Tải bản đầy đủ (.pdf) (27 trang)

LỒNG THỒNG – LỄ HỘI DÂN GIAN ĐẶC SẮC CỦA NGƯỜI TÀY Ở LẠNG SƠN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (599.21 KB, 27 trang )

********

LỒNG THỒNG – LỄ HỘI DÂN GIAN ĐẶC SẮC CỦA
NGƯỜI TÀY Ở LẠNG SƠN

1


MỤC LỤC
Phần TỔNG QUAN ………………………………………………………………....4
1. Lý do chọn đề tài …………………………………………………………………...4
2. Mục đích nghiên cứu ……………………………………………………………….5
3. Đối tượng nghiên cứu ………………………………………………………………5
4. Phương pháp nghiên cứu …………………………………………………………...5
5. Dự kiến những kết quả sau khi nghiên cứu ………………………………………..5
Phần NỘI DUNG …………………………………………………………………….6
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn ……………………………………..…6
1. Cơ sở lý luận ……………………………………………………………………….6
1.1. Khái niệm văn hóa ……………………………………………………….………6
1.2. Khái niệm văn hóa dân gian ………………………………………………...……6
1.3. Khái niệm lễ hội ………………………………………………………………….6
1.4. Tên gọi Lồng thồng ………………………………………………………………7
2. Cơ sở thực tiễn ……………………………………………………………………..8
Chương II: LỄ HỘI LỒNG THỒNG - BẢN SẮC ĐẬM ĐÀ DÂN TỘC TÀY Ở
XỨ LẠNG ……………………………………………………………………………8
1. Nguồn gốc ………………………………………………………………………….8
2. Thời gian, không gian tổ chức lễ hội Lồng thồng …………………………….……9
2.1. Thời gian tổ chức …………………………………………………………………9
2.2. Không gian tổ chức ……………………………………………………….…….10
3. Chuẩn bị trước lễ hội ……………………………………………………..……….10
3.1. Sửa chữa đình …………………………………………………………..,………10


3.2. Làm nhà Thần Nơng …………………………………………………..……,…..10
3.3. Làm đạo cụ cho phần hội ………………………………………….……………11
3.4. Lễ vật cúng tế ……………………………………………………….…………..11
4. Tiến hành nghi thức lễ ………………………………………………….…………12
4.1. Người chủ trì cuộc hành lễ ………………………………………...……………12
2


4.2. Xin thần thành Hoàng mở lễ hội ………………………………….……………12
4.3. Cúng Thành Hồng và Thần Nơng ………………………………….………….13
4.4. Đón sư tử bạn …………………………………………………………...………15
5. Phần hội trong lễ hội Lồng thồng …………………………………………………16
5.1. Các trò diễn ………………………………………………………………….….16
5.2. Các trò chơi ………………………………………………………………….….18
6. Giá trị của lễ hội Lồng thồng ………………………………………………….….20
Chương III: LỄ HỘI LỒNG THỒNG - HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI …………22
1. Những biến đổi của lễ hội Lồng tồng hiện nay ……………………………...……22
2. Các nhân tố tác động ……………………………………………………….……..23
3. Phương hướng phát triển lễ hội Lồng thồng trong thời đại mới ………………….24
Phần KẾT LUẬN ………………………………………………………………..…26
Tài liệu tham khảo ……………………………………………………………….…27

3


Phần TỔNG QUAN
1. Lý do chọn đề tài
Từ trước đến nay, đời sống tinh thần ln có một vai trị quan trọng trong cuộc
sống. Với một đất nước xuất phát từ nông nghiệp lúa nước, hằng ngày phải làm những
công việc đồng áng nặng nhọc, tâm tư con người lúc nào cũng phải lo lắng đủ bề, mùa

vụ có được bội thu, cuộc sống có được ấm no hay khơng ln đè nặng lên đơi vai.
Vậy nên, món ăn tinh thần chính là liều thuốc để xoa diệu những bộn bề lo toan ấy, và
lễ hội là một giải pháp một minh chứng điển hình cho vị thuốc tinh thần cho người
nơng dân nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Lễ hội đã có mặt ở nước ta từ xa
xưa, khi con người sản xuất, sinh sống phụ thuộc vào tự nhiên, người ta tin tưởng vào
thế giới siêu nhiên, sức mạnh của tự nhiên, rồi tin vào thần linh, Thành Hồng, Thần
Nơng…từ đó lễ hội nơng nghiệp ra đời để đáp ứng niềm tin và ước vọng của người
nông dân. Lễ hội là một nét truyền thông văn hóa thể hiện đạo lý: “Uống nước nhớ
nguồn”, biết ơn đến thần linh, tự nhiên đã phù hộ cho mùa màn được bội thu, là khát
vọng cuộc sống bình yên, sung túc của người nông dân. Mặt khác lễ hội còn là thời
gian để sinh hoạt cộng đồng, gắn kết mọi người lại với nhau, bồi đắp thêm tình làng,
nghĩa xóm, tình thần đồn kết dân tộc.
Đi từ Bắc vào Nam, khơng khó để bắt gặp một lễ hội, bởi ở nước chúng ta có
vơ vàng lễ hội được diễn ra trong năm, với những niềm tin, nhu cầu đối tượng hướng
đến khác nhau thì nảy sinh ra các lễ hội ấy. Hơn hết, khi nhìn một cách tổng quan ta
có thể dễ dàng nhận thấy, đa phần các lễ hội thường tập trung diễn ra vào mùa xuân,
có lẽ ta cũng hay nghe qua câu “Tháng giêng là tháng ăn chơi”. Mùa xn là lúc khí
hậu ơn hịa, tự nhiên, con người tràn đầy sức sống, đây cũng là lúc giao mùa của đất
trời, mùa vụ cũng chuyển giao, con người đươc rảnh rổi, nghỉ ngời sau một năm làm
việc hang say đầy cực nhọc. Vì thế lễ hội như một điểm hẹn, một không gian thiêng
thời, đia lơi, nhân hịa cho một chương trình cộng đồng lớn được diễn ra.
Mỗi lễ hội có những nét đặc sắc riêng, thể hiện văn hóa tộc người riêng. Và Lồng
thồng cũng thế, đặc biệt là lễ hội Lồng thồng của Tày ở Lạng Sơn. Tuy không phải là
4


một người Tày, càng không sinh sống ở Lạng Sơn, nhưng qua những gì tơi tìm hiểu
được thì tại vùng đất Lạng Sơn này, cư dân Tày sinh sống rất đơng và đã có những
thành tựu nhất định, trong đó lễ hội Lồng thồng diễn ra với quy mô khá lớn, liên tục
từ bản này đến bản khác, từ đó có sự ảnh hưởng nhất định đến những tộc người lân

cận đồng thời điểm lên một dấu ấn bản sắc dân tộc của con người Việt Nam. Đó cũng
là lý do vì sao tơi lại chọn: “ Lồng thồng – lễ hội dân gian đặc sắc của người Tày ở
Lạng Sơn”.
Trước sự phát triển của thời đại mới, lễ hội đã phần nào mai một và dần thay
đổi theo hướng tiêu cực. Để có thể giữ gìn được bản sắc vốn có của lễ hội Lồng thồng
cùng với việc phát huy những điều ý nghĩa đẹp đẽ của nó với con người thì việc tìm
hiểu, nghiên cứu về Lồng thồng để có những nền tảng, từ đó đưa ra các giải pháp thì
đó là một điều cấp thiết và quan trọng. Vậy nên, đây là một đề tài hay và hợp lý để tơi
lựa chọn.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về lễ hội dân gian Lồng thồng để làm nổi bật những yếu tố dân
gian trong lễ hội này. Mang đến những tri thức đúng đắn, nhìn nhận tồn diện về một
lễ hội văn hóa đầy ý nghĩa của người Tày hay một số dân tộc khác nữa. Từ đó có một
cái nhìn tư duy khách quan để gìn giữ phát huy lễ hội Lồng thồng luôn giữ được bản
sắc vốn có và làm giàu đẹp nền văn hóa dân gian dân tộc.
3. Đối tượng nghiên cứu
Lễ hội dân gian Lồng thồng của người Tày ở Lạng Sơn.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp.
- Phương pháp so sánh xưa và nay để làm nổi bật lễ hội.
- Sử dụng nguồn tài liệu từ: sách, báo, internet.
5. Dự kiến kết quả sau khi nghiên cứu
Dưới góc độ thu thập thông tin từ các tư liệu nghiên cứu hiện có, thêm vào đó
là những cách nhìn, quan điểm của bản thân khi nhìn nhận về lễ hội Lồng thồng sẽ
5


mang lại một bức tranh toàn cảnh đến chi tiết về lễ hội dân gian đặc sắc này. Để cho
mọi người, đặc biệt là sinh viên hiểu hơn về Lồng thồng, về một nét văn hóa truyền
thống của đồng bào người Tày ở Lạng Sơn. Phần nào sẽ mang đến những tri thức,

những động lực để lễ hội Lồng thồng sẽ ln có một vị trí trong những con người
đang yêu và học về văn hóa.
Phần NỘI DUNG
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lý luận
1.1 Khái niệm Văn hóa:
“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con
người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.” (Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam,
Trần Ngọc Thêm, tr27).
1.2 Khái niệm Văn hóa dân gian:
Từ những khảo sát qua các định nghĩa văn hóa dân gian của những nhà nghiên
cứu, khoa học mà một khái niệm được đưa ra như sau:
“Văn hóa dân gian là những sản phẩm phục vụ đời sống vật chất và đời sống tinh
thần, những quy ước xã hội do người bình dân sáng tạo, gìn giữ qua nhiều thế hệ.”
1.3 Khái niệm Lễ hội:
“Lễ hội là một hiện tượng sinh hoạt tập thể gồm nhiều thành tố tham gia theo
phương thức tổng hợp. Lễ hội là tổ hợp có hàm ý chỉ phần lễ và phần hội nhưng cũng
có thể chỉ có một trong hai phần đó. Lễ hội là thành tố quan trọng của văn hóa dân
gian. Lễ hội là sự hội tụ văn hóa trên cơ sở tái hiện tự nhiên và lịch sử theo tâm thức
dân gian. Những giá trị của lễ hội luôn được bảo tồn và phát triển, đáp ứng nhu cầu
đời sống tinh thần của dân chúng qua các thời kì lịch sử.

6


Lễ là hệ thống nghi thức cúng bái chặt chẽ, ổn định được xây dựng theo quy
ước của mỗi làng. Các nghi thức và quy trình chính của phần lễ của lễ hội người Việt
gồm: lễ rước nước (nước ở giữa sông), lễ mộc dục, tế gia quan (áo mũ mới), đại tế.
Hội là hoạt động diễn ra sau phần lễ, khởi đầu bằng đám rước. Người ta nói

đơng như hội tức là nhắc đến vai trò của đám rước. Đám rước được xem như là cao
trào của hội. Nó thể hiện niềm tin của cộng đồng đối với vị thần che chở cho mình,
thể hiện tiềm lực của làng, đồng thời đem lại sự hưng phấn và khơng khí vui tươi cho
tồn cộng đồng.” (Tập bài giảng Văn hóa dân gian Việt Nam, Trần Long).
1.4. Tên gọi Lồng thồng
Trong cuốn lễ hội dân gian dân tộc Tày có đoạn: “Thuật ngữ Lồng thồng với
nghĩa xuống đồng có lẽ được sử dụng lần đầu tiên trong cơng trình “Các dân tộc ít
người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc)” của các tác giả thuộc Viện Dân tộc học năm
(1978), ở trang 195 - 196 của cuốn sách đã ghi rõ: “Phải nói rằng hệ thống điện thần
của người Tày đã phát triển cao, có đủ mặt các vị từ Ngọc Hồng, Nam Tào Bắc Đẩu,
thần sơng,... cho tới các loại thần thánh ma quỷ ở địa phương. Hàng năm người ta tổ
chức cúng vào mùa xuân, những dịp này thường gọi là hội xuống đồng (lông thồng),
hội trăng (hội hai), ra núi (óc pị) ...”. (Hồng Văn Páo, 2012: 57).
Nhiều người đã gọi lồng thồng (xuống đồng) bằng những thuật ngữ khác nhau,
đó là “lồng thồng”, “lồng tồng”, “lồng tổng”, “lùng tùng”, “lồng thổng”, “slồng
thồng”. Tất cả những cách gọi ấy đều khơng hề sai và đều có nghĩa là xuống đồng, có
thể do cách phát âm của đồng bào Tày trên từng địa phương khác nhau, song về ngữ
nghĩa thì khơng có gì thay đổi. Tên gọi lồng thồng tương đương với xuống đồng được
nhiều nơi gọi là phù hợp với nội dung và hình thức của lễ hội xuống đồng của dân tộc
Tày ở Lạng Sơn - một địa bàn gốc của lễ hội này. Bởi vậy, lồng thồng sẽ được sử
dụng là tên gọi xuyên suốt trong bài tiểu luận này.

7


2. Cơ sở thực tiễn
Người Tày ở Lạng Sơn cũng như những tộc người khác của Việt Nam xem
nông nghiệp lúa nước với nương rẫy là quan trọng hàng đầu cho sự tồn tại và phát
triển, mà điều ấy thì lại phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên. Do đó mà ngoài việc thờ
cúng thần thánh, sức mạnh của siêu nhiên, họ còn tổ chức những nghi thức, nghi lễ để

cầu mưa, cầu nắng, cầu an, cầu phúc, cầu bình yên cho sự sống. Lễ hội Lồng thồng
chính là một trong những nghi lễ như vậy. Chính phong tục của người Tày ở từng địa
phương trên vùng đất Lạng Sơn đã trở thành cơ sở, nền tảng cho lễ hội Lồng thồng
tồn tại và phát triển một cách bền vững. Tuy nhiên, trên chặng đường ấy đã có khá
nhiều sự thay đổi diễn ra, từ một lễ hội tâm linh rất quan trọng trong năm thì dần dần
các yếu tố bên trong của nó có phần nào mai một. Cách thức tổ chức, số lượng ngày
diễn ra, các bước trong nghi lễ hay hình thức trị chơi cũng đã thay đổi rất nhiều. Có
cả những lí do chủ quan hay khách quan đã dẫn đến một lễ hội Lồng thồng với diện
mạo ngày hơm nay. Nhìn theo nhiều hướng ta sẽ thấy có những yếu tố tích cực, tiêu
cực trong sự thay đổi đó. Bài tiểu luận này sẽ mang đến một cái nhìn chung nhất,
những hiểu biết cơ bản về lễ hội Lồng thồng truyền thống, điển hình cho một lễ hội
dân gian của người Tày xứ Lạng nói riêng và người đồng bào nói chung. Từ đó mà
cung cấp một kiến thức nền cho những ai đã từng hay chưa từng biết đến lễ hội này,
song có được một cái nhìn, nhận định riêng của chính mình cho lễ hội Lồng thồng
ngày nay.
Chương II: LỄ HỘI LỒNG THỒNG - BẢN SẮC ĐẬM ĐÀ DÂN TỘC TÀY Ở
XỨ LẠNG
1. Nguồn gốc
Nếu đặt ra một câu hỏi từ khi nào mà lễ hội Lồng thồng xuất hiện? hay do đâu
mà có? thì quả thật là chưa ai có thể trả lời được một cách chính xác. Theo nhiều cuộc
khảo xác diễn ra với quy mơ lớn, điển hình như một cuộc phỏng vấn 218 người Tày ở
226 xã phường, thị trấn của 11 huyện, thành phố tỉnh Lạng Sơn, đa phần mọi người
8


đều cho rằng Lồng thồng đã ra đời từ khi các làng, bản hình thành. Và cũng đã có
nhiều câu chuyện, sự tích rất đa dạng, phong phú về lễ hội Lồng thồng của người Tày.
Như đã nói ở trên, vì người Tày sống chủ u vào trồng trọt, nơng nghiệp lúa nước
nên bị ảnh hưởng, phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên. Từ khi gieo hạt mầm cho đến
ngày thu hoạch, thì mùa màng có thuận lợi, bội thu hay không đều trông vào ông trời,

sự phù hộ của các năng lực siêu nhiên. Để tăng thêm niềm tin ấy, người dân đã cầu
xin, tác động đến các vị thần, thánh ấy. Từ đó mà có lẽ đã sinh ra lễ hội Lồng thồng
và tín ngưỡng dân gian của dân tộc Tày. Cho nên, chúng ta có thể xem rằng, lễ hội
dân gian Lồng thồng có nguồn gốc ra đời của là do sự cầu mùa và các nghi lễ nông
nghiệp.
2. Thời gian, không gian tổ chức lễ hội Lồng thồng
2.1. Thời gian tổ chức
Lễ hội Lồng thồng kéo dài cả mùa xuân, thường trong thời gian từ ngày mồng 5
tháng Giêng đến hết ngày mồng 4 tháng Tư âm lịch hằng năm, nhưng tập trung nhiều
nhất là ở tháng Giêng. Tùy theo từng địa phương mà ngày diễn ra lễ hội khác nhau.
Một lễ hội chỉ kéo dài tối đa là ba ngày. Tuy nhiên, hiện nay đại đa số lễ hội Lồng
thồng được tổ chức tại tỉnh Lạng Sơn chỉ diễn ra gói gọn trong vịng một ngày.
Nếu đúng như cách thức tổ chức xưa, trong ba ngày lễ hội sẽ được diễn ra với các nội
dung cơ bản sau: Ngày thứ nhất, là ngày để cộng đồng dân bản tập trung lại và chuẩn
bị những đồ cần thiết cho lễ hội hay hoàn tất việc sửa sang đình, nhà Thần Nơng, sau
đó thầy cúng xin Thần Nông cho phép bản làng được mở hội. Ngày thứ hai là ngày
chính của lễ hội. ngày này sẽ có rất nhiều hoạt động bao gồm phần lễ và phần hội của
Lồng thồng. Ngày thứ ba là ngày kết thúc lễ hội, đây là ngày để ban tổ chức làm lễ kết
thúc lễ hội cùng với việc rút kinh nghiệm, dự kiến cho năm sau.
Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên của từng bản làng, tùng vùng mà thời gian tổ
chức lễ hội Lồng thồng có thể xê dịch khác nhau để dân bản này có thể đến bản kia dự
hội. Đó là một nét đặc trưng rất riêng của người Tày nói chung và Lạng Sơn nói riêng.
9


2.2. Khơng gian tổ chức
Là một hình thức sinh hoạt cộng đồng, nên không gian diễn ra lễ hội cũng là
một nơi sinh hoạt thường niên của một bản làng. Lễ hội Lồng thồng diễn ra ở sân
đình, hoặc tại một khu ruộng bằng phẳng, giữa cánh đồng hay trên gò đồi, nơi mà
thuận tiện cho việc làm lễ và chơi hội. Với những nơi chọn khu đất ruộng để tổ chức

thì người ta phải làm nhà Thần Nơng ở đám ruộng to nhất của cánh đồng cho việc tổ
chức lễ hội (đám ruộng này tiếng địa phương gọi là nà thồng).
3. Chuẩn bị trước lễ hội
Để tổ chức lễ hội Lồng thồng, người dân cần có một bộ phận tổ chức sẽ gồm có
pú mo, trưởng bản, các bậc lão niên. Đó là những người có uy tín trong bản (khi xưa
những cơng việc này là có thổ ty hay các vị có chức sắc trong bản điều hành). Trước
ngày chuẩn bị cho lễ hội, trưởng tổ chức họp dân làng với sự có mặt của phú mo, từ
đó phân công công việc để chuẩn bị những cơ sở vật chất cần thiết cho ngày diễn ra lễ
hội.
3.1. Sửa chữa đình
Trước khi qt dọn, trang hồng lại đình, pú mo sẽ dâng lễ xin phép sửa đình.
Sau đó người dân sẽ tập trung vào việc sửa chữa, thay thế những cái đã hư, cũ, phát
quang xung quanh đình. Khâu quan trọng nhất là việc trang trí nội thất bên trong đình.
Trước tiên là kẻ chữ và dán giấy đỏ lên bàn thờ, tiếp đến là lau chùi bát hương thờ
thần Thành Hoàng. Người dân dán giấy đỏ lên các cột đình, bốn gốc đình cắm cờ hội
cao trên 10 mét. Có một nét rất đặc biệt là những hư hương, đỉnh đồng trong bàn được
rửa bằng nước bồ kết, lá chua me và dấm thanh. Mang lại một diện mạo mới mẻ cùng
mùi hương của thiên nhiên. Sau cuối, việc sửa chữa hồn thành mang đến một khơng
khí linh thiêng, rực rỡ cho đình.
3.2. Làm nhà Thần Nơng
Với những đình đã có sẵn nhà Thần Nơng, người dân chỉ cần sửa sang lại cho
đẹp. Tuy nhiên, số lượng này rất ít, vì vậy mà đa phần phải làm nhà Thần Nông (nhà
10


này có tính chất tạm bợ, chỉ được dựng lên để phục vụ cho lễ hội, sau đó thì được dỡ
bỏ ngay).
Nhà Thần Nông thực hiện khá đơn giản, được chôn thành 6 hoặc 8 cột tùy
thuộc vào số lượng người dân của thơn bản nhiều hay ít. Số cột được chia đôi và chôn
thành hai hàng đối xứng nhau, rồi lấy các đoạn cây buộc nối cột lại với nhau, làm

thành 3 tầng. Sau đó gác các đoạn cây lên từng tầng để đặt các mâm cúng do các gia
đình trong bản mang đến lễ thần.
Xung quanh đình và nhà Thần Nông, người ta trồng những cây nêu cao khoảng
10 - 15m. Trên đó treo bánh trái, vài nén hương và dán giấy xanh đỏ. Theo quan niệm
dân gian Tày, cây nêu tượng trưng cho mối giao hòa đất - trời, âm - dương, đồng thời
là biểu tượng linh hồn ông bà, tổ tiên về chung vui cùng con cháu...
3.3. Làm đạo cụ cho phần hội
Ở phần hội có rất nhiều hoạt động về trò diễn, trò chơi nên công việc chuẩn bị
cũng khá tất bật. Người dân phải chuẩn bị đạo cụ trị "sĩ, nơng, cơng thương" là những
chiếc mặt nạ làm từ tre, nứa. Làm cây còn để dựng ở giữa cánh đồng, nơi diễn ra các
trò chơi của hội. Làm quả còn, làm yến, bàn cờ, quân cờ (cờ tướng), dây kéo co (xẻ
thoi) ,nỏ mũi tên, hình nộm, cà kheo (mạ điếng), sảng (ăn sáng, nghé sáng), cây khăng
(tèo khăng), bi đá, bao (pao), đáo (lọ)... kể ra bấy nhiêu đó thì cũng dễ nhận thấy được
là có rất nhiều thứ cần phải chuẩn bị để ngày hội được diễn ra đặc sắc, nhộn nhịp.
3.4. Lễ vật cúng tế
Bắt nguồn từ quan niệm tâm linh, người Tày ở Lạng Sơn chuẩn bị lễ vật để
cúng thần Thành Hồng và Thần Nơng rất chu đáo, cẩn thận. Thơng qua lễ vật mà có
thể khẳng định được trình độ chế biến các món ăn vừa tinh túy, cầu kỳ vừa ngọn
miệng và đẹp mắt. Có một số món nổi bật như: bánh khảo (sla cao), bán bỏng (pẻng
khô, bốc théc, khẩu sli), bánh chè lam (pẻng khinh), bánh chưng Tày (pẻng tổm, khẩu
tổm), gà cúng, lợn tế… Nhìn chung các món ăn được làm từ sản vật thu hoạch của
mùa vụ, được lực lượng siêu nhiên phù hộ cho mùa màng bội thu.
11


4. Tiến hành nghi thức lễ
4.1. Người chủ trì cuộc hành lễ
Là một lễ nghi nông nghiệp, cầu mùa màng, bình yên và tạ ơn thần thánh nên
việc người hành lễ giữ vai trị vơ cùng quan trọng. Đó là người đại diện, thay mặt cho
bản làng làm nhiệm vụ báo cáo với thần linh và xin sự phù hộ độ trì cho sự bình yên,

phát triển của cộng đồng dân làng. Người Tày ở Lạng Sơn gọi người chủ trì cuộc
hành lễ trong lễ hội Lồng thồng là pú mo. Những bài cầu cúng pú mo đọc chủ yếu là
truyền khẩu từ đời này sang đời khác. Y phục của pú mo tương đối đơn giản, rất gần
với đời thường, khơng rực rỡ với các hình thù kỳ qi. Phương tiện và đồ cúng cũng
đơn giản, lời cúng (mòng mo), nậm rượu và nậm nước. Khi xin âm dương có hai
thanh gỗ được đẽo gọt, tiếng Tày gọi đó là tức slẻn.
4.2. Xin thần thành Hoàng mở lễ hội
Như một thường lệ, vào mùa xn với một khơng khí vui tươi dầy nhộn nhịp,
trước ngày lễ hội Lồng thồng diễn ra khoảng độ 2 đến 3 ngày, pú mo hoặc người chủ
lễ ra đình xin phép Thần Nơng được mở hội. Nếu nơi nào khơng có đình thì làm lễ xin
tại nhà pú mo hay nhà chủ lễ. Hôm ấy, vật lễ sẽ bao gồm: sla cao, thốc théc, khẩu sli,
một ít hương vàng… được đặt lên bàn thờ. Pú mo sẽ thắp hương rồi vái ba vái, tiếp
đến là những lời cúng tương đối đơn giản, với đại ý là năm nay, nhờ thần linh phù hộ
dân bản làm ăn tốt, mùa màng bội thu, mọi người khỏe mạnh, tồn dân an khang thịnh
vượng vì vậy dân bản định tổ chức lễ hội, mong thần cho phép dân bản được tổ chức
lễ hội Lồng thồng, để cảm tạ thần linh và làm lễ ra quân bước vào một mùa sản xuất
mới.
Khấn xin xong, pú mo lại tiếp tục xin âm dương (tức slẻn) ở chính giữa bàn thờ
thần Thành Hồng của đình. Pú mo dùng tay phải cầm hai thanh gỗ cúi xuống và thả
vào mặt hòn đá xanh (nằm chính dưới bàn thờ, đặt bát hương thờ thần Thành Hoàng),
tiếp đến là tung hai thanh gỗ sáu lần. Nếu được hai lần sấp, hai lần ngửa, hai lần sấp
ngửa thì coi như thần đã đồng ý cho bản mở lễ hội. Tuy nhiên, cũng có những trường
hợp pú mo phải xin rất nhiều lần thì mới được thần linh chấp thuận.
12


Song, pú mo đốt vàng mã, báo cho dân làng biết và phân công nhiệm vụ để
chuẩn bị tổ chức lễ hội theo quy mô đã định từ trước.
Lễ xin phép thần được mở lễ hội Lồng thồng là một nghi lễ vơ cùng quan trọng.
Nó thể hiện niềm kính trọng và lịng ngưỡng mộ thần linh. Đây chính là khâu đầu tiên

của mọi nghi thức, nghi lễ của lễ hội. Cịn có ý kiến cho rằng, nếu xin âm dương sáu
lần được ngày thì lễ hội sẽ sn sẻ, mùa màng năm đó bội thu; cịn nếu xin âm dương
nhiều lần thì năm đó dân bản sẽ làm ăn khó khăn.
4.3. Cúng Thành Hồng và Thần Nơng
Trước khi lễ cúng được diễn ra, thì ngay từ sớm tinh mơ pú mo đem mâm cúng
của mình đặt ở bàn thờ chính nơi thờ thần Thành Hồng và Thần Nơng. Ơng gõ trống
liên hồi, giục giã mọi người trong bản khẩn trương đem mâm cúng của gia đình ra
đình, nhà Thần Nơng. Đặt mâm cũng cũng có những quy tắc riêng và khá là nghiêm
ngặt, nếu là nhà cư trú lâu năm thì được đặt mâm cúng bên phải, bên trái của mâm pú
mo, tầng trên đầy thì xuống tầng dưới theo thứ tự trước sau. Còn với những nhà nhập
cư sau thì xếp cuối cùng, những nhà mới ở riêng, ở rể thì bày mâm cúng ở nhà Thần
Nơng. Theo quan niệm của đồng bào thì nhà nào có tang, gặp hoạn nạn như cháy nhà,
sét đánh, phụ nữ có chữa... thì khơng được cúng vì sẽ có tiềm rủi ro cho năm tới. Với
những làng bản khơng có đình thì tất cả mâm cúng được đặt ở nhà Thần Nông, mâm
pú mo đặt ở giữa và tuần tự đến các nhà khác theo quy tắc như ở đình.
Như vậy, việc sắp xếp mâm ở đình, nhà Thần Nơng của đồng bào người Tày ở Lạng
Sơn đã thể hiện mối quan hệ trong cư trú, theo một tôn ti trật tự xã hội thơn bản.
Các gia đình đã bày mâm cúng xong, những người mang lễ đến ngồi hai bên sàn trong
đình hoặc xung quanh nhà Thần Nơng, pú mo thắp hương, rót rượu, rót nước chè vào
các chén trên bàn thờ rồi bắt đầu làm lễ cúng. Những ý chính của lời cúng đại khái là:
Xin báo cáo thần linh, qua một năm làm ăn vất vả, dân bản đã có được một mùa bội
thu, người dân có cuộc sống tốt. Để có được điều này là nhờ trời, trời các thần linh
phù hộ nên dân bản ăn nên làm ra. Hơm nay, tồn bộ con cháu dân bản tề tụ tại đây để
vui lễ hội Lồng thồng.
13


Hình: Pú mo tiến hành lễ cúng.
Nguồn: />Pú mo xin thần linh phù hộ cho dân bản mùa sau được thuận lợi, mưa thn gió
hịa, làm gì được nấy, trồng ngơ nhiều ngơ, trồng lúa được nhiều thóc, ni gà sinh

sơi, ni lợn, trâu bị chóng lớn, mọi người được khỏe mạnh, con cháu đơng đàn, một
lịng hịa thuận cùng nhau làm ăn. Bên cạnh đó, pú mo cịn xin thần linh xua đuổi tà
ma, ác thần, không cho chúng về quấy rầy đời sống của người dân, hại tới trâu, bị, gà,
lợn chết, khơng làm cho người dân bệnh tật, ốm đau.
Khấn xong, pú mo đi ra trước cửa đình, tay cầm nắm thóc vãi xuống đất và rẩy
ít nước lên trời. Tiếp đến, pú mo ra khấn ở nhà Thần Nông, các nghi thức cúng khấn
cũng tương tự như khấn ở đình.
Nghi thức cũng Thành Hồng và Thần Nông kéo khoảng dài một giờ đồng hồ
(ngày nay nghi lễ này đã được rút ngắn và đơn giản đi nhiều). Đây là nghi lễ chính và
14


quan trọng nhất của lễ hội Lồng Thồng của người Tày, nó phản ánh rõ nét lễ tiết nơng
nghiệp của cư dân trồng lúa nước và canh tác nướng rẫy. Mọi lời khấn hay hình thức
nghi lễ đều hướng về một mối là mong ước một mùa màng bội thu, dân bản được ấm
no, hạnh phúc, không bị đau ốm, trong nhà có gia súc đầy chuồng. Đó cũng là mong
ước về cái ăn, cái mặc, nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống của mọi người.
4.4. Đón sư tử bạn
Trong lễ chính, khơng chỉ dừng lại ở những nghi thức cúng lễ trước bàn thờ
Thành Hồng, Thần Nơng mà cịn có thêm phần đón sư tử bạn. Sư tử là một con vật
có thật trong tự nhiên, theo truyền thuyết mà người dân tin rằng, sư tử chính là chúa
sơn lâm, vua của các loài vật. Ấy vậy, người Tày quan niệm, vào ngày đầu năm mà sư
tử xuất hiện thì đó chính là điềm lành, may mắn, biểu hiện cho sự thái bình, an ổn. Do
vậy, sẽ có một màn múa sư tử, để xua đuổi đi tà ma, diệt trừ mọi ôn dịch gây hại cho
gia súc, gia cầm, làm cho người dân chăn nuôi, làm ăn tốt hơn. Từ đó mà đời sống ấm
no, đủ đầy.

Hình: Đội sư tử trong nghi thức lễ.
Nguồn: />15



5. Phần hội trong lễ hội Lồng thồng
5.1. Các trò diễn
Ở lễ hội Lồng thồng, phần lễ và phần hội tách bạch ra hai phần rõ rệt như rất
nhiều lễ hội dân gian khác. Tuy nhiên cũng có một số phần lễ và hội đan xen lẫn nhau
mà không thể tách bạch riêng lẻ được. Nói chung, hội chính là những trị chơi, trị
diễn mà mang tính chất giải trí, làm cho khơng khí lễ hội thêm phần đặc sắc, vui vẻ.
Để lại một dấu ấn khó phai cho những người tham gia lễ hội.
Là một lễ hội lớn của năm, mở màn cho một năm mới với việc tạ ơn thần linh, cầu
chúc mọi điều tốt lành cho mùa màng, người dân, nên phần hội của Lồng thồng vô
cùng đặc sắc. Ở đây quy tụ rất nhiều các trò diễn mà có thể kể đến như: Trị “sĩ, nơng,
cơng, thương” ( kén rễ); loòng kỳ lằn, loòng phụ (múa sư tử); oóc quyền (múa võ);
hát then, sli, lượn;... Các trị diễn đều có những điểm khiến người xem phấn khíc và
trơng đợi, tuy nhiên chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn ở trò hét then, sli, lượn để xem được
trị diễn của lễ hội Lồng thồng có đặc sắc như chúng ta nghĩ.
Trò hát là cơ sở, cầu nối để các nam thanh nữ tú, những người trong bản hay những
khách tham gia được làm quen, đối đáp cùng nhau. Ở đó có các loại như hát giao
duyên, hát chúc tụng, hát mừng xuấn mới, đặc biệt là có hát chào hỏi. Chính những
điệu hát này mà gắn kết những người tham gia lễ hội lại với nhau, có khi là gieo
duyên cho họ.
Hát lượn: là một loại dân ca của dân tộc Tày được hát theo lối cả văn vần lẫn
văn xuôi. Đồng bào thường dùng những câu nói bóng gió để hát, có khi mang lại cảm
giác bùi ngùi, thỏ thẻ như tâm sự, một chút sâu lắng, những có khi lại rộ lên phấn
chấn sung sướng, hạnh phúc. Hét lượn bao gồm lượn slương, lượn cọi, lượn nàng ới.
Những cung bậc cảm xúc mà hát lượn mang lại làm cho một lúc nào đó mà các đôi
trai gái quấn quýt nhau không rời.
“Vào 3h23 phút ngày 13/12 (theo giờ Việt Nam), tại Phiên họp Uỷ ban Liên
Chính phủ Cơng ước 2003 về bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 14 của
UNESCO diễn ra tại Bogotá, thủ đơ nước Cộng hịa Colombia, di sản Thực hành hát
16



Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam chính thức được UNESCO ghi danh tại
Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.” (Thực hành hát Then
trở thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, htpp://)
Hát then là một bản sắc văn hóa đã ghi tên mình vào di sản của nhân loại, vậy
nên khơng có lý do gì mà hát then lại thiếu trong phần hội của lễ hội Lồng thồng.
Cũng như hát lượn, hát then là làn điệu dân ca cổ truyền của người Tày, đồng bào hát
theo văn vần, mỗi khổ 4 câu và một câu 7 chữ. Ngồi những câu có sẵn thì trong lễ
hội Lồng thồng cũng có người biết sáng táng ứng khẩu. Hát then trong Lồng thồng là
hét chúc tụng, ca ngợi, chúc phúc, cầu mong là chính, điểm đặc biệt khác với hát
lượn, hát sli là hát then cần có nhạc cụ. Đó là đàn tính cà chùm xóc nhạc (được làm
bằng đồng thau).

Hình: Hát then Lạng Sơn tại lễ hội Lễ Tồng. (được cắt ra từ video)
Nguồn: />Hát sli: là một làn điệu dân ca của người Nùng, rất phổ biến trong lễ hội Lồng
thồng vì thế mà ở đây nó cũng xuất hiện, bởi có lễ hội là phụ nữ Nùng đến tham dự
17


rất nhiều. Sli thuộc thể loại văn vần được hát theo lối ứng khẩu. Khi hai bên nam nữ
gặp nhau, họ có thể mượn hình ảnh nào đó để ví von thăm hỏi, chúc tụng nhau…
Hát lượn, then, sli không thể thiếu trong lễ hội Lồng thồng. Đối tượng tham gia
các trò hát này thường là nam thanh nữ, chưa vợ chưa chồng. Ngoài việc đi dự lễ hội
vui chơi mà thơng qua trị hát này họ có cơ hội gặp nhau, giao duyên và có thể nên vợ
nên chồng. Quan niệm của đồng bào Tày là trong ngày này nhất thiết phải có trị hát
giao dun, mà càng nhiều người hát càng tốt. Có vậy, năm đó dân bản mới làm ăn
phát đạt, đến đây thì làm ta có thể liên tưởng đến tín ngưỡng phồn thực của dân gian,
từ cái mối nguồn giao duyên mà nên vợ nên chồng rồi sinh con đẻ cái, sinh sôi nảy
nở, mùa màng bội thu. Vì thế mà hát sli, lượn, then luôn được giữ trong các ngày lễ

hội Lồng thồng từ đời này sang đời khác và ngày càng được chọn lọc hơn.
5.2. Các trị chơi
Có lẽ phần khiến người tham gia phấn khởi và thích thú nhất là các trị chơi,
đây là lúc để vui chơi, ăn mừng cho một mùa xn với khí trời tươi đẹp. Có rất nhiều
trị chơi được tổ chức cùng với sự hưởng ứng rất nhiệt tình của mọi người, có thể kể
đến như: tung cịn (thỏt cịn), đây khơng chỉ là trị giải trí đơn thuần mà cịn là một
hình thức giao dun mang màu sắc nghi lễ, tín ngưỡng. Trước khi tung cịn, pú mo
sẽ ra chỗ cây còn và khấn vái, sau đó quả cịn được làm phép, tung lên cao để mọi
người tranh cướp mở đầu cuộc vui. Thông qua tung cịn, các đơi trai gái trao đổi tình
cảm với nhau, đã có cặp đơi đi tới hơn nhân. Cuộc chơi cứ thế kéo dài cho tới lúc quả
còn xuyên qua vòng tròn hồng tâm trên ngọn phỏng còn. Thế là viên mãn, lại một lần
nữa ta có thể nghĩ đó là một biểu tượng của tín ngưỡng phồn thực. Sau khi trò chơi
kết thúc, pú mo sẽ rạch quả còn đã được làm phép và vãi các hạt giống cho mọi người
đua nhau cướp về làm khước. Theo người Tày, những hạt giống ấy là hạt giống thiêng
sẽ đâm chồi nảy lộc nhanh chóng, do nó được sưởi ấm bằng đôi bàn tay của các đôi
nam nữ (âm - dương). Từ đó mà ta cịn nhận thấy được tung cịn là trò chơi phong tục,
mang ý nghĩa cầu mùa và phồn thực, một nghi lễ nông nghiệp, bao chứa niềm mong
18


ước cho mùa màng tươi tốt, con người luôn khỏe mạnh, chăn ni ngày càng phát
triển.

Hình: Đồng bào Tày và cộng đồng các dân tộc vui hội ném còn
Nguồn: />Kéo co (xẻ thoi) là trò chơi mà chúng ta dễ thấy dễ chơi và khá phổ biến không
chỉ ở lễ hội lồng thồng. Tại đây, thanh niên người Tày rất ưa thích, bởi kéo co là trị
chơi khỏe, mang tinh thần thượng võ và tính tập thể cao. Kéo co mang lại khơng khí
sơi động, kích thích khơng chỉ người chơi mà cả người tham gia lễ hội. Cuộc đua này
mang nội dung phong tục cầu mặt trời để phù hộ cho mùa màng, cây cối.
Bắn nỏ (bẳn nả) là cuộc thi tài có từ lâu đời, trở thành lệ của lễ hội Lồng thồng. Đồng

bào Tày ở Lạng Sơn hay các vùng địa phương khác, ngoài việc săn bắt thú rừng để
bảo vệ mùa màng, cải thiện đời sống, cịn phải đồn kết chống giặc ngoại xâm, giặc
cướp ở biên giới, vì thế mà vũ khí của họ rất nhiều và đặc biệt là có cung và nỏ. Cuộc
thi bắn nỏ này thu hút được rất nhiều sự quan tâm của người tham dự lễ hội, họ xem
19


rất đông và thật sự đã mắt với những cú bắn nỏ đầy điêu luyện của con người nơi đây.
Ngoài ra vẫn cịn rất nhiều trị chơi đặc sắc, góp phần làm nên một lễ hội Lồng thồng
nhiều dấu ấn như cờ tướng, cờ lài (tức kỳ, tức cờ), chọi chim họa mi (nơộc tiêu tị
tót),đánh yến (tức yến, tức diễn), đánh sảng (tức sáng), đánh đáo (tức lọ), đánh bi (tức
bi), đánh khăng (tức khăng), chơi của thầu (tức của thầu), đi cà kheo (pây mạ điếng),
nhảy bao (thiếu pao). Kể ra thì ta thấy thực sự trị chơi của lễ hội Lồng thồng vô cùng
đa dạng, nhiều thể loại mà chúng đều mang dấu ấn dân gian của con người Tày nơi
đây.
Sau phần trò chơi này, lễ hội sẽ chuyển sang lễ cầu mùa vào khoảng 4 đến 5 giờ
chiều. Mọi người lại tập trung tại mâm cúng của pú mo để pú mo bắt đầu tiến hành lễ
cúng. Sau lễ cầu mùa, pú mo tiếp tục làm lễ dâng cúng lợn cho thần linh, con lợn này
được người dân trong bản thịt trước lễ cầu mùa. Sau khi pú mo cúng xong, con lợn
được cắt ra thành từng phần bằng nhau rồi chia ra cho dân bản mà khơng có sự phân
biệt nào. Song, lễ hội tan, để lại rất nhiều dư vị trong mỗi người tham gia lễ hội Lồng
thồng.
6. Giá trị của lễ hội Lồng thồng
Mỗi năm xuân đến, vào lúc trời đất giao hòa, con người và vạn vật căng tràn
nhựa sống, đây cũng là lúc lễ hội Lồng thồng được diễn ra lần lượt lên các bản làng
Lạng Sơn trong cộng đồng người Tày hay các dân tộc khác. Như tô điểm thêm những
màu sắc tươi sáng rực rỡ cho cảnh sắc mùa xuân, tiếp thêm những năng lượng phấn
khởi cho một năm mới đầy hứa hẹn.
Lồng thồng đã hình thành từ bao đời và duy trì cho đến ngày hơm nay, trải qua
những thăng trầm trong cuộc sống của người dân Tày, ấy vậy mà trong nó mang rất

nhiều giá trị, bởi có giá trị thì sức sống của Lồng thồng mới bền bỉ đến vậy.
Giá trị văn hóa tinh thần, Lồng thồng mang đậm màu sắc tín ngưỡng dân gian, có sự
pha trộn đan xen giữa tín ngưỡng phồn thực, tục thờ cúng tổ tiên và tín ngưỡng thờ
Thành Hồng làng được thể hiện rất rõ. Lồng thồng xuất phát từ lòng ước mong, tin
tưởng vào sự phù hộ của năng lực siêu nhiên, đó là niềm tin của đồng bào Tày với
20


mong muốn một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, hy vọng vào một tương lai tươi đẹp
hơn. Một phần đời sống thường ngày đã trở nên thiêng liêng, đời sống tâm linh trở
nên phong phú. Lồng thồng còn là dịp để người dân được nghỉ chơi, vui chơi sau mùa
vụ nặng nhọc, lam lũ. Là thời gian cho gia đình sum họp, những người con xa xứ trở
về cùng về dự hội. Là cơ sở cho dân bản tăng thêm tình đồn kết, tương trợ, kết nối
hịa nhập cùng với các bản khác ngoài cộng đồng.
Lễ hội Lồng thồng, ngoài các giá trị về văn hóa, cịn là cơ hội để người dân
được thỏa mãn về tinh thần, tin tưởng vào đấng tối cao với những điều mà mình
khơng thể giải thích nổi, có một chỗ dựa tinh thần trong cuộc sống mưu sinh nhiều
khó khăn, khắc nghiệt. Lễ hội này cịn là cơ hội cho những cặp đơi được nên duyên
vợ chồng, cảm hứng cho thơ ca, nghệ thuật phát triển, nâng cao chất liệu cho các làn
điệu dân ca.
Giá trị văn hóa vật chất, lễ hội Lồng thồng mang lại những giá trị vật chất to
lớn đó là về khơng gian văn hóa lễ hội. Tại các đình, nhà Thần Nông… dù to hay nhỏ,
cấu trúc như thế nào thì đình ở Lạng Sơn vẫn mang đậm bản sắc cổ truyền Việt Nam,
đó là nét tơ đậm cho văn hóa kiến trúc dân tộc. Khơng chỉ vậy, ở những ngồi nhà của
người dân cũng khiến cho người tham dự lễ hội cũng được cơ hội chiêm ngưỡng
những ngồi nhà sàn bốn mái, có từ hàng nghìn năm nay, làm tất cả bằng gỗ, cột kê
trên đá, mái lợp bằng ngói âm dương. Ngồi ra về phần trang phục của người dân
cũng vô cùng xinh đẹp, rực rỡ, họ khốc trên mình những bộ áo chỉnh chu, được
chuẩn bị tỉ mỉ. Tham dự lễ hội, người ta còn được thưởng thức rất nhiều món ăn địa
phương, làm từ những nông sản mới, thơm ngon. Cách chế biến tinh tế, cầu kỳ đã làm

nên giá trị hiếm có cho những mâm cỗ tại đây.
Lễ hội Lồng thồng còn như một cỗ xe chứa đựng nhiều giá trị văn hóa truyền
thống khác, ở lễ hội, con người được tự do tín ngưỡng, cái đẹp mang tính chất thuần
phong mỹ tục được truyền từ đời này sang đời khác. Phong tục thờ cúng tổ tiên, thăm
hỏi chúc tụng nhau ngày tết, trò chơi dân gian cũng đã được Lồng thồng tinh tế mang
theo bên mình và duy trì nó đến ngày hơm nay.
21


Bên cạnh những giá trị văn hóa vật chất hay tinh thần, thì Lồng thồng của đồng
bào Tày ở Lạng Sơn còn mang những giá trị về kinh tế, lịch sử hay những giá trị khác.
Lễ hội Lồng thồng như một kết quả của hành trình lịch sử, trải qua nhiều giai đoạn
thăng trầm của lịch sử nước nhà đặc biệt ở vùng đất Lạng Sơn, vùng đất của những
anh hung dựng nước giữ nước. Lồng thồng như một nơi lưu giữ những dấu tích từ
những tính ngưỡng xa xưa đến những thời máu lửa anh dũng rồi cho tới ngày nay. Vì
những điều đẹp đẽ ấy, mà Lồng thồng có một sức hút lạ kỳ đến rất nhiều người trên
mọi miền tổ quốc, để rồi lễ hội trở thành một điểm du lịch cho du khách được trải
nghiệm được sống trong khơng khí tâm linh đầy thiêng liêng, từ đó mà có những dịch
vụ để phát triển kinh tế. Nói ra thì chẳng thể nào hết những giá trị mà lễ hội dân gian
Lồng thồng mang lại, nhưng khi điểm sơ qua thơi thì chúng ta cũng đã thấy được vị
trí của Lồng thồng nổi bật như thế nào.
Chương III: LỄ HỘI LỒNG THỒNG - HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI
1. Những biến đổi của lễ hội Lồng tồng hiện nay
Ngày nay, lễ hội Lồng thồng vẫn được diễn ra hằng năm ở cộng đồng người
Tày ở Lạng Sơn, tuy nhiên đã có nhiều sự thay đổi so với thời gian trước đó. Đầu tiên
đó là về thời gian, nếu trong lịch sử trước đây, lễ hội Lồng thồng thường diễn ra trong
vịng ba ngày theo trình tự: ngày thứ nhất làm các công tác chuẩn bị, sửa sang. Ngày
thứ hai là ngày chính bao gồm nghi thức cúng, trị diễn, trò chơi. Ngày thứ ba là tổng
kết lễ hội, đề ra phương hướng tổ chức cho năm sau. Nhưng ngày nay, lễ hội chỉ diễn
ra vỏn vẹn trong vòng một ngày. Lễ hội Lồng thồng cũng đã có sự biến đổi về khâu tổ

chức, trước năm 1945 lễ hội Lồng thồng được chánh tổng hoặc lý trưởng cùng các già
làng trưởng bản, pú mo đứng ra để thực hiện tổ chức. Vào thời gian sau này, việc tổ
chức do chính quyền xã, thơn bản cùng các cụ cao tuổi, ban ngành đoàn thể đứng ra tổ
chức, các khâu tổ chức cũng đã được đơn giản hơn, khơng cịn nặng nề như trước.
Ngoài ra, trước năm 1945, những nghi lễ cúng đặc biệt là cúng thần Thành Hồng,
Thần Nơng, cúng tại nhà pú mo… rất thiêng liêng không được mắc sai sót. Tuy nhiên,
ở thời đại phát triển hơn, mọi thứ được giản lược, đơn giản, bài cúng tế cũng ngắn gọn
22


hơn, trang phục của phú mo cũng đơn giản không cịn cầu kì như trước nữa, các nghi
thức đón mâm cỗ, đón sư tử bạn cũng giản đơn đi khá nhiều.
Các trò diễn, trò chơi phần nào cũng đã dần mai một, từ một phần hội với dày
đặc các trò chơi đặc sắc, những khúc hát then, sli, hát lượn, hay diễn "sĩ, nơng, cơng,
thương".... thì bây giờ có nơi thì chỉ cịn trị diễn, hét và hầu như biến mất các trò chơi
dân gian ấy mà thay bằng những trị hiện đại như: bóng đá, bóng chuyền, trị điện
tử… hay có chỗ khơng cịn tiếng hát sli, lượn mà chỉ cịn trị múa sử tử…
Vì nhiều yếu tố khác nhau mà lễ hội Lồng thồng đã có nhiều sự thay đổi theo thời
gian. "Tính hợp lý, tính lâu bền và sự thay đổi của những yếu tố mới sẽ được thực tiễn
sàng lọc, kiểm chứng theo dòng thời gian của lịch sử đương đại ngày nay." (Hoàng
Văn Páo, 2012: 188).
2. Các nhân tố tác động
Mọi sự vật hiện tượng ln ln vận động, khơng gì mà vượt ra khỏi vòng quay
ấy. Vậy nên lễ hội dân gian Lồng thồng cũng khơng ngoại lệ. Nhìn chung, sự biến đổi
của Lồng thồng là xuất phát từ sự thay đổi và phát triển của kinh tế - xã hội và quá
trình giao lưu văn hóa trong và ngồi nước.
Chúng ta có thể nói đến lý do mà tập trung nhiều nhất là tác động của sự phát
triển khoa học kỹ thuật. Cuộc cách mạng khoa học cơng nghệ đã và đang góp phần
vào sự thay đổi nhanh chóng về mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội - văn hóa, tạo nên
những nhu cầu hưởng thụ mới, địi hỏi văn hóa phải có tính năng động hơn. Sự phát

triển ấy, làm phần nào biến đổi trong tâm thức và cách ứng xử của con người với mọi
thứ xung quanh, từ đó mơi trường văn hóa truyền thống cũng thay đổi ít nhiều. Các
phương tiện đại chúng như báo viết, báo nói, báo điện tử, đài phát thanh, truyền hình,
mạng xã hội… ngày càng phát triển và gắn liền, đi sâu vào đời sống hằng ngày của
con người. Nội dung của chúng vô cùng đa dạng, phong phú và không ngừng đổi mới,
bắt kịp xu thế hằng ngày. Các loại hình nghệ thuật, giải trí cũng ngày càng đặc sắc,
mới lạ, có thể từ đó mà đời sống của con người ảnh càng biến đổi. Do vậy mà lễ hội
23


Lồng thồng đã đã biến đổi theo, không thể luôn giữ mãi những nếp cũ, nhưng tục lệ
cũ.
Bên cạnh đó, cũng từ khoa học công nghệ phát triển mà sự kết nối giữa bạn bè
quốc tế trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Vậy nên sự du nhập của các nền văn hóa
khác đến Việt Nam cũng nhanh chóng hơn. Với một nền kinh tế thị trưởng mở cửa,
chúng ta đang giao lưu văn hóa hằng ngày, hằng giờ.Chính nhờ sự giao lưu này, mà
con người đặc biệt là đồng bào Tày ở Lạng Sơn được tiếp cận, học hỏi nhiều nền văn
hóa trên thế giới. Họ được hiểu và biết đến các loại hình lễ hội trong nước và thế giới,
họ có quyền lựa chọn cho mình những gì mà phù hợp theo sở thích riêng mà khơng
nhất thiết ln ln là Lồng thồng. Và đó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến những
sự biến đổi sâu sắc ở lễ hội Lồng Thồng của người Tày ở Lạng Sơn.
3. Phương hướng phát triển lễ hội Lồng thồng trong thời đại mới
Lễ hội đóng một vài trị quan trọng trong đời sống của người dân, là nộp nếp
sinh hoạt cồng đồng của người bình dân từ xa xưa, đến ngày hơm nay thì lễ hội là một
nét văn hóa đặc sắc, chứa đựng những bản sắc của dân tộc. Vậy nên giữ gìn và phát
triển là một nhiệm vụ quan trọng được đặt ra trong bối cảnh phát triển cơng nghệ của
ngày hơm nay. Xu hướng số hóa, các nhu cầu của con người trở nên đa dạng, ở nhà
với một chiếc điện thoại, con người đã có thể xem được tất cả mọi thứ đủ thể loại ca
hát, kịch, tranh, báo, phim… vậy thì họ giảm dần nhu cầu đến những lễ hội truyền
thống, chứng kiến tận mắt tham gia những nghi lễ thờ cúng, những trò chơi trị diễn

dân gian đầy thú vị mang tính tập thể. Ấy vậy, cần có những phương hướng đặt ra để
chúng ta phát triển lễ hội Lồng thồng cũng như để Lồng thồng giữ được bản sắc vốn
có của mình.
Trước tiên, để phát triển, chúng ta cần có nền tảng căn bản là cơ sở vật chất,
tinh thần. Đó là tu sửa, gầy dựng lại không gian sinh hoạt cộng động - đình bản làng,
nơi diễn ra của lễ hội Lồng thồng. Từ đó để nhân dân có điều kiện thuận lợi cho việc
tổ chức lễ hội. Mang lại một không gian tín ngưỡng thiêng liêng, phù hợp với nhu cầu
về tạ ơn thần linh, cầu mong cho những điều thuận lợi trong cuộc sống sản xuất.
24


Sau đó là giữ gìn những nghi lễ, trị chơi, trò diễn nhưng phải xem xét để phù hợp với
thời đại mới. Nếu bỏ hẳn hay giữ ngun thì đó có phải chăng là tả khuynh, thiếu
trách nhiệm với xã hội nay. Nói chung, cần có sự xem xét và khắc phục phát triển triệt
để.
Vậy thì để thực hiện được những sự khơi phục và phát triển nêu trên thì chắc
chắn cần có một bộ quản lý - nhà nước. Nhà nước sẽ đóng và trị vơ cùng cần thiết và
quan trọng để cho lễ hội Lồng thồng được giữ gìn và phát triển, vẫn ln là một lễ hội
dân gian trong đời sống cộng đồng của người dân nói chung và đồng bào Tày nói
riêng. Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ V (khóa VIII) năm 1998
có nói đến: “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc.” Đó là hướng phát triển mà của nhà nước ta để xây dựng nền văn hóa nước
nhà và phát triển lễ hội Lồng thồng thì khơng phải là ngoại lệ.

25


×