Tải bản đầy đủ (.pdf) (28 trang)

CON TRÂU QUA GÓC NHÌN VĂN HÓA DÂN GIAN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.72 MB, 28 trang )

*
*

*

ĐỀ TÀI:

CON TRÂU QUA GĨC NHÌN VĂN HĨA DÂN GIAN


Mục lục
Phần TỔNG QUAN
1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………………trang 3
2. Mục đích nghiên cứu đề tài………………………………………………trang 3
3. Đối tượng nghiên cứu…………………………………………………….trang 4
4. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………trang 4
5. Dự kiến những kết quả sau khi nghiên cứu………………………………trang 4

Phần NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn………………..……………………trang 5
Chương 2: Con trâu trong 12 con giáp……………………………………trang 6
Khái quát văn hóa dân gian về 12 con giáp….………………………………trang 6
Chương 3: Con trâu trong đời sống văn hóa người Việt
3.1 Trâu trong đời sống sinh hoạt…………………………………………. trang 8
3.2 Hình tượng trâu……………………………………………………..….trang 10
3.3 Trâu trong đời sống tâm linh người Việt………………………………trang 14
3.4 Lễ hội Chọi trâu…………………………………………………….… trang 17
3.5 Một số thành ngữ, tục ngữ, ca dao dân ca liên quan …………………..trang 19
Phần TỔNG KẾT…………………………………………………………trang 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………..trang 26


2


Phần TỔNG QUAN
1/ Lý do chọn đề tài
Từ xa xưa, con trâu đã là người bạn thân thiết, gắn bó gần gũi với người nông dân.
Bước chân đến mỗi cánh đồng hay thơn xóm, bản làng Việt Nam, hình ảnh con
trâu hiện ra thân thuộc như một dấu ấn báo hiệu xứ sở quê hương, dân tộc.
Ông cha ta thường nói: “Con trâu là đầu cơ nghiệp”, qua đó cho thấy được trâu có
vị trí quan trọng trong cuộc sống của mình.

2/ Mục đích nghiên cứu đề tài
Có nhiều vấn đề chưa sáng tỏ về 12 con giáp, ở đây xin trình bày khái quát một số
vấn đề gần gũi về một trong mười hai con giáp - con Trâu (Sửu). Nghiên cứu về

3


con trâu qua góc nhìn văn hóa dân gian với mong muốn đưa ra cái nhìn rõ hơn về
con giáp này, ý nghĩa hình tượng trâu trong đời sống văn hóa người Việt.
3/ Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là con trâu qua góc nhìn văn hóa dân gian.
4/ Phương pháp nghiên cứu
-

Vận dụng phương pháp hệ thống, phân tích, nghiên cứu, tổng hợp thơng tin, lý

thuyết.
-


Dựa trên kiến thức liên ngành các ngành Văn hóa học, Xã hội học, Ngôn ngữ

học, Văn học, Nhân học, Sinh học.
-

Tìm kiếm tài liệu, tham khảo sách báo, chọn lọc các nguồn thông tin từ

internet.
5/ Dự kiến những kết quả sau khi nghiên cứu
Bổ sung kiến thức, hiểu thêm đơi nét về con trâu trong văn hóa dân gian Việt
Nam.

4


Phần NỘI DUNG
Chương I: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Văn hóa
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng
tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con
người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.
1.1.2 Văn hố dân gian
Văn hố dân gian dịch từ thuật ngữ folklore.
Nguyên nghĩa tiếng Anh: folk: dân gian, lore: trí tuệ. Folklore: trí tuệ dân gian.
Về sau folklore có trường nghĩa rộng hơn.
1.1.3 Hệ lịch Can Chi và 12 con giáp
Theo lịch Can Chi, một giáp là 12 năm, một hoa giáp là 60 năm hay còn gọi là một
hội.
Người xưa đã quan sát tổng kết được chu kỳ tuần hoàn của một số thiên thể gần

trong vũ trụ mà đặt ra lịch. Bằng cách kết hợp Thiên Can, Địa Chi, người Trung
Quốc đã sáng tạo ra lịch Can Chi. Thiên Can có Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ,
Canh, Tân, Nhâm, Quý
1.1.4 Con trâu
Hình tượng con trâu phổ biến trong văn hóa phương Đơng và gắn bó với cuộc
sống người dân ở vùng Đông Nam Á và Nam Á, đặc biệt là trong văn hóa Việt
Nam.
Trong văn hóa phương Đơng, trâu là một trong 12 con giáp gọi là (Sửu) ở vị trí
thứ 2, đồng thời là gia súc đứng đầu lục súc (gồm trâu, chó, ngựa, dê, gà, lợn), trâu
có vai trị cực kỳ quan trọng trong nông nghiệp lúa nước.
1.2 Phạm vi khảo sát:
Con trâu qua các khía cạnh tiêu biểu của đời sống văn hóa người Việt.

5


Chương 2: Con trâu trong 12 con giáp
2.1 Địa chi (12 con giáp)
Theo từ điển trích dẫn, “Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Vị (Mùi), Thân, Dậu,
Tuất, Hợi”: 子, 丑, 寅, 卯, 辰, 巳, 午, 未, 申, 酉, 戌, 亥 gọi là mười hai
chi, cũng gọi là mười hai “địa chi” 地支. Người xưa phối hợp “thập nhị địa chi”

十二地支 với “thập thiên can” 十天干 để tính năm tháng ngày giờ.
Theo từ điển Nguyễn Quốc Hùng, “địa chi” tức Thập nhị chi, dùng để tính năm
tháng ngày giờ gồm Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất,
Hợi.
2.2 Con giáp Sửu
- Sửu là một trong số 12 chi của Địa chi, được coi là địa chi thứ hai. Đứng trước
nó là Tý, đứng sau nó là Dần.
Tháng Sửu trong nông lịch là tháng chạp âm lịch (quen đọc là tháng mười hai).

“Thời nhà Ân tháng này là tháng khởi đầu (chánh nguyệt) của năm.
+ Về thời gian thì giờ Sửu tương ứng với khoảng thời gian từ 01:00 tới 03:00
trong 24 giờ mỗi ngày.
+ Về phương hướng thì Sửu chỉ hướng bắc đơng bắc.
Theo Ngũ hành thì Sửu tương ứng với Thổ, theo thuyết Âm-Dương thì Sửu là Âm.
Sửu mang ý nghĩa là cong mềm, chỉ trạng thái phôi mầm hạt giống thực vật đã dài
và cong trong khoảng thời gian này tại các vĩ độ ôn đới thấp và nhiệt đới (khoảng
cuối mùa đông theo quan điểm của người Á Đông).” (Wikipedia)
2.3 Mối quan hệ giữa lịch Can Chi và 12 con giáp với năm sinh (năm tuổi)
Mối quan hệ giữa lịch Can Chi và mười hai con giáp với năm sinh (năm tuổi)
của con người được xác lập bởi cách ghi tuổi của con người như một chu kì có
quan hệ qua lại. Nhưng ở đây nổi bật là mối quan hệ giữa con người và con vật
theo phương pháp phỏng sinh học – vật tương đồng; mặt khác, nó cịn chứa đựng
một ý nghĩa mang tính thần bí gắn với đời sống tâm linh của con người.
“Mỗi con người cụ thể sinh vào một giờ, ngày, tháng, năm nhất định. Và điều đó
gắn với tên gọi giờ, ngày, tháng, năm và được quy chiếu sáng mười hai con giáp
của giờ, ngày, tháng, năm.” (Phạm Thanh Tịnh, 2013:21)
6


Theo phương pháp biểu trưng hóa, con vật trở thành “tượng” của con người với
những tính cách, những mong muốn, cả những số phận của từng con người gắn
với tượng “con vật”.
“Theo nhiều nhà nghiên cứu, có thể biểu tượng mười hai con giáp cịn bảo lưu
trong nó dấu vết mờ nhạt của Totem giáo hay sự sùng bái và thờ cúng vật tổ (động
vật hay thực vật) để làm thần hộ mệnh cho cộng đồng. Do đó, mười hai con giáp
còn mang ý nghĩa tâm linh là vật thiêng mang số phận của từng người. Mối quan
hệ này vô cùng phức tạp vì nó liên quan tới Kinh Dịch, tử vi, tướng số - một lĩnh
vực khó dùng những cứ liệu khoa học để chứng minh nhưng lại là lĩnh vực mà mọi
người đều quan tâm.” (Phạm Thanh Tịnh, 2013:22)

Ngồi những đặc tính của mỗi con vật mà các dân tộc tìm thấy điểm tương đồng
với tính cách con người như trâu thì lao động cật lực, to lớn khỏe mạnh, gà thì
chăm bới kiếm ăn, đúng giờ thúc giục mọi vật dậy; lợn thì ăn no lười biếng…
“Người ta còn tin rằng khi cầm tinh một con vật nào đó thì con người đã được
gắn với một số phận nhất định. Đó có lẽ là đức tin mạnh mẽ nhất, hấp dẫn nhất
mỗi con người muốn biết cuộc đời mình ra sao, và trên lĩnh vực này, người ta
dùng bói tốn, cầu xin thần thánh; để được an thân và đó cũng là chỗ hở để cho
hiện tượng mê tín dị đoan xen vào.” (Phạm Thanh Tịnh, 2013:22)
Khi nghiên cứu tâm thức của một cộng đồng tộc người nào đó, gán cho một con
vật một hệ giá trị nào đó, chúng ta phải coi con vật là một biểu tượng và giải mã
tâm thức qua hệ thống biểu tượng mười hai con giáp. Dù rằng văn hóa mười hai
con giáp của Việt Nam, Nhật Bản hay Hàn Quốc, đều vay mượn của Trung Hoa,
nhưng mỗi dân tộc lại cải biến nó theo tâm thức của mình. Vì thế, tên gọi, cách
tính tuổi tuy giống nhau, nhưng cái khác nhau lại nằm trong hệ giá trị mà mỗi dân
tộc gán cho mười hai con vật theo sự lựa chọn phù hợp với tâm thức của mình. Vì
vậy, muốn giải mã mười hai con giáp theo tâm thức của người Việt Nam thì phải
so sánh nó với cái gốc vay mượn – Trung Hoa – để tìm thấy độ khúc xạ trong văn
hóa người Việt, cũng như người Nhật, người Hàn Quốc…

7


Chương 3: Con trâu trong đời sống văn hóa người Việt
3.1 Trâu trong đời sống sinh hoạt

Hình ảnh trâu ra đồng cùng người nơng dân
Nguồn: />
Bao đời nay, hình ảnh con trâu đã trở nên gắn bó với người nơng dân Việt Nam.
Trâu Việt Nam là trâu rừng thuần hóa, thuộc nhóm trâu đầm lầy và thường sống ở
miền khí hậu nhiệt đới. Thân hình vạm vỡ nhưng thấp, ngắn, bụng to, da dày màu

xám đen nhưng vẫn tạo cảm giác mượt bởi bên ngồi được phủ một lớp lơng mềm.
Điều đặc biệt ở trâu mà không thể không nhắc đến đó là trâu thuộc họ nhai lại.
Quanh năm suốt tháng, trâu cùng người chăm lo việc đồng áng vì vậy
người nông dân coi trâu như người bạn thân thiết nhất của mình. Trâu to khỏe,
vạm vỡ lại chăm chỉ cần cù chịu thương chịu khó nên thường gánh vác những
công việc nặng nhọc của nhà nông. Từ sáng sớm tinh mơ, khi mặt trời còn ngái
ngủ, trâu đã cùng người ở “trên đồng cạn” rồi lại xuống “dưới đồng sâu”, cho đến
khi ông mặt trời mệt mỏi sau một ngày làm việc, chuẩn bị đi ngủ trâu vẫn miệt

8


mài bên luống cày. Nhựa sống căng tràn trong từng bước đi vững chắc nhưng
chậm chạp của trâu.
Trâu là nguồn cung cấp sức kéo quan trọng. “Lực kéo trung bình của trâu
trên đồng ruộng là 70 - 75kg, tương đương 0,36 - 0,1 mã lực. Trâu loại A một
ngày cày được 3 - 4 sào Bắc Bộ, loại B khoảng 2 - 3 sào và loại C khoảng 1,5- 2
sào. Trâu còn được dùng để kéo đồ, chở hàng. Trên đường xấu, trâu có thể kéo
với tải trọng là 400 - 500 kg, đường tốt là 700 - 800 kg, cịn trên đường nhựa với
bánh xe hơi thì tải trọng có thể lên đến 1 tấn. Trên đường đồi núi, trâu kéo từ 0,5
– 1m khối gỗ trên quãng đường 3 - 5km. Khỏe như vậy nhưng bữa ăn của trâu rất
giản dị, chỉ là rơm hoặc cỏ.”
(Tác giả, Thuyết minh về con trâu ở làng quê Việt Nam,
l#ixzz6bHiJq2
Qr)
Trâu cũng là một trong những nguồn cung cấp thực phẩm cho con người. Thịt trâu
có hàm lượng đạm khá cao, hàm lượng chất béo thấp. Sữa trâu có tính năng cao
trong việc cung cấp chất đạm, chất béo. Da trâu làm mặt trống, làm giày. Sừng
trâu làm đồ mỹ nghệ như lược, tù và,...


Hình ảnh con trâu kéo lúa cịn giữ lại nét văn hóa nơng nghiệp ở Nam bộ
9


Nguồn:
/>p-o-nam-bo-20190317145420708.htm
Cảnh sắc thường thấy trong môi trường sinh thái - nhân văn Việt Nam là cảnh:
“Trên đồng cạn, dưới đồng sâu
Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa!”
Trâu kéo cày dưới thung đồng. Trâu kéo gỗ trên ngàn, kéo lết khơng cần xe
bánh… “Những đồn xe trâu đi trên đường thượng đạo Trường Sơn, từ Quảng
Bình tới Quảng Nam, đã được Lê Qúy Đôn (thế kỷ XVIII) mô tả kỹ lưỡng trong
Kiến văn tiểu lục… Và thảng hoặc, trâu còn được dùng trong chiến trận. Đinh Bộ
Lĩnh và bầy trẻ mục đồng trong thung lũng Hoa Lư cưỡi trâu, rước cờ lau tập trận.
Lê Đại Hành lùa trâu cùng quân sĩ đứng dày đặc trên hai bờ sơng Hồng Long để
đón và dọa dẫm sứ thần nhà Tống. Trâu được cho uống rượu say và lùa xô vào
húc phá đội hình qn địch. Và trâu cịn được buộc mồi lửa sau đuôi, lùa sang
trại giặc trong nhiều trận hỏa công… Trâu Việt Nam đã cùng người đánh Tàu,
đánh Pháp, đánh Mỹ…”(Phạm Thanh Tịnh, 2013:80)
3.2 Hình tượng trâu
Trong mười hai con vật chỉ thời gian, Trâu là con vật to nhất và cũng là con
khỏe nhất. Trâu là con vật cần cù, chịu khó, được con người ca tụng nhiều nhất.
Trâu gắn bó lâu đời với con người, con trâu đã đi vào trong nghi lễ văn hóa
dân gian một cách sâu sắc và rộng khắp. Ở một đất nước nông nghiệp thì khơng
thiếu lễ hội gắn liền với trâu. Thời Lý Trần, triều đình làm lễ “tịch điền”, vua thân
chinh làm lễ tế Thần Nông và cày ruộng tịch điền. Trâu cày ruộng tịch điền phải là
trâu đực được nuôi cẩn thận và chay tịnh. “Hôm làm lễ, trâu được tắm rửa sạch sẽ,
tẩy uế và mặc áo gấm, chẳng hạn lễ Tiến xuân ngưu (dâng trâu mùa xuân) thời
xưa. Ở các lễ hội khác như lễ tấn phong nguyên soái cho Trịnh Tạc, lễ kỵ ở Thái
miếu nhà Lê, nhà Trịnh, nhà Nguyễn, thậm chí lễ cưới cơng chúa,… không thể

thiếu được lễ vật là con trâu.” (Phạm Thanh Tịnh, 2013:78)
10


Cùng với cây lúa nước, trâu cũng gắn liền với nền văn minh lúa nước Việt
Nam và cả Đông Nam Á. Trâu đã trở thành linh vật của SEA Game 22 năm 2003,
hình tượng trâu vàng đã từng là biểu tượng của thể thao Việt Nam. Hình ảnh con
Trâu kéo cày trên ruộng đồng trồng lúa, hay con trâu đứng nằm gặm nhai cỏ trên
bãi cỏ, cùng đầm mình trong vũng ao hồ nước là hình ảnh quen thuộc, gợi lên cảm
gíac thị vị thanh bình vùng miền q Việt Nam. Con trâu là hình ảnh của bản chất
hiền lành, cần cù của con người Việt, biểu tượng cho sức khỏe lực điền. Trong tri
thức về loài vật của người Việt thì tri thức về con trâu là có sớm nhất và đầy đủ
nhất. Hình ảnh con trâu được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống tinh
thần từ hàng ngàn năm qua.

Nguồn: Pinterest
Người Việt có Tết trâu là tục cổ truyền ở nhiều vùng nông thôn nước ta như vùng
Hoằng Hóa, Nga Sơn (Thanh Hóa), Vĩnh Linh (Quảng Trị), Hà Nam, Nam Định,
Ninh Bình, Hải Dương, Hưng Yên, v.v… “Con trâu được dán bùa trước trán để
“trừ tà yêu quái”, người ta cúng “thần chuồng”, cho trâu ăn cỏ, chọn ngày tốt dắt
trâu thưởng xuân, ướm vào cây để lấy may.” (Phạm Thanh Tịnh, 2013:78)
Đặc biệt là tục chọi trâu hiện còn được lưu giữ và tiến hành hàng năm ở Đồ Sơn
(Hải Phòng) để cầu mong mưa thuận gió hịa. Bên cạnh đó, một trong những ý
11


nghĩa của chọi trâu là biểu hiện tinh thần thượng võ của người Việt. Cũng như
người Việt, các dân tộc ít người cũng có nhiều lễ hội liên quan đến trâu như tục
cúng trâu của người Sán Chay, lễ đâm trâu của người Tây Nguyên, lễ ăn trâu của
người Gier, lễ tục đánh trống bắn trâu của người Xơ-đăng, lễ rước bị trâu của

người Khmer Nam Bộ, v.v…
Trâu là lồi sinh vật thích nghi với hệ sinh thái đầm lầy - ấm - ẩm, vốn sinh sống
thành bầy, có thủ lĩnh đầu đàn. Quanh đầm lầy là rừng tốt tươi cỏ dại, lúa dại trâu
ăn. Trâu rừng đầm lầy là rừng tốt tươi cỏ dại, lúa dại trâu ăn. Trâu rừng (Bubalus
bubalis), tổ tiên của các loại trâu nhà, vốn sinh sống ở vùng đầm lầy Đông Nam Á
nhiệt đới - gió mùa - thấp ẩm. Cách đây khơng lâu, trâu rừng còn tồn tại khá phổ
biến ở miền Trung nước ta. Trâu rừng nhìn chung giống trâu nhà nhưng có vóc
sừng rộng và dài hơn, chúng di động nhanh và nhẹ nhàng hơn trâu nhà, trong đàn
trâu rừng cũng có những con “bạch biến”, gọi là trâu trắng, như hiện tượng thường
thấy ở trâu nhà…
“Giới cổ sinh và khảo cổ học Việt Nam đã tìm thấy hóa thạch lồi trâu trong các
hang động Thẩm Khuyên, Phai Vệ, Kéo Lèng (Lạng Sơn), Hang Hùm (Hồng Liên
Sơn), Thẩm Ịm (Nghệ Tĩnh)… cách ngày nay trên dưới vài chục vạn năm: người
tối cổ Lạng Sơn, người cổ Hnag Hùm đã săn bắt trâu rừng cùng các lồi voi, đười
ươi, lợn vịi, gấu mèo, khỉ, vượn… mà sinh sống.” (Phạm Thanh Tịnh, 2013:77)
Muộn hơn nữa, trong các hang động chứa đựng di tích văn hóa Hịa Bình - Bắc
Sơn, cách ngày nay trên dưới một vạn năm, bên cạnh hóa thạch một số hạt cây
trồng, người ta cũng tìm thấy xương trâu bị (Bovinae).
“Đến cuối thời đá mới, cách ngày nay 5000-6000 năm cùng với sự ra đời của
nghề nông trồng lúa ở các thung lũng chân núi và đồng bằng ven biển, con trâu
đã được thuần phục và thuần dưỡng. Xương trâu bị nhà đã được giới khảo cổ học
tìm thấy phổ biến trong các di chỉ đá mới và đồng thau ở Tràng Kênh (Hải Phịng),
Tiên Hội, Đình Chàng (Hà Nội), Đồng Đậu (Vĩnh Phú) và nhiều nơi khác. Đầm
lầy, môi trường sinh thái của loài trâu, cũng là quê hương của lồi lúa. Con trâu
và cây lúa gắn bó với nhau, từ thời hoang dại cũng như từ lúc được con người
thuần dưỡng, như một câu thành ngữ Thái.
12


“Nhinh chăm trai, quai chăm cả” (Gái gần trai, trâu gần mạ)

Đàn bà, từ thực tiễn hái lúa dại ở đầm lầy đã tiến lên trồng lúa. Đàn ông, từ thực
tiễn săn bắt trâu rừng đã tiến tới việc nuôi trâu. Háo - hình thức bẫy săn để bắt
trâu rừng - đã biến thành hao, hàng rào ruộng lúa.” (Phạm Thanh Tịnh, 2013:77)
Thoạt tiên, người ta bắt trâu ăn thịt, sau được thuần dưỡng, cũng để ăn thịt và làm
vật hiến sinh trong nghi lễ nơng nghiệp hội mùa. Hình ảnh hội đâm trâu của người
Việt cổ còn được khắc chạm trên trống đồng và vẫn còn sống động trong lễ hội
mùa Xuân miền không gian xã hội Bana, trên cao nguyên đất đỏ miền Tây Nam
Tổ quốc. “Rồi trâu được sử dụng cùng với người vào việc giẫm nát cỏ, sục bùn
trong ruộng để sửa soạn đất đai trồng lúa. Lề lối canh tác mà sách cổ gọi là “thủy
nậu” (cày bằng nước, đưa nước và ruộng rồi lùa trâu xuống giẫm cỏ, sục bùn) này,
cho tới trước sau Cách mạng mùa Thu vẫn từng phổ biến trong các thung lũng
Thái - Mường, miền Tây Bắc.
“Huyền thoại về người Khổng Lồ - Thần Nông, Ải Lậc Cậc (Thái Đen), Sái Hịa
(Thái Trắng), Táng Ngạo (Tày Khao ở Hà Tuyên), thân cao hơn núi, vành tai to
bằng dăm ba chiếc quạt thóc, đã vỡ vạc bốn cánh đồng lớn Mường Thanh (Điện
Biên), Mường Lò (Nghĩa Lộ), Mường Tấc (Phù Yên), Mường Than (Than Uyên)
và thung lũng Mường Phạ (Vị Xuyên)… rất nổi tiếng. Vị thần nông Tày - Thái cổ
khổng lồ này đã biết nuôi trâu để kéo cày, biết ăn xôi đồ bằng gạo nếp và vẫn bắt
cá, xúc tơm tép ở các dịng sơng suối… Đó là huyền thoại của thời kì kim khí.
Hàng trăm lưỡi cày đồng các loại thuộc nền văn hóa Đơng Sơn (500 năm trước
Cơng ngun) tìm thấy ở Cổ Loa và nhiều nơi khác đã được giới khảo cổ học Việt
Nam cày thực nghiệm bằng trâu kéo trên 9 loại đồng đất khác nhau của miền châu
thổ sông Hồng…” (Phạm Thanh Tịnh, 2013:77)
Với Việt Nam, con trâu đã trở thành biểu tượng của nền văn minh lúa nước:
“Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Từ đời sống thực tại, hình ảnh con trâu đã đi vào đời
sống tinh thần của người dân đất Việt, hóa thân trong những câu ca dao, tục ngữ,
trong các truyện ngụ ngôn, truyền thuyết và cả trong vẻ đẹp mộc mạc, dung dị của
làng tranh Đông Hồ.
13



Con trâu gắn bó với người dân Việt Nam, được các nghệ nhân Đông Hồ dành cho
nhiều tâm huyết. Trải qua bao đời, hình ảnh con trâu vẫn gần gũi, gắn bó, thân
thiết với người làng tranh. Từ tranh Mục đồng thổi sáo, Chăn trâu thả diều, Chọi
trâu, Cày bừa... mỗi bức một vẻ, một sắc nhưng thể hiện sinh động đời sống con
người.
Trong đó quen thuộc nhất là hai bức tranh Mục đồng thổi sáo và Thả diều.

Ảnh: Tranh dân gian Đông Hồ Mục đồng thổi sáo (trái) và Thả diều (phải)
Nguồn: />3.3 Con trâu trong đời sống tâm linh người Việt
Từ đời sống thực tại, con trâu đã đi vào lĩnh vực tinh thần, tâm linh của người
Việt chúng ta. “Tượng trâu bằng đất nung đã được giới khảo cổ tìm trong các di
chỉ Tiên Hội, Đồng Đậu… hơn ba nghìn năm trước. Vật trang sức hình đầu trâu
bằng đá nửa q, mài nhẵn bóng, đã tìm thấy ở di chỉ Đình Chàng Hà Nội, cũng
có tuổi trên dưới ba nghìn năm.” (Phạm Thanh Tịnh, 2013:77) Trịn 15 bộ lạc hợp
thành nước Văn Lang của các vua Hùng có hẳn một bộ lạc mang tên Trâu (Câu
Lậu, Hưng Yên). “Giữa đêm trường Bắc thuộc, sách Giao Châu ký (thế kỉ III) ghi
14


lại hình ảnh trẻ mục đồng Việt Nam véo von thổi sáo trên lưng trâu trên đường
thơn, ngõ xóm. Con trâu hiện diện trong tranh dân gian và điêu khắc gỗ đình làng
thế kỷ XVII-XVIII.
Hình sừng trâu gợi lên hình ảnh Trăng lưỡi liềm và được dùng làm biểu tượng của
Trăng. “Một huyền thoại của miền ven biển Việt Nam được ghi lại từ thế kỷ VI
trong sách Thủy kinh chú chép rằng: “Huyện Câu Lậu ở Giao Chỉ có giống tiềm
thủy ngưu (trâu ở ngầm đáy nước) chúng thường lên bờ chọi nhau, bao giờ sừng
mềm ra lại nhảy xuống nước, sừng trâu sẽ cứng lại rồi chúng lại lên bờ chọi nhau
tiếp.”. (Phạm Thanh Tịnh, 2013:77) Đó là dấu hiệu của giống trâu nước liên quan
về thời tiết. Sách Công dư tiệp ký người Gia Lộc (Hải Dương) có viết: “Một hơm

đi trên bờ biển thấy hai con trâu nước chọi nhau. Ơng dùng địn gánh phang, trâu
lặn xuống nước mất tích. Thấy trên địn gánh cịn dính vài sợi lơng trâu, ơng nuốt
vào bụng, từ đó ơng có tài bơi lặn, đi lại dưới nước như trên cạn!”
Huyền thoại trâu nước là huyền thoại về Trăng và thủy triều, rất phổ biến cùng với
tục thờ Trăng thờ Trâu vùng ven biển Tây Thái Bình Dương. Ngày hội Trăng mùa
thu ở vùng ven biển Đồ Sơn (Hải Dương) còn giữ tục lệ thi chọi trâu - tục lệ ấy là
tàn dư xa xôi của lễ hội thờ Trăng. “Chọi trâu là biểu tượng của xung lực vũ trụ.
Chọi trâu hằng năm là để tái vận hàng và tiếp sức sinh sôi nguồn xung lực, sinh
lực của Trời - Đất - Con người…” (Phạm Thanh Tịnh, 2013:77)
Như vậy đó, ta thấy được vai trò quan trọng của con trâu trong nền văn hóa Việt
Nam và Đơng Nam Á cổ truyền. Chính vì vậy mà nó đi vào năm - tháng - ngày giờ của lịch 12 con vật.
Ta nói về sự tích sơng Kim Ngưu. Hà Nội có sơng Kim Ngưu (Trâu Vàng) vốn
xưa là một nhánh lớn, nhánh chính của sơng Tơ Lịch, tách từ sơng Tơ ở ngã ba
Cầu Giấy - Láng, chảy qua Giảng Võ, men dưới chân đê La Thành qua Cầu Dừa
(Ô Chợ Dừa), Đồng Lầm (Kim Liên) rồi xuôi xuống Yên Duyên - Yên Sở và lại
đổ ra sông Nhị.
15


“Nhị Hà quanh Bắc sang Đông
Kim Ngưu Tô Lịch là sông bên này.”
Ba sông ấy - sông Tô là nhánh của sông Nhị, sông Kim Ngưu là nhánh của sông
Tô - giang tay nối nhau, ôm trọn nội thành Thăng Long xưa vào lịng.
“Phía Tây hồng thành Thăng Long, trong khoảng giữa sơng Tơ và sơng Nhị, có
hồ nước lớn, ngày xưa bao hàm cả Hồ Tây, hồ Trúc Bạch và hồ Cổ Ngựa kéo một
vệt dài cho đến tận ngã ba Hàng Đậu bây giờ… ấy là hồ Mù Sương (Dâm Đàm
thời Lý Trần), tên “nôm” là Trâu Vàng và tên “chữ” là Kim Ngưu hồ.”
“Ngưu hồ dĩ biến tam triều cục
Long đỗ nhưng lưu bách chiến thành.”
(Hồ Trâu đã trải ba triều đại Lý, Trần, Lê

Thành chiến còn lưu đất Rốn Rồng)
(Phạm Thanh Tịnh, 2013:78)
Có thể nói, trong nghệ thuật tạo hình, con trâu là hình tượng quen thuộc, gần
gũi. Bên cạnh hình ảnh “cây đa, bến nước”, “con thuyền”, “dịng sơng”, bên cạnh
những ngơi chùa cổ mái cong, thấp thống sau lũy tre làng là hình ảnh con trâu
cùng mục đồng thổi sáo tạo nên vẻ đẹp thơ mộng của làng quê Việt Nam xưa.
Con trâu gắn với đời sống vật chất, tinh thần của người Việt từ hàng ngàn năm nay,
vì vậy, nó được đề cập rất nhiều trong các tác phẩm nghệ thuật, mỹ thuật. Chẳng
hạn trong tranh dân gian Đơng Hồ có bức “Trâu sen” ca ngợi cảnh thanh bình,
đầm ấm của một làng quê với hình ảnh chú mục đồng ngồi xếp bằng trịn trên lưng
thổi sáo. Hầu hết các hình tượng trâu trong tranh dân gian được diễn tả theo phong
cách tả thực, chớ không mang ý nghĩa chúc tụng đầu năm như tranh “Đại cát”,
khơng có tính bí ẩn như tranh “Lợn độc”, “Lợn đàn”, và lại càng không mang ý
nghĩa châm biếm đả kích như “Đám cưới chuột”. Ngay trong tranh dân gian Hàng
Trống, con trâu cũng chỉ là hình ảnh minh họa cho “nông”, “canh” chứ chưa khi
nào bộc lộ một ý đồ, hay một ý tưởng nào đó (tranh “Ngư tều canh mục”, “Sĩ nông
công thương”, “Canh nông chi đồ”…)

16


3.4 Lễ hội chọi trâu

Lễ hội Chọi trâu Đồ Sơn, 2019
Nguồn: Báo Công thương
/>“Dù ai buôn bán đâu đâu
Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về.
Dù ai bn bán trăm nghề
Mồng mười tháng tám thì về chọi trâu.”
Tuy tháng tám mới có chọi trâu nhưng ngày từ đầu năm (tháng hai) người ta đã cử

người đại diện cho các giáp (gọi theo đơn vị xưa của làng quê) đi chọn mua trâu ở
các chợ trâu ở Tuyên Quang, Hải Phòng, Hải Dương, Nghệ An, Thanh Hóa, Nam
Định…
Kinh nghiệm chọn trâu chọi tốt là phải nhìn tổng thể cả con trâu đặc biệt là những
điểm sau: “ức rộng, háng to, cổ cị, đi chai, đít nhót, lưng tơm bị, sừng cánh
cung”. (Vũ Văn Lâu, 2015:59)

17


Đi vào chi tiết từng bộ phận, người ta có tiêu chuẩn riêng, chọn rất kĩ với nhiều
yếu tố. Ví dụ: “về mắt cần chọn những con có đơi mắt đen có trịng đỏ. Về chân
chọn những con chân ngắn, mập, đầu gối có lơng dài như sừng trâu rừng, móng
chân trịn, chắc lẳn như móng sị.” (Vũ Văn Lâu, 2015:59)
“Sau khi đã mua được trâu, các giáp tổ chức nuôi dưỡng và huấn luyện rất kỹ
càng. Đặc biệt không cho trâu chọi nhìn thấy trâu cày tốt để phục hồi tính hoang
dã của trâu. Sau một thời gian, sức khỏe của trâu đã tăng, các giáp bắt đầu huấn
luyện cho trâu chọi thử bằng cách mua một con trâu khác đưa ra cho trâu chọi
tập đánh từng miếng. Đấu trường được bố trí trống chiêng, cờ quạt hị reo như
thật để kích động trâu chọi lao vào trận đấu và tự quen với môi trường đông
người để khi đấu thật khơng cịn biết bỡ ngỡ và sợ sệt là gì.” (Vũ Văn Lâu,
2015:59)
Trước khi thi đấu, người ta tổ chức tế thần, sau đó dẫn trâu ra đấu trường gọi là
xới chọi. Đó là một bãi đất rộng khoảng trên 2 vạn mét vuông bằng phẳng.
“Theo luật, người ta tổ chức đấu loại, cuối cùng chọn được hai địch thủ cao
cường nhất vào “chọi” nhau trước sự chứng kiến của hàng ngàn người.
Khi hai trâu địch thủ đã được dẫn ra xới chọi, người ta nhanh tay rút xeo trâu ra
và chạy khỏi vòng đấu.”
Thoạt đầu, hai con trâu đứng yên trong giây lát rồi bất thần lồng lên phi đến nhau
như hai mũi tên. Hai cặp sừng sập vào nhau mạnh đến nỗi rung cả trời đất. Trâu

giùn nhau, đốc hết sức đẩy lùi đối phương rồi lừa miếng, quật lộn, luôn áp sát
không rời. Bụi đất tung mù mịt như có trái phá.
Có những cặp đơi gắng sức kéo dài vào giờ đồng hồ. Cũng có những cặp đấu kết
thúc chóng vánh bởi một trong hai đối thủ bị toác đầu, vội vàng tháo chạy, nhưng
bị đối phương không buông tha tiếp tục rượt đuổi và đánh thêm những miếng địn
hóc hiểm, làm cho đối phương quỵ hồn tồn mới thơi…
Ai đã từng xem chọi trâu mới cảm nhận được sức mạnh của “trâu điên”, hiểu thêm
sâu sắc về tinh thần thượng võ của nền văn minh lúa nước.

18


3.5 Một số thành ngữ, tục ngữ, ca dao dân ca

Nguồn:
/>Hình tượng con trâu đã đi vào trong thơ ca, xuất hiện trong những câu tục ngữ,
thành ngữ, những câu ca dao, bài hát đồng dao của các em nhỏ, trở thành nguồn
cảm hứng để các tác giả sáng tác nên những bài hát về con trâu.
3.5.1 Thành ngữ tục ngữ
- Béo như trâu trương: Béo quá mức, như con trâu chết trương phình ra.
- Chia đàn xẻ nghé: Chia rẽ, phá vỡ khối đồn kết, tình cảm.
- Chín đụn mười trâu: Lắm thóc lúa, nhiều trâu bị.
- Chết trâu cịn thêm mẻ rìu: Đã thiệt hại mặt này cịn tốn kém mặt khác, chưa hết
nạn nọ đã đến nạn kia.
- Cọc đi tìm trâu: Chuyện ngược đời, trái lẽ thường tình.
- Con trâu đi trước cái cày theo sau: 1. Nghề nông truyền thống Việt Nam; 2. Quy
luật tất yếu.
- Con trâu là đầu cơ nghiệp: Con trâu là tài sản quan trọng của người nông dân, là
công cụ cần thiết của nghề nơng (khi chưa có phương tiện cơ giới).
- Đàn gảy tai trâu: 1. Không biết tiếp thu, thưởng thức nghệ thuật; 2. Làm những

điều vơ ích.
- Đầu trâu mặt ngựa: Hạng người lưu manh, ngang ngược và hung hãn.
19


- Đi năm sông bảy suối về hết lỗ chân trâu / Sông sâu không chết, chết vũng trâu
đầm: Một người có khả năng, có kinh nghiệm sống mà phải chịu thất bại trong
một hồn cảnh khơng đáng. (To cut one's throat with feather / An unfortunate man
would be drowned in a tea cup)
- Khỏe như trâu: Rất khỏe.
- Lạc đường nắm đi chó, lạc ngõ nắm đi trâu: Chó và trâu rất nhớ đường về.
- Làm ruộng không trâu, làm giàu không vợ: Tầm quan trọng của con trâu đối với
nghề nơng và vai trị của người vợ trong gia đình.
- Làm rể chớ xáo thịt trâu, làm dâu chớ đồ xôi lại: Lời răn người làm dâu, làm rể
những việc khơng nên thực hiện (xáo thịt trâu thì hay dai và đồ xơi lại thì khơng
dẻo, khơng ngon được).
- Làm kiếp trâu ăn cỏ, làm kiếp chó ăn dơ: Lời than phiền của kẻ bần cùng, khốn
khổ, không thấy được hướng tiến lên.
- Lấm như trâu đầm: Lấm bẩn như con trâu vừa đầm mình dưới bùn lên.
- Mua trâu bán chả: Bn bán, làm ăn thiếu tính toán, thường bị thua lỗ, thất thiệt.
- Muỗi đốt sừng trâu: Không ăn thua, không tác dụng, tốn công vô ích.
- Mười bảy bẻ gãy sừng trâu: Tuổi mới lớn rất khoẻ và hăng hái.
- Nhịn thuốc mua trâu, nhịn trầu mua ruộng. (Take care of the pence and the
pounces will take care of themselves).
- Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã: Những kẻ xấu thì thường hay tìm đến những kẻ xấu
khác, để cùng giao du hay mưu đồ làm những việc mờ ám, xấu xa.
- Tiếc thịt trâu toi: Tiếc cái không đáng tiếc (toi: dịch bệnh).
- Tiền rợ quá tiền trâu: Chi phí phụ lại tốn kém hơn chi phí chính, như tiền mua
dây thừng lại nhiều hơn tiền mua trâu.
- Tham bong bóng, bỏ bọng trâu: Tham lợi nhỏ, bỏ lợi lớn; làm ăn manh mún,

thiếu tính tốn, khơng biết nhìn xa trơng rộng.
- Thân trâu trâu lo, thân bị bị liệu: Ai có phận sự của người nấy.
- Trăm trâu cũng một công chăn: Khen người biết thu xếp cơng việc, mất ít cơng
sức mà hiệu quả cao.
- Trâu béo kéo trâu gầy: Bù trừ nhau.
20


- Trâu ở đồng nào ăn cỏ đồng ấy: Tư tưởng, lối sống cục bộ, địa phương.
- Trâu cày ghét trâu buộc / Trâu buộc ghét trâu ăn: Gièm pha, ganh tỵ, ghen ghét
người có tài năng, thành tích hoặc hưởng quyền lợi, được ưu ái hơn mình.
- Trâu vào, mạ ra: Cày xong thì cấy ngay.
- Trâu bị húc nhau, ruồi muỗi chết: Những người trên, người có quyền thế tranh
giành lợi ích với nhau thì những kẻ dưới, kẻ phụ thuộc bị vạ lây, thiệt lây.
- Trâu thịt thì gầy, trâu cày thì béo: 1. Con trâu cày được người nơng dân chăm sóc
chu đáo hơn vì nó là công cụ sản xuất quan trọng; 2. Đối tượng khơng phù hợp với
mục đích, nhu cầu.
- Trâu bị được ngày phá đỗ, con cháu được ngày giỗ ông: Được dịp tha hồ ăn
uống no say.
- Trâu tìm cọc, cọc chẳng tìm trâu: Khi cần người ta thì mình phải tự mình đến tận
nơi để nhờ cậy, chứ đừng mong người ta tìm tới với mình.
- Ruộng sâu trâu nái: Cảnh giàu có, sung túc ở nơng thơn.
- Ruộng sâu trâu nái khơng bằng con gái đầu lịng: Con gái đầu lịng đỡ đần, đảm
đang, gánh vác được nhiều cơng việc, giúp đỡ bố mẹ.

"Lạc nhà nắm đi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu" - Nguồn: Wikipedia
21


3.5.2 Ca dao dân ca

Trâu ơi ta bảo trâu này,
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây, trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ ngọn lúa cịn bơng
Thì cịn ngọn cỏ ngồi đồng trâu ăn.
*
Rủ nhau đi cấy, đi cày
Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu
Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa.
*
Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà
Cả ba việc ấy đều là khó thay.
*
Trâu năm sáu tuổi còn nhanh
Bò năm sáu tuổi đã tranh về già
Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà
Trong ba việc ấy thật là khó thay.
*
Con kiến mày kiện củ khoai,
Mày chê tao khó lấy ai cho giàu
Nhà tao chín đụn, mười trâu
Lại thêm ao cá bắc cầu rửa chân.
*
Thằng bờm có cái quạt mo
Phú ơng xin đổi ba bị, chín trâu.
*
Bước sang tháng sáu giá chân,
22



Tháng một nằm trần bức đổ mồ hôi
Con chuột kéo cày lồi lồi
Con trâu bóc gạo vào ngồi trong cong.
*
Trai thì cày ruộng khiển trâu
Gái thì phải biết bổ cau têm trầu.
*
Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta
Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm.
*
Ðàn đâu mà gảy tai trâu
Ðạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi
*
Trâu buộc thì ghét trâu ăn,
Quan võ thì ghét quan văn dài quần.
*
Trâu kia kén cỏ bờ ao,
Anh kia khơng vợ đời nào có con.
*
Ơng Giăng mà lấy bà Sao,
Đến mai có cưới cho tao miếng giầu.
Có cưới thì cưới con trâu,
Chớ cưới con nghé nàng dâu không về.
*
Con kiến mày kiện củ khoai,
Mày chê tao khó lấy ai cho giầu.
Nhà tao chín đụn mười trâu,
Lại thêm ao cá bắt cầu rửa chân.

*
Đời vua Thái Tổ - Thái Tông
23


Lúa mọc đầy đồng trâu chẳng buồn ăn.
*
Mất trâu mất ruộng không màng
Mất cây cuốc mục ra làng kiện thưa
*
Trâu bò ở với nhau lâu quen chuồng quen chỏi
Người ở với nhau lâu, inh ỏi đủ điều.
*
Chăn trâu chả biết mặt trâu
Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm.
*
Hút sách là chuyện chẳng lành
Trâu bị vườn ruộng hố thành khói mây.
*
Công anh chăn nghé bấy lâu
Bây giờ nghé lớn, con trâu ai cày?
*
Cưới em phải cưới trâu to
Rượu ngon chín hũ, ba vị rượu tăm.
*
Hỡi cơ cắt cỏ đồng màu
Chăn trâu cho béo, làm giàu cho ta
Giàu thì chia bảy chia ba
Phận em là gái được là bao nhiêu?
*

Anh về bán gốc cây da
Bán cặp trâu già, mới được cưới em.
*
Chàng sang nhà thiếp ăn trầu
Chàng về chàng mổ mấy trâu mặc chàng.
24


25


×