Tải bản đầy đủ (.pdf) (29 trang)

ĐÌNH LÀNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI BÌNH DÂN BẾN TRE

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (598.33 KB, 29 trang )



TÊN ĐỀ TÀI: ĐÌNH LÀNG- GIÁ TRỊ VĂN HĨA TRONG
ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI BÌNH DÂN BẾN TRE


MỤC LỤC
Phần TỔNG QUAN:………………………………………………trang 1
1.Lý do chọn đề tài…………………………………………………trang 1
2. Mục đích nghiên cứu đề tài……………………………………...trang 1
3. Đối tượng nghiên cứu……………………………………………trang 2
4. Phương pháp nghiên cứu………………………………….……..trang 2
5. Dự kiến những kết quả sau khi nghiên cứu………………..…….trang 2
Phần NỘI DUNG………………...………………………..………trang 3
Chương I: Cơ sở lí luận và ý nghĩa thực tiễn………………….……trang 3
1.Đình làng trong tâm thức người Việt………..……………….….trang 3
2.Đình làng trong tâm thức cư dân Bến Tre…...………………...…trang 3
a.Lịch sử-quá trình hình thành…..………………………..…….…trang 4
b.Chức năng của đình làng……………...………………………....trang 5
c.Đình làng Bến Tre trong những năm tháng chiến tranh…………trang 6
Chương II: Kiến trúc đình Bến Tre……………………………....trang 7


1.Kiến trúc tổng thể………………………………………...…….....trang 7
2.Bày trí bên trong đình…………………….………………………trang 9
Chương III: Những vị thần được thờ trong đình………………...trang 11
1.Những vị thần do triều đình phong kiến sắc phong,đưa về thờ
phụng………………………………………………………………...trang 12
2.Những vị thần do nhân dân đưa vào thờ phụng……………...........trang 13
Chương IV: Lễ hội ở đình làng…………………………………….trang 15
1.Các hoạt động nghi lễ diễn ra ở đình làng………………………...trang 16


1.1Hoạt động lễ thức theo vịng quay………………………………trang 16
1.2Hoạt động lễ hội chính ở làng…………………………………..trang 17
Chương V: Giá trị của đình làng trong đời sống của người bình dân Bến
Tre…………………………………………………………………...trang 20
1.Giá trị vật chất…………………………………….……………….trang 20
2.Giá trị tinh thần……………………………………………………trang 21
Phần KẾT LUẬN…………………………….…………………….trang 23
TÀI LỆU THAM KHẢO………………………………….……….trang 25


Phần TỔNG QUAN
1.Lý do chọn đề tài:
Đình làng ( hay đình thần) đóng một vai trị quan trọng trong văn hóa tín
ngưỡng, là một thứ khơng thể thiếu trong đời sống tinh thần của đại bộ phận
cư dân Bến Tre nói riêng cũng như Nam Bộ nói chung, là một “ Thiết chế
văn hóa điển hình, giàu sức sống, có tính bao trùm trong sinh hoạt văn
hóa làng xã”. ( TS. Trần Ngọc Khánh, Đình thần Nam Bộ- Một thiết chế
văn hóa cổ truyền, ). Cùng với dịng chảy của
nhịp sống hiện đại, đa phần cư dân, đặc biệt là những người trẻ, đang dần
lãng quên những giá trị và nét đẹp trong văn hóa đình làng. Đây cũng là lý
do tôi chọn đề tài này, với hi vọng giới thiệu những giá trị về mặt văn hóa
của đình làng trong đời sống của cư dân Bến Tre để mọi người biết tới.
Đồng thời cũng nhằm tìm ra những nét khác biệt giữa đình làng Bến Tre với
những đình làng Bắc Bộ để có thể thấy lịch sử khai hoang và tâm thức của
cư dân Bến Tre nói riêng và Nam Bộ nói chung ảnh hưởng thế nào đến vai
trị, chức năng và giá trị của một ngơi đình.

2. Mục đích nghiên cứu đề tài:
Giới thiệu lịch sử hình thành, kiến trúc, giá trị của đình làng trong đời sống
văn hóa tinh thần của cư dân Bến Tre. Từ đó hướng tới những giải pháp

1


nhằm bảo tồn, giữ gìn và phát huy giá trị của đình làng- một nét văn hóa dân
gian truyền thống giữa xã hội hiện đại, hội nhập quốc tế ngày nay.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Đình làng Bến Tre
4. Phương pháp nghiên cứu:
Tìm hiểu về đề tài nghiên cứu, cụ thể là đình làng Bến Tre cùng kiến trúc,
những vị thần được thờ, lễ hội và giá trị của đình làng với cư dân Bến Tre.
Tìm tài liệu, tham khảo các nguồn, bài viết từ sách, internet, báo điện tử.
Xác định hướng tiếp cận liên ngành:
-Lịch sử: lịch sử hình thành vùng đất Nam Bộ cũng như Bến Tre ảnh hưởng
như thế nào đến kiến trúc và sinh hoạt đình làng.
-Văn hóa: nét đẹp và giá trị của đình làng trong đời sống tinh thần của cư
dân Bến Tre.
-Du lịch: phát triển các hoạt động du lịch nhằm giới thiệu nét đẹp văn hóa
đình làng.
-Mĩ học: giá trị nhân văn, tinh thần “ Uống nước nhớ nguồn”, nhớ ơn các vị
tiền nhân khai hoang lập ấp qua việc đưa họ vào thờ phụng trong đình làng,
xem họ là “ Nhân thần”; những giá trị, nét đẹp trong kiến trúc đình làng Bến
Tre.
5. Dự kiến những kết quả sau khi nghiên cứu:
2


Biết được những giá trị văn hóa của đình làng Bến Tre, từ đó tìm ra biện
pháp bảo tồn và phát triển những nét đẹp đó, khơng để những giá trị tốt đẹp
đó bị mai một và suy tàn.
Phần NỘI DUNG

Chương I: Cơ sở lí luận và ý nghĩa thực tiễn:
1.Đình làng trong tâm thức người Việt
Đình làng hay đình thần, là nơi thờ thần Thành hoàng- vị thần chủ tể trên cõi
thiêng của thơn làng. “Đình làng là nơi hội tụ, trình diễn nhiều nét văn
hóa phi vật thể như lễ hội, nghi lễ, phong tục, tập quán, lề thói, nghệ thuật
dân gian như kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc, dân ca,dân vũ, trò chơi dân
gian,… và là nơi gắn kết của cộng đồng làng xã Việt Nam” (Phương Hà,
Đình làng- biểu tượng văn hóa trong đời sống, ).
2.Đình làng trong tâm thức cư dân Bến Tre
Tại Bến Tre, theo kết quả thống kê của Bảo tàng Bến Tre vào năm 1993 thì
trên địa bàn tỉnh ( chưa tính huyện Ba Tri) có 133 ngơi đình. Hiện nay, theo
số liệu thống kê của Ban quản lí di tích tỉnh có 18 đình được xếp hạng Di
tích cấp tỉnh và 6 đình được xếp hạng Di tích quốc gia. Những số liệu trên
chứng tỏ đình làng chiếm một vị trí và tầm ảnh hưởng to lớn trong đời sống
cư dân Bến Tre. Trong nghiên cứu văn hóa dân gian, ngơi đình chính là
3


chứng tích của sự hình thành và phát triển của vùng đất mới ở Nam Bộ nói
chung và Bến Tre nói riêng trong q khứ. Đây khơng những là nơi thờ tự,
tiến hành các nghi thức cúng tế, lễ hội, là… mà còn là chứng nhân chứng
kiến sự thay đổi từng ngày của quê hương làng xã từ khi thành lập đến thời
điểm hiện tại.
a.Lịch sử-quá trình hình thành đình làng ở Bến Tre
Từ cuối thế kỷ XVII, người Việt từ miền Trung di cư đến vùng đất phía
Nam sinh sống và đã tạo dựng nên đình làng. Bến Tre cũng nằm trong dòng
chảy chung của lịch sử và văn hóa Nam Bộ nên q trình hình thành đình
làng ở Bến Tre cũng giống như quá trình hình thành đình làng ở Nam Bộ.
Ngơi đình gắn liền với q trình đi khai hoang, mở đất của lưu dân miền
Trung khi đến vùng đất Bến Tre xưa. Buổi đầu định cư, hình thành nên

những thơn, ấp ở những vùng đất hoang sơ, hẻo lánh, cư dân đã dựng lên
những ngơi đình bằng cây lá thơ sơ để thờ cúng Thành hồng bổn cảnh ở nơi
họ sinh sống nhằm cầu sự yên lành, che chở trong cuộc sống và mưu sinh.
Khi cuộc sống dần ổn định và khá giả hơn 1 chút, họ cùng nhau góp cơng
góp của trùng tu lại ngơi đình. Như vậy, đình làng gắn liền với sự hình thành
và đời sống sinh hoạt của mỗi cư dân ở làng.

4


H1: Đình An Hội
Nguồn: Hồng Vũ, />b.Chức năng của đình làng
Cùng với 2 chức năng cơ bản thường thấy của đình làng Việt Nam là chức
năng tín ngưỡng và chức năng thế tục- vừa là nơi thần linh trú ngụ; vừa là
cơng sở, cơ quan hành chính- nơi nững vị hương chức hội tề, bàn bạc, xử án,
giải quyết những việc cơng của làng xã, thì đình làng Bến Tre cịn có chức
năng văn hóa- là “ một sân khấu diễn xướng”, là “ nhà văn hóa”. Trong các
dịp lễ hội, bên cạnh phần “ lễ”- tiến hành các nghi thức cúng tế, rước sắc
thần,… thì cịn có phần “ hội”- với việc diễn các tuồng tích tại gian vỏ ca,
với sân khấu vở ca quay về hướng chánh điện, diễn cho thần xem, giống
như một hình thức dâng lên thần thưởng thức.
5


c.Đình làng Bến Tre trong những năm tháng chiến tranh
Đình làng Bến Tre trong những năm tháng chiến tranh từ chống Pháp tới
chống Mỹ còn mang thêm những chức năng khác. Một số ngơi đình trở
thành cơ sở cách mạng- nơi đứng chân của lực lượng cách mạng; tập huấn
cho các cán bộ lãnh đạo tại địa phương; nơi hội họp; tiếp nhận và cứu chữa
thương bệnh binh; cất giấu tài liệu, vũ khí,… có thể kể đến như đình Phú Lễ;

hay đình làng cịn là chứng nhân lịch sử, chứng kiến tội ác mà kẻ thù gây ra
cho nhân dân Bến Tre. Trong kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt dưới thời của
chính quyền Ngơ Đình Diệm, khi chúng đặt ra đạo luật 10/59 nhằm thực
hiện chính sách “ tố cộng, diệt cộng” thì đình Bình Hịa ( hiện nay tọa lạc tại
thị trấn Giồng Trôm) là nơi diễn ra những cuộc tra khảo, hành quyết các cán
bộ, chiến sĩ cách mạng và cả người dân vô tội. Hàng trăm chiến sĩ cách
mạng và đồng bào vô tội đã bị bắt về đình Bình Hịa để tra tấn và giết hại dã
man. Đình làng cịn là nơi nương náu cho dân làng những khi bom đạn của
kẻ thù tàn phá.

6


H2: Đình cổ Bình Hịa
Nguồn: />Chương II: Kiến trúc đình Bến Tre
1. Kiến trúc tổng thể
So với kiến trúc đình làng ở Bắc Bộ, đình làng ở Bến Tre nói riêng và đình
làng Nam Bộ nói chung có nhiều nét khác biệt. Đó là có thêm gian “ vỏ
ca”- nơi tổ chức hoạt động diễn tuồng, nơi vui chơi, giải trí trong những
ngày hội đình. Đình làng Bến Tre cũng khơng có cái nghè/ miếu như ở Bắc
Bộ; “ Là một quần thể kiến trúc gỗ, gồm nhiều ngôi nhà sát liền nhau
theo kiểu sắp đọi và thường được xây dựng ở vị trí cao ráo, thuận tiện đi
lại, ít bị chi phối bởi thuật phong thủy”. (Theo ý kiến của Nhà nghiên cứu
Sử học Huỳnh Ngọc Đáng được tác giả Lê Khơi trích dẫn trong bài viết “
7


Bản sắc của đình thần Nam Bộ”,). Nhìn
chung, đình làng Bến Tre có kiến trúc tổng thể từ ngồi vào trong như sau:
Cổng đình: có kiểu dáng khơng chừng. Cổng đẹp thì có trụ cột, trên có mái

lợp ngói, hoặc trên 2 trụ có đặt cặp lân bằng sành tráng men.

H3: Đình Tân Thạch
Nguồn: />Bình phong: nằm chính giữa phía trước sân đình, thường có mặt đắp nổi
hoặc vẽ cảnh cọp vàng đứng trên bờ đá lởm chởm, bên gốc cổ thụ gie cành
lá; hoặc long mã chở cái phù đồ; hoặc long mã hổ hội,… nhằm biểu thị âm
dương hịa hợp.
Sân đình: thường có đàn thờ Thần Nơng, nơi lập đàn Xã tắc, miễu thờ cọp,
miễu thờ Hội đồng hoặc miễu thờ nữ thần.

8


Ngơi đình chính: thường là ba hoặc nhiều nếp nhà tứ trụ ( nhà vng có 4
cột cái, một gian, hai chái), có cùng kiểu cỡ, bố trí theo kiểu “ trùng thềm
điệp ốc”. Mái đình thường lợp ngói âm dương hoặc vảy cá. Trên nóc thường
gắn những hình sành tráng men màu như “ Lưỡng long tranh châu”, “ Bát
tiên chầu hội”, “Lưỡng long chầu nhật”,… nhằm tượng trưng cho âm dương
hòa hợp, thể hiện khát khao về cuộc sống no đủ. Thường đình có 3 gian
chính: nhà võ ca (gian trước )- nơi xây chầu và hát Bội trong những dịp lễ
hội; vỏ qui ( gian giữa)- nơi đặt bàn thờ 18 đời vua Hùng và Bác Hồ hoặc
dùng để làm nơi cho chức sắc chầu lễ, cầm chầu hoặc hội họp; chính điện (
gian cuối)- được trang trí với những họa tiết chạm khắc tinh xảo trên các
bức hoành phi, liễn đối, khám thờ, các bao lam, mảng phù điêu,… tất cả
chúng đều được sơn son thiếp vàng tinh tế. Thành hoàng làng được thờ ở
gian này. Ở hiên phụ ( cất dọc hiên chính) có thờ thêm Tả ban, Hữu ban,
Tiền hiền, Hậu hiền.
Ngoài ra tùy theo diện tích mà cịn có thêm nhà hậu- nơi hương chức, ban tế
tự tụ hội, dân làng qui tụ chuẩn bị thờ cúng; nhà trù ( nhà bếp) và nơi ở của
ơng Từ giữ đình.

2. Bày trí bên trong đình
Theo học giả Nguyễn Văn Tố thì việc bày trí trong đình làng về cơ bản cần
tuân theo những nguyên tắc sau:
9


Về câu đối ở đình: chỉ trạm triện rồng hoặc tứ linh ( long, lân, qui, phụng).
Về bát bửu ( tám món quý): bút, sách, quạt, gươm, lẵng hoa, bầu rượu, túi
thơ. Cũng có nơi là pho sách,ngọc như ý, cuốn thư, lẵng hoa, bầu rượu, đàn
tì bà, quạt, phất trần.
Về cửa võng ( bao lam): thường chạm “ Lưỡng long chầu nguyệt”, “ Lục
long ngự thiên”, “ Ngũ phụng hàm thư”.
Về bày trí bàn thờ Thành hồng: bàn thờ có ngai chạm hai con rồng, có
cái long vị hình chữ nhật ( thần vị) mô phỏng dáng người ngồi, ghi tên hiệu
của thần. Trước long vị đặt cái rương nhỏ, tượng trưng cho cái hốt mà vị
quan cầm che trước mặt mỗi khi vào chầu vua. Ngoài ra ở đây cịn có tráp
đựng sắc phong, tam sự ( cái lư để đốt trầm và 2 cái chân đèn) hoặc ngũ sự
( ngồi 3 món như tam sự cịn có thêm 2 ống cắm nhang), bình, khay, kỷ tam
sơn là ba khối vuông ( khối giữa nhô lên) dùng để lư hương, trầu, cau, rượu,
gợi bóng dáng ba ngọn núi.
Ngồi ra cịn có vài tàn lọng, cờ vía, đồ lỗ bộ, mũ và quần áo thờ. Hai bên
hương án thường là đôi hạc đứng trên lưng rùa. Nếu thần là quan võ, có nơi
cịn có chưng cái giá, trên để ba thanh gươm cán dài, gọi là gươm vía hoặc
gươm cẩn và ngựa. Chiêng trống là dụng cụ cần thiết khi tế lễ. Cái mõ ( vật
dụng cũng khá quen thuộc trong gia đình ở Bến Tre những năm về trước) là

10


một khúc cây dài, có thể là tre, khoét bọng, dùng để đánh lên báo động khi

có hỏa hoạn, trộm cắp.

H3: Đình Tiên Thủy
Nguồn: />Chương III: Những vị thần được thờ trong đình
Sự thay đổi diện mạo thần linh được thờ phụng trong đình làng Bến Tre là
nguyên nhân cho sự thay đổi thiết chế kiến trúc đình làng đã nêu ở trên. Nếu
như ở đình làng Bắc Bộ chỉ có vị Thành hồng ( Thành hồng có thể 1 hay
nhiều vị) và Thổ cơng được thờ thì đình làng Bến Tre lại khá phồn tạp với
nhiều loại thần khác nhau, thể hiện tinh thần dân chủ của cộng đồng làng
mạc, thái độ bình đẳng trong tín ngưỡng của nhân dân.
11


1. Những vị thần do triều đình phong kiến sắc phong, đưa về thờ phụng
Về triều đình phong kiến nhà Nguyễn, đã đưa xuống cho nhân dân thờ
phụng 3 vị thần là: Thành Hoàng bổn cảnh ( thần đất), Tứ vị đại càn thánh
nương nương ( thần biển), Cao các quảng độ tôn thần ( thần rừng). Ba vị
thần này tượng trưng cho ba hình thức khơng gian, ba miền vũ trụ. Thơng
thường, cả ba vị thần này đều có sắc phong, nghĩa là họ cùng ngự trị trên cõi
thiêng của một làng quê, bảo trợ cho người dân ở làng quê đó. Tuy nhiên,
trong gian chánh đường người dân chỉ vẽ chữ “Thần” được viết bằng chữ
Hán trên tường.
1.1 Thành hồng
Được thờ ở vị trí trung tâm đình làng là Thành hoàng bổn cảnh ( hay bản
cảnh). Do Nam Bộ là vùng đất mới ở nhiều đình làng, thần chỉ có tên là
“Bản cảnh Thành hồng” hay “ Thành hồng bản cảnh”. Theo sách “ Minh
Mạng chính yếu”, quyển 12, vào năm Minh Mạng thứ 20 (1839), nhà vua
chuẩn y lời tâu của Bộ Lễ xin hạ lệnh cho các địa phương lập thêm thần vị
“ Bản cảnh”. Theo chú giải của Lê Phục Thiện- người dịch sách này, thì
“Thành hồng” là vị thần coi 1 khu vực nào, cịn “Bản cảnh” là cõi đất nơi

mình được thờ. Những vị Thành hồng bổn cảnh được triều đình sắc phong,
hay có thể nói là do nhà nước phong kiến ban xuống để người dân thờ vì
12


trong bước đường khai hoang mở cõi, Thành hồng chính là vị thần của
công xã, làng mạc, là chỗ dựa tâm linh của lưu dân đến khai phá cùng đất
mới này, nhà nước phong kiến dựa vào vị thần này để cai quản tâm linh lưu
dân.
1.2 Tứ vị tôn thần
Hay còn gọi là “ Tứ vị đại càn thánh nương nương”, “ Đại càn quốc gia
Nam Hải”- 4 vị thánh nương bảo trợ cho ngư dân đi biển được bình an và
đánh bắt nhiều tôm cá được thờ ở một số địa phương như đình xã Long Định
( Bình Đại), đình xã Mỹ Hóa ( TP Bến Tre).
1.3 Cao các quảng đại tôn thần
Đây là vị thần bảo trợ cho người dân đi rừng được thờ ở các đình xã Mỹ Hóa
( TP Bến Tre), Quới Sơn, Giao Long (Châu Thành).
2. Những vị thần do nhân dân đưa vào thờ phụng
2.1 Thần Nông
Người dân cho rằng Thần Nông cũng là 1 vị thần bảo trợ cho nơng nghiệp,
có thể sai khiến “ mưa thuận gió hịa”, làm cho mùa màng bội thu, đời sống
nhân dân no đủ. Ban thờ Thần Nơng được lập lộ thiên ngồi trời.
2.2Thần Hổ

13


Bến Tre thởu cịn hoang hóa là vùng có nhiều cọp dữ, cho nên nhân dân đưa
cọp vào thờ phụng ở đình làng, tơn làm thần Hổ. Theo giai thoại ở 1 số địa
phương còn đưa cả cọp vào thờ ở trong đình với tư cách “ ơng Cả” ( đình

Châu Bình- Giồng Trơm) hay ở Thạnh Phú, cọp có cơng “ chọn đất để làm
đình” cho dân làm ăn được thịnh vượng. Vì thế người dân coi cọp là nhân
vật trung tâm được thờ phụng trong đình. Thơng thường, miếu thần Hổ có
bài vị nhưng cũng có trường hợp được viết vào tường như ở đình Phú Lễ
(Ba Tri), đình Phú Hưng, Phú Tự ( TP Bến Tre).
2.3 Bà Chúa Xứ
Bà Chúa Xứ được thờ phụng bằng một ban thờ ở ngồi, trong khn viên
đình, có mái che tử tế như ở đình Phú Hưng, Phú Tự ( TP Bến Tre), nhưng
cũng có khi được thờ bên trong đình như đình Đa Phước Hội ( Mỏ Cày).
Ngồi ra, cịn có Thổ địa, Thổ cơng, Ngũ hành nương nương, Lang đại
tướng quân (thần sông), các bậc tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ được
phụng thờ trong đình.
Những vị anh hùng có cơng với địa phương, đem lại cuộc sống bình an cho
nhân dân, đứng lên chống Pháp bảo vệ quê hương như ông Võ Văn Thành,
Tán Kế Lê Quang Quan,… cũng được nhân dân tôn làm thần và đưa vào thờ
ở đình. Đây là những con người cụ thể, chứ không phải là nhân vật ở cõi
siêu linh. Việc thờ phụng những bậc tiền hiền, hậu nhân cũng thể hiện tính
14


chất của làng khai phá và nét đẹp truyền thống của người dân Bến Tre- tinh
thần uống nước nhớ nguồn.
Nhìn chung, trong tâm thức nhân dân, dù là Thành hoàng bổn cảnh hay
những vị thần khác chỉ cần là có cơng với địa phương thì đều được phụng
thờ và khơng có sự phân biệt nào giữa các vị thần cả về ban thờ lẫn nghi
thức cúng tế, vật phẩm cúng tế.
Chương IV: Lễ hội ở đình làng
Theo như ghi chép của Trịnh Hồi Đức trong “ Gia Định thành thơng chí”
về việc thờ cúng ở đình làng Nam Bộ thì : “ Tế xã: mỗi làng dựng 1 ngơi
đình, kỳ tế phải lựa trước ngày tốt, đến buổi chiều ngày ấy lớn nhỏ đều

nhóm tại đình. Suốt đêm ấy gọi là túc yết, sáng sớm ngày mai áo mão trống
chiêng làm lễ chánh tế, ngày sau nữa làm lễ dịch tế, gọi là đại đoàn lễ xong
lui về. Dùng ngày giờ cúng tế tùy theo hương tục không giống nhau, hoặc
chỗ dùng tháng Giêng là thủ nghĩa xuân kỳ, hoặc chỗ dùng tháng 8, 9 là thủ
nghĩa thu báo, hoặc chỗ dùng trong 3 tháng mùa đông, thủ nghĩa là trọn
năm thành công, tế chưng, tên nạp là đáp tạ ơn thần, sự tế có chủ ý, đều gọi
là cầu an.” ( Trịnh Hoài Đức, bản dịch của Nguyễn Tạo,1974:10-11). Như
vậy, ngồi ghi chép này ra thì khơng có cứ liệu nào xác định lịch sử lễ hội và
diễn trình của 1 lễ hội ở đình làng Bến Tre.
15


Lễ hội là dịp để người dân thể hiện tín ngưỡng của mình, bày tỏ lịng thành
và sự biết ơn của mình với thần linh, đồng thời cầu mong về một cuộc sống
no đủ, vụ mùa bội thu. Trong tâm thức dân gian, người nông dân tin rằng các
vị thần đang hiện diện trên cõi thiêng của một làng quê, chính vì vậy mà lễ
thức và lễ hội ở đình làng là dịp mà người dân bày tỏ niềm tin sâu đậm của
mình với cõi siêu linh.
1. Các hoạt động nghi lễ diễn ra ở đình làng
Có 2 loại hoạt động nghi lễ diễn ra ở đình làng:
1.1 Hoạt động lễ thức theo vịng quay:
Gồm có lễ niêm ấn, lễ nguyên đán, lễ khai sơn, lễ tam ngươn ( nguyên): rằm
tháng giêng, rằm tháng bảy, rằm tháng mười và các lễ tứ thời lạp tiết.
Với các lễ thức tổ chức ở đình làng theo vịng quay, tính chất lễ hội khơng
có ở loại hoạt động nghi lễ này. Nó chỉ thuần túy là những lễ thức, không
thu hút được sự tham gia hồ hởi, chủ động của người dân.
1.2 Hoạt động lễ hội chính ở làng:
a.Tên gọi, ý nghĩa
Lễ kỳ yên chính là lễ hội lớn nhất và quan trọng nhất ở làng quê. Theo tác
giả Nguyễn Văn Châu, lễ kỳ yên “ còn gọi là lễ tế xã” ( Nguyễn Văn

Châu,1991: 32).

16


Có nhiều cách lý giải về tên gọi “ kỳ yên” của lễ hội này. Nhóm từ “ kỳ yên”
đồng nghĩa với “kỳ an/ cầu an”. Theo học giả Đào Duy Anh giải thích, “ kỳ
an” là: “ Cầu khấn cho được bình an” ( Đào Duy Anh, 1957: 32) hay theo
cách giải thích của học giả Huỳnh Tịnh Của thì “ cầu an” là: “ Cầu cho làng
bình an”, còn “ kỳ yên” là: “ Kỳ yên là cầu cho n, lễ cầu cho n lịng
làng xóm” ( Huỳnh Tịnh Của, 1988: 8). Như vậy, dù cách giải thích nào thì
nó vẫn mang ý nghĩa là cầu sự bình an cho cá thể, cộng đồng. Cư dân nông
nghiệp tổ chức lễ kỳ yên nhằm bày tỏ niềm tin, cầu mong và hi vọng về
cuộc sống bình yên, được các vị thần ngự trị ở cõi linh thiêng ở làng quê hộ
trì cho họ.
Vị thần được hướng tới, gửi gắm niềm tin ở đây là Thành hoàng bổn cảnh.
b.Thời gian tổ chức
Tùy theo từng địa phương quy định mà có thời gian tổ chức khác nhau: đình
Phú Khương ( TP. Bến Tre) tổ chức vào các ngày 12,13/4 âm lịch; đình Phú
Hưng tổ chức vào 11,12/4 âm lịch; đình Đa Phước Hội tổ chứa vào 16, 17/3
âm lịch,… Nhưng điểm chung là lễ kỳ yên đều được tổ chức vào thời điểm
cuối mùa khô, chuẩn bị bước vào mùa mưa.
c.Về các hoạt động chuẩn bị
Lễ kỳ yên mang đậm tính chất hội hơn những lễ thức theo vòng quay thời
gian, thu hút đông đảo mọi người trong cộng đồng tham gia. “Trước ngày
17


làm lễ, mọi người trong làng phải đóng tiền cúng đình cho ban q tế, tiền
này gọi là tiền chề. Trai đinh trong làng khơng có tiền đóng tiền chề thì

phải làm tạp dịch trong lễ kỳ yên, gọi là dân dọc, do 1 hương chức trong là
gọi là “ Đầu dọc tam sai” điều khiển”. ( Nguyễn Chí Bền, 2017: 77).
d.Trình tự và các nghi thức
Lễ kỳ yên diễn ra với 3 nghi thức: túc yết, tế tiền vãng, chánh tế. Trong đó,
lễ chánh tế cịn được theo dân gian Bến Tre gọi là lễ đoàn cả.
Lễ túc yết là lễ mở đầu của lễ kỳ yên. Vào ngày này, hương chức trong làng
tụ họp lại bẩm với thần về việc tổ chức lễ kỳ yên. Những người khác trong
làng mỗi người một việc, chuẩn bị chưng dọn, làm thức ăn, chuẩn bị cho
hương chức tế lễ. Trình tự diễn ra giống như lễ chánh tế, chỉ khác bài văn tế.
Lễ tiền vãng, tức lễ cúng tiền hiền, hậu hiền. Ngồi các lễ vật, chỉ có bài
văn tế mà khơng có chiêng, trống, mõ. Phẩm vật cúng tiền hiền, hậu hiền là
thức ăn chín. Ngồi cúng tiền hiền, hậu hiền, cư dân Bến Tre cịn làm lễ
cúng Thần Nơng với văn tế riêng, khơng phải văn tế Thành hồng Bổn cảnh.
Lễ chánh tế- nghi lễ được xem trọng nhất, để dâng cúng Thành hoàng bổn
cảnh. Nghi lễ này được tiến hành vào nửa đêm, lúc giao thừa giữa ngày cũ
và ngày mới. “ Mở đầu là hồi chuông chỉnh y, tiếp đến là nhạc lễ, sau khi
hội hương cùng các vị trong ban khánh tiết tựu vị, là nghi thức đánh mõ.
18


Chiếc mõ tre được trùm khăn đỏ, người đánh mõ tiến đến trước ban thờ
Thành hoàng bổn cảnh, niệm hương, sau đó rót 3 giọt rượu tẩy uế mõ, lấy
khăn lau mõ và đánh 90 dùi, chia làm 3 đợt, mỗi đợt 30 dùi. Sau đó là nghi
thức đánh trống, cùng với 1 số lần đánh như thế . Tiếp đến là nghi thức
đánh chiêng. Sau tất cả những hồi mõ, trống chiêng, ban nhạc lễ mới vào và
tấu nhạc. Lễ sinh mới bắt đầu điều hành buổi lễ theo các nghi thức: củ soát
lễ vật, tuần hương, tuần rượu thứ nhất, đọc văn tế, tuần rượu thứ hai, tuần
rượu thứ ba, hiến quà phẩm, hiến trà, đốt văn tế” ( Nguyễn Chí Bền, 2017:
80). Lễ vật cúng là một con heo trắng, đã mổ xong cạo sạch lông, chưa nấu
chín ( được đặt nằm sấp, thân phủ trên 1 ghế cao, lá mỡ chài của nó được

người ta phủ lên đầu) ; mao huyết ( 1 chén đựng huyến có 1 ít lơng heo đặt
trong chén, có bịt giấy), một mâm xôi, một mâm trái cây, một mâm trầu cau,
một dĩa muối gạo.
Ngoài ra, trong nghi thức của lễ kỳ n cịn có nghi thức “ Xây chầu đại
bội”, diễn ra trong gian vỏ ca. Nghi thức này tùy thuộc vào việc năm ấy ở
đình làng ban tổ chứa có mời đồn hát hay khơng. Nghi thức này có 2 nghi
lễ: xây chầu ( khai tràng)- tức mở đầu đêm hát bội và đại bội.
Sau lễ đại bội là phần hát bội- phần hội của lễ hội ở đình làng. Nội dung
chính của phần này là hát xướng, vui chơi, chiêu đãi và giao nghĩa nên thu

19


hút đông đảo mọi người trong cộng đồng tham gia, cùng xem hát tuồng,
tham gia các trò vui, trò chuyện, trao đổi, tâm tình 1 cách vui vẻ, thoải mái.
Chương V: Giá trị của đình làng trong đời sống của người bình dân Bến
Tre
1.Giá trị vật chất
Đình làng là kết tinh của tinh hoa trong nghệ thuật kiến trúc của những nghệ
nhân xưa. Mỗi ngơi đình đều có những nét độc đáo riêng, được tạo dựng một
cách công phu. Như đã nói ở phần kiến trúc đình làng, mỗi ngơi đình bên
cạnh tổng thể chung mà một ngơi đình thường có, thì tùy từng địa phương
mà có thêm những nét riêng về bày trí bên trong đình. Từng nét điêu khắc,
chạm trổ trên những cột, kèo, bàn thờ, liễn,… đều được thực hiện một cách
tinh tế. Tính đến năm 2017, Bến Tre có ngơi đình thứ 5 được cơng nhận di
tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Như vậy, bên cạnh giá trị tinh thần,
đình làng cịn mang giá trị vật chất với những nét nghệ thuật độc đáo, trở
thành biểu tượng của làng quê Bến Tre nói riêng và Việt Nam nói chung.
Nhiều ngơi đình trở thành địa điểm tham quan du lịch cho du khách phương
xa đến tham quan và chiêm ngưỡng, tạo ra thêm một nguồn thu cho người

dân địa phương.
2.Giá trị tinh thần

20


Lịch sử hình thành và phát triển của Bến Tre gắn liền với công cuộc khai
hoang mở đất đầy gian khổ, hiểm nguy trùng trùng, những lưu dân người
Việt thời đó mà đa phần có nguồn gốc từ miền Trung vào Bến Tre khai phá
đất đai, xây dựng thôn làng phải đối mặt với thiên nhiên đầy trắc trở, có
phần khắc nghiệt, thú dữ rình rập, “ rừng thiêng nước độc”, “ sơn lam
chướng khí”,… Đây là những khó khăn thử thách mà vùng đất này đặt ra
cho những người lưu dân khi đặt chân đến vùng đất mới. Chính vì lẽ đó mà
đình làng được những cư dân dựng nên cùng với q trình lập làng. Nó
giống như một biểu tượng về mặt tinh thần, gợi nhớ về cội nguồn quê
hương, đồng thời cũng che chở cho những cư dân mới đến vùng đất này, để
họ có thể an cư lạc nghiệp, xây dựng cuộc sống mới trên mảnh đất phương
Nam này. Nhà văn Sơn Nam cũng từng nói rằng: “ Có đình thì mới tạo được
thế đứng, gắn bó vào cộng đồng dân tộc và càn khơn vũ trụ. Bằng khơng chỉ
là lục bình trơi sơng, một dạng lưu dân tập thể”. ( Sơn Nam, 2015: 21) .
Tiến sĩ Trần Ngọc Khánh cũng nhận xét: “Đình thần hồi đó có thể chỉ là
căn lều mái lá đơn sơ như cái miễu thờ ( gọi là miễu Hội đồng, miếu
Thành hồng làng), khơng có ngẫu tượng ( thơng thường chỉ có 1 chữ
‘Thần’ viết bằng chữ Hán), khơng có thần tích, khơng có hoặc chưa có
sắc thần. Việc lập đình thần trong cộng đồng dân cư ở Nam Bộ chính là
sự liền mạch với truyền thống văn hóa cội nguồn ở quê cha đất Tố, là nhu
21


cầu tâm thức của lưu dân Nam Bộ, dù kiếp sống tha phương lưu đày vẫn

khơng qn nịi giống dân tộc Việt”. (TS. Trần Ngọc Khánh, Đình thần
Nam Bộ- Một thiết chế văn hóa cổ truyền, ).
Như vậy, đình làng không chỉ là không gian sinh hoạt phi tôn giáo mà còn là
điểm tựa tinh thần của cư dân địa phương từ những ngày đầu lập ấp, lập
làng. Trong quan niệm dân gian, đình làng là nơi ngự trị của thần linh, là nơi
giúp con người hướng thiện bởi họ cho rằng các vị thần ngự trị trên cõi thiên
ln biết được những suy tính của họ. Nếu họ hướng thiện, thần sẽ ghi công,
phù hộ và ban cho những điều tốt lành. Ngược lại, sẽ chịu trách phạt, bị ban
cho những rủi ro, tai họa. Chính nhờ quan niệm về sự thiêng liêng của những
vị thần được thờ ở đình làng mà những người bình dân có sự kiêng dè, cái ác
cũng vì đó được giảm thiểu.
Ngày trước, đình làng được xem như nhà văn hóa- là nơi sinh hoạt văn hóa
của cộng đồng, nơi tổ chức hữu sự, hội hè, đình đám của địa phương. Vào
những dịp lễ hội ở đình làng, người dân trong làng cùng tề tựu về đình làng,
cùng tham gia các hoạt động, trò chuyện, trao đổi kinh nghiệm trong cuộc
sống và sản xuất,… Những hoạt động ở đình làng chính là sợi dây làm cho
tình làng nghĩa xóm thêm thắt chặt, kết nối mọi người trong cộng đồng làng
xã lại với nhau. Ngồi ra, hầu như những ngơi đình ở Bến Tre nói riêng và

22


×