Tải bản đầy đủ (.pdf) (31 trang)

LỄ HỘI THỜ THÁNH MẪU LIỄU HẠNH Ở PHỦ DẦY NAM ĐỊNH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.26 MB, 31 trang )



TIỂU LUẬN
LỄ HỘI THỜ THÁNH MẪU
LIỄU HẠNH Ở PHỦ DẦY- NAM ĐỊNH


MỤC LỤC
MỤC LỤC .................................................................................................... 1
Phần TỔNG QUAN .................................................................................... 2
Phần NỘI DUNG ......................................................................................... 2
Chương I: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn ........................................... 2
1. Cơ sở lí luận .................................................................................... 2
2. Cơ sở thực tiễn................................................................................. 4
Chương II: Lễ hội Phủ Dầy – Nam Định ............................................ 4
1. Tổng quan ...................................................................................... 5
1.1. Nguồn gốc – Mơi trường hình thành lễ hội ...................... 5
1.2. Nhân vật được thờ tụng tại Phủ Dầy................................. 6
1.3. Quần thể di tích Phủ Dầy ................................................ 7
2. Lễ hội Phủ Dầy ............................................................................ 8
2.1. Phần Lễ ............................................................................. 8
2.1.1. Đối tượng đi lễ ........................................................8
2.1.2. Đồ lễ .................................................................... 9
2.1.3. Thờ cúng ............................................................... 10
2.1.4. Hầu bóng ............................................................... 10
2.2. Phần Hội .......................................................................... 13
2.2.1. Hội chợ Viềng ........................................................ 14
2.2.2. Lễ hội tháng Ba (âm lịch) ...................................... 16
2.2.2.1. Lễ rước ................................................................ 16
• Lễ rước đuốc .......................................................... 17
• Lễ rước kiệu Mẫu ................................................. 18


2.2.2.2. Hội kéo chữ ........................................................ 20
2.2.2.3. Hát chầu văn ........................................................ 24
3. Vai trò ........................................................................................... 27
Phần KẾT LUẬN ......................................................................................... 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 28

1


Phần TỔNG QUAN
Trong đời sống tâm linh của người Việt, đã từng tồn tại rất nhiều hình thức tín
ngưỡng tơn giáo khác nhau. Tín ngưỡng thờ Mẫu là một trong những tín ngưỡng quan
trọng và khơng thể thiếu, tín ngưỡng này vừa mang nét phong phú đa dạng của thờ
Mẫu, vừa mang nét chung với các tơn giáo tín ngưỡng tôn giáo khác, đồng thời vừa
mang nét đặc sắc, nét nổi bật của tín ngưỡng dân gian. Đối với người Việt ờ Bắc Bộ
thì tín ngưỡng thờ Mẫu- đặc biệt là tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ là tín ngưỡng từ xa
xưa, ngấm sâu vào trong tiềm thức và không có tín ngưỡng nào có thể thay thế được.
Nếu như ở miền Nam tín ngưỡng thờ Mẫu được nhắc đến với tục thờ Bà Chúa Xứ hay
tục thờ Bà Linh Sơn Thánh Mẫu, miền Trung với tục thờ Mẹ Xứ Sở thì ở miền Bắc
khơng thể khơng nhắc đến tục thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh hay còn gọi với tên dân dã
là Bà Chúa Liễu.
Lễ hội thờ Mẫu Liễu Hạnh ở Phủ Dầy- Nam Định của người dân Bắc Bộ là sự
tích hợp nhiều yếu tố từ trong đời sống văn hóa của cư dân. Bên cạnh những yếu tố
mang tính tơn giáo, tín ngưỡng chúng ta cịn có thể thấy được yếu tố dân gian, mơi
trường hình thành lễ hội, truyền thuyết gắn liền, sinh hoạt tín ngưỡng, hoạt động văn
hóa của người dân thơng qua lễ hội lớn ở vùng nông nghiệp lúa nước nơi đây. Và đây
cũng là lí do người viết chọn chủ đề này.
Bằng cách tiếp cận từ góc nhìn Văn hóa học, thơng qua phương pháp quan sát
thực tiễn kết hợp với khai thác, tiếp cận và kế thừa của các nhà nghiên cứu đi trước,
khi đi tìm hiểu về lễ hội gắn liền với tục thờ Thánh Mẫu – Hội Phủ Dầy ta có thể khai

thác được một cách tương đối cơ bản và tồn diện về phương diện văn hóa dân gian ở
đây cũng như các hiện tượng, giá trị văn hóa xoay quanh lễ hội. Vì có giới hạn về
dung lượng nên bài tiểu luận của người viết cịn thiếu sót khá nhiều, hi vọng giảng
viên, người đọc có thể thơng cảm.
Lễ hội truyền thống dân gian nói chung và lễ hội Phủ Dầy nói riêng đều là niềm
tự hào đối với người viết vì Việt Nam ta có một tín ngưỡng, di sản văn hóa độc đáo,
thấm nhuần bản sắc dân tộc. Mong rằng thông qua bài tiểu luận sẽ có nhiều người biết
thêm về vùng đất linh thiêng này, biết gìn giữ, bảo vệ và phát triển văn hóa của quê
hương, tín ngưỡng, lễ hội lớn của Bắc Bộ nói riêng và tín ngưỡng dân tộc nói chung.
Phần NỘI DUNG
Chương I: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
1. Cơ sở lí luận
2


1. Lễ hội
1.1.1. Định nghĩa Lễ hội:
Theo Wikipedia, lễ hội được định nghĩa như sau: “Lễ hội là một sự kiện văn
hóa được tổ chức mang tính cộng đồng. "Lễ" là hệ thống những hành vi, động tác
nhằm biểu hiện sự tơn kính của con người với thần linh, phản ánh những ước mơ
chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực
hiện. "Hội" là sinh hoạt văn hóa, tơn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ
nhu cầu cuộc sống. Lễ hội là hoạt động tập thể và thường có liên quan đến tín
ngưỡng, tơn giáo. Con người xưa kia rất tin vào trời đất, thần linh. Các lễ hội cổ
truyền phản ảnh hiện tượng đó”
(Lễ hội, />Bên cạnh đó cũng có một vài định nghĩa “Lễ hội” khác như trong “Từ điển
tiếng Việt” định nghĩa về “ Lễ hội ” như sau: Lễ là hệ thống các hành vi, động tác
nhằm biểu hiện lịng tơn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước
mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng
thực hiện. Hội là sinh hoạt văn hố, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát

từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho
từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dịng họ, sự
sinh sơi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng, mà từ bao đời nay quy tụ
niềm mơ ước chung vào bốn chữ "nhân khang, vật thịnh". Hay trong cuốn “Lễ hội
cổ truyền” Phan Đăng Nhật cho rằng “Lễ hội là một pho lịch sử khổng lồ, ở đó tích
tụ vố số những phong tục, tín ngưỡng, văn hóa, nghệ thuật và cả các sự kiện xã hội
– lịch sử quan trọng của dân tộc... Lễ hội cịn là nơi bảo tồn, tích tụ văn hóa (theo
nghĩa rộng) của nhiều thời kỳ lịch sử trong quá khứ dồn nén lại cho tương lai”.
Hoặc theo TS. Trần Long – giảng viên Khoa văn hoá học, ĐHKHXH&NV, ĐHQG
TP.HCM “Lễ hội dùng để chỉ một hiện tượng sinh hoạt gồm nhiều thành tố tham
gia có tính tổng hợp. Lễ hội là tổ hợp có hàm ý chỉ phần lễ và phần hội nhưng cũng
có thể chỉ có một trong hai phần đó. Lễ là hệ thống nghi thức cúng bái chặt chẽ, ổn
định được xây dựng theo quy ước của mỗi làng. Hội là hoạt động diễn ra sau phần
lễ, khởi đầu bằng đám rước”. Dù hiểu như thế nào đi chăng nữa, lễ và hội luôn là
một thể thống nhất, gắn bó hữu cơ và mật thiết đối với đời sống tâm linh, tín
ngưỡng của con người. Con người thơng qua lễ hội có thể tiến tới gần với đấng thần
linh hơn, mong bề trên có thể vuốt ve, che chở, phù hộ mọi việc trong đời sống đều
thuận lợi suôn sẻ.
1.1.2. Phân loại lễ hội:
Lễ hội được các nhà khoa học phân thành nhiều loại khác nhau. Có thể phân loại
lễ hội theo niên đại, gần gũi với phân kỳ lịch sử dân tộc Việt Nam, hoặc phân loại lễ
hội theo từng thành tố riêng biệt, hay theo cấu trúc và các thành tố khác nhau. Tuy
nhiên, dù phân loại theo tiêu chí lựa chọn nào, cũng đều có những yếu tố hợp lý và
3


hạn chế nhất định. Cục Văn hóa cơ sở là cơ quan quản lý nhà nước về lễ hội, thống kê
các loại lễ hội trên địa bàn cả nước. Xét dưới góc độ của những người làm cơng tác
quản lý nhà nước về lễ hội, năm 2001, Bộ trưởng Bộ VHTT (nay là Bộ VHTTDL) ban
hành quyết định số 39/2001/QĐ-BVHTT kèm theo Quy chế tổ chức lễ hội. Quy chế này

đã đưa ra 4 loại lễ hội ở nước ta thuộc đối tượng cần điều chỉnh và chia thành các loại
như sau: lễ hội dân gian, lễ hội tôn giáo, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội du nhập từ
nước ngoài và lễ hội khác. Tổng cộng cả nước có 327 lễ hội do cấp tỉnh quản lý. Cấp
bộ quản lý 8 lễ hội. Theo cách gọi trên, có thể hiểu lễ hội dân gian đồng nhất với khái
niệm lễ hội truyền thống vì đây là những lễ hội gắn bó mật thiết nhất đối với đời sống
văn hóa tinh thần của đại đa số người dân ở khắp các vùng miền Việt Nam.
Lễ hội dân gian
Giới nghiên cứu có xu hướng xác định lễ hội dân gian là những lễ hội mà chủ thể
là do dân chúng tham gia tổ chức và hưởng thụ, khai thác triệt để các sinh hoạt văn
hóa, văn nghệ dân gian làm nền tảng cho hoạt động hội. Theo tác giả Đinh Gia
Khánh: “Hội lễ dân gian, khác với hội lễ của các tôn giáo, bao giờ cũng lôi cuốn đại
đa số dân chúng tham gia”.
2.

Lễ hội có lễ hội dân gian truyền thống và lễ hội dân gian hiện đại. Lễ hội dân
gian truyền thống được hiểu là lễ hội đã xuất hiện trước thời điểm tháng 8-1945, chủ
yếu ở các làng, bản, ấp, gắn với nông dân, ngư dân, thợ thủ công. Loại lễ hội này
được cộng đồng tổ chức định kỳ, lặp đi, lặp lại, với các sinh hoạt văn hóa tương đối
ổn định; là bộ phận khơng thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân vào thời
gian nhàn rỗi của chu kỳ sản xuất nông nghiệp trước đây. Ví dụ: Lễ hội chùa Hương
(Hà Nội), lễ hội đền Hùng (Phú Thọ), lễ hội núi Bà Đen (Tây Ninh), lễ hội Chol
Thnăm Thmây của đồng bào Khơme, lễ hội lồng tồng của đồng bào Tày...
Theo GS.TS. Lê Hồng Lý - Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa, Viện hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam “Lễ hội dân gian là sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của
cộng đồng dân cư ở nông thôn xưa được tổ chức nhằm tưởng nhớ một vị thần bảo vệ
cho đời sống của cộng đồng làng. Lai lịch của các vị thần rất đa dạng, có thể là
những vị thần tự nhiên như thần rừng, thần núi, thần nước, thần biển hay là những
người đã có cơng giúp dân làng làm ăn, những anh hùng hy sinh vì sự bình an của
dân làng…”.
2. Cơ sở thực tiễn:

“Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ.” Đây là câu thành ngữ mà chắc hẳn không
ai là người Việt Nam không biết. Ở đây “tháng ba giỗ mẹ” chính là nói về ngày hội
lớn ở vùng đất nơi Thánh Mẫu Liễu Hạnh sinh ra – Nam Định – Lễ hội Phủ Dầy. Lễ
hội kéo dài từ ngày mồng ba đến ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch tại nơi thờ bà chúa
4


Liễu Hạnh thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Hà (ngày nay là Nam Định), cách thành
Nam không xa.
Lễ hội Phủ Dầy có vai trị quan trọng trong đời sống tâm linh của cộng đồng
người Việt cổ truyền cũng như trong bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên, trong hành trình
định hình, tồn tại, phát triển, tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ và lễ hội Phủ Dầy cũng chịu
trải qua những “cung bậc” thăng trầm của thời cuộc, những giai đoạn lịch sử khác
nhau. Có thời gian, tín ngưỡng Tứ phủ và lễ hội Phủ Dầy bị ngăn cấm và coi là một
sinh hoạt mang nhiều yếu tố mê tín dị đoan, ảnh hưởng xấu đến đời sống văn hóa
cộng đồng. Tuy nhiên, cho đến nay, tín ngưỡng Tứ phủ và lễ hội Phủ Dầy vẫn tồn tại
trong dân gian, phát triển một cách mạnh mẽ, tác động với nhiều mức độ khác nhau
trong đời sống tín ngưỡng của người Việt ở Bắc Bộ và bản thân nó cũng nhận sự tác
động trở lại của đời sống văn hóa cộng đồng. Lễ hội Phủ Dầy với các thành tố của nó
như: cúng tế, hát văn, hầu đồng… đang có những biến đổi phức tạp về nội dung cũng
như hình thức và đặc biệt là nhận thức của con người. Điều đó, đã dẫn đến nguy cơ
làm mất đi những giá trị đặc thù của lễ hội truyền thống nói chung, làm phương hại
tới bản sắc văn hóa dân tộc.
Chương II: Lễ hội Phủ Dầy- Nam Định
1.
Tổng quan
1.1.
Nguồn gốc – Mơi trường hình thành lễ hội
Phủ Dầy là quần thể kiến trúc tín ngưỡng truyền thống thờ bà chúa Liễu Hạnh,
một trong “Tứ bất tử” của tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Quần thể trải rộng trên địa

bàn xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, gần quốc lộ 10, quốc lộ 37B
và quốc lộ 38B từ thành phố Nam Định đi thành phố Ninh Bình. Đây là một trung tâm
của tín ngưỡng Tứ phủ gắn liền với truyền thuyết về sinh quán của Đức Thánh Mẫu
Liễu Hạnh cũng như là một vùng đất có đặc điểm địa lý, lịch sử đặc biệt thuận lợi cho
việc hình thành và phát triển tín ngưỡng thờ Mẫu. Tên gọi "Phủ Giầy" hay "Phủ Dày"
đã từng gây tranh cãi. Khái niệm"Phủ" thường gắn với di tích thờ Mẫu Liễu như Phủ
Giầy, Phủ Tây Hồ... Nhưng mang tên "Giầy" hay "Dày" lại gắn với những huyền
thoại khác nhau về vùng đất địa linh này. Phủ Dầy tuy không phải là nơi Thánh Mẫu
Liễu Hạnh hiển thánh mà chỉ là nơi Mẫu giáng trần nhưng sau khi Mẫu hiển thánh ở
Đền Sòng - Phố Cát và trở thành vị thần chủ của Đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, thì với
tất cả những gì đã có và hiện tồn, quan trọng hơn là trong niềm tin tâm linh của người
Việt thì Phủ Dầy thực sự trở thành trung tâm của đạo Mẫu Tam phủ, Tứ Phủ ở nước
ta.
Nằm trong khu vực miền hạ của Châu thổ sông Hồng, sơng Đáy, vùng đất này
hiện cịn đang lưu lại những dấu vết của vùng cửa sông ven biển xa xưa, vùng đồng
lầy trũng xen lẫn đồi núi sót nhờ vậy đã tạo điều kiện sinh hoạt thuận lợi cho sự quần
cư tụ hội. Theo truyền thuyết người dân chủ yếu đến Phủ Dầy theo con đường sông
5


nước kéo theo đây là lí do cho sự tồn tại đặc biệt của những chợ lớn như chợ Giần,
chợ Gôi và đặc biệt là chợ Viềng và chợ Sại họp ngay trên đất Phủ Dầy.
Lịch sử của vùng đất Thiên Bản (gốc trời) gắn liền với lịch sử hàng ngàn năm
dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Các triều đại phong kiến, đặc biệt là
triều Trần, đã để lại trong vùng nhiều dấu tích lịch sử. Khi kinh độ chuyển vào phía
trong thì nơi đây lại nằm trên con đường Thiên Lý, nối Thăng Long với Phú Xuân
Huế. Bởi thế trên mảnh đất này đã lưu giữ tầng tầng lớp lớp các huyền thoại, truyền
thuyết, các di tích lịch sử tơn giáo và tín ngưỡng, và cũng là quê hương đời nào cũng
sản sinh ra những danh nhân tuấn kiệt. Trong khung cảnh lịch sử văn hố ấy, di tích
Phủ Giầy gắn liền với tục thờ Mẫu Liễu Hạnh đã hình thành, tồn tại và phát triển.

1.2. Nhân vật được thờ tụng trong lễ hội Phủ Dầy
Nhân vật trung tâm được thờ phụng trong các di tích Phủ Dầy cũng như trong lễ
hội Phủ Dầy chính là Liễu Hạnh - một nhân vật vừa là thiên, vừa là nhân thần với
những huyền thoại dày đặc, li kì và mang đậm yếu tố kì ảo. Nguồn tư liệu về Bà Chúa
Liễu vô vùng phong phú bao gồm truyền thuyết, thần tích, gia phả, ngọc phả của các
dịng họ tại Phủ Dầy, các câu đối, văn bia, các văn vần, giáng bút. Có nhiều câu đối,
đại tự khẳng định Vân Cát – Phủ Dầy là nơi sinh ra Tiên chúa Liễu Hạnh như:
“Vạn cổ trạch (muôn thuở nơi nhà cũ)
Giáng sinh từ (ngôi đền thờ, sinh ra Thánh Mẫu)
Đản sinh cổ trạch ( nhà cũ nơi Thánh Mẫu sinh)
Tiên nhân cựu quán (quê cũ của người Tiên)”
(Văn hóa thờ Nữ Thần – Mẫu ở Việt Nam và Châu Á, trang 376)
Thánh Mẫu Liễu Hạnh (chữ Hán: 柳杏公主) là một trong những vị Thánh quan
trọng của tín ngưỡng Việt Nam. Bà còn được gọi bằng các tên: Bà Chúa Liễu, Liễu
Hạnh (柳杏), Mẫu Liễu Hạnh (母柳杏) hoặc ở nhiều nơi thuộc vùng Bắc Bộ bà được
gọi ngắn gọn là Mẫu Liễu. Truyện Liễu Hạnh được chép thành sách, đầy đủ và có lẽ
sớm hơn cả là tập Truyền kì tân phả của Đồn Thị Điểm. Các sách thần tích và sách
sưu tầm truyền thuyết dân gian như Thích văn dị lục đều chép tương tự như sách của
Đoàn Thị Điểm. Câu chuyện “Vân Cát Thần Nữ” được tóm tắt như sau:
“Ở làng An Thái, xã Vân Cát huyện Thiên Bản có ơng Lê Thái Cơng hiền lành phúc
đức, thường ngày đêm đốt hương thờ Phật. Năm Thiên Hựu (đời Lê Anh Tơng 1557),
bà vợ ơng có mang đã q kỳ sinh thì mắc bệnh nặng, chữa mãi khơng khỏi. Có một
đạo sĩ đến giúp, làm phép cho ơng được nằm mộng lên thiên đình. Tại đây, ơng chứng
kiến cảnh Đệ Nhị Tiên chúa Quỳnh Nương phạm lỗi (đánh vỡ chén ngọc) bị đày
xuống trần gian. Khi ông tỉnh giấc, vợ ông vừa trở dạ sinh được một con gái. Đêm ấy,
có hương lạ thơm nức ở trong nhà, trăng sáng soi vào của sổ. Nhớ lại giấc mộng, ông
bà bèn đặt tên con là Giáng Tiên. Cô gái lớn lên nhan sắc xinh đẹp lạ thường mà lại
đủ tài văn thơ đàn nhạc. Ơng bà Lê Thái Cơng gả con gái cho Đào Lang (chàng trai
6



dưới gốc Đào), con nuôi của bạn ông là Trần Cơng. Vợ chồng Giáng Tiên sinh được
hai con thì ngày 3-3, Giáng Tiên khơng bị bệnh gì mà mất, mới có 21 tuổi. Nàng đã
hết nạn đày, phải trở về trời. Vì cịn nặng trần dun, nàng ln sầu não, cố xin vua
trời cho tái hợp với gia đình. Vua phải đồng ý và phong cho Nàng làm Liễu Hạnh
công chúa. Nàng về thăm cha mẹ, chồng con, nhưng vì nàng là Thần tiên nên không ở
lại như người phàm tục. Khi cha mẹ và chồng mất, con cái đã trưởng thành, Liễu
Hạnh đi mây về gió, hố phép để đùa cợt với người đời, khi thì Bà già tựa gậy trúc
bên đường, khi thì hố thành một cơ gái đẹp trong quán trọ. Người lành được phúc,
người bỡn cợt bị tai vạ. Nàng lên Lạng Sơn biến thành người đẹp họa thơ thách đố
với Trạng Bùng (Phùng Khắc Khoan) về Tây Hồ họp bạn văn chương với các danh sĩ
họ Phùng, Ngô, Lý. Rồi Liễu Hạnh lại về làng Sóc ở Nghệ An. Tại đây, nàng kết hơn
với một thư sinh (hậu sinh của chồng cũ), nhưng lại ít lâu lại trở về trời. Ở thiên
cung, Liễu Hạnh vẫn khát khao cuộc đời trần thế, lại nằng nặc xin xuống trần lần
nữa. Thượng đế phải chiều ý, cho thêm hai cô Quế và Thị cùng Liễu Hạnh về Phố Cát
(Thanh Hoá). Nàng vẫn tiếp tục tác oai, tác phúc. Dân địa phương phải lập đền thờ.
Vua chúa cho quân đến dẹp, phá tan đền của Liễu Hạnh nhưng sau đó, nàng làm
phép cho bệnh dịch lan tràn. Nhân dân cho rằng do Liễu Hạnh trừng phạt, nên xin
triều đình cho lập lại đền mới trong Phố Cát và sắc phong “Mã Hồng cơng chúa”.
Tiên Chúa sau đó có nhiều lần giúp vua đánh giặc nên được gia tặng là “Chế Thắng
Hồ Diệu Đại Vương”. (Ngơ Đức Thịnh, Đạo thờ Mẫu Việt Nam, trang 124,125).
Có thể nói, tác phẩm của Đồn Thị Điểm có sự gặp gỡ giữa văn học dân gian và văn
chương bác học. “Vân Cát Thần nữ” mang tính truyền kì bằng cảm quan và cảm thụ
của một nhà thơ nên ít nhiều có gia tăng những chi tiết, những yếu tố xã hội so với
truyền thuyết trong dân gian.
1.3. Quần thể di tích Phủ Dầy
Lễ hội Phủ Dầy diễn ra trong quần thể di tích Phủ Dầy. Đây là cả một quần thể
các kiến trúc với nhiều loại di tích khác nhau. Các di tích dày đặc và có mối liên hệ
mật thiết với nhau. Thực chất quần thể di tích Phủ Dầy là một siêu điện thần của Đạo
Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, mà Thánh Mẫu Liễu Hạnh là một thần chủ. Việc hình thành

siêu điện thần ở đây có một q trình đã và đang diễn ra. Ban đầu, ba nơi thờ chính
về Bà, đó là Phủ Tiên Hương, Phủ Vân Cát, sau đó lan rộng và “Mẫu hoá” các đền
thờ thần khác, như Thần núi, Thần nước giếng, thờ các nhân vật lịch sử: Lý Nam Đế
Khổng Minh Không Đinh Lôi, Trần Hưng Đạo, các Thành hồng làng, các ngơi
chùa Phật và gần đây nhất là tất cả các nhà thờ họ Trần, Lê cũng bị thu hút và tích
hợp vào hệ thống di tích thờ Mẫu Liễu Hạnh nói riêng và đạo Mẫu nói chung. Q
trình này khiến cho ở mỗi di tích, nhất là ở hai phủ chính là Tiên Hương, Vân Cát,
đã là một điện thần đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ hồn chỉnh, nhưng tồn bộ trên 20 di
tích ở Phủ Dầy đã được xếp đặt như một siêu điện thân với đầy đủ các phản (Thiên
phủ, Địa phủ, Thoải phủ, Phủ Thượng ngàn), các bàng, từ Vua cha Ngọc Hoàng,
7


Phật bà Quan Âm, Tam toà thánh Mẫu, ngũ vị Quan lớn, Tứ vị Chầu Bà, Ngũ vị
Ơng Hồng, các Cơ, Cậu... đến thờ cúng tổ tiên.

Phủ chính Tiên Hương nay và xưa
Nguồn: Phủ Dầy – Vụ Bản – Nam Định
2. Lễ hội Phủ Dầy
2.1. Phần lễ
Tháng ba, vào cuối tiết xuân, những người nông dân đang buổi nông nhàn, rủ
nhau mở mùa trảy hội. Từ muôn nơi người ta đổ về phủ Giầy, nơi có phong cảnh non
nước tươi đẹp, cơng trình đền miếu nguy nga, nơi con người có thể cầu mong Mẫu
mang lại những điều tốt lành, may mắn, tài lộc. Trong mười ngày hội phủ, người về
dự tính tới hàng vạn, đứng trên non Gơi nhìn xuống, dịng người trảy hội rực rỡ áo
quần, từ mn ngả đổ về, trườn đi từ từ như con rồng uốn khúc trên thảm lúa xanh
non đang thì con gái.
Lễ thờ Mẫu là sinh hoạt tín ngưỡng diễn ra quanh năm và đặc biệt tấp nập vào
ngày Sóc và ngày Vọng (mồng 1 và ngày rằm). Ngoài ngày lễ lớn của Mẫu vào tháng
Ba, cịn có các ngày lễ kỵ khác như Tiệc ơng Hồng Mười (10/10), lễ tiệc cơ Bơ

(12/06),... với mục đích cầu bình an, mạnh khỏe, mọi việc đều thuận buồm xi gió.
Ngưởi từ mọi miền đất nước, từ Bắc đến Nam, từ trong nước đến các kiều bào ta ở
nước ngồi đều một lịng hướng về các vùng đất Nam Định này để tế lễ với lịng thờ
kính trang nghiêm. Phần Lễ là một phần của lễ hội mang ý nghĩa tạ ơn và cầu xin thần
linh bảo trợ cho cuộc sống của mình.
2.1.1. Đối tượng đi lễ
Người đi lễ ở Phủ Giầy gồm đủ mọi thành phần, mọi lứa tuổi nhưng đơng đảo
hơn cả đó là phụ nữ. Những người phụ nữ đã tìm thấy ở Mẫu một sự đồng cảm gần
gũi, vì theo truyền thuyết Mẫu từng là người vợ, người mẹ với bao lo toan vất vả để
làm trịn sứ mệnh của mình. Vì vậy từ mọi miền quê, họ đến Phủ Giầy với tâm thức lễ
Mẫu chứ không phải lễ Phật hay lễ vua. Như vậy, tục lệ “Tháng Tám giỗ Cha, tháng
Ba giỗ Mẹ” như điểm quy tụ nét đặc sắc nhất của nghi lễ hội hè của đạo Mẫu người
Việt. Ở đây, nó thể hiện sự kết hợp hài hịa giữa quan niệm vũ trụ luận nguyên sơ 8


âm dương tương khắc tương đồng, nguồn gốc tạo ra mọi hiện tượng vũ trụ, với hệ quy
chiếu gia tộc trong ứng xử xã hội: Gia đình, cha - mẹ và con cái “có âm dương, có vợ
chồng, dẫu từ thiên địa cũng là vòng phu thê" (Nguyễn Gia Thiều) được phóng đại và
trở thành khung ứng xử xã hội, để từ giỗ cha mẹ, tổ tiên gia tộc trở thành giỗ Tổ Hùng
Vương, giỗ Cha - Mẹ của Đạo Mẫu.
2.1.2. Đồ lễ
Trước khi đến lễ ở đền, phủ lễ vật cúng là những thứ khơng thể thiếu. Có nhiều
loại lễ vật dùng để cúng tế như: lễ chay, lễ mặn, lễ đồ sống,... tùy vào mỗi người mà
cúng lễ vật to hay nhỏ, nhiều hay ít tùy tâm và những mâm cỗ cúng của mỗi người là
khác nhau. Có nhiều quan niệm khác nhau về đồ lễ cúng, ví như người ta cho rằng lễ
chay thì chỉ cúng cho Phật, lễ mặn cúng cho Thánh, Thần hay lễ cúng càng lớn thì
người bên trên càng phù hộ hoặc càng thể hiện được lòng thành nên dẫn đến việc rất
cầu kì trong việc sắm lễ vật. Nhưng thực tế thì tùy tâm sắm lễ vật mới là chân thành
và dù có sắm nhiều hay lễ lớn cũng khơng có chỗ để vào các ngày lễ lớn, dẫn đến phí
phạm của trời. Khi có tâm thành với Thánh, với Mẫu thì nên cúng công đức để tu tạo,

sửa sang chốn thờ tự thì có lẽ tốt hơn và thiết thực hơn nhiều.
Khi sắm lễ vật cúng cần chú ý những điều sau:
- Lễ chay gồm có hương, hoa, trà, quả, phẩm oản dùng để lễ ban Phật, Bồ Tát
(nếu tại nơi thờ tự có ban này) và nó cũng được dùng để dâng Ban Thánh
Mẫu kèm thêm một số hàng mã để dâng cúng như: tiền, vàng, nón, hài, hia...
- Lễ mặn gồm các loại đồ từ thực phẩm tươi, mới và được sơ chế cẩn thận,
nấu chín. Lễ này thường được đặt tại bàn thờ Ngũ vị Quan lớn tức là Ban
công đồng.
-

Lễ đồ sống gồm những thứ như trứng, gạo, muối hoặc thịt mồi (một miếng
thịt lợn khoảng vài lạng). Đây là đồ lễ giành riêng cho việc dâng cúng các
quan Ngũ hổ, Bạch xà, Thanh xà đặt ở hạ ban cơng đồng Tứ Phủ. Lễ thường
thì gồm 5 quả trứng vịt sống đặt trong một đĩa muối, gạo; 2 quả trứng gà
sống đặt hai cốc nhỏ, một miếng thịt mồi được khía (khơng đứt rời) thành 5
phần (để thịt sống) kèm theo lễ này là tiền, vàng (mã).

- Cỗ mặn Sơn Trang thường gồm cua, ốc, bún, ớt, chanh quả. Nếu có gạo nếp
cẩm nấu xơi, chè thì cũng thuộc vào lễ này. Theo tập quán, cũng như quan
niệm dân gian, lễ này người ta thường sắm theo con số 15 vì con số 15 này
tương ứng với 15 vị được thờ tại Ban Sơn trang: 1 vị chúa, 2 vị hầu cận, và
12 cơ sơn trang). Ví dụ như 15 con ốc, 15 con cua, 15 quả ớt, chanh... hoặc
có thể chỉ cúng một quả nhưng được khía ra làm 15 phần...

9


- Lễ Ban thờ cô, cậu nên sắm các loại oản, quả, hương, hoa và những đồ chơi
bằng giấy vàng mà người ta làm cho trẻ nhỏ, những lễ vật này thường nhỏ
đẹp, làm rất cầu kỳ và được bao trong những túi nhỏ, xinh xắn.


Đồ cúng Cỗ mặn Sơn Trang
Nguồn: Nguyễn Long Hưng
2.1.3.
Thờ cúng: Khi đến lễ đền, phủ phải theo thứ tự như sau:
Trước tiên là lễ Thần Thổ Địa, Thủ Đển người ta gọi đây là lễ trình, là lễ cáo
thần linh Thổ Địa nơi mình đến dâng lễ. Sau đó, người ta sửa sang lễ vật, sắp ra các
mâm và khay chuyên dùng vào việc cúng lễ của nhà đền, phủ rồi đặt lễ vào các ban.
Khi dâng lễ cần phải kính cần dùng hai tay dâng lễ vật, đặt cẩn trọng lên bàn thờ. Lễ
vật cần đặt theo thứ tự từ ban chính trở ra ban ngoài cùng. Sau khi đã đặt xong lễ vật
lên các ban thờ thì mới được thắp hương, và thắp hương theo thứ tự từ ban chính rồi
đến các ban tiếp theo và sau cùng là ban thờ cô, cậu. Khi thắp hương phải dùng số lẻ:
1, 3, 5, 7 nén, nhưng thường thì thắp 3 nén.
Hài cúng

Khi dâng hương (sau khi đã châm lửa) thì dùng hai tay đưa lên ngang trán, vái ba
vái rồi dùng cả hai tay kính cẩn cắm vào bình hương trên bàn thờ. Nếu người dâng lễ
có sớ tấu trình thì có thể kẹp sớ lên ngang mày rồi vái ba lần. Khi lễ xong, sớ tấu trình
được đặt tại ban cơng đồng Tứ Phủ. Theo nghi thức, trước khi khấn lễ người ta
thường thỉnh ba hồi chuông rồi mới lễ và khấn.
Sau khi thắp nhang và khấn vái lễ xong, người ta có thể thăm phong cảnh nơi thờ
tự trong khi đợi hết một tuần nhang. Lúc tuần nhang cháy hết, ta có thể thắp tiếp thêm
một tuần nhang nữa, vái ba vái trước mỗi bàn thờ rồi hạ tiền, vàng… (đồ mã) để hóa
tại am hóa vàng. Khi hóa cần hóa từng lễ một, từ lễ của ban thờ chính cho tới cuối
cùng là ban thờ cơ, cậu. Hóa vàng xong thì hạ lễ ở các ban thờ.
Lưu ý rằng khi hạ lễ thì ngược lại với lúc đặt lễ, hạ lễ từ ban ngồi cùng rồi mới
đến ban chính. Riêng các đồ lễ ở ban thờ cô, thờ cậu như gương, lược,.. thì để nguyên
trên ban thờ; hoặc nếu nơi đặt ban thờ cơ, thờ cậu có nơi để riêng thì gom vào đó mà
khơng đem về.Theo thơng lệ, sau buổi lễ tín chủ thường dành một phần "lộc" nhỏ đặt
10



vào một khay hay đĩa cùng với một số tiền tùy tâm để biếu lại người thủ đền, phủ. Đó
cũng là cách xử thế hợp lẽ.
2.1.4. Hầu bóng
Ngồi những hình thức lễ thơng thường như ở các di tích tơn giáo khác như
đặt lễ, thắp hương, khấn vái, xin âm dương, hóa vàng lễ ở các di tích thờ Mẫu nói
chung và Phủ Giầy nói riêng có thêm hình thức đặc biệt là hầu đồng (hầu bóng). Hầu
bóng là nghi lễ chính của thờ Mẫu Tứ phủ cũng như của một số dạng thờ Mẫu khác.
Đó là nghi lễ nhập hồn của các vị Thánh Tứ phủ vào thân xác của các ông đồng, bà
đồng, là sự tái hiện lại hình ảnh của các vị Thánh nhằm phán truyền, chữa bệnh, ban
phúc lộc cho các tín đồ đạo Mẫu trên dưới 10 tuổi. Hầu đồng tức là Thần linh cưỡi lên
cái thể xác đồng nhi ấy. Hầu bóng, trong đó từ bóng chi vị Thần linh nào đó chiếu,
nhập cái bóng (hồn) của mình vào ơng đồng hay bà đồng và ơng bà đồng này là người
hầu hạ cái bóng Thần linh đó. Hầu đồng hay hầu bóng là hiện tượng nhập hồn nhiều
lần của nhiều vị Thần linh, trong đó mỗi lần một vị Thần linh nhập hồn (ốp đồng,
giáng đồng) rồi làm việc quan (tức thời gian thực hiện các nghi lễ, nhảy múa, ban lộc,
phán truyền) và xuất hồn (thăng đồng), được gọi là một giá đồng (tức thời gian Thần
linh ngự trên cái giá của mình là các ông đồng, bà đồng). Hầu đồng thường diễn ra
nhiều lần trong một năm, và quan trọng nhất là hầu đồng vào một trong hai lễ lớn đó
là tháng ba giỗ Liễu Mẫu.
Hầu đồng gắn với hát văn và múa thiêng là hình thức phổ biến nhất ở Phủ Dầy.
Hát văn, còn gọi là chầu văn hay hát hầu đồng, là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ
truyền của Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín
ngưỡng Tứ phủ (Đạo Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Đức Thánh
Vương Trần Hưng Đạo), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Bằng cách sử dụng âm
nhạc mang tính tâm linh cùng với các lời văn trau chuốt nghiêm trang, chầu văn được
coi là hình thức ca hát mang ý nghĩa chầu thánh. Hát văn có xuất xứ ở vùng đồng
bằng Bắc Bộ và hát cung đình ở Huế. Những người hát văn còn gọi là cung văn,
những ngưởi này thường là những người có chất giọng tốt, am hiểu đạo Tứ Phủ, phải

thuộc tất cả các bài văn ứng với từng vị thánh và biết linh động lời văn khớp với các
hoạt động mà vị thánh đang làm. Ở Phủ Dầy, cung văn là người địa phương khá nhiều
và họ coi đây là một nghề nghiệp kiếm sống. Hát văn và múa thiêng là những điệu
múa mang đậm tính dân gian (múa sinh họa, múa chèo đò, múa hèo,...) tạo nên sức
hấp dẫn cho nghi lễ hầu đồng. Người ta quan niệm rằng những người “có căn” có khả
năng giao tiếp được với thần linh, được Thánh nhập qua xác họ và hầu hết những
người này là thanh đồng, những ngưởi có căn đồng thường có các biểu hiện đặc biệt
hoặc hình thức đặc biệt dễ nhận ra. Tại Phủ Dầy những người mới có căn hoặc nhẹ
11


căn phải “đội bát hương” (họ phải nhờ người xem mình có căn thuộc phủ nào để làm
lễ). Nhờ có sự trợ giúp của ông đồng, bà đồng, người đội bát hương ở trạng thái ảo
giác, đầu quay đảo liên tục trong vài phút. Bát hương của họ sau đó có thể được gửi ở
Phủ Mẫu. Sau khi làm lễ người có căn mà bị “bắt lính” phải làm lễ “trình giầu” (sắm
một cơi giầu đến trước Phủ Mẫu). Đây là hình thức trình diện của con đồng đối với
Thánh Mẫu, hay nói cách khác là “đăng kí” để trở thành Thanh Đồng - người đóng
vai trị giao tiếp với thần linh. Sau đó, nếu có điều kiện, họ sẽ xin “ra đồng” ngay,
ngược lại họ sẽ khất một thời gian. Khi xin ra đồng, thanh đồng thường sẽ trình Mẫu
một mâm quần áo sẽ dùng để lễ Thánh, nếu khó khăn thì họ chỉ sắm một áo đỏ với đai
và khăn. Những quần áo này là thứ để Thánh nhận ra lúc giao tiếp khi họ mới chỉ là
người mới. Cịn lí do tại sao phải sắm một áo đỏ mà khơng phải màu khác là vì màu
đỏ tượng trưng cho Thánh Mẫu Liễu Hạnh - vị thánh mẫu trung tâm cai quản nơi này,
vị “Mẫu nghi thiên hạ”. Thông qua thân xác họ Thánh phán truyền bằng động tác
hoặc viết chữ - giáng bút hoặc chỉ biểu diễn cho biết “phép Thánh”. Để chuẩn bị một
buổi lễ hầu đồng, các thanh đồng thường chuẩn bị kĩ và khá tốn kém. Đầu tiên phải
chọn ngày tốt trước, chọn người hầu dâng và chọn cung văn, sau đến trang phục (tuỳ
từng giá đồng mà phải có quần áo với màu sắc tương ứng), mua đồ lễ (thường là bánh
kẹo, hoa quả, gương, lược, rượu, thuốc lá, tiền lẻ...). Tuỳ điều kiện kinh tế mà quần
áo, đồ lễ sang trọng hay bình dân, nhiều hay ít. Thơng thường, qui trình của một buổi

hầu đồng diễn ra qua mấy bước với sự giúp đỡ của hai người hầu dâng, người hầu
đồng trùm khăn phủ diện, lắc lư, khi Thánh giáng thì giơ tay ra hiệu cho công văn
biết. Nếu Thánh đã nhập thì tung khăn phủ diện (thường trước khi hầu, họ đã lễ xin
trước sẽ hầu giá gì, nếu sát căn của ai - ví như căn hàng Quan, căn hàng Châu, căn Cơ
Bé... thì cố xin để hầu giá đó). Theo những người hầu đồng tại Phủ Giầy hàng Quan
thường về để nhận sơ, chứng sở, hàng Chầu lại hay về chứng mâm trầu cho các con
đồng. Trong khi cung văn hát kể lại lịch vị thần hoặc tán dương thì ơng bà đồng (lúc
này đã là vị thần vừa nhập) nhảy múa, lắng nghe, dùng các thứ trầu, rượu, thuốc lá do
hầu dâng đưa, phát lộc cho bàn hội hoặc những người ngồi dự. Sau đó Thánh thăng,
để vị thần khác lại nhập vào. Ngôn ngữ bàn tay trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ,
Tứ phủ của người Việt vô cùng quan trọng, đặc biệt trong hầu đồng. Thông qua dấu
hiệu, cử chỉ của bàn tay mà cung văn biết ứng xử, dâng văn cho đúng, những người
hầu dâng cũng vì vậy mà chuẩn bị các trang phục, đạo cụ cho chuẩn. Với người viết
thì ngơn ngữ bàn tay là một là cả một nghệ thuật, ngôn ngữ nay khiến nghi thức hầu
đồng trở thành một nghệ thuật tương tác độc đáo mà khơng có tơn giáo nào trên thế
12


giới có được. Đó cũng là lý do mà tín ngưỡng thờ Mẫu Tam, Tứ phủ của người Việt
đã được Unesco công nhận là di sản phi vật thể đại diện của nhân loại.
Tuy diễn ra liên tục trong năm, nhưng hình thức lễ bái, đội bát nhang, trình
đồng, lên đồng diễn ra đặc biệt sối nổi trong các ngày hội. Có thể nói, lễ là nguyên
nhân đầu tiên quyết định việc thành hình hội trong các lễ hội. Mặc dù hôm nay chúng
ta muốn phát triển đậm thêm yếu tố hội, nhưng nếu mất đi những sắc về truyền thống
và thiêng liêng của lễ, hội cũng khó có điều kiện tồn tại lâu dài.

Hầu đồng thời nay tại Phủ Dầy

Hầu đồng xưa


Nguồn: FB Phủ Dầy – Vụ Bản – Nam Định

Nguồn: Nguyễn Long Hưng
Ngôn ngữ bàn tay khi hầu đồng
2.2. Phần hội:
Phần hội gồm các trò vui chơi giải trí hết sức phong phú. Các trị chơi này có
một ý nghĩa tinh thần rất hay, thể hiện những ước vọng thiêng liêng của con người
nông nghiệp. Xuất phát từ ước vọng cầu mưa là các trò tạo ra tiếng nổ mô phỏng tiếng
sấm vào các hội mùa xuân để nhắc trời làm mưa như thi đốt pháo, đi thuyền đốt pháo,
13


ném pháo, đánh pháo đất... Xuất phát từ ước vọng cầu cạn là các trò thi thả diều vào
các hội mùa hè mong gió lên, nắng lên để nước lụt mau rút xuống. Xuất phát từ ước
vọng phồn thực là các trò cướp cầu thả lỗ, đánh đáo, ném còn, nhún dụ, bắt chạch
trong chum... Xuất phát từ ước vọng rèn luyện sự nhanh nhẹn, tháo vát, khéo léo là
các trò thi thổi cơm, vừa gánh vừa thổi cơm, vừa giữ trẻ vừa thổi cơm, vừa bơi thuyền
vừa thổi cơm; thi luộc gà, thi dọn cỗ, thị bắt lợn, thị bắt vịt, thi dệt vải, thi leo cầu ùm,
thì bịt mắt bắt dê, đi cà kheo... Xuất phát từ ước vọng rèn luyện sức khỏe và khả năng
chiến đấu là các trò đấu vật, kéo co, chọi gà, chọi trâu chọi cá, chọi dế...
2.2.1.
Hội chợ Viềng:
Suốt từ tháng Giêng đến tháng Ba, cả khu vực Phủ Giầy chìm trong khơng khí hội
hè, bởi lễ hội Phủ Giầy tuy chính thức mở vào tháng Ba nhưng đã được khởi động từ
hội chợ Viềng đầu xuân. Chẳng biết từ bao giờ, trong tâm thức người dân nhiều vùng
thuộc đồng bằng Bắc Bộ, đi chợ Viềng đầu năm đã trở thành một phong tục truyền
thống, theo quan niệm của người dân, lỡ một phiên chợ Viềng là lỡ cả một năm.
Chính vì thế mà vào dịp này người dân địa phương đều chộn rộn rủ nhau đến chợ:
“Nhắn ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày mồng 8 về chơi chợ Viềng

Chợ Viềng năm có một phiên
Để có trai gái tốn tiền giầu cau”.
Theo cuốn “Khảo sát thực trạng văn hóa lễ hội truyển thống của người Việt ở
đồng bằng Bắc Bộ” do Nguyễn Quang Lê chủ biên thì tên gọi chợ Viềng “có thể là
việc đọc chệch âm Chiêng - Viềng. "Chiềng ở đây có nghĩa là Trình" nhu cầu "chiềng
làng, chiềng chạ". Chợ Viềng là lễ trình đầu năm của con người trước trời đất”.
Trước kia chợ Viềng nằm trong ngày hội của làng, tổ chức từ mùng 6 đến 9/1,
ngày mùng 6 các giáp ở các thôn thuộc làng An Thái lúc đó (Vân Cát, Vân Đình, Vân
La, Nham Miếu) đều làm lễ rước các thành hoàng và các vị phúc thần của làng về hội
tụ tại đình Hội Đồng - nơi thờ Khổng Minh Không, tế lễ trong ba ngày hội. Các nghi
thức tế lễ và rước kiệu được làm theo các quy định trong hương ước. Quan trọng nhất
là nghi thức rước kiệu. Theo các tài liệu cũ, trước tiên là rước Tả Sơn thần và Hữu
Sơn thần xuống núi, khi đến đền Đức Vua thì kiệu Đức Vua đi trước. Đám rước kiệu
Mẫu Liễu Hạnh từ trong làng ra, nhập cùng với kiệu Thành hồng Tả Lơi Cơng, cùng
với hiệu Tả Sơn thân, Hữu Sơn thân, kiệu Đức Vua cùng nhau tiến vào đình Ơng
Khổng. Khi vào trong đình, các kiệu được xếp thứ tự theo quy định: kiệu vua Lý Nam
Đế ở chính giữa, bên trái là kiệu Mẫu Liễu Hạnh, bên phải có kiệu Ơng Khổng. Các
kiệu của các vị thần khác ở phía sau. Sang đến ngày mùng 9/1 dân làng lại trước các
vị thần về các đền phủ. Ngày mùng 8, vào dịp hội làng có đơi hội chợ Chiềng, chợ
kéo dài suốt từ đình Ông Khổng đến phủ Tiên Hương. Hội làng với các nghi thức
14


rước các thần đến tập trung khơng cịn nữa, nhưng riêng chợ Viềng vào ngày mùng 8
vẫn được duy trì cho đến ngày nay.
Chợ Viềng Nam Định nổi tiếng xưa nay là một chợ cầu may đặc biệt. Sau một
năm lao động vất vả, mùa xuân đến như mang lại sự hồi sinh cho đất trời, đem lại
niềm vui cho mỗi con người. Người ta chuẩn bị Tết với tất cả sự háo thức của những
niềm hy vọng. Rồi Tết đi qua, con người lại bước vào một vòng quay mới của thiên
nhiên, của một chu kỳ sản xuất. Chợ Viềng đầu năm dường như là thời điểm bắt đầu

cho chu trình ấy. Điều đáng chú ý là mỗi năm chợ chỉ mở đúng một lần và họp lúc
nửa đêm, dòng người đi chợ mua bán tấp nập, chen chúc nhưng ai cũng vui vẻ khi
mua, bán một món hàng nào đó. Từ một phiên chợ xuân của cư dân nông nghiệp,
ngày nay những người tới chợ không chỉ là những người nông dân như xưa nữa mà
đã bao gồm nhiều ngành nghề khác nhau đến từ nhiều tỉnh thành, sản phẩm cũng vì
thế mà đa dạng hơn rất nhiều. Những điều đó góp phần làm nên sức quyến rũ rất
riêng của phiên chợ Viềng mỗi năm một lần duy nhất này. Tiếng là "hội chợ" nhưng
chợ Viềng không bán mua những sản phẩm ngoại lai cao cấp, hào nhoáng đắt tiền
như ở các hội chợ tỉnh, thành phố lớn mà sản phẩm ở đây chủ yếu là các cây trồng,
vật nuôi: từ cây trồng để lấy gỗ, cây hoa cây cảnh, các loại cây ăn quả, thậm chí cả
cây cà, cây chanh, cây ớt. Và sau nữa là đến các vật dụng sản xuất nhỏ của nhà nông.
Người ta có thể tìm mua ở đây từ cái cày cái cuốc đến các vận dụng nhỏ như đôi
quang thúng, cái đòn gánh, hay những thực phẩm cần thiết cho cuộc sống con người
như gạo, thịt, quần áo, giày dép… du khách cịn có thể tìm thấy ở đay những bộ tế
khí, những chiếc lư hương bằng đồng, cùng trăm ngàn thứ vật dụng linh tinh khác.
Tại chợ Viềng, chủ yếu bán các đồ nông cụ, sản xuất nông nghiệp như thúng, mủng,
quang gánh, liềm, cuốc xẻng... Nhiều người cho rằng, mua những vật dụng này tại
phiên chợ họp duy nhất một lần trong năm sẽ giúp họ có một mùa màng bội thu, no
đủ suốt một năm. Đối với cây cảnh, người mua mua cây ở chợ Viềng với ý nghĩa lấy
lộc đầu năm, từ cây cảnh cho tới các cây ăn quả. Ngồi ra, cịn có thứ thực phẩm
được người bán kẻ mua rất tưng bừng náo nhiệt. Ðó là thịt bò non. Đối với các loại
thịt trâu - bò, theo nhà nghiên cứu Hồ Đức Thọ, thịt bò là lễ vật dâng mẫu Liễu Hạnh,
nên mua thịt bò tại phiên chợ Viềng người mua cũng cảm thấy như xin được lộc
Mẫu. Nói đúng ra là thịt bê được thui vàng ươm nguyên cả con, bán rất nhiều dọc các
ngả đường đi vào chợ. Có thể nói khơng ngoa rằng "Trên là trời, dưới là thịt bò bê".
Khách mua thích phần nào có thể tuỳ chọn, mà giá lại rất phải chăng, hợp với túi tiền
của "người nhà quê". Lễ hội chợ Viềng hàng năm gắn liền với việc thờ ông Nguyễn
Minh Không, ông tổ đúc đồng, nên trước đình ơng Khổng, người dân thường bày bán
đồ đồng, đồ sắt. . Hàng hóa góp mặt ở chợ chủ yếu được người dân tại các huyện
trong tỉnh Nam Định và một số vùng lân cận như: Thái Bình, Hà Nam mang tới. Với

tâm lý bán rủi, mua may nên người bán hàng thường đưa ra giá vừa phải, không đặt
nặng yếu tố lợi nhuận. Ở chợ phiên này có tục người bán khơng hề nói thách và người
15


mua cũng không hề mặc cả - một nét đẹp đáng u chỉ phiên chợ này mới có. Hình
như "sự bán, sự mua" ở đây mang nặng một ý thức tâm linh nào đó, rằng người ta chỉ
cần bán hoặc mua được một vật gì đó dù rất nhỏ thì người bán kẻ mua đều gặp nhiều
may mắn tốt lành, và cả đôi bên đều cùng vui vẻ hỉ hả ra về đi lễ chùa cầu may cầu
lộc. Chợ còn là nơi giới thiệu làng nghề, tay nghề ở những vùng quanh đó. Nhiều đơi
nam thanh nữ tú tay trong tay vãn cảnh chợ Viềng, cầu mong cho hạnh phúc lứa đôi.
Hội chợ Viềng đầu xuân thật vui vẻ nhộn nhịp với tiếng chiêng, trồng hòa lẫn
với tiếng gò mâm, gò nồi, hàng búa thợ rèn cùng với âm thanh của hàng ngàn, hàng
vạn người mua, kẻ bán, người xem đã tạo nên thứ âm thanh ồn ào, rất đặc trưng của
phiên chợ Viềng xuân. Có thể nói, chợ Viềng khơng chỉ là một lễ hội bn bán mà
cịn là dịp hành hương về cội nguồn. Phạm vi của chợ ngày càng mở rộng và mặc cho
nhiều yếu tố khách quan bên ngoài, Chợ Viềng lúc nào cũng tấp nập. Chợ Viềng
mang nhiểu nét đẹp truyền thống từ xa xưa và được bảo tồn, bảo lưu như một nét đẹp
văn hóa, tạo khơng khí sơi động cho cả vùng Phủ Dầy, mở đầu cho mùa hội tháng Ba.

Khung cảnh chợ Viềng xưa
Khung cảnh chợ Viềng nay
Nguồn: Phủ Dầy – Vụ Bản – Nam Định
2.2.2.
Lễ hội tháng Ba (âm lịch)
Hội Phủ Dầy được tổ chức hàng năm vào ngày 3 tháng 3 âm lịch vì theo truyền
thuyết Mẫu Liễu mất vào tháng Ba. Lễ hội Phủ Dầy với mục đích tổ chức nghi lễ,
thắp hương biết ơn Thánh Mẫu Liễu Hạnh, nên vào dịp này hàng năm, các con nhang
đệ tử từ mọi miền đất nước, xa có, gần có, thậm chí Việt kiều từ nhiều nước trên thế
giới cũng cố gắng tìm đến Phủ Giầy với tâm thức đi "giỗ Mẫu". Bởi vậy, tháng Ba

thực sự là tháng hội hè của người dân của cả vùng Kẻ Giầy xưa kia, mặc dù trên thực
tế, hội Phủ Giầy đã bắt đầu ngay từ Chợ Viềng 8/1 và kéo dài đến tận tháng Tư. Đây
là một lễ hội lớn ở vùng châu thổ Bắc Bộ và là lễ hội trải qua nhiều nỗi truân chuyên.
Cùng thời điểm này, Mẫu Liễu cũng được thờ tại nhiều lễ hội khác ở Việt Nam,
nhưng hội Phủ Dầy thuộc vào loại long trọng nhất, với sự tham gia của đông đảo dân
16


chúng. Tín ngưỡng thờ Mẫu tứ phủ là một bộ phận của tín ngưỡng thờ thần (nữ thần)
của người Việt nói riêng và Việt Nam nói chung. Trong q trình hình thành, từ tín
ngưỡng thờ nữ thần gắn liền với hoạt động sản xuất nơng nghiệp đến tín ngưỡng thờ
Mẫu tứ phủ. Đạo Mẫu đã biến đổi, phát triển thành một hệ thống thần linh có các cấp
bậc khác nhau. Cùng với sự phát triển này, các nghi thức thờ cúng trong đạo Mẫu
cũng diễn ra bài bản, chặt chẽ hơn. Có 3 nghi thức quan trọng nhất trong Lễ hội Phủ
Dầy bao gồm:
• Lễ Rước Đuốc
• Lễ Rước Mẫu Thỉnh Kinh
• Lễ kéo chữ Hoa Trượng Hội.
2.2.2.1. Lễ rước
• Lễ rước đuốc
Phủ Tiên Hương thuộc Quần thể Phủ Dầy nơi xuất phát của đoàn rước đuốc
trong buổi tối được trang hồng lộng lẫy đèn hoa và có rất đơng nhân dân, khách thập
phương về Lễ Mẫu, đồng thời tham dự nghi lễ rước đuốc độc đáo. Theo Thanh đồng
Trần Thị Huệ - phủ Tiên Hương cho biết, lễ rước đuốc là một trong 3 nghi lễ độc đáo
trong lễ hội Phủ Dầy mà khơng ở đâu có. Theo thường lệ, vào tối ngày mùng 5/3 âm
lịch, tất cả các đồng đền, thủ nhang tập trung xin ngọn lửa thiêng từ trong cung cấm,
phủ chính Tiên Hương, sau đó rước ra ngoài, trao cho hơn 1.000 ngọn đuốc khác của
con nhang đệ tử, bà con trong vùng và du khách thập phương rước đi vòng quanh các
khu vực đền, phủ, lăng trong quần thể Di tích lịch sử văn hóa Phủ Dầy. Mở đầu nghi
lễ rước đuốc, các thanh đồng đạo quan, đồng đền, thủ nhang tay cầm những ngọn nến

hình đài sen thành tâm xin ngọn lửa thiêng từ trong cung cấm Phủ Tiên Hương, sau
đó rước ra ngồi và tiếp lửa cho hàng trăm ngọn đuốc của các tráng sỹ. Trước khi
đoàn rước xuất phát, Phủ Tiên Hương đã chói sáng bởi các dàn pháo bơng đồng loạt
khai quang trên mái, giữa và xung quanh hồ bán nguyệt cũng như ở phương du phía
trước Phủ. Dẫn đầu đồn rước là các đội rồng, lân, sư tử biểu diễn trong nhịp trống
phách rộn ràng. Tiếp đó là hình tượng một đầu rồng lớn được thắp sáng rực rỡ, tiếp đó
là hơn 1.000 ngọn đuốc tượng trưng cho thân rồng, và cuối cùng là hình tượng đi
rồng. Theo sau là các tráng sỹ gồm cả nam và nữ ở nhiều độ tuổi cùng mặc áo vàng
viền đỏ, đầu chít khăn đỏ, thắt lưng buộc chặt, chân quấn xà cạp gọn gàng, tay cầm
những ngọn đuốc sáng nối nhau bước đi tượng trưng cho thân rồng. Và cuối cùng là
hình tượng đi rồng để cả đồn rước tạo thành một con rồng lửa kéo dài hàng cây
sốCũng như mọi năm, đoàn rước đuốc trong Lễ hội Phủ Dầy xuất phát từ Phủ Tiên
Hương, qua Lăng Mẫu, đi vào đường uốn lượn ven núi, qua Chùa Tiên Hương, vịng
qua Phủ Cơng Đồng rồi về lại Phủ Tiên Hương. Hàng trăm ngọn đuốc được rước
vòng quanh khu vực đền, phủ, chùa, lăng đã tạo nên hình ảnh độc đáo, ấn tượng, làm
cho Quần thể di tích lịch sử - văn hóa Phủ Dầy rực sáng trong niềm hân hoan của tất
17


cả mọi người trực tiếp tham gia cũng như nhân dân và đông đảo du khách về chiêm
ngưỡng.
Theo người dân nơi đây, nghi lễ rước đuốc ở lễ hội Phủ Dầy đã có từ lâu, và
càng ngày càng được tổ chức quy mô hơn. Lửa trong quan niệm dân gian là yếu tố
cầu may, mang lại sự ấm no hạnh phúc. Theo người dân nơi đây, ngọn lửa thiêng
được rước từ nơi thờ Thánh Mẫu trong những ngày lễ hội sẽ xua tan đi những gì đen
tối, đem lại sự may mắn sinh sôi, đồng thời bày tỏ mong muốn của các đồng đền thủ
nhang, dân thôn bản hạt, con nhang đệ tử và du khách thập phương về một cuộc sống
tươi sáng, hịa bình ấm no, tươi vui hạnh phúc cho bách gia trăm họ thái bình an
nhiên.Nghi thức rước đuốc được tổ chức vào buổi tối giữa không gian làng quê Bắc
bộ tạo thành một hình ảnh đẹp biểu tượng cho niềm tin, hy vọng vào những điều tốt

lành sẽ đến trong cuộc sống của cư dân. Trải qua nhiều thế hệ, các nghi thức và phong
tục dân gian mang đậm giá trị truyền thống trong lễ hội Phủ Dầy đã được bồi đắp, lưu
giữ, kết tinh, hội tụ và lan tỏa rộng khắp ra các vùng miền trên tồn quốc.
• Rước kiệu Mẫu
Mùng 6 tháng 3 âm lịch hằng năm, tại Phủ Chính Tiên Hương diễn ra nghi lễ
rước Mẫu, một trong những nghi lễ quan trọng và đặc sắc nhất trong Hội Phủ Dầy.
Ngay từ sáng sớm tại Phủ Chính, các thanh đồng đạo quan cùng nhân dân địa phương
và du khách khắp nơi đã có mặt để chuẩn bị cho nghi thức rước Mẫu thỉnh kinh. Tam
tòa Thánh Mẫu sẽ được rước bằng kiệu hoa từ phủ Mẫu Tiên Hương đi tới Chùa Tiên
Hương thỉnh Phật rồi quay trở lại. Đám rước bắt đầu từ sân phủ Tiên Hương kéo hàng
cây số, ước chừng vài nghìn người từ nhiều miền quê khác nhau tham gia nhưng đều
có một điểm chung là thành kính tưởng nhớ và tri ân những công đức vô lượng của
Thánh Mẫu Liễu Hạnh- vị thần chủ của Đạo Mẫu Việt Nam, một trong 4 vị thánh bất
tử trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam.
Nghi lễ rước Mẫu lên chùa thỉnh kinh bắt nguồn từ sự kiện “Sòng Sơn đại chiến” Mẫu
Liễu Hạnh đã được Phật Tổ Như Lai ra tay cứu giúp và thu nạp. Từ đó, Mẫu Liễu
Hạnh quy y cửa Phật để cứu độ chúng sinh khỏi cảnh lầm than cơ cực. Nghi thức rước
Mẫu Thỉnh kinh thể hiện mối quan hệ dung hồ, gắn kết giữa Tín ngưỡng thờ Mẫu
với Nội đạo tràng và Phật giáo. Điều này đã góp phần tạo nên sự gắn kết cộng đồng,
thu hút nhiều tín đồ, phật tử tham dự lễ rước mẫu thỉnh kinh hàng năm và trở thành
nét văn hóa tín ngưỡng độc đáo trong Lễ hội Phủ Dầy. Vì vậy, nghi thức rước kiệu
Mẫu Thỉnh kinh là nghi thức quan trọng nhất trong lễ hội Phủ Dầy, với Tam tòa
Thánh Mẫu được rước bằng kiệu hoa từ các phủ.
Trong đám rước từ Phủ Vân, đi đầu là kiệu nhang án với bốn người khiêng rước
Quan Giám sát. Tiếp đó là kiệu long đình để sau khi đến chùa thỉnh kinh sẽ rước kinh
đem về. Kiệu bát cống do tám người khiêng nước Tứ vị chầu bà. Ba kiệu võng: kiệu
18


Mẫu đệ nhất (màu đỏ), kiệu Mẫu đệ bà nhị (màu xanh), kiệu Mẫu đệ tam (màu trắng)

được các cô gái trang phục đẹp khiêng. Cuối cùng là kiệu bành rước các quan đi hộ
tống Mẫu. Kiệu rước bát nhang Thánh Mẫu phần lớn do các bà, các cô đảm nhận, y
phục rực rỡ, xúm xít dưới kiệu vàng, võng điều, cờ quạt, tán, lọng, phướn đủ màu rực
rỡ tung bay trước gió lồng lộng vào tiết cuối xuân, đầu hè. Đồn rước có rất nhiều cờ
quạt màu sắc rực rỡ với 5-6 con rồng vừa đi vừa múa gậy tạo một khơng khí náo
động.Theo đồn rước cịn có đội nhã nhạc, bát âm. Các cô gái đồng trinh của đồng
quê được cử vào khiêng long đình, rước võng, khiêng kiệu, che tán, che quạt, các bà
trung niên thì cầm phướn, vác cờ, dẹp đường. Đoàn rước tiến bước giữa tiếng loa thét,
rừng cờ phướn tung bay trong đoàn thiện nam tín nữ đi trẩy hội. Những đội múa rồng,
múa lân và những đoàn tham gia rước kiệu, giăng kiều… với nhiều sắc màu tạo nên
một khơng khí vui nhộn và trang nghiêm mang đậm nét lễ hội của người Việt. Điển
hình, trong đám rước, có sự tham gia của các đội múa lân, sư tử và rồng bay, tượng
trưng cho Tam tòa Thánh Mẫu thăng thiên. Những người tham gia đám rước thường ở
nhiều nơi, nhiều đoàn. Một số đoàn do thủ nhang mời về, một số khác tự nguyện đến
xin đăng ký đi rước Mẫu. Ước chừng có vài nghìn người đã tham gia đám rước, vì
riêng những người trong bản hội đi khiêng kiệu và đăng ký với nhà đền đã lên tới
khoảng 1100, chưa kể dân đi theo.
Đám rước có quy mơ lớn phải kể đến Phủ Tiên Hương. Từ sáng ngày 6/3 phủ đã
tổ chức tế và chuẩn bị cho đám rước. Các đoàn ở xa như Hà Nội, Thanh Hóa,... đều
đến đây từ ngày trước, cịn các đồn ở vùng lân cận thì từ sáng sớm đã có mặt để sắp
xếp đội hình. Trước cửa phủ treo khoảng 20 trùm bóng bay với những cờ đuôi nheo
ghi các chữ “Mẫu nghi thiên hạ”, “Thánh Thọ vơ cương”, “Thiên hạ thái bình” để
chuẩn bị thả khi đám rước khởi hành. Đội hình rước phủ Tiên Hương gồm 34 đội với
các đội chính từ phủ, các đội hình của các vùng lân cận và khách thập phương.
Lễ rước Mẫu thỉnh kinh được bắt đầu trong không khí trang nghiêm, bằng nghi
thức lễ xin rước bát hương, chân linh của Thánh Mẫu Liễu Hạnh của Thủ nhang Phủ.
Thủ nhang cùng với các hòa thượng vào trong cung cấm làm lễ và rước bát hương của
Thánh Mẫu ra, ở nghi thức này cần phải lấy khăn bịt miệng vì người ta quan niệm
rằng lấy khăn bịt miệng sẽ tránh làm ơ uế Mẫu. Đồn rước bắt đầu khởi hành từ Phủ
Tiên Hương với tâm trạng háo hức và lịng thành kính đặc biệt. Các trùm bóng bay

được thả lên nền trời cao xanh ngắt với các dòng chữ thật bắt mắt với ý niệm bày tỏ
lịng thành kính với Mẹ trên cao.
Đi đầu đoàn cầu là các phật tử đến từ các xã, thị trấn trong huyện, mặc trang
phục nhà Phật, tay cầm cành phan, tay lần tràng hạt hoặc tay cầm những cờ Phật nhỏ
vừa đi vừa tụng kinh niệm phật. Đoàn Phật tử giăng kiều – cầu kiều với mục đích làm
đường đưa mẫu đi thỉnh kinh. Kiều là những băng vải dài, có chữ Hán và thêu hoa
sen. Mỗi kiều dài khỏang chừng 20 – 30m nhưng các kiều được ghép liên tiếp với
19


nhau với nhiều màu trắng, vàng,... Mỗi bàn hội mang đến một màu kiểu khác nhau.
Các tấm kiều ghép lại như một cây cầu kiều dài hằng cây số. Người dân khi đi qua
thường bỏ tiền lên trên kiều. Các vãi tuy đều có tuổi và phải đi dưới trời nắng gắt
nhưng rất vui vẻ, hăng hái, khuôn mặt tràn ngập niềm vui khi được tham gia rước
Mẫu.
Tiếp nối các phật tử, các vãi là đoàn rước cờ hội, rước rồng, múa tứ linh, đội
trống hội, rồi đến đội kèn trống, bát âm, các nữ thanh đồng và chấp kích bát bảo, tiếp
đến là kiệu bát cống đặt bát hương, kiệu long đình để lấy kinh và ba kiệu võng, với 3
màu khác nhau gồm đỏ, xanh, trắng tượng trưng cho Mẫu Thiên, Mẫu Đệ Nhị và Mẫu
Đệ Tam, mỗi kiệu có 4 người khiêng. Những người khiêng kiệu đều phải mặc trang
phục áo, quần, hài, khăn vành trùng với màu kiệu võng Mẫu mà mình rước. Kiệu Tứ
Phủ thì do các thanh niên mặc đồ trắng khiêng. Khi đám rước đến chợ Sại, trước cửa
Uỷ Ban Nhân Dân thì đứng lại múa. Các điệu múa đẹp mắt với âm thanh rộn ràng của
tiếng trống rộn ràng hòa quyện với chuyển động rung rung mn vạn sắc màu chính
là điểm nhấn không thể thiếu của buổi rước. Buổi rước đặc biệt phải kể đến sự hiện
diện của 6 con rồng với nhiều màu, trong số 6 con đó có một con rồng mây mà theo
lời kể của dân địa phương gọi nó là rồng thanh long (rồng xanh), ln múa đơi cùng
rồng hồng long (rồng vàng). Rồng hồng long tượng trung cho vương quyền, rồng
thăng long tượng trưng cho giai cấp bị trị và phải chăng việc múa đơi, hịa quyện giữa
hai con rồng này thể hiện cho việc gắn bó giai cấp,đất nước hưng thịnh. Ở Phủ Tiên

Hương cịn có ba con rồng được kết bằng hàng nghìn quả bóng với ba màu chủ đạo là
đỏ, xanh, vàng tượng trưng cho Tam Tòa Thánh Mẫu rất sinh động và sặc sỡ. Lên đến
chùa, nhà sư làm lễ để thỉnh kinh đem về. Trong lúc đó, các đồn múa rồng, múa sư
tử, múa tứ linh biểu diễn rộn ràng bên sườn núi. Tuy đoạn đường rước không ngắn
nhưng người đi rước rất phấn khởi và hào hứng vì trong tâm thức của họ Mẫu đã tiếp
thêm sức mạnh cho họ. Đám rước diễn ra với các sự tham dự của dòng người từ nhiều
vùng khác nhau nhưng họ đến đây với điểm chung là đều là con của Mẫu. Khi rước
xong nhà đền mời các đoàn rước ăn uống trong các mâm được chuẩn bị sẵn từ trước,
khi về cho mỗi người một gói lộc mẫu và có thể bồi dưỡng thêm cho mỗi đồn ít tiền.
Những khoản chi phí tốn kém đã làm nên một cuộc phơ diễn hồnh tráng và đặc sắc
trong đám rước Mẫu.
Nghi thức rước Thánh Mẫu giữa phủ thờ và chùa không phải chỉ diễn ra ở Phủ
Giầy, nghi thức phản ánh thực tế có sự giao kết giữa tín ngưỡng thờ Mẫu dân gian và
Phật giáo. Trong huyền thoại về Chúa Liễu, thông qua trận Sùng Sơn thể hiện được
mối quan hệ khắng khít giữa hai tín ngưỡng này. Hiện nay, trong nhiều ngơi chùa thờ
Phật Việt Nam đều có điện thờ Mẫu, theo kiểu tiền Phật hậu Mẫu. Sinh hoạt tín
ngưỡng Mẫu trở thành một bộ phận của sinh hoạt nhà chùa.

20


Lễ rước được diễn ra trong khơng khí náo nhiệt và hào hứng của các con nhang
đệ tử và của người dân địa phương cùng du khách thập phương. Mang ý nghĩa tri ân
công đức của Thánh Mẫu Liễu Hạnh, lễ rước thỉnh kinh ở Phủ Tiên Hương trong lễ
hội Phủ Dầy của huyện Vụ bản mang đậm giá trị lịch sử, văn hóa của tín ngưỡng thờ
Mẫu, nhằm tơn vinh tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh, một trong tứ bất tử của tín
ngưỡng dân gian Việt Nam, mang giá trị nhân văn sâu sắc, đề cao quyền năng, vai trị
của người mẹ trong đời sống; đồng thời góp phần gìn giữ và phát huy các giá trị văn
hóa truyền thống, giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống của quê hương, đất nước,
hướng mọi người tới chân - thiện - mỹ.

2.2.2.2.
Hội kéo chữ
Trong lễ hội năm 1998, đền Phủ Dầy đã treo một dãi băng rôn dài treo trước
phương du có dịng chữ “Lễ hội Phủ Dầy – ngày hội văn hóa thể thao cổ truyền”, có
lẽ đây là chủ trương lớn của tỉnh Nam Định nhằm nhấn mạnh tính văn hóa thể thao
của ngày hội, mà thể hiện rõ nhất chính là Hội kéo chữ. Có thể nói đây là một hình
thức lễ nghi, nhưng cũng vừa là trị chơi thể thao quy mơ và đẹp mắt khi mà cả nghìn
người chuyển động theo phép tắc, lề lối, sắp thành nét, thành chữ để làm lễ. “Hoa
trượng hội” hay còn gọi là Hội kéo chữ - tiết mục đặc sắc mang đậm tính chất sinh
hoạt tín ngưỡng văn hóa chỉ có riêng ở Phủ Dầy, là hoạt động mang ý nghĩa tinh thần
của cư dân sản xuất nông nghiệp cầu cho mưa thuận gió hịa, ca ngợi cơng đức của
Thánh Mẫu Liễu Hạnh.
Hội kéo chữ thường được tiến hành vào ngày 7, 8, 9/3 và bao giờ thì ngày kéo
chữ cũng là ngày đông người và vui vẻ nhất. Hàng trăm nam thanh nữ tú ăn vận trong
trang phục lễ hội xếp thành hàng chữ để kéo là nét độc đáo của lễ hội phủ Giày. Về
nguồn gốc hội kéo chữ, theo truyền thuyết, Hội hoa trượng (hay Hội gậy hoa) trong
Lễ hội Phủ Dầy hàng năm vào tháng ba là do bà Trịnh Thái Phi Trần Thị Ngọc Đài
bày ra. Chuyện kể rằng: “Khoảng năm ngọ đến năm thân (1630 – 1632) trời mưa to
gây lũ lụt lớn, đê sông Nhị và đê Bà Bàu bị vỡ, nước tràn vào kinh thành Thăn Long,
đồng thời ngập tràn 5 huyện đất Sơn Nam. Chúa Trịnh phải điều phu các đạo về đắp
đê ngăn lũ. Dân phu Thiên Bản đang phải chống lụt cũng phải gồng gánh cuốc
thuổng lũ lượt lên kinh. Làm được mấy ngày, lương tiền đều hết mà phần đất còn
nhiều. Biết Vương Phi Ngọc Đài là người nhân đức, dân phu Thiên Bản rủ nhau tìm
cách vào gặp xin Bà Chúa cứu giúp. Bà Chúa thương hại bèn nghĩ cách, Bà cấp cho
ít gạo tiền, dặn họ ngày mai Chúa đi khám đê, thì theo kế hoạch của Bà mà làm. Giờ
thìn hơm sau Chúa Trịnh đi khám đê, Bà đòi đi theo. Bà dặn phu kiệu đi qua đám dân
phu Thiên Bản đang làm. Dân phu đội nón mo, đóng khố đào đất. Khi thấy kiệu của
Chúa và Vương Phi sắp tới thì đổ nước cháo trong lọ ra chia nhau húp. Bà Chúa liền
gọi lên trước mặt Chúa Trịnh hỏi han tình hình. Dân phu vội xúm lại kêu với Chúa
đây là dân Thiên Bản xa xôi tận Sơn Nam, ở quê nhà cũng đang bị vỡ đê Bà Bàu,

nước ngập trắng băng, nhà cửa trâu bị lúa gạo bị nước cuốn trơi, nhưng theo lệnh
21


Chúa vẫn phải đi phu lên đây, nên không đủ lương ăn, phải ăn cháo cầm hơi mà làm
việc. Bà Chúa nghe nói q mình đói khổ như thế, thương cảm q khóc nức nở.
Chúa Trịnh cũng mủi lịng, vội an ủi Bà và dân phu, truyền lệnh cấp lương ăn cho
dân phu Thiên Bản trở về chống lụt ở nhà. Đặc biệt, Chúa ra lệnh từ nay miễn tạp
dich hoàn toàn cho dân xã Đồng Đội và Bảo Ngũ, quê hương của Bà Chúa. Dân phu
Thiên Bản reo hò lạy tạ. Bà Chúa dặn khi về đến nhà phải đến Phủ Dầy cảm tạ Mẫu
Liễu Hạnh vì nhờ Mẫu, Bà mời có địa vị ngày nay mà giúp đỡ, ban ân huệ được
cho dân phu huyện nhà. Dân phu trở về, qua Phủ Dầy, nhớ lời dặn của Vương Phi đã
chỉnh tề vào Phủ, sắp hàng trước sân, mang theo cuốc thuổng sắp thành chữ “ Thánh
cung vạn tuế” để lễ tạ. Từ đó cứ vào dịp tháng ba hội Phủ Dầy, dân phu các làng
mang cuốc thuổng họp nhau tại Phủ Dầy để kéo chữ, thường gọi là “ Hội cuốc
thuổng”. Mấy năm sau về dự hội, Bà Chúa thấy thế, khuyên nên thay cuốc thuổng
bằng gậy hoa mà sắp chữ thì đẹp hơn. Dân phu xin làm theo, Hội kéo chữ bằng gậy
hoa màu sắc sặc sỡ, được gọi là “Hoa trượng hôị” trở thành một sinh hoạt văn hóa
dân gian đặc sắc của Hội Phủ Dầy, nhiều văn bia đã ghi lại rõ ràng”.
(Theo tài liệu của Nhà nghiên cứu Bùi Văn Tam, 2001)
Từ bia đá ở Phủ Vân Cát thì hội kéo chữ được tổ chức vào năm Dương Hòa thứ
2 (1636) và các tổng Thượng Hạ ở Vụ Bản chịu trách nhiệm cắt phu cũng như lễ vật
trong hội. Theo các cụ cao liên trong làng thì trước khi tổ chức kéo chữ, lý kỳ lý dịch
phải lên lễ Mẫu để xin chữ kéo. Cũng có năm người lên Phủ Thơng – nơi thờ Mẫu
Liễu Hạnh và bà Ngọc Đài để xin chữ xếp, xin được chữ gì thì dán lên bảng gỗ rồi
đem treo trước phượng du. Mỗi làng cử từ 20 – 30 thanh niên được gọi là phu cờ, họ
thường quấn khăn đỏ, mặc áo vàng, bụng thắt khăn đỏ, quần trắng, chân quấn xà cạp
đỏ. Mỗi phu cờ cầm một gậy xếp chữ dài khoảng 4 thước dán giấy xanh, đỏ, trắng,
vàng buộc nhiều tua rua, đầu gậy có ngù bằng lòng gà. Tổng cờ sẽ là người điều khiển
các phu cờ. Dưới sự điều khiển của tổng cờ, phu cờ chạy thành hàng một, vòng theo

đường quanh hồ trước cửa Phủ rồi trở về sân và đứng vào vị trí đã định hình, hình
thành dần cả nét chữ cho đến khi xếp xong. Tổng cờ đi uốn lượn các nét chữ cho đêu
cho đẹp rồi hạ lệnh cho phu cờ ngồi xuống. Ngày xưa, khi hội phủ Giày diễn ra, quan
lại địa phương và có khi cả quan triều đình cũng tham gia, xếp xong một chữ tổng cờ
lại đi lên phương du bẩm báo cho các quan biết để cho người đi duyệt. Nhìn từ xa
trên đỉnh núi hay ngồi ở phương du cũng đều thấy nét chữ vàng nổi bật trên nền của
những màu sắc sặc sỡ trông rất đẹp mắt. Chữ xếp thường là 4 chữ: “Mẫu nghi thiên
hạ”, “Quang phục thánh thiện” hoặc “Hòa cốc phong đăng”, “Thiên hạ thái bình”.
Thần tích và thần phả ở phủ Giày có ghi Bà có cơng giúp vua Lê đánh giặc, nên được
sắc phong mỹ tự là Chế Thắng đại vương. Thời Nguyễn, bà được sắc phong mẫu nghi
thiên hạ. Qua cách gọi, ta thấy rõ được tấm lịng thành kính của dân gian đối với
thánh mẫu Liễu Hạnh. Người dân Phủ Giầy cho rằng tuỳ theo chữ kéo đầu năm mà
năm đó Mẫu sẽ “gia ân” hay “gia uy” cho con nhang đệ tử khi các chữ đã xếp xong,
22


quan huyện chấm và khen ngợi chữ nào đẹp nhất, sau đó chọn gậy hoa đẹp để thưởng
mang về. Đồn phu cờ đứng hướng mặt vẽ Phủ, gậy tựa vào vai trái, chắp tay để vái
lại Thánh Mẫu. Lý trưởng hoặc thủ nhang mang oản, chuối và bánh dày ra chia cho
phu cờ giữa tiếng reo hò của mọi người đứng xem. Người dân ùa vào xin những ngù
hoa, lông gà về treo ở nhà coi như lộc Thánh để cầu cho một năm phúc lộc dồi dào.
Mỗi năm xưa kia, vào dịp kéo chữ, thu hút đôn làm ba vạn người đến xem và đi bói
chữ đầu năm.
Vốn là một hình thức sinh hoạt văn hố thể thao độc đáo, hội hoa trượng, sau
một thời gian dài bị gián đoạn nên khi được phép trở lại, người thân địa phương đã cố
gắng khôi phục lại hội theo các tài liệu sách vở ghi lại nhưng với quy mô nhỏ gọn
hơn, phù hợp với điểu kiện cuộc sống hiện nay của nhân dân. Trong ba năm thử
nghiệm mỗi Phủ chọn một chữ riêng để xếp nhưng đến năm 1998 – năm mở hội chính
thức thì cả hai Phủ đều xếp chung chữ “Mẫu nghi thiên hạ”. Đối tượng tham gia xếp
chữ là các thanh niên ưu tú, lao động giỏi, khơng vi phạm đạo đức, gương mẫu chấp

hành chính sách, khơng hành nghề mê tín dị đoan, có tâm huyết, được địa phương
giới thiệu. Mỗi năm thủ nhang mời một số đơn vị thuộc các địa phương khác nhau để
kéo chữ cho phù hợp. Tùy theo số chữ được kéo, số nét trong một chữ cũng như kích
thước chữ to nhỏ, nét đậm nhạt, màu sắc khác nhau mà số lượng phu cờ được chọn
nhiều hay ít. Mỗi người tham gia kéo được đền mời cơm, được cho lộc và 10.000
đồng. Trước khi tổ chức hội kéo chữ thì có một ban chuyên cắt cử người làm tổng cờ
và phu cờ để tập luyện, mua sắm đồ cần thiết như quần áo, trang phục, làm gậy “hoa
trượng”,...
Mỗi Phủ có một loại trang phục khác nhau: Phủ Vân Cát đội kéo chữ mặc quần
áo đỏ, khăn, thắt lưng và xà cạp màu vàng, cịn ở Phủ Tiên Hương thì một đơi giày
bata trắng, tất trắng, xà cạp đỏ thêu, quần trắng viền đỏ, áo vàng viền đỏ, khăn chít
đầu và dây thắt lưng đỏ. Việc xếp chữ gì do những người tổ chức hội hàng năm qui
định, nhưng thường là “Mẫu Nghi Thiên Hạ”, “Thiên hạ thái bình”, “Quốc thái dân
an”, “Hòa cốc phong dương” hay “Quang phục thánh thiện”… đều mang những ý
nghĩa tinh thần tốt đẹp của cư dân nơng nghiệp, cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận
gió hịa hoặc ngợi ca cơng đức của Thánh Mẫu. Đồn phu cờ hẹn tập trung tại một địa
điểm nào đó, rồi lần lượt theo chỉ huy của Tổng cờ đi hàng đôi tiến vào khoảng đất
rộng trước Phương Du của phủ Chính. Khoảng trưa, có lệnh Tổng cờ cho phu cờ
chuẩn bị đến giờ xếp chữ (ngả chữ). Việc xếp chữ vẫn tiến hành trước phương du như
trước kia và khơng được tập trước, hồn tồn tn theo chỉ dẫn của tổng cờ. Tổng cờ
là người am hiểu chữ Hán, mặc áo the quần trắng, thông qua sự trợ giúp của những
người làm nhiệm vụ dẫn người xếp chữ, tổng cờ xếp người vào đội hình theo những
chữ định xếp dựa trên các nét được rắc trấu sẵn hoặc kẻ đường vôi. Một cụ già đẹp
lão trong trang phục áo gấm, quần trắng, biết chữ Hán đại diện cho vị trí quan huyện
ngày xưa để duyệt chữ.Người đứng trên bục cao tuyên bố kéo, duyệt, xóa chữ qua
23


micro. Đến giai đoạn kéo chữ, các chữ được xếp trước ở sân, theo hiệu cờ đi vào uyển
chuyển, nhịp nhàng trong sụ thán phục của mọi người Theo hiệu lệnh trống và sự chỉ

dẫn của tổng cờ, những người hướng dẫn sẽ lần lượt đếm số người và dẫn vào vị trí
theo từng nét chữ, cứ thế cho đến khi xếp xong một chữ. Trong lúc xếp chữ, những
con rồng vừa đi vừa múa, vừa cổ động phối hợp với tiếng trống sơi nổi tạo cho khơng
khí thêm rộn ràng. Giữa tiếng trống cái, trống con gõ liên hồi rộn rã, theo cờ lệnh
trong tay Tổng cờ, các phu cờ tiến lùi đứng lên, ngồi xuống thành hình chữ. Khi ngồi
xuống, các phu cờ vứt gậy xuống đất, như mô phỏng lại tục vứt cuốc xẻng xưa của
dân phu trước đền Thánh Mẫu. Các cây gậy khi ngã xuống đất như tạo thêm bóng cho
chữ, rất đẹp mắt. Những con rồng cổ động chạy ra sau để làm viền cho nét chữ. Mỗi
khi xếp xong một chữ, cụ già sẽ đi duyệt, đi kèm với cụ là một người đi sau cầm lọng
che y như các quan phủ thời xưa. Duyệt cong, nếu chữ đã đúng, cụ cầm cờ nhỏ phất
lên ra hiệu duyệt xong. Người điều khiển ra lệnh xóa chữ,đồn người đứng dậy, nâng
gậy, chạy sang hai bên theo tiếng trống, để khoảng trống ở sân để xếp chữ tiếp theo.
Cứ như thế, toán này vào, toán kia ra cho đến hết hàng chữ được kéo. Các chữ tiếp cứ
xếp như vậy cho đến chữ cuối cùng. Buổi lễ kéo chữ kết thúc trong tiếng hô vang dậy
của người xem.
Đây là một hình thức vừa là lễ nghi,vừa là trị chơi thể thao quy mơ và đẹp mắt
thu hút được hàng nghìn người tham gia và cổ vũ tán thưởng. Cây gậy trong hội kéo
dù dài và nặng vẫn được giữ lại trong đội hình kéo chữ vì bản thân nó là vật trang trí
mà cũng là một dấu tích văn hóa. Mỗi năm, lễ hội Phủ Dầy thu hút hàng trăm nghìn
con nhang đệ tử và du khách khắp nơi về dự bởi nơi đây quy tụ rất nhiều tinh hoa văn
hóa ngàn đời của dân tộc, có sự hịa quyện giữa những nghi thức trang trọng cùng
những hoạt động văn hóa dân gian sơi nổi, đặc sắc như lễ hội kéo chữ này.

Đoàn rước đuốc tạo thành hình rồng
Lễ rước kiệu Mẫu
Nguồn: Nguyễn Long Hưng

24



×