Tải bản đầy đủ (.pdf) (24 trang)

TÌM HIỂU DI SẢN VĂN HÓA DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (566.69 KB, 24 trang )



MƠN HỌC: VĂN HĨA DÂN GIAN

TÌM HIỂU DI SẢN VĂN HÓA DÂN CA
QUAN HỌ BẮC NINH


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………….……………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………….

Điểm: …………………….

KÝ TÊN

1


MỤC LỤC
Phần TỔNG QUAN……………………………………………………………..3
Phần NỘI DUNG………………………………………………………………..5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI


1.1. Cơ sở lý luận………………………………………………………………...5
1.2. Cơ sở thực tiễn……………………………………………………………....5
1.2.1. Cái nôi của quan họ cũ……………………………………………………5
1.2.2. Vùng đất mới của quan họ nay……………………………………………6
CHƯƠNG 2: NHỮNG KHÍA CẠNH CƠ BẢN CỦA QUAN HỌ BẮC NINH
2.1. Nét duyên trang phục quan họ………………………………………………8
2.2. Quan họ - một dân ca có lề luật rất chặt chẽ………………………………10
2.3. Cấu trúc giai điệu đặc biệt của Quan họ…………………………………...11
CHƯƠNG 3: VĂN HÓA QUAN HỌ TRONG XÃ HỘI HIỆN NAY- NHỮNG
VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM
3.1. Sinh hoạt văn hóa Quan họ đã biến đổi nhiều……………………………..13
3.2. Tính thương mại hóa Quan họ ngày càng tăng….…………….………......14
3.3. Sự phổ biến của Quan họ đồng thời với sự giảm chất lượng văn hóa Quan
họ………………………………………………………………………………….16
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DÂN CA QUAN
HỌ TRONG XÃ HỘI ĐƯƠNG ĐẠI
4.1. Xác định rõ chủ thể Quan họ………………………………………………17
4.2. Xây dựng kế hoạch và tích cực quan tâm đến việc truyền dạy Quan họ.….18
4.3. Củng cố xây dựng đoàn Dân ca Quan họ và nâng cao chất lượng các cuộc
hội thi, hội diễn theo định kỳ………………………………………………….......19
Phần KẾT LUẬN………………………………………………………………21
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………...22

2


Phần TỔNG QUAN
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một trong những đát nước được biết đến là nơi sở hữu kho tàng
văn hóa vơ cùng phong phú, đặc sắc mang đậm dấu ấn bản sắc dân tộc Việt. Điều

đặc biệt đã góp phần tơ điểm thêm màu sắc rực rỡ cho bức tranh văn hóa Việt
Nam, đó chính là các di sản văn hóa nổi tiếng được UNESCO cơng nhận trên khắp
thế giới. Trong đó nổi bật nhất là văn hóa Quan họ Bắc Ninh với những làn điệu
độc đáo in được dấu ấn sâu đậm với những ai đã từng nghe qua, tựa như:
“Người ơi người ở đừng về
Người về em vẫn khóc thầm
Đơi bên vạt áo ướt đầm như mưa
Người ơi người ở đừng về
Người về em vẫn trông theo,
Trông nước nước chảy, trông bèo bèo trôi
Người đi người ở đừng về
Người về em nhắn tái hồi
Yêu em xin chờ đừng ngồi với ai”
(Người ở đừng về, Xuân Tú)
Quan họ như một làn điệu hội tụ “khí chất” của rất nhiều dân ca. Cái trong
sáng, rộn ràng của chèo. Cái thổn thức, mặn mà của hát dặm. Cái khoan nhịp, sâu
lắng của ca trù. Cái khỏe khoắn, hồn nhiên của dân ca Nam Bộ. Nhưng trên hết,
Quan họ mang “khí chất” của chính Quan họ, là hồn xứ sở Quan họ, là đặc sản tinh
thần của Kinh Bắc – Bắc Ninh. Dân ca Quan họ quả là một tài sản vô giá của dân
tốc Việt Nam, nó cần được ni dưỡng, gìn giữ và lưu truyền cho các thế hệ mai
sau.
Nhận thức được tầm ảnh hưởng và nét đẹp độc đáo đó, tơi đã chọn đề tài
“Quan họ Bắc Ninh, làn điệu dân ca độc đáo và khí chất” là đề tài tiểu luận
cuối kỳ mơn Văn hóa dân gian của mình.
2. Mục đích nghiên cứu

3


Tìm hiểu rõ hơn về các khía cạnh giúp cho mọi người thấy được nét đặc sắc

và độc đáo của Quan họ Bắc Ninh và từ đó đưa ra các phương pháp phát huy và
bảo tồn di sản văn hóa dân tộc.
3. Đối tượng nghiên cứu
Di sản văn hóa quan họ Bắc Ninh.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các yêu cầu đặt ra với chủ đề, việc nghiên cứu được tiến
hành dựa trên:
- Phương pháp tìm kiếm và chọn lọc tài liệu thông qua sách, báo để làm rõ
mục tiêu nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích để nghiên cứu một cách tổng quát tìm ra được bản
chất vốn có của các vấn đề cần tìm hiểu.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu thông tin với các hoạt động thực tiến.
- Hệ thống và sắp xếp các tài liệu theo chủ đề và đơn vị kiến thức để nội
dung của bài tiểu luận dễ nhận viết và nghiên cứu.
5. Dự kiến những kết quả sau khi nghiên cứu
- Góp phần nhận diện một cách khá toàn diện về Quan họ trong bối cạnh xã
hội truyền thống và hiện nay.
- Góp phần khẳng định Quan họ là “báu vật” của quốc gia.
- Việc chỉ ra xu thế biến đổi của quan họ trong giai đoạn hiện nay và đưa ra
các giải pháp giúp các nhà quản lí văn hóa có thể tìm ra được những chinh sách
hợp lý nhằm thúc đẩy việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa quan họ đạt kết quả tốt
hơn trong tương lai.

4


Phần NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
Dân ca Quan họ Bắc Ninh là một hình thức hát giao duyên giữa các liền anh

liền chị. Đây là một trong những làn điệu dân ca tiêu biểu của vùng đất châu thổ
sông Hồng.
Những liền anh trong trang phục truyền thống khăn xếp, áo the và những
liền chị duyên dáng trong bộ áo mớ ba, mớ bảy, đầu đội nón thúng quai thao, cùng
nhau hát đối những câu ca mộc mạc, đằm thắm, cách hát theo lối truyền thống
không cần nhạc đệm mà vẫn đầy chất nhạc, thể hiện nét văn hóa tinh tế của người
hát Quan họ.
Theo giáo sư Vũ Ngọc Khánh và Phạm Minh Thảo, trong “Kho tàng diễn
xướng dân gian Việt Nam”, có thể chia hát Quan họ thành những dạng sau:
- Hát quan họ ở hội, còn gọi là hát Hội.
- Hát quan họ ở đám, còn gọi là hát Mừng.
- Hát quan họ ở cửa đình, cửa đền, còn gọi là hát Thờ cát Hầu.
- Hát quan họ tại nhà giữa hai nhóm quan họ trai gái mời nhau, còn gọi là
hát Canh.
Trong các dạng hát quan họ kể trên, hát Hội và hát Canh là hai hình thức hát
quan họ nổi bật có giá trị văn hóa cao.
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Cái nôi của Quan họ cũ
Cho đến nay, tuy có nhiều cơng trình nghiên cứu kỹ lưỡng về Quan họ,
nhưng chúng ta vẫn chưa xác định được nguồn gốc của nó. Có rất nhiều quan điểm
nói về nguồn gốc của quan họ, chúng ta có thể điểm qua vài điểm như sau:
Ý nghĩa của từ “quan họ” thường được tách thánh hai từ rồi lý giải nghĩa đen
về mặt từ nguyên của “quan” và “họ”. Điều này dẫn đến những kiến giải về Quan
họ xuất phát từ “âm nhạc cung đình”, hay gắn với sự tích một ơng quan khi đi qua
vùng Kinh Bắc đã ngây ngất bởi tiếng hát của liền anh liền chị ở đó và đã dừng
5


bước để thưởng thức (“họ”). Tuy nhiên cách lý giải này đã bỏ qua những thành tố
của không gian sinh hoạt văn hóa quan họ như hình thức sinh hoạt (nghi thức các

phường kết họ khiến anh hai, chị hai suốt đời chỉ là bạn, không thể kết duyên thành
vợ chồng), diễn xướng, cách thức tổ chức và giao lưu, lối dử dụng từ ngữ đối nhau
về nghĩa và thanh điệu trong sinh hoạt văn hóa đối đáp dân gian.
Một số quan điểm lại cho rằng Quan họ bắt nguồn từ những nghi lễ tôn giáo
mang yếu tố phồn thực chứ khơng phải Quan họ có nguồn gốc từ âm nhạc cung
đình. Hoặc có quan điểm nhận đinh diễn tiến của hình thức sinh hoạt văn hóa
“Quan họ” bắt nguồn từ nghi lễ tơn giáo dân gian cung đình rồi trở lại với dân
gian.
Nhận định khác dựa trên phân tích ngữ nghĩa từ ngữ trong các làn điệu và
không gian diễn xướng lại cho rằng Quan họ là “quan hệ” của một nhóm những
người yêu quan họ ở vùng Kinh Bắc.
Còn nhiều quan điểm khác, nhưng cái chung của đa số các quan điểm đó là
lối hát đối đáp giữa hai họ, hai làng, hai đối tượng. Về thời điểm phát sinh của
quan họ cũng có khác nhau như: thời Thượng cổ, thời Lý, thời Trần, thời Lê,…
Song chúng ta cũng nhận thấy rằng đa số Quan họ được hát với tính chất lễ nghi
trong các dịp tế lễ ở đình làng, miếu, chùa, mừng thọ, khao lão… Dần dần, tính
chất trữ tình được tăng cường đã trả nó về cuộc sống đời thường để trở thành một
lối sinh hoạt rộng rãi trên nhiều địa điểm khác nhau: trong nhà, trên đồi, trên
sơng… Trong đó, Quan họ cũng dựa vào những dịp ngày hội cúng tế, nhưng đó chỉ
là cái dịp mà người ta tổ chức hát giao duyên chứ khơng phải với nội dung nghi lễ.
Vì thế mà trong đời sống dân Kinh Bắc có rất nhiều lễ hội hát Quan họ như: “Hội
Lim”, “Hội Ớ”, “Hội Hiếu ở Lăng Nhai – Tam Sơn”, “Hội trên thuyền ở Bùi”…
1.2.2 Vùng đất mới của quan họ nay
Không chỉ là lối hát giao duyên giữa “liền anh” và “liền chị”, Quan họ ngày
nay cịn là hình thức trao đổi tình cảm giữa liền anh, liền chị với khán giả và được
tồn tại trong cả không gian cũ và mới. Quan họ mới được biểu diễn trên sân khấu,

6



trong các sinh hoạt cộng đồng Tết đầu xuân, lễ hội, hoạt động du lịch và vươn ra ở
nhiều nơi, đến với nhiều thính giả ở các quốc gia trên thế giới.

H 1: Lớp quan họ mới
Nguồn: />Cùng với hình thức biểu diễn phong phú hơn như hát đơn, hát đơi, hát tốp,
hát có múa phụ họa..., Quan họ mới cải biên các bài truyền thống với lời mới được
nhiều người yêu thích tới mức tưởng nhầm là Quan họ truyền thống như bài “Sông
Cầu nước chảy lơ thơ” do Mai Khanh soạn lời mới từ làn điệu truyền thống “Nhất
quế nhị lan”, hay như bài “Người ơi người ở đừng về” nhạc sỹ Xuân Tứ được cải
biên câu Quan họ cổ “Chng vàng gác cửa tam quan”. Ngồi ra, có thể kể ra
những cái tên tiêu biểu như: Nghệ nhân Nguyễn Đức Sôi, các nhạc sĩ Hồng Thao,
Dân Huyền, Đức Miêng…với những bài ca quan họ lời mới được đông đảo quần
chúng mến mộ.
Khác với Quan họ cổ chủ yếu biểu diễn vào dịp lễ hội xuân ở các làng quê,
Quan họ nay có thể ca hát ở bất cứ thời gian nào, không gian nào, người ca hát
Quan họ không phải chỉ là quần chúng không chuyên mà bao gồm cả đội ngũ
những nghệ sỹ chuyên nghiệp. Thực tế, đoàn Dân ca Quan họ Bắc Ninh nay là Nhà
hát Dân ca Quan họ Bắc Ninh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ sưu tầm, nghiên cứu, gìn
giữ và phát triển dân ca Quan họ. Đến nay, từ 44 làng quan họ gốc, tỉnh Bắc
Ninh đã nhân lên thành 329 làng quan họ mới.
7


H 2: Biểu diễn Quan họ trên sân khấu hiện nay
Nguồn: />Song song tồn tại với Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Dân ca
Quan họ tại Bắc Ninh thì tại Bắc Giang, nơi có 5 làng quan họ gốc ở huyện Việt
Yên, khi được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới phi vật thể, tỉnh Bắc
Giang đã xây dựng Chương trình hành động để bảo tồn và chú trọng tập trung cho
việc truyền dạy dân ca Quan họ tại các làng xã. Đặc biệt vào năm 2014, Trung tâm
Văn hóa Quan họ truyền thống khu vực Bắc Giang đã được thành lập.

CHƯƠNG 2: NHỮNG KHÍA CẠNH CƠ BẢN CỦA QUAN HỌ BẮC
NINH
2.1 Nét duyên trang phục Quan họ
Trong văn hoa xứ sở Kinh Bắc – Bắc Ninh, sự sang trọng, tao nhã của trang
phục Quan họ không chỉ tôn vinh sự thanh lịch của liền anh, vẻ dun dáng của
liền chị, mà cịn góp phần tô điểm thêm những giá trị đặc sắc của dân ca Quan họ Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
Với liền anh, trang phục gồm một cặp áo dài, trong là gấm trắng hoặc gấm
vàng in hoa văn hình chữ thọ, ngồi là áo the đen, dưới mặc quần trắng, đầu đội
khăn xếp đen, chân đi giầy Gia Định, tay cầm ô Lục Soạn tạo vẻ lịch lãm. Liền chị
với áo dài ba lớp lồng vào nhau (gọi là áo mớ ba), lớp trong màu xanh lá mạ, lớp
giữa màu đỏ hồng hay màu hoa hiên, màu cánh sen; áo ngoài là lớp the đen mỏng
phủ lên màu hồng đỏ tạo thành màu nâu cánh gián. Trong ba lớp áo thấp thoáng lộ

8


ra cái cổ yếm đào, hai dải yếm buộc sau gáy, vắt qua vai kết hợp với khăn vấn
nhung, khăn đen mỏ quạ đội đầu, chít khéo thành hình búp hoa sen. Thêm một
“phụ kiện” không thể thiếu là hai cái thắt lưng thắt khéo tạo hình cánh hoa trước
bụng. Liền chị chân đi đôi dép cong, đeo thêm đôi xà tích, vai mang nón ba tầm,
tất cả hịa quện với nhau, tạo nên nét văn hoá y phục riêng của vùng Kinh Bắc.
Chiếc khăn vấn đầu của liền chị quấn đằng trước to, đằng sau nhỏ lại, khi
đội lên tạo khuôn mặt trái xoan và khi đội thêm khăn vng mỏ quạ sẽ tạo hình
khn mặt búp sen. Với liền anh, khăn xếp có thể xếp 7 hoặc 9 theo luật âm
dương, chiều cao phù hợp để khi đội, khuôn mặt liền anh trông thanh tú và sang
trọng. Chất liệu tạo nên nét thanh tao của trang phục Quan họ chủ yếu bằng the, lụa
tơ tằm Hà Đông, váy may bằng vải Lĩnh tía hoặc sa tanh đen, khăn vuông mỏ quạ
từ vải Láng đen hoặc Chéo go.
Ngày nay, trang phục Quan họ được cải tiến hoàn thiện hơn cả về thẩm mỹ,
chất liệu và kiểu dáng. Chủng loại vải may phong phú, đa dạng và nhiều màu sắc

hơn. Khổ vải rộng nên không phải chắp 4 mảnh như xưa, chỉ còn vạt trước, vạt sau
cùng một vạt con bên trong, bỏ đi đường can sống lưng sau và đường can giữa thân
trước để chiếc áo mềm mại và thanh thoát hơn. Đặc biệt, việc cách điệu sáng tạo
cái “lá lật” trước ngực bằng màu xanh lá mạ tạo cảm giác cho người nhìn vẫn
tưởng như áo ba lớp. Cái “lá lật” màu xanh chính là thay cho chiếc áo xanh bên
trong, giữa vẫn là áo màu đỏ cánh sen, bên ngoài là lớp the đen tạo gam màu cánh
gián. Riêng “lá lật” màu xanh trước ngực kết hợp màu đỏ thẫm của cổ yếm tạo
điểm nhấn nổi bật trong bộ trang phục của liền chị.
Liền anh liền chị với bộ trang phục giàu tính thẩm mỹ đã góp phần làm nên
những chương trình, tiết mục nghệ thuật truyền thống đặc sắc, mang đậm sắc thái
vùng quê Kinh Bắc. “Dân ca Quan họ và phục trang Quan họ gắn kết như hình với
bóng bởi cái hay của giai điệu, lời ca thiết tha nghĩa tình cùng trang phục duyên
dáng, nền nã hồn quê đã tạo nên nét đẹp của văn hóa Quan họ trường tồn với thời
gian.” (1)

9


H 3: Độc đáo trang phục quan họ
Nguồn: />2.2 Quan họ - một dân ca có lề luật rất chặt chẽ
Không nghiên cứu quan họ, người ta dễ nghĩ quan họ là hát giao dun.
Thực ra khơng chỉ có thế, cùng với giao duyên, tại các làng quan họ còn có hát
trong tang lễ, hát cúng hồn người chết, hát cầu mưa, cầu may, cầu phúc, cầu dân an
vật thịnh, hát khi cưới xin, khao lão,… như nhiều loại dân ca nghi lễ hoặc dân ca
hội hè, giao duyên khác. Tuy nhiên, so với các lối hát dân ca khác như xoan ghẹo
Phú Thọ, ví phường vải Nghệ Tĩnh, giậm Hà Nam,…“khó có lối hát nào mà lề luật
hát lại đầy đủ, tươm tất và chặt chẽ như hát quan họ” (2). Trong các loại hát trên,
có loại có điểm hát cố định thì lề lối hát, trang phục hát, các chặng hát lại không
chặt chẽ (hát chèo tàu Hà Tây, hát xoan ghẹo Phú Thọ), có loại có lề lối hát khá
chặt chẽ nhưng địa điểm hát lại lỏng lẻo (ví phường vải Nghệ Tĩnh), có loại lại khá

tự do khơng có lề luật gì rõ ràng (đúm Hải Phòng, trống quân Vĩnh Phúc). Hát
quan họ với các loại trên thì có lề luật đầy đủ hơn.
Hát quan họ có địa điểm hát khá là cụ thể, có thể là hát trong nhà và hát ở
chùa, hát trên đồi Lim và hát trên thuyền. Các điểm hát sẽ chi phối phần nào nội
dung của bài ca.
Hát quan họ có lề lối hát rõ ràng: đối đáp nam- nữ, đối giọng, đối lời và đối
hát đôi nam - nữ. Đối nam - nữ bao giờ nữ cũng được hát trước một bài, sau đó bên
nam đối lại, cứ thế kéo dài đến hết canh hát (nếu là canh thi thì bên nào không đối
được tức là bên ấy bị thua). Khi đối phải tuân thủ trước tiên là đối giọng, tức là bên
10


nữ hát có làn điệu âm nhạc nào, thì bên nam phải đối giọng theo làn điệu âm nhạc
ấy. Còn đối lời, khác với đối giọng ở chỗ, đối giọng thuộc linh vực âm nhạc, còn
đối lời thuộc lĩnh vực đối thơ ca. Ví dụ, nếu bên hát trước ra một lời ca nào (một
bài hát hay một đoạn thơ) thì bên đối sau cũng phải sử dụng cả làn điệu âm nhạc
như thế nhưng lời ca phải khác, nhưng vẫn thể hiện được việc đối có tình, có ý lại
với bên vừa đối. Hát đối nam nữ, đối cả giọng lẫn lời được coi là đối đáp hoàn
chỉnh. Hát đối Quan họ thường thể hiện ở bậc cao vì âm nhạc và lời đều đòi hỏi sự
sáng tạo và nâng cao dần của người hát đối về vốn âm nhạc, thơ ca, trình độ sáng
tạo và kỹ năng, nghệ thuật hát.
Một cuộc hát có thể kéo dài tới mấy ngày hoặc chỉ diễn ra tầm nửa buổi hay
một ngày, nhưng đã cuộc hát thì phải có ba chặng chính: Gặp gỡ - Se kết - Giã bạn.
Mỗi chặng chính lại có một số chặng nhỏ. Ví dụ như, hát gặp gỡ có hát chào, hát
mừng, hát mời. Hát se kết có hát hỏi, hát đố, hát thương, hát trách,... Dù người hát
rất thân nhau thì mở đầu cuộc hát vẫn phải hát những câu làm quen, hai bên phải
ứng xử với nhau theo cách ước lệ như mới gặp nhau lần đầu vậy.
Hát lề lối ở các làng quan họ khác nhau thì cũng có những quy định khác
nhau, nhưng thơng thường cuộc hát nào cũng có năm làn điệu bắt buộc phải hát:
“hừ la, la rằng, bạn lan, cây gạo, tình tang”(3). Những làn điệu quan họ đó được

hát trong những dịp sinh hoạt quan trọng, đồng thời cũng để chứng tỏ tài nghệ của
người chơi quan họ.
Tôi xin được dẫn lại nhận định của cố nhạc sĩ Hồng Thao, một người nhiều
năm nghiên cứu và sưu tầm dân ca quan họ: “Âm nhạc dân ca quan họ đã đạt tới
đỉnh cao của nghệ thuật dân gian mà chúng tơi đã phân tích, đã tạo cho nó có một
giá trị lớn, khiến nhiều người yêu thích”. Âm nhạc vừa giữ được cái nguyên gốc,
nhưng đồng thời lại thu lượm rồi quan họ hóa khá nhiều bài bản của các vùng miền
khác. Tất cả những điều nói trên có lẽ đều là do điều kiện tự nhiên, môi trường và
con người vùng Kinh Bắc tạo nên.
2.3 Cấu trúc giai điệu đặc biệt của Quan họ

11


Quan họ cũng như bất cứ một loại hình dân ca nào cũng vậy, thường tìm cho
minh những lối đi riêng, lối diễn tả tâm tình độc đáo mà trong q trinh tồn tại và
phát triển nó vẫn ln thể hiện mình qua những nét độc đáo đó. Vì vậy ngay khi
người ta cất lên tiếng hát về một giai điệu, ta có thể nhận ra ngay nó là dân ca
Quan họ, dân ca Nghệ Tĩnh, dân ca Huế hay dân ca xoan ghẹo Phú Thọ,..
Dân ca quan họ có cấu trúc giai điệu đặc biệt. Hệ thống tiếng đệm lót trong
hát quan họ rất phong phú, nhiều tầng bậc, khi thì để mơ phỏng tiếng đàn (tính,
tình, tang, phú lí tình, ố tình…), khi thì để diễn tả tâm tình của nhân vật (rằng là, a
ối a, dậu mà…) tạo sự phù hợp vào lối chơi thanh tao, chậm rãi, đủng đỉnh của sinh
hoạt nông thôn trong dân ca quan họ. Ví dụ như câu: “Yêu nhau, cởi áo ối a cho
nhau..”, thì từ “ối a” bình thường khơng có nghĩa gì, nhưng khi đặt trong câu hát
này, ta thấy làm tăng sự duyên dáng e ấp trữ tình cho câu hát. Hiện tượng nhiều từ
đệm, từ láy trong ca từ quan họ tạo nên tính ca – ngâm của các bài hát, có thể coi
đây là một dạng dấu nối giữa làn điệu và bài bản dân ca. Hơn nữa, dân ca nói
chung, và dân ca quan họ xưa, thường được ca lên, hát lên và khơng có nhạc đệm.
Có thể là, với việc sử dụng nhiều từ đệm, từ láy là cách nâng cấp tính nhạc cho câu

hát (câu ca từ) theo hình thức vơcalidê; nói xa hơn, đây là một hình thức khí nhạc,
nhưng nhạc cụ ở đây lại là giọng người. Như vậỵ câu ca từ sẽ óng ánh, lung linh
hơn, gợi mở và lay thức người nghe nhiều hơn, nhờ đôi cánh của âm nhạc.
Quan họ cũng dùng nhiều luyến láy, các hình thức luyến láy của quan họ
gồm bốn tiêu chuẩn: vang - rền - nền - nảy, nó tạo cho câu hát quan họ những giai
điệu đặc trưng. Nếu người hát không đạt bốn tiêu chuẩn thanh âm đó thì chỉ gọi là
biết giai điệu quan họ mà chưa biết lối hát quan họ, chưa biết cái hồn của quan họ.
Sự kết hợp các yếu tố vang- rền - nền - nẩy trong bài hát Quan họ tạo ra sắc thái
âm thanh đặc trưng của bài hát Quan họ. Vì vậy một trong những cái khó của hát
Quan họ là người hát phải có được những kỹ năng điêu luyện để có thể thực hiện
kết hợp các yếu tố này.
Đã có lần, chị Thanh Ngân, một nghệ nhân quan họ nòi đã cho biết “Quan
họ đài chỉ quan tâm đến giai điệu sao cho vừa tai người nghe, khiến cho nhiều câu
12


hát trở nên vơ nghĩa mà lề lối chơi thì mất hết cả. Nghe quan họ cứ thấy í i, ấy a, i
hi, ơ là… nhưng không phải cứ tùy tiện ngân nga đâu cũng được mà phải theo lề,
theo lối. Nếu cắt sửa tùy tiện sẽ làm hỏng cách chơi…” (4). Những tiếng đệm lót
hay luyến láy ấy khiến việc diễn tả ý tình trong quan họ nói riêng, dân ca Việt Nam
nói chung chậm, bị giãn cách. Đó chinh là đặc điểm do lối sống, lối nông nghiệp
sản xuất nhỏ chi phối.
CHƯƠNG 3: VĂN HÓA QUAN HỌ XONG XÃ HỘI HIỆN NAYNHỮNG VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM.
Trong tình hình hội nhập hiện nay, khi mà các thể loại dân ca truyền thống
khơng cịn được u thích như xưa thì dân ca Quan họ Bắc Ninh là một trong số ít
những loại nghệ thuật truyền thống cịn hấp dẫn người xem, cịn có sự biết đến của
trong và ngồi nước. Đó là cơng sức cố gắng của bao con người để gìn giữ nét đặc
sắc của dân tộc, nhưng sau thời gian dài phát triển thì dân ca quan họ cũng có
nhiều sự thay đổi trong thời kì hiện nay.
3.1 Sinh hoạt văn hóa quan họ đã biến đổi nhiều

Theo như tơi tìm hiểu, các làng quan họ vẫn mở hội, nhưng hội rước, hội ăn
thì tưng bừng, cịn hội hát thì thưa thớt. Một số năm gần đây, các hội quan họ
các làng quan họ cũ, các liền anh liền chị các làng lập thành bọn đi hát đã vắng vẻ,
người hát một cách hồn nhiên chỉ có một số cụ già, trai gái chỉ đi xem chứ ít người
đi hát và biết hát, người hát một cách hồn nhiên chỉ có các cụ già. Mấy nhóm hát ở
chỗ này chỗ kia trên đồi Lim phần lớn là các liền anh, liền chị của đoàn Dân ca
quan họ Bắc Ninh và đội văn nghệ dân ca của các làng trà trộn vào để gây khơng
khí hội hè và dựng lại cảnh ca hát xưa. Dường như tư duy hiện đại và ý thức cá
nhân gia tăng đã khiến cho họ dễ “xấu hổ”, không muốn “lộ mặt”, ngay cả những
người biết hát khi tham gia hội cũng không hát. Những người hát thì khơng cịn
nhập thân với câu hát, với hoàn cảnh giao tiếp mang đậm chất quan họ cũ mà như
đang đóng vai, đóng diễn lại cảnh xưa, Tính chất tự nhiên hồn nhiên trong lời bộc
bạch, trong tình cảm chân thành dường như nhẹ bẫng, khó làm ai cảm động. Điều
đó cũng dễ hiểu, bởi thời đại mới, tư thế của con người đã khác xưa rất nhiều khiến
13


người ta khó nhập vai vào các câu hát cũ, tâm tình cũ, cịn những câu hát mới đâu
dễ ứng tác mà có ngay được. Thêm nữa, trong ngày hội Lim, nhiều người đi xem
hội mua vui không hiểu lắm về “lối chơi” quan họ truyền thống, người ta còn tổ
chức các trị chơi hiện đại như mơ tơ bay, hát nhạc trẻ, bán những đồ chơi hiện đại
chẳng liên quan gì đến tính chất hội hát truyền thống cả. Những hoạt động đó làm
méo đi lễ hội truyền thống nói chung, hội hát dân ca quan họ nói riêng.
3.2 Tính thương mại hóa Quan họ ngày càng tăng
Thực sự khó có thể có một ranh giới rõ ràng cho việc phân định sinh hoạt
quan họ thế nào được xem là “thương mại hóa” và thế nào là “xã hội hóa”. Các đợt
nghiên cứu ở Bắc Ninh cho thấy quan họ là một di sản trong số ít các di sản mà
khá nhiều những người đang thực hành nó có được thu nhập tốt. Nhu cầu mời hát
quan họ trong các sự kiện chính trị, văn hóa và cả các sinh hoạt nghi lễ, sự kiện
trong gia đình, dịng họ tại địa phương cũng như ngoài địa phương tăng cao, các

nhà hàng, quán ăn, khách sạn,…cũng thường xuyên mời các nhóm quan họ đến hát
phục vụ khách khiến cho các nghệ nhân, các câu lạc bộ hay các nhóm quan họ trở
nên bận rộn với các lịch biểu diễn. Trong các buổi biểu diễn của các câu lạc
bộ/đội/nhóm quan họ, ngoài tiền cát-sê theo thỏa thuận trước, nhiều khi các diễn
viên, nhạc cơng cịn nhận được tiền thưởng thêm từ các khán giả, nhất là khi hát ở
các nhà hàng, khách sạn, tiệc mừng, việc thưởng tiền nhiều khi là đưa thẳng cho
người hát, người đàn trong khi họ đang biểu diễn. “hát quan họ mà khơng hiểu gì
về văn hóa quan họ, chỉ là để mượn quan họ cho mục đích giải trí hay kiếm tiền.
Họ hát na ná như quan họ, ăn mặc na ná như quan họ nhưng vẫn không phải là
biểu diễn quan họ”(5). Biểu diễn trong các không gian này không phù hợp cho một
loại hình dân ca tao nhã, lịch lãm, khiến quan họ trở thành một hình thức giải trí
mang tính thương mại.
Cũng cần nhận thấy rõ rằng việc khán giả say quan họ, khi nghe những bài
hay thường thưởng tiền (dân gian gọi là thướng) cho các liền anh liền chị đã có từ
xưa như một phong tục đẹp. Khi đó quan họ ngồi hát trong không gian nhỏ hẹp của
chiếc chiếu trong một gian nhà hoặc đền, chùa, số lượng người nghe ít, cịn hiện
14


nay không gian lớn, số lượng khán giả đông, việc thướng tiền trở nên không được
đẹp khi các liền anh liền chị khi hát trên thuyền thì phải ngả nón để cho các khán
giả đặt tiền vào hoặc khi hát trên sân khấu thì phải tự tay cầm hoặc để vào trong
cơi trầu,… và điều đó đã khiến cho màu sắc thương mại hiện rõ trong các sinh hoạt
quan họ hiện nay.
Có lẽ vấn đề thương mại hóa quan họ được bàn luận nhiều hơn cả xung
quanh lễ hội quan họ nổi tiếng nhất là hội Lim diễn ra ngày 13, 14 tháng Giêng một lễ hội văn hóa tiêu biểu gắn với các sinh hoạt quan họ. Trong bài báo Du
khách tán thưởng hát mộc khơng míc đăng trên báo Văn hóa – Xã hội cho rằng
“Hát mộc trên đồi Lim quả đã tạo cảm giác thú vị cho người nghe. Người nghe
chăm chú hơn, say mê hơn. Và người hát cũng cảm thấy thú vị”. Tuy nhiên, hát
quan họ trong hội Lim hiện nay đã khơng cịn hình ảnh lãng mạn của các liền anh

liền chị mong đợi đến ngày hội để được hát với nhau nữa mà được sắp xếp trên sân
khấu lớn trên đồi gắn với lễ khai hội, mãn hội, sau đó từng câu lạc bộ quan họ
được bố trí ngồi hát trong các lán (hiện xây thành các chòi), hát trên thuyền tại các
làng xung quanh đồi Lim và hát trong các nhà chứa trong làng,… Tuy nhiên hát ở
đâu cũng gắn với các loa phóng thanh, với các nhạc cụ hiện đại, gắn với thù lao,
tiền thưởng, tiền ủng hộ,… các lán, chòi được sắp xếp gần nhau khiến cho loa của
lán/chòi này va với loa của lán/chòi kia,… Các liền chị mời khách hát xong, khách
thưởng tiền hoặc khách cũng trả tiền khi lấy những miếng trầu cánh phượng do các
liền chị têm đặt trên khay đã tạo ra hình ảnh khơng đẹp cho sinh hoạt quan họ hoặc
việc các liền anh liền chị trong trang phục quan họ truyền thống xếp hàng để bán
đĩa nhạc, đĩa hình, sách tập hợp các bài hát quan họ với giá cao hay dịch vụ cho
thuê trang phục quan họ còn lộn xộn. Các sân khấu quan họ, các lán/chòi hát quan
họ trong hội Lim được đặt giữa không gian bị bao vây bởi rất nhiều hàng quán ăn
uống tấp nập, nhiều hàng trò chơi có thưởng,… tạo nên sự xơ bồ, nhốn nháo, tính
chất thị trường,… làm mất đi khơng gian trữ tình cần thiết của dân ca quan họ
trong lễ hội Lim truyền thống.

15


Có thể nói dân ca quan họ hiện nay đã từ hát chơi chuyển sang hát biểu diễn,
từ việc gặp nhau để hát, để vui bầu vui bạn chuyển sang hát dịch vụ, từ sinh hoạt
quan họ tao nhã chuyển sang sinh hoạt quan họ thị trường,… đã khiến cho màu sắc
thương mại trở nên rõ nét và có khơng ít những hình ảnh phản cảm diễn ra gây bức
xúc và lo lắng cho những người yêu quan họ.
3.3. Sự phổ biến quan họ đồng thời với sự giảm chất lượng văn hóa
quan họ
Đây là một mâu thuẫn thực tế đang diễn ra hàng ngày. Văn hóa quan họ
đang bị thu hẹp phạm vi tồn tại và lưu truyền. Bởi trong bản thân các làng quan họ
đang hiếm dần các nghệ nhân xưa, làng cũng không lưu giữ được quan họ gốc. Lối

chơi quan họ với hình thức trang nhã, quy định chặt chẽ đã mất dần với nhu cầu
thưởng thức thẩm mĩ đương đại đã biến đổi so với trước. Tại một số làng quan họ
đang có hình thức truyền nghề cho lớp trẻ yêu ca hát nhằm giữ lại nếp cũ. Song
thực ra lớp trẻ chỉ may ra giữ được cách hát chứ không học được lối chơi quan họ.
Những chương trình quan họ trên truyền hình cũng chỉ là dựng lại, mô phỏng lối
chơi quan họ chứ khơng mang được hơi thở, khơng khí của văn hóa quan họ,thứ
văn hóa như đã ngấm vào máu thịt của bao thế hệ tiền nhân
Trong thực tế hiện nay, chỉ có đồn Dân ca quan họ Bắc Ninh là cịn giữ
được tương đối nhiều làn điệu quan họ cổ mặc dù đã để rơi rớt mất nhiều làn điệu,
họ đồng thời giữ được dáng vẻ sinh hoạt văn hóa quan họ từ cách tổ chức, cách
hát, trang phục, đến diễn xuất. Tuy nhiên, nếu quan họ chỉ để người quan họ hát thì
loại hình này khơng mang tính chất mở, hơn nữa cũng khơng thể cấm những người
u thích quan họ hát. Nhưng nếu mơ phịng quan họ theo cách người người hát
quan họ, chỗ nào cũng có thể hát quan họ mà khơng tìm cách giữ lại cái thần của
quan họ thì diện phổ biến của quan họ càng rộng hơn sẽ càng nhanh chóng giết
chết văn hóa quan họ truyền thống. Bởi nếu phổ biến quan họ không đúng cách sẽ
đồng nghĩa với sự suy giảm chất lượng văn hóa quan họ, sẽ làm loại hình văn hóa
này trở nên méo mó. Nếu khơng may, thế hệ các nghệ nhân truyền thống mất cả thì
chúng ta chỉ cịn thứ giả quan họ mà khơng cịn văn hóa quan họ. Vậy làm thế nào
16


để vừa bảo tồn văn hóa quan họ, vừa cơng chúng hóa loại hình quan họ vừa độc
đáo vừa hấp dẫn này?
Ngày 30 và 31 - 7 - 2005, tại Hà Nội đã tổ chức chung kết Liên hoan tiếng
hát dân ca Việt Nam. Cuộc liên hoan được báo Hà Nội mới ngày 5 – 8 - 2005 nhận
xét: “Chưa bao giờ hồn xưa nhạc Việt có dịp phơ diễn một bộ mặt phong phú, đa
sắc với nhiều cung bậc tình cảm, làn điệu như thế và khẳng định: “Giữa lúc vốn
dân ca đang cạn dần, đang mất dần theo sự ra đi của các nghệ nhân già, liên hoan
tiếng hát dân ca Việt Nam thực sự là một chương trình hữu ích nhằm khơi phục

vốn văn hóa mà cha ông bao đời nay để lại”. Đó là sự ghi nhận cố gắng của ngành
văn hóa nhằm nhắc nhở và tơn vinh văn hóa nghệ thuật truyền thống của đất nước
trong xã hội đương đại.
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁT BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DÂN
CA QUAN HỌ TRONG XÃ HỘI ĐƯƠNG ĐẠI
4.1 Xác định rõ chủ thể Quan họ
Trước tiên, ta cần xác định rõ chủ thể của Quan họ là người dân vùng xứ
Kinh Bắc. Trong suốt chiều dài lịch sử, người lao động nơi đây đã gắn chặt với đời
sống làng xã và văn minh nông nghiệp để sinh tồn. Làng là một địa bàn tồn tại lâu
dài, là khơng gian văn hóa có ý nghĩa rất quan trọng đối với đời sống con người,
quy định nhân cách con người. Ở đây, cuộc sống luôn đặt ra cho họ những nhu cầu
vật chất và tinh thần. Do đó, chính họ vừa là người sáng tạo, ni dưỡng, gìn giữ,
vừa là người trao truyền những giá trị văn hóa, trong đó có quan họ cho đời sau.
Vùng Bắc Ninh - Kinh Bắc hiện nay còn lưu giữ trong trí nhớ của người dân về sự
tích, truyền thuyết và huyền thoại về quan họ như làng Bịu (Tiên Du), Châm Khê
(Yên Phong), Viêm Xá,… Mỗi làng một vẻ, một câu chuyện về nguồn gốc xuất xứ
của quan họ. “Nhưng có thể nói, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong văn hóa quan họ là
tình người, bởi lề lối trong hát quan họ là hướng tới con người vào một cuộc sống
có đạo đức, sống biết khát khao vươn tới những hành vi cao đẹp, những chuẩn mực
văn hóa trong mối quan hệ của con người”(6). Phải chăng đây là tình u nam nữ,
tình vợ chồng, tình làng nghĩa xóm, là thể hiện ứng xử giữa lớp người già với trẻ,
17


người trước với lớp người sau vì cái nhẽ phải ở đời, trên nền tảng nghĩa nặng ân
sâu, chung thủy như nhất. Ở đây, thông qua hoạt động ca hát quan họ cịn thể hiện
sự bình đẳng xã hội, vì đến với quan họ là đến với thế giới tình bạn, tình yêu, để
“sum họp trúc mai”, “bốn bể một nhà”, “tình trong một khắc, nghĩa dài trăm năm”
trong một sinh hoạt ca hát lề lối và chứa chan tình người. Rõ ràng chủ nhân sáng
tạo nên văn hóa quan họ là con người lao động, họ cần phải được xác định rõ công

lao để xứng đáng được đề cao và tôn vinh, nhất là các thế hệ nghệ nhân cao tuổi
dày công với ca hát quan họ. Mặt khác, cũng cần phải nhận thức đầy đủ hơn nữa
trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đồn thể, cũng như mỗi người dân
đối với sự nghiệp bảo tồn văn hóa quan họ. Trong đó, trước hết cán bộ ngành Văn
hóa – Thơng tin phải được qn triệt sâu sắc nội dung, nghệ thuật, giá trị của văn
hóa quan họ, đồng thời tích cực tun truyền quảng bá và hồn thành một cách tốt
nhất nhiệm vụ được giao.
4.2 Xây dựng kế hoạch và tích cực quan tâm đến việc truyền dạy quan
họ
Một thực tế hiện nay, quan họ đang có nhiều biến đổi, nội dung cải biên khá
phong phú, kể cả lời ca và lề lối hát; đặc biệt quan họ cổ đang có xu hướng ngày
càng được ít người biết đến. Ngay trong các làng quan họ gốc chỉ cịn một số ít
nghệ nhân cao tuổi (từ 60 đến 80 tuổi) là hát được theo tiêu chuẩn cũ. Hoặc trong
nhiều gia đình, ơng bà hát theo lối cổ, cịn con cháu hát theo lối mới cải biên. Quan
họ cổ truyền vốn chân chất, hát bộ, khơng đệm đàn, cịn ca mới tiết tấu nhanh hơn,
lời ca có sự thay đổi, đồng thời có nhạc đệm làm cho lời ca thêm bay bổng, réo rắt,
nhẹ nhàng, mượt mà, phù hợp với thị hiếu, tâm lí và nhịp sống của giới trẻ. Thực tế
như vậy, cần phải tổ chức lại thành những lớp học để các nghệ nhân lớp trước
truyền lại. Đây là phương pháp tốt nhất để quan họ được giữ mãi trong lòng mọi
người. Tuy nhiên, khi mở lớp cần đặt ra yêu cầu cho phù hợp với đối tượng và tình
hình kinh tế - xã hội trên địa bàn cụ thể. Ở đây cần phải thấy rằng, lớp nghệ nhân
già truyền lại cho con cháu không chỉ đơn thuần là tiếng hát mà qua đó, trao truyền
cả tình cảm, gửi gắm niềm tin và hoài bão cho thế hệ sau. Mặt khác phải quan tâm
18


đào tạo trước hết ở các làng quan họ gốc, phát huy các loại hình câu lạc bộ hiện có,
phát huy xã hội hóa các nguồn lực về kinh phí để lớp học đạt hiệu quả cao. Đối với
người chỉ dạy, hướng dẫn chơi quan họ phải tỉ mỉ, chu đáo, chỉ rõ từng chi tiết lối
chơi, cách “đặt câu, bẻ giọng”, từng bài hát như các cụ xưa. Bởi vì, hát quan họ lối

chơi chính là một trong ba lĩnh vực rất cơ bản của quan họ (gồm: hát quan họ - lối
chơi quan họ - phong tục tập quán quan họ). Nếu ví một buổi chơi quan họ như
một buổi biểu diễn thì người hát là diễn viên, cịn lối chơi chính là kịch bản của
buổi biểu diễn đó. Dân ca quan họ có rất nhiêu lối chơi, cho nên khi dạy lối chơi
phải đảm bảo chính xác theo truyền thống của lối chơi đó hoặc phải tìm ra phương
pháp riêng, phải truyền dạy những điều cơ bản, xác định rõ phần gốc trước rồi trên
cơ sở đó mới phát triển theo. Trước đây, khi học hát quan họ tuổi từ 15 – 17 đến
ngoài 20 mới gọi là nhập môn, tiếp tục học, đến khi đủ năng lực mới được sang
làng khác để hát đối, đua trí đua tài. Lối chơi quan họ cổ truyền vô cùng phong phú
và sâu sắc. Do đó hiện nay nhu cầu cải biên hay sáng tác một bài hát quan họ mới
cũng là cần thiết, nhưng nếu trên âm hưởng đó để vận dụng lối chơi mà mẹo mực
xưa cùng với nhiều nhạc đệm thì tiếng hát quan họ càng hấp dẫn hơn và sẽ thu hút
nhiều đối tượng đến lớp.
4.3 Củng cố xây dựng đoàn dân ca quan họ và nâng cao chất lượng các
cuộc hội thi, hội diễn theo định kỳ
Xây dựng đoàn dân ca quan họ trở thành đoàn nghệ thuật tiêu biểu về nghệ
thuật ca hát quan họ, những năm tới phấn đấu phải có lớp diễn viên trẻ, qua đào
tạo, đội ngũ nhạc công tài năng, chun sâu nhạc cu dân tộc. Đồn phải có trang
thiết bị đầy đủ, cần cho công tác biểu diễn, giới thiệu phục vụ công chúng, giao lưu
nghệ thuật trong và ngoài nước. Theo hướng nâng cấp đoàn Dân ca quan họ thành
nhà hát quan họ, lớp diễn viên cao tuổi luân chuyển thay thế dần bằng lớp trẻ, củng
cố khoa Quan họ của trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật, hàng năm đào tạo có
chất lượng và đủ số lượng để cung cấp cho đoàn và một phần nhu cầu của xã hội.
Tuy nhiên, đoàn Dân ca quan họ chú ý nâng cao chất lượng nghệ thuật hơn nữa,
một mặt xây dựng chương trình mới hàng năm, mặt khác có kế hoạch đi thực tập
19


thực tế xuống các làng quan họ gốc để gần gũi, học tập các nghệ nhân, tiếp tục bổ
sung và nâng cao vốn cổ.

Tổ chức các hoạt động hàng năm cần thận trọng khai thác tiếp thu phần lễ
truyền thống một cách hợp lí, kế thừa nội dung tinh túy nhất, khơng nhất thiết tái
hiện tồn bộ diễn trình như lễ hội xưa, đồng thời chăm lo các hoạt động hát quan
họ, tiếp đón bạn tại gia đình, trong các nhà văn hóa thơn, xóm và cùng với việc tổ
chức những trò chơi dân gian và hoạt động thể thao.
Khai thác hoạt động lễ hội, hát quan họ theo hướng kết hợp với thương mai,
du lịch, thành lập các “tour” du lịch ngắn giới thiệu văn hóa quan họ, văn hóa Bắc
Ninh, làng nghề truyền thống, ẩm thực tiêu biểu ở mỗi vùng quê.
Hàng năm tập trung chỉ đạo, tổ chức và quản lý hội Lim trở thành một lễ hội
hoành tráng, tiêu biểu của tỉnh Bắc Ninh hiện nay. Xây dựng quy hoạch đồi Lim và
không gian xung quanh thật hợp lí đảm bảo cho lễ hội ngày càng thu hút đông đảo
khách thập phương và những hoạt động với quy mô lớn. Hát quan họ là linh hồn lễ
hội Lim, cần phải giữ gìn theo chuẩn mực văn hóa quan họ. Chỉ có như vậy hội
Lim mới ấn tượng mãi trong tâm hồn, tình cảm du khách.

20


Phần KẾT LUẬN
Chúng ta đang sống trong một thời đại mang tính phát triển cao với nhiều
thuận lợi nhưng cũng khơng ít thử thách cho cơng tác bảo tồn và phát huy các giá
trị văn hóa phi vật thể trên tồn thế giới nói chung, ở Việt Nam nói riêng. Rất
nhiều các giá trị văn hóa truyền thống đang đứng trước nguy cơ bị biến dạng/ bị
mai một. Chính vì vậy, việc nhanh chóng bảo tồn một cách khoa học, hệ thống ở
tầm nhìn chiến lược đang là vấn đề nóng bỏng, là cơ sở cho sự phát triển của văn
hóa truyền thống trong xã hội đương đại và tương lai.
Quan họ là một tổng thể tổng hợp thành từ nhiều yếu tố văn hóa và nghệ
thuật dân gian xứ Bắc. Tiếng hát dân ca quan họ còn tồn tại đến ngày nay đã chứng
tỏ sức sống mãnh liệt và nét đẹp dun dáng của nó. Trong tiến trình phát triển lịch
sử, quan họ đi liền với những bước thăng trầm trong đời sống xã hội là điều hiển

nhiên. Để tiếp tục khẳng định giá trị to lớn, đề cao, tơn vinh văn hóa quan họ, cần
phải khơng ngừng nâng cao nhận thức và hiểu biết, xác định trách nhiệm và nhiệm
vụ cụ thể đối với mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi người bằng nội dung và bước đi phù
hợp trong việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy để văn hóa quan họ mãi tỏa sáng cho
tới mai sau.
Để kết thúc bài này, tôi muốn mượn lời Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng
để diễn tả nỗi nhớ tiếc của mình về một khơng gian quan họ đã xa: “Cịn gì cảm
động bằng lúc chiều tà, trên đồi Lim, bóng cây đã ngả màu, từng hàng trai gái dần
dần bước xuống núi, vừa đi vừa hát bài chia tay: Người ơi người ở đừng về. Những
miếng trầu trao tay, những khóe mắt nhìn mắt, những tà áo the thâm, những dải
yếm màu cá vàng bay theo theo gió, tất cả cảnh vật, con người, tiếng hát ấy đã vẽ
nên một bức tranh q mộc mạc, giản dị nhưng rất tình tứ, nó cũng còn hòa hợp
với thiên nhiên, đồng ruộng, gây cho thanh niên nam nữ trẩy hội một mối lạc quan,
yêu đời và hy vọng vào ngày hội năm sau lại họp mặt ở đây để vui chơi và hát
những câu mà họ đã tự nghĩ ra trong khi gặp gỡ.”(7)
21


TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) Nguyễn Thị Huế (2006), Dân ca quan họ và vùng văn hóa Kinh Bắc.Viện
văn hóa thơng tin – Sở VHTT Bắc Ninh
(2) Nguyễn Thị Bích Hà (2006),Văn hóa quan họ trong xã hơi đương đại. Viện
văn hóa thơng tin – Sở VHTT Bắc Ninh
(3) Lưu Hữu Phước, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Viêm, Tú Ngọc (1961),
Dân ca quan họ Bắc Ninh. Nhà xuất bản Văn học.
(4) Bài Ngồi tựa… câu hát. Báo Hà Nội mới, ngày 9-7-2005
(5) Nhiều tác giả(2006), Khơng gian văn hóa quan họ Bắc Ninh bảo tồn và phát
huy. Viện văn hóa thơng tin – Sở VHTT Bắc Ninh
(6) Nguyễn Bá Hòe (2006), Tiếp tục bảo tồn và phát huy giá trị sinh hoạt trong
ca hát quan họ. Viện văn hóa thơng tin – Sở VHTT Bắc Ninh

(7) Tiên Đàm Nguyễn Phượng Tường (1974), Về hát quan họ in trong sách Hà
Bắc ngàn năm văn hiến. Ty Văn hóa Hà Bắc.
(8) Minh Hường, Nét duyên trang phục quan họ Bắc Ninh.
/>(9) Ngô Văn Trụ, Lề lối hát quan họ.
/>(10) Lê Thư, Giữ lối chơi quan họ cổ.
/>(11) PGS.TS Nguyễn Thị Phương Châm, Viện Nghiên cứu Văn hóa, một số vấn
đề đặt ra với thực hành quan họ Bắc Ninh hiện nay.
/>(12) Đồng Thúy, “Hiến kế’

22


/>
23



×