn
Đạo, Tiên Thiên, Cao Đài Truyền Gíao.

16


Thiên Bàn ở một nhà tín đồ. Ảnh: Huệ Khải


3.3 Vai trị tín ngưỡng thờ Trời trong đời sống người Việt Tây Nam Bộ

3.3.1 Tín ngưỡng thờ Trời là chỗ dựa tâm linh người Việt Tây Nam Bộ
Còn thời xa xưa khi đất rừng còn hoang vu, hẻo lánh, con người lúc
này khơng thể sống nếu khơng có niềm tin vào bản thân, vào tín ngưỡng tơn
giáo bởi nó là chỗ dựa tinh thần cho tất cả mọi người. Trước thách thức của
tự nhiên, cuộc Nam tiến khai mở vùng đất nam bộ diễn ra vơ cùng khó khăn
nhưng cùng với niềm tin vào Trời Đất đã cho họ động lực để tiếp tục cuộc
khai mở. Bước đầu đạt kết quả thì khơng lâu sau đó, thực dân pháp xâm
chiếm nước ta, các tỉnh tây nam bộ rơi vào tay giặc, đời sống lâm vào tình
trạng cơ cực. Cũng chính vào lúc đó, niềm tin vào Trời đã cho họ động lực,
sức mạnh vượt lên hồn cảnh. Tín ngưỡng thờ trời đã song hành với đời
17


sống tâm linh của người việt trong suốt thời khẩn hoàng và thời kháng chiến
cứu nước. Niềm tin và sự ngưỡng vọng vào Đấng thần linh ấy đã tạo cho
con người miền sông nước này một sức mạnh vô cùng lớn lao trong cuộc
sống hiện đại, niềm tin về ông Trời giúp con người không ngừng vươn lên
để hội nhập và phát triển với năm châu.

3.3.2 Tín ngưỡng thờ Trời góp phần cố kết cộng đồng
Hầu hết ở mỗi nhà của người dân Việt Tây Nam Bộ đều có bàn thờ
Thiên trước sân nhà, điều này cũng đã cho thấy sự đồng lịng trong tín
ngưỡng, gắn bó với nhau trong phong tục khi việc thờ Trời khơng chỉ có một
hoặc một vài gia đình thờ cúng mà ở đây ta thấy đơng đảo người dân cùng
có chung một tín ngưỡng thờ cúng. Cũng chính nhờ sự đồng lịng đó, người
dân nơi đây luôn thấu hiểu lẫn nhau, dễ dàng chia sẻ và giúp đỡ nhau trong
bất cứ hoàn cảnh nào dù là khó khăn hoạn nạn nhất. Tín ngưỡng thờ Trời

cũng giống như là một thỏi nam châm thu hút mọi người cùng tạo ra một
cộng đồng Tây Nam Bộ vững chắc, cố kết dựa trên tinh thần tự nguyện và
thực sự có tâm ý thân thiện trong cộng đồng dân cư miền sơng nước.

3.3.3 Tín ngưỡng thờ Trời góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân
tộc
Tín ngưỡng thờ Trời là một bộ phận của hệ thống tín ngưỡng dân gian
Việt Nam, bên cạnh hình thức thờ Trời thì vẫn cịn các hình thức thờ Thành
Hồng, thờ Mẫu, thờ cúng tổ tiên,…Thơng qua các hình thức này, những lễ
hội trong tín ngưỡng thờ Trời hay các hoạt động nghệ thuật cổ truyền, hoạt
động diễn xướng,…được các nghệ nhân cũng như những người u thích
các loại hình này tái diễn, mang lại linh hồn sống của bản sắc văn hóa dân
tộc. Bên cạnh đó, những nhạc cụ cũng được bảo tồn như trống cơm, đàn cò,
18


đàn kìm,…và các cơng trình kiến trúc nghệ thuật được ông cha ta xây dựng
từ thuở khai hoang lập địa cho đến đời nay vẫn được lưu truyền trên vùng
đất miền Tây Nam Bộ qua các cơ sở thờ tự của cộng đồng.

CHƯƠNG 4: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN “BÀN THỜ THIÊN”
4.1 Bàn thờ “Thiên” là gì?
Bàn thờ Thiên, là bàn thờ Trời, một vị thần tối thượng của người Việt,
người Hoa và nhiều cư dân ở Việt Nam và châu Á. Việc thờ cúng ơng Trời
có sự khác nhau tùy theo văn hóa của các cộng đồng cư dân, cộng đồng tộc
người. Bàn thờ Thiên tập trung chủ yếu ở người Việt, người Hoa Nam Bộ,
gần đây rải rác miền Bắc và miền Trung Việt Nam đã xuất hiện bàn thờ
Thiên. Ở Nam Bộ, khu vực Đông Nam Bộ cũng có bàn thờ Thiên, nhưng
phổ biến hơn là khu vực Tây Nam Bộ, còn gọi là đồng bằng sông Cửu Long.


19


Bàn thờ thơng Thiên (Ảnh:
Báo

Người

Lao

động)

/>
20110801033943145.htm

Bàn thờ Thiên hay cịn được biết đến là cây hương ngoài trời hoặc bàn
thờ ngoài trời được đặt lộ thiên trên một chiếc cột bằng đá thay vì đặt trong
nhà như bàn thờ gia tiên hay bàn thờ Phật. Đây đồng thời cũng được xem là
một trong những phong tục thờ cúng tốt đẹp đã được hình thành từ xa xưa và
duy trì đến tận ngày hôm nay. Tuy nhiên, phong tục thờ cúng này cũng nhận
được nhiều quan điểm khác nhau và sau cùng, người ta đã đưa ra được hai
mục đích chính của bàn thờ Thiên đó là: thời Trời và thờ Tiền Chủ.
Bàn thờ Trời được người dân đặt trước sân nhà để thờ cúng Trời. Ở
một số nơi như Nam Trung Bộ gọi bàn thờ Trời là cái trang, đây là nơi mà
con người cúng vái và thực hiện các nghi thức thờ cúng Trời.

20


4.2 Cách đặt bàn thờ “Thiên


4.2.1 Cấu trúc một bàn thờ “Thiên” của người Việt và các tộc
người khác
4.2.1.1 Bàn thờ “Thiên” của người Việt
Đến thăm một ngôi nhà của người Việt ở Tây Nam Bộ, dù là miệt
vườn, hoặc nơi thị trấn, thị tứ..., chúng ta dễ dàng bắt gặp bàn thờ Thiên
được đặt trước cửa nhà. Vì điều kiện sinh sống cũng như vị trí địa lý mà bàn
thờ Thiên ở Tây Nam Bộ được làm rất đơn giản, thường đó là một mảnh gỗ
mỗi bề rộng khoảng 50 - 60cm, được gắn liền một cây cột bằng gỗ hoặc
bằng gạch, trụ cột cao độ 1,5m, trên có bệ vuông, với một lọ cắm nhang, một
lọ hoa, ba chung nước lã, có nơi thêm vào một lọ gạo và một lọ muối. Bàn
Thiên thường được dựng trước sân nhà; nếu sân đất, người ta tráng xi măng
hoặc lót gạch khoảng một thước vuông chung quanh bàn Thiên; ở vùng tứ,
chợ búa, bàn Thiên có khi đặt trên sân thượng.

21


Bàn thờ Thiên ngồi trời. (Ảnh: gốm Đại Việt)

Ở đơ thị bàn thờ Thiên được xây bằng gạch, cũng là một bệ xi măng
đặt trên trụ xây gạch cao hơn đầu người một chút. Bàn thờ được đặt ngay
trong vườn nhà gần lối đi vào, tức phía trước nhà,đơi khi được làm thành
một cái trang nhỏ gắn liền tường trước mặt nhà gần cửa, cổng. Bàn thờ
Thiên, chỉ trừ đặt trong trang thờ, thì khơng có mái che phía bên trên.
Bàn thờ Thiên hiện nay được làm từ nhiều chất liệu khác nhau tạo nên
những loại bàn thờ như bàn thờ thiên xi măng, bàn thờ thiên inox và bàn thờ
thiên bằng đá. Vì vậy, ứng với từng loại bàn thờ Thiên, gia chủ sẽ có cách
trang trí khác nhau như: nếu bàn thờ Thiên bằng xi măng, gia chủ nên sơn
những màu như vàng, đỏ; nếu bàn thờ Thiên bằng đá thì gia chủ có thể để

ngun trạng và khơng cần trang trí gì thêm. Gia chủ thờ cây hương ngồi
trời có thể đặt ở ngồi sân vườn hoặc ngay tại ban cơng nhà mình. Theo đó,
bàn thờ Thiên sẽ được đặt trên một cây hương với cột trụ có chiều cao được
thiết kế khoảng 80cm. Cùng với đó, phía sau và hai bên bàn thờ cịn có vách
22


ngăn được trang trí bằng những họa tiết ý nghĩa. Phía bên trên bàn thờ sẽ
được bài trí bao gồm một bát hương, một lọ hoa và một mâm bồng.
Một vài nơi, hình thức Bàn Thiên có khác. Thí dụ vùng “Hồng Ngự
(Đồng Tháp), nhất là các xã Thường Lạc, Thường Phước, Thường Thới
Tiền, Thường Thới Hậu; vùng Thất Sơn (An Giang), nơi có khá đơng tín đồ
đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa (phái Ngô Lợi - núi Tượng) như các làng An Định,
An Hịa, An Thành, An Lập có dạng bàn Thiên hai tầng. Tầng trên thờ Trời
(còn gọi là thờ Chánh Đức Thiên La thần), tầng dưới thờ Đất (cịn gọi là Thổ
Trạch Long thần), bộc lộ rõ tín ngưỡng cha Trời- mẹ Đất, một dạng tín
ngưỡng cổ sơ thờ sức mạnh vơ hình hoặc hữu hình của thiên nhiên có khả
năng phị trợ hay làm hại con người cịn đậm nét. Đồng thời cũng có tính
pha tạp với nội dung âm dương giao hòa của thuyết âm dương ngũ hành với
ước vọng phong điều vũ thuận vạn vật sinh sơi, mùa màng tươi tốt”. Có nơi
lại làm bàn Thiên ba tầng. Tầng trên thờ Trời, tầng dưới thờ Đất và tầng
giữa thờ Người, theo thuyết tam hoàng.
4.2.1.2 So sánh đôi nét bàn thờ Thiên của tộc người khác
* Bàn thờ thiên của người Hoa
Người Hoa ở Nam Bộ cũng có phong tục thờ Trời. Trong văn hóa
Trung Hoa, Trời là một trong những vị thần tối cao, nhà vua được xem là
thiên tử, con Trời. Đến miền đất Nam Bộ, những di dân từ nam Trung Hoa
đem theo vào vùng đất mới tín ngưỡng thờ Trời. Tại những cơ sở tín ngưỡng
cộng đồng của các nhóm Hoa đều có thờ Trời, với danh xưng là Ngọc
Hồng Thượng Đế. Ở đấy có bàn thờ, khóm thờ Ngọc Hồng riêng, và đơi

khi Ngọc Hồng được thờ với tư cách vị thần chủ thứ nhất như ở Ngọc
Hoàng điện (phường Đakao, quận 1, TP.HCM) nay là chùa Phước Hải. Tín
23


ngưỡng thờ Trời của người Hoa còn được thể hiện qua bàn thờ Thiên Phụ
Địa Mẫu. Bàn thờ Thiên Phụ Địa Mẫu thường được đặt ở chùa, để cúng tế
Trời Đất mỗi khi trong chùa có lễ. Hình thức thờ Trời của người Hoa cũng
có khi là một gian thờ Ngọc Hồng trong chính điện của một ngơi chùa.
Trong tâm thức của người Hoa, Ngọc Hồng được hình dung như một vị vua
ở hạ giới. Ông ngồi trên ngai vàng, mặc đại triều phục với áo dài thêu rồng,
đội miện hồng đế làm bằng một miếng ván nhỏ có treo mười ba chuỗi ngọc
màu, xâu chỉ đỏ ở đằng trước và đằng sau, hai tay bưng một bài vị theo nghi
lễ hoàng đế.
Tại các nhà dân, việc thờ Trời được bố trí ở một trang thờ bên ngồi nhà (ở
đơ thị) hoặc gần cổng ra vào (ở nông thôn, ven đô). Trang được gắn vào
tường, hoặc để trên trụ gạch (hoặc cây gỗ) cao ngang đầu người. Trong trang
có một bài vị với 4 chữ Hán thiên cung tứ phúc (phúc đức ban từ trên trời)
và một bát hương để cắm nhang. Hàng ngày, rằm, mùng một hàng tháng, gia
chủ thắp hương vái bốn phương tám hướng vào sáng sớm và chiều tối.
Thường bên dưới trang thờ Trời nhiều nhà người Hoa cịn đặt trang thờ Ơng
Địa và Thần Tài ngay trên mặt đất. Trong một vài tư liệu có nói đến thiên
đài, là bàn thờ ngồi trời có ở một số địa phương Trung Hoa.
*Bàn thờ Thiên của người Khmer
Người Khmer cũng tin vào ông Trời, họ cho rằng Trời quyết định mùa
vụ trúng hay thất. Vì vậy, phần lớn nhà của người Khmer ở Nam Bộ đều có
bàn Thiên ở trước sân. Có điều, khơng như người Việt cho rằng bàn Thiên
chỉ thờ Trời, theo người Khmer, bàn Thiên còn là nơi thờ Phật, thờ các vị
thần Đất. Điều này còn được thể hiện trong lễ cưới của người Khmer, ông
Achar dắt cô dâu chú rể đến ngồi dưới bàn Thiên để chọn giờ tốt.

24


×