----------
ĐỀ TÀI: NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN VÀ ĐỦ ĐỂ XÂY
DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
PHÙ HỢP VỚI ĐẠO LÝ NGƯỜI BÌNH DÂN VIỆT NAM
MỤC LỤC
Phần TỔNG QUAN......................................................................................................................... 1
1/ Lý do chọn đề tài ...................................................................................................................... 1
2/ Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài ............................................................................ 1
2.1 Mục đích nghiên cứu ........................................................................................................ 1
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................................ 1
3/ Đối tượng nghiên cứu ............................................................................................................. 2
4/ Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................................... 2
5/ Dự kiến những kết quả sau khi nghiên cứu ....................................................................... 2
Phần NỘI DUNG ............................................................................................................................. 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN HÌNH THÀNH NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN ................................................................................................................................. 3
1.1 Sơ lược lịch sử tư tưởng về nhà nước pháp quyền......................................................... 3
1.2 Quan niệm về nhà nước pháp quyền ................................................................................ 6
1.3 Những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền....................................................... 8
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG ĐIỀU KIỆN CẦN VÀ ĐỦ ĐỂ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA PHÙ HỢP VỚI ĐẠO LÝ NGƯỜI BÌNH DÂN
VIỆT NAM ...................................................................................................................................... 14
2.1 Những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.............................................................................. 14
2.2 Điều kiện và quan điểm để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ............................................................................................................................................... 15
2.2.1 Điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt nam của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân ............................................................................................. 15
2.2.2 Quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ................................................................................... 16
2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân .. 17
2.4 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tu dưỡng đạo đức, cách thức để hoàn thiện con người
........................................................................................................................................................ 20
Phần KẾT LUẬN........................................................................................................................... 25
Những hạn chế ............................................................................................................................ 25
Nguyên nhân của những hạn chế............................................................................................ 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................................ 27
Phần TỔNG QUAN
1/ Lý do chọn đề tài
Công bằng và dân chủ là mơ ước ngàn đời của con người và mục tiêu phấn đấu
của nhân loại. Các nhà tư tưởng, các nhà chính trị từ cổ xưa đến nay ln khơng ngừng
để cao, hồn thiện các tư tưởng về cơng bằng và dân chủ, trong đó tư tưởng về nhà nước
pháp quyền là trung tâm của sự hoàn thiện đó. Bên cạnh đó các vấn đề đạo đức, con
người và hoàn thiện một nhà nước pháp quyền là vấn đề cần được đặt ra và giải quyết.
Ở Việt Nam, sau một quá trình nhận thức, đánh giá, thử thách, Đảng và nhà nước
Việt Nam thiết lập xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân dân là tất yếu khách quan. Đây cũng chính là điều cần thiết
và quan trọng, nó đánh dấu một bước phát triển mới của nhà nước và pháp luật Việt
Nam. Có thể coi nhà nước pháp quyền là phương tiện để chúng ta xây dựng chủ nghĩa
xã hội, tiến tới tự do, hạnh phúc.
Vì các yêu cầu đặt ra của xã hội, về xây dựng nhà nước pháp quyền phù hợp với
đạo lý người Việt Nam. Cho nên tơi đã tìm hiểu và lựa chọn đề tài này như vấn đề cấp
bách cần được làm rõ về mặt nhận thức. Để hiểu rõ được xây dựng nhà nước pháp
quyền phù hợp với người bình dân, phù hợp với quan niệm đạo đức, của người dân Việt
Nam.
2/ Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở xây dựng, nghiên cứu một cách có hệ thống về “điều kiện cần và đủ
để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với đạo lý của người bình
dân Việt Nam”
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn hình thành nhà nước pháp quyền
nói chung
1
Thứ hai, làm rõ về điều kiện cần và đủ để xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt
Nam
Thứ ba, làm rõ về vai trò của con người trong việc xây dựng nhà nước pháp
quyền ở Việt Nam
3/ Đối tượng nghiên cứu
Đề tài khơng nghiên cứu tồn bộ hệ thống nhà nước pháp quyền ở Việt Nam mà
chỉ tập chung vào các vấn đề đặc điểm nhà nước pháp quyền, xây dựng nhà nước pháp
quyền phù hợp với người bình dân, và vấn đề công bằng trong việc xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
4/ Phương pháp nghiên cứu
Trong q trình thực hiện nhóm sử dụng chủ yếu dựa trên những phương pháp
nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, cụ thể đó là
những nguyên tắc được rút ra những: nguyên tắc khách quan, nguyên tắc toàn diện,
nguyên tắc lịch sử-cụ thể, nguyên tắc phát triển, nguyên tắc logic… đồng thời có sự kết
hợp với những phương pháp khác như phương pháp logic - lịch sử, phương pháp phân
tích tổng hợp, khái quát… để thực hiện đề tài.
Về góc độ tiếp cận, nhóm chủ yếu dựa trên cách tiếp cận về lịch sử triết học, triết
học văn hóa và góc độ giá trị.
5/ Dự kiến những kết quả sau khi nghiên cứu
Đề tài “Điều kiện cần và đủ để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
phù hợp với người bình dân Việt Nam” góp phần nghiên cứu rõ hơn các quan điểm
trong hệ thống nhà nước pháp quyền Việt Nam. Từ đó rút ra quan điểm xây dựng nhà
nước như thế nào để phù hợp với con người Việt Nam. Cùng với đó là vận dụng vấn đề
đạo đức và nhà nước một cách khoa học, sáng tạo của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh
vào thời đại mới.
2
Phần NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN HÌNH THÀNH NHÀ
NƯỚC PHÁP QUYỀN
1.1 Sơ lược lịch sử tư tưởng về nhà nước pháp quyền
Để hiểu rõ về nhà nước pháp quyền, trước khi kết thúc chúng ta tìm hiểu sơ lược
lịch sử tư tưởng về nhà nước pháp quyền và xã hội dân chủ.
Có thể hiểu rằng, các biến dạng trong quá trình tổ chức và thực hiện các quyền
của lực lượng nhà nước (quyền lực công cộng) là do rất nhiều nhân viên khác nhau,
trong đó có nguyên nhân từ cả người cầm quyền và người bị cầm quyền. Quyền lực nhà
nước bắt nguồn từ nhân dân, thuộc về nhân dân, thuộc về nhân dân, lẽ ra nó phải do
nhân dân, vì nhân dân, nhưng trong một số trường hợp, nó biến nhân dân thành cơng
cụ, phương tiện phục vụ lợi ích cho những người mà mà họ có quyền (người cầm
quyền).
Do vậy, địi hỏi phải có một cơ chế pháp lý có hiệu quả, khả năng thi tốt hơn để
nhân dân kiểm tra được quyền của mình, nếu khơng nhân dân sau khi có quyền thì
thường khơng kiểm sốt được và mất ln quyền về thực tế. Điều này có thể dẫn đến
nhà nước là của nhân dân và vì nhân dân, thì ngược lại nó lại đưa nhân dân vào “cuộc
sống đầy mồ hơi, và nước mắt” và thậm chí cả máu, ngồi ý muốn và lợi ích của nhân
dân. Trong những trường hợp đó, nhà nước của nhân dân đã được tha hóa thành cái đối
nghịch với nhân dân. Chưa kể là Hiến pháp và pháp luật của các nhà nước hiện nay
luôn tuyên bố nguyên tắc: “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” nhưng đó
chỉ là về mặt pháp lý, cịn trên thực tế những người có thế lực, giàu có nhờ vào những
ưu thế của mình vẫn có thể làm lệch đi tất cả. Nguyên tắc “tự do cho tất cả” nhưng rồi
những người lao động nghèo vẫn phải sống và làm việc theo sự phân phối bởi lợi ích
và quyền lực của những người cầm quyền, những người giàu có.
3
Để bảo đảm bình đẳng và cơng bằng về mặt thực tế, tổ chức quyền lực công
cộng là nhà nước phải được tổ chức và hoạt động vì một xã hội công bằng, văn minh,
hạnh phúc. Nhà nước là tổ chức đại diện cho toàn xã hội, nhà nước phải thể hiện đúng
vai trị đại diện của mình. Nhà nước không thể để các lực lượng, cá nhân hay tổ chức
lấn át chế hay thay thế vai trị của mình. Muốn vậy, thì nhà nước phải là nhà nước pháp
quyền, phải tổ chức và hoạt động trên luật pháp và vì lợi ích của mọi người và của mỗi
người.
Điều này được thể hiện qua quan điểm của nhiều học giả phương Tây và phương
Đông. Chẳng hạn, Sôlông - một nhà cải cách Hy Lạp cổ đại để nâng cao vai trị của
pháp luật đã nói: “Ta giải phóng tất cả mọi người bằng quyền lực của pháp luật, bằng
sự kết hợp sức mạnh với pháp luật – ông cho rằng chỉ có pháp luật mới thiết lập được
trật tự và tạo nên sự thống nhất” (PGS. Nguyễn Thế Nghĩa, 1999, trang 220).
Đề cao sự công bằng trong nhà nước, Platon, nhà triết học Cổ Hy Lạp viết: Chúng
ta thừa nhận rằng những nơi mà luật được định nghĩa vì lợi ích của một số người thì ở
đó khơng có chế độ nhà nước, chỉ có thể gọi là nhà nước nếu như có cơng bằng. Ơng
viết rằng, “tơi thấy sự sụp đổ nhanh chóng của nhà nước ở những nơi mà pháp luật
khơng có hiệu lực và nằm dưới quyền lực của một ai đó. Cịn ở nơi nào mà pháp luật
đứng trên các nhà cầm quyền và các nhà cầm quyền chỉ là nơ lệ của pháp luật thì ở đó
tơi thấy có sự cứu thốt khỏi nhà nước và những lợi ích mà chỉ có Thượng đế mới có
thể tặng cho các nhà nước” (Viện khoa học xã hội Việt Nam, 1991, trang 6).
Coi trọng pháp luật, Aristotle, nhà tư
tưởng Hy Lạp cổ đại cho rằng: “pháp luật
cần thống trị trên tất cả,..Khái niệm công
bằng gắn liền với khái niệm nhà nước,
pháp luật, bởi vì pháp luật là tiêu chuẩn
Hình 1: Aristotle
của sự cơng bằng, đại diện cho cơng lý, là
Nguồn: />
quy phạm điều chỉnh sự giao tiếp chính trị.
q1n6B6
Những nhà nước mà những nhà cầm quyền
4
cai trị trên cơ sở của luật pháp và lợi ích chung là những nhà nước chân chính, thuần
túy hay từ cội nguồn, còn những nhà nước mà những người cai trị chỉ dựa trên cơ sở ý
chí cá nhân mà không dựa trên cơ sở pháp luật và chỉ vì lợi ích của họ là những nhà
nước biến chất hay lệch dòng” (Viện khoa học xã hội Việt Nam, 1991, trang 6). Tiếp
tục quan điểm đó, Hêraclit đã nhấn mạnh rằng, nhân dân phải đấu tranh bảo vệ pháp
luật như bảo vệ chốn nương thân của mình...
Tể tướng Kautilia thuộc triều đại Mauria Ấn Độ cổ đại, thế kỷ thứ III tr.CN, đã
khuyên vua Chandra Gupta rằng: “Tuy nhiên, ở ngôi quốc vương đảm trách quyền trị
nước, không phải là cứ phóng túng làm theo ý mình. Muốn cho toàn dân cũng nỗ lực
tham gia xây đắp cho thịnh trị thì nhà vua phải tơn trọng pháp luật, phải ép mình trong
khn khổ của quy pháp cơng cộng. Trị quốc mà vô pháp là tự nơi nhà vua lật đổ ngai
vàng của mình chứ khơng phải nhân dân người ta đánh đổ” (Thích Mãn Giác , 1967,
trang 163).
Chủ trương pháp trị, Hàn Phi Tử, người Trung Quốc cổ đại, đã khẳng định rằng
pháp trị là phương pháp duy nhất đúng để cai trị. Theo ông: Cai trị dân không có gì là
cố định, chỉ có lấy pháp luật mà cai trị. Pháp luật phải chuyển biến theo thời thế thì mới
tốt, cai trị có hợp với thời thế mới có hiệu quả. Ơng địi hỏi mọi người kể cả vua quan
và thân dân đều phải tôn trọng, thực hiện pháp luật và pháp luật phải được áp dụng một
cách cơng bằng đối với tất cả mọi người. Ơng cho rằng: “Bậc vua sáng khiến bầy tôi
không chú ý đến những cái ở ngồi pháp luật, khơng làm ân huệ ở trong vịng pháp
luật, khơng làm diều trái pháp luật. Pháp luật là cái để ngăn cấm việc riêng tư sai lầm
vượt ra ngồi pháp luật. Pháp luật khơng chắc chắn thì nhà vua bị nguy, hình phạt
khơng quyết đốn thì khơng thắng được kẻ gian. Trừng trị cái sai khơng tránh kẻ đại
thần, thưởng cái đúng khơng bỏ sót kẻ thất phu. Cho nên, điều sửa chữa được sự sai
lầm của người trên, trị được cái gian của kẻ dưới, trừ được loạn, sửa được điều sai,
thống nhất đường lối của dân khơng gì bằng pháp luật” (Người dịch Phan Ngọc , 2001,
trang 61-62).
5
Montesquieu,
nhà tư tưởng
người Pháp dã đưa ra học thuyết tam
quyền phân lập. Theo ông nguyên nhân
của tội ác, lộng quyền là do quyền lực
nằm trong tay một người. Để ngăn chặn
được điều đó cần có một cơ chế loại bỏ
khả năng lạm dụng quyền lực. Do vậy,
Hình 2: Montesquieu về thuyết tam quyền phân lập
Nguồn: />3v7aA
cần dùng quyền lực để chế ước quyền
lực. Theo Montesquieu ở mỗi nhà nước
đều có ba quyền: lập pháp, hành pháp
và tư pháp. Để tránh sự độc quyền thì phải chia và giao ba quyền này cho ba cơ quan
khác nhau để chúng kiểm chế, giám sát lẫn nhau đảm bảo cho quá trình tự do chính trị.
C. Mác cũng cho rằng, sự tự do được thừa nhận về mặt pháp lý chỉ tồn tại trong
nhà nước dưới hình thức luật...
Tóm lại, các tư tưởng về nhà nước pháp quyền hình thành và phát triển là một
quá trình lâu dài và phức tạp. Những giá trị cơ bản của nhà nước pháp quyền có thể
khái quát thành những đặc trưng cơ bản là: Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân, nhân dân là gốc của quyền lực; các quan hệ xã hội căn bản phải được điều chỉnh
bằng pháp luật, mọi người đều phải tn theo pháp luật khơng có ngoại lệ; pháp luật
phải có vị trí chủ đạo trong điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong đó tính tối cao thuộc
về Hiến pháp và luật; tôn trọng và bảo đảm thực hiện trên thực tế các quyền, tự do cơ
bản của công dân, của con người; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân cơng,
kiểm sốt và chế ước lẫn nhau giữa các quyến lập pháp, hành pháp và tư pháp; bảo đảm
chế độ trách nhiệm qua lại giữa nhà nước và công dân; bảo đảm sự độc lập của toà án...
1.2 Quan niệm về nhà nước pháp quyền
Như trên đã nêu ý tưởng về nhà nước pháp quyền đã hình thành và tổn tại từ xa
xưa trong lịch sử, song khái niệm đầy đủ về một nhà nước pháp quyền thì chưa có một
tác giả nào nêu lên hồn chỉnh. Trong các cơng trình nghiên cứu của mình, mỗi tác giả
6
đưa ra một khái niệm khác nhau về nhà nước pháp quyền. Chẳng hạn, “Nhà nước pháp
quyền là một nhà nước gắn chặt với pháp luật và được hợp pháp hóa bởi pháp luật”
(Konrad Adenauer Stiftung, 2002, trang 33); “Nhà nước pháp quyền là tồn thể một
quốc gia có trách nhiệm thực hiện công lý, phục tùng pháp luật và quan tâm đặc biệt
đến việc tôn trọng các quyền của con người và nguyên tắc tương ứng” (Konrad
Adenauer Stiftung, 2002, trang 489). Một số nhà khoa học Liên bang Nga (Liên Xô cũ)
cho rằng, nhà nước pháp quyền là nhà nước mà sự hoạt động của nó dựa vào các đạo
luật và nhằm thực hiện nghiêm chỉnh các đạo luật ấy, tuân thủ nghiêm chỉnh và bảo vệ
các quyền của cơng dân, của các xí nghiệp, các tổ chức và liên hệ chặt chẽ với nhau bởi
trách nhiệm pháp lý (Viện khoa học xã hội Việt Nam, 1991, trang 9). Hay nhà nước
pháp quyền đó là tổ chức chính trị của xã hội mà với sự trợ giúp của pháp luật tạo ra
các điều kiện cho sự tồn tại và hoạt động của xã hội dân chủ - một xã hội bao gồm hệ
thống các thiết chế xã hội và các mối liên hệ xã hội, để mỗi công dân và các liên hiệp
của họ thực hiện tự do những khả năng lao động sáng tạo của mình (Viện khoa học xã
hội Việt Nam, 1991, trang 10).
Có quan điểm cho rằng, nhà nước pháp quyền “là Nhà nước thừa nhận tất cả
các đạo luật và văn bản dưới luật do cơ quan lập pháp và Chính phủ (trong khn khổ
thẩm quyền của nó) đặt ra, đó là Nhà nước bị hạn chế bằng pháp pháp luật, Nhà nước
đứng trong pháp luật, chứ khơng phải Nhà nước đứng ngồi hoặc đứng trên pháp luật”
(PTS. Nguyễn Văn Niên, 1996, trang 31) hay “Nhà nước pháp quyền là tổ chức công
quyền trong hệ thống chính trị... được xây dựng trên nền tảng các tư tưởng pháp lý tiến
bộ của nhân loại như công bằng, nhân đạo, dân chủ và pháp chế, nhầm đảm bảo thực
sự những giá trị xã hội được thừa nhận chung của nền văn minh thế giới - sự tôn trọng
và bảo vệ các quyền và tự do của con người, sự ngự trị của pháp luật trong lĩnh vực
hoạt động của Nhà nước, sự phân công quyền lực (lập pháp, hành pháp, tư pháp) và
chủ quyền nhân dân” (TSKH. Lê Cảm , 2001, trang 61)...
Như vậy, trong nhà nước pháp quyền thì pháp luật phải được đề cao, pháp luật
là cơng cụ quản lý mang tính tối cao, việc quản lý trước hết và quan trọng nhất là bằng
7
pháp luật, mọi tổ chức và cá nhân đều phải tơn trọng và nghiêm chỉnh thực hiện pháp
luật.
Về phần mình, pháp luật phải luôn phù hợp với quy luật khách quan, có tác dụng
thúc đẩy xã hội phát triển vì hạnh phúc của con người. Như vậy, về thực chất thì nói tới
nhà nước pháp quyền là nói tới mối quan hệ qua lại giữa nhà nước với pháp luật.
Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng đều thuộc thượng tầng kiến trúc xã hội
ln có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Mặc dù, nhà nước là một tổ chức quyền lực
do những cá nhân liên kết lại, cịn pháp luật chỉ là một cơng cụ điều chỉnh quan hệ xã
hội được tạo nên từ các quy tắc xử sự chung. Theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin
thì nhà nước và pháp luật có cùng ngun nhân phát sinh, cùng tổn tại và phát triển gắn
liền với xã hội có giai cấp. Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của nhà nước, cũng đồng
thời là nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của pháp luật. Nhà nước và pháp luật ln
gắn bó chặt chẽ với nhau như hình với bóng, chúng cùng tồn tại và dựa vào nhau, hỗ
trợ cho nhau để phát triển.
Tóm lại, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước, đó chỉ là những
địi hỏi, những giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ, một
cách thức tổ chức nhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ. Bên cạnh những nội dung
có tính chất nguyên tắc được áp dụng chung cho các nước thì nhà nước pháp quyền ở
các nước khác nhau được xác lập khơng hồn tồn giống nhau. Song, giữa các nhà nước
ấy đều có mục đích chung đó là sự vươn tới tự do cho con người, là sự cố gắng một
cách có ý thức ngăn chặn một nhà nước bạo lực và buộc nhà nước và mọi cá nhân trong
nhà nước đó phải tơn trọng luật pháp và các quyền của con người, phấn đấu vì hạnh
phúc của con người.
1.3 Những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền
Do quan niệm về nhà nước pháp quyền khác nhau nên những đặc điểm của nhà
nước pháp quyền cũng được nêu khác nhau. Dưới đây là một số yêu cầu cơ bản của nhà
nước pháp quyền:
8
Thứ nhất, nhà nước pháp quyền phải đề cao chủ quyền nhân dân, tất cả quyền
lực nhà nước phải thực sự thuộc về nhân dân
Nhà nước pháp quyền là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, nhà
nước phải tơn trọng các quyết định chính trị của nhân dân. Trong nhà nước pháp quyền
phải bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân là chủ
thế của quyền luc nhà nước, nhân dân trao quyền cho các cơ quan nhà nước, nhân dân
phải kiểm sốt được quyền lực của mình, nghĩa là nhân dân có quyền kiểm tra, giám
sát việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước. Nói cách khác, trong nhà nước pháp
quyền, nhân dân tạo lập nên nhà nước (nhân dân có thể trực tiếp tham gia bầu cử và
ứng cử để lập nên các cơ quan nhà nước), nhấn dân có thể trực tiếp hoặc thơng qua các
ca quan đại diện cho mình để tham gia quản lý các công viên của nhà nước, thực hiện
việc giám sát hoạt động của các cơ quan, công chức nhà nước. Nhân dân sử dụng quyền
lực nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước do nhân dân bầu ra và phải chịu trách
nhiệm trước nhân dân, song quyền quyết định tối cao và cuối cùng đối với các vấn đề
trọng của đất nước phải thuộc về nhân dân.
Thứ hai, trong nhà nước pháp quyền Hiến pháp và luật phái có tính tối thượng
Hiến pháp và luật của nhà nước cịn phải có tính tối cao so với văn kiện của các
tổ chức phi nhà nước (trừ văn kiện của tổ chức đảng cầm quyền). Pháp luật và những
giá trị của pháp luật trong nhà nước pháp quyền luôn được đề cao. Hệ thống pháp luật
phải hồn thiện, ln dáp ứng dược nhu cầu, đòi hỏi của việc quản lý đất nước trong
từng giai đoạn phát triển. Các quan hệ xã hội quan trọng cần được điều chỉnh bằng pháp
luật thì đều có pháp luật điều chỉnh.
Đối với nhà nước, các cơ quan nhà nước thì pháp luật phải quy định thật chặt
chẽ, đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chúng để tránh sự tuỳ tiện, lạm quyền.
Pháp luật do nhà nước ban hành, nhưng luôn giữ vai trị thống trị đối với chính nhà
nước, các cơ quan, cơng chức nhà nước chỉ được làm những gì mà luật cho phép. Đối
với nhân dân thì càng ít pháp luật càng tốt, nhân dân có quyền được làm tất cả những
9
gì mà pháp luật khơng cấm và pháp luật chỉ nên cấm những gì thật cần thiết để bảo đẳm
quyền tự do cho nhân dân.
Chú trọng tính khách quan và tính quy phạm của pháp luật, nghĩa là pháp luật
phải phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, phải vị lai, chứa dung những nội dung
tiến bộ, phù hợp với sự phát triển của loài người (pháp luật phải thể hiện sự nhân dạo,
phù hợp dạo lý, công bằng xã hội, thúc đấy xã hội phát triển vì lợi ích con người). Các
quy định pháp luật phải là những quy tắc xử sự chặt chẽ, chính xác, khoa học và là
khuôn mẫu, chuẩn mực cho hành vi con người.
Thứ ba, trong nhà nước pháp quyền thì pháp chế phải luôn được tăng cường
Trong nhà nước pháp quyền, mọi hoạt động của nhà nước, các cơ quan nhà nước,
các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các lực lượng vũ trang và mọi công dân đều phải
dựa trên cơ sở pháp luật, luôn phù hợp với Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước, các cơ
quan nhà nước ban hành pháp luật thì khơng thể tự mình vi phạm pháp luật. Các hoạt
động nhà nước, đặc biệt là hoạt động áp dụng pháp luật phải có cơ sở pháp lý và chính
xác. Mọi sự vi phạm pháp luật của nhà nưoc, các cơ quan nhà nước đều có thể dẫn đến
sự lộng quyền, chuyên quyền, cực quyền và có thể gây tổn hai đến các quyền, tự do, lợi
ích của các tổ chức và công dân.
Công dân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các lực lượng vũ trang là những
bộ phận cấu thành của xã hội, đồng thời họ đều là những chủ the pháp luật. Hơn nữa,
chính họ đã ủy quyền cho các cơ quan nhà nước ban hành pháp luật xuất phát từ lợi ích
của bán thân họ và của toàn xã hội. Do vậy, việc tuân theo pháp luật, nghiêm chỉnh thưc
hiện pháp luật là nguyện vọng của công dân, của các tổ chức phi nhà nước và đó cũng
là bảo đám cao nhất cho quyền và tự do của họ.
Trong nhà nước pháp quyền, mọi vi phạm pháp luật của bất kỳ chủ thể nào, ở bất
kỳ cương vị nào, của cơ quan nhà nước, của tổ chức xã hội hay của các cá nhân cũng
đều phải bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Nhà nước, các cơ quan, nhân viên nhà
nước trong mọi hoạt động của mình phải chịu sự ràng buộc bởi những quy tắc pháp luật
đã xác định và công bố từ trước. Những quy tắc pháp luật này cho phép biết trước được
10
một cách khá chắc chắn việc nhà cầm quyền sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế của
mình như thế nào và cho phép trù tính các hoạt động riêng của từng người theo sự hiểu
biết này.
Thứ tư, nhà nước pháp quyền phải có cơ chế tổ chức và thực hiện quyền lực nhà
nước vừa khoa học, hiệu quả vừa hợp pháp, phải đề cao tư pháp
Quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng phải có sự phân cơng, phối hợp phù
hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp. Cơ chế phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện
quyền lực nhà nước phải hợp pháp, rõ ràng và có hiệu quả, phải bảo đảm sự phẩn biệt
rõ ràng và sự phối hợp có hiệu quả giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Có
như vậy mới có thể thực hiện được sự kiểm tra, giám sát các hoạt động lao động quyền
lực, có thể hạn chế được sự lạm dụng quyền lực, bảo vệ được lợi ích hợp pháp của con
người khỏi bị xâm hại từ phía quyền lực nhà nước.
Cần bảo đảm nguyên tắc, nhà nước, các cơ quan nhà nước, cơng chức nhà nước
chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép. Đề cao sự độc lập của tư pháp (tư pháp
phải dễ tiếp cận, độc lập, vô tư). Tất cả mọi hoạt động của cơ quan nhà nước, cơng chức
nhà nước đều có thể được kiểm tra bằng con đường tư pháp. Kiếm tra bằng tư pháp đối
với mọi hoạt động của cơ quan, công chức nhà nước là dấu hiệu quan trọng của nhà
nước pháp quyền. Các nguyên tắc của tư pháp tự nhiên cần được tôn trọng, xét xử công
khai, công bằng, vô tư, không thiên vị. Tính “tuỳ tâm” của các cơ quan ngăn ngừa tội
phạm không được lợi dụng để vi phạm pháp luật.
Thứ năm, trong nhà nước pháp quyền, con người là giá trị cao quý nhất, quyền
và tự do của con người phải được bảo đảm, sự phát triển của cá nhân con người là
mục tiêu cao cả nhất
Trong nhà nước pháp quyền, con người là giá trị cao quý nhất, vì thế các giá trị
của con người phải được pháp luật thừa nhận và tơn trọng. Có thể nói, “Tự do, bình
đẳng, phẩm giá con người và những hình thức thể hiện khác nhau của bảo đảm nhân
quyền là những yếu tố đặc trưng truyền thống của chế độ pháp trị” (Konrad Adenauer
11
Stiftung, 2002, trang 51). Do vậy, quyền con người, các quyền, tự do của công dân ngày
càng được mở rộng, phải được tơn trọng, được bảo vệ và phải có tính hiện thực.
Chức năng và mục đích của nhà nước pháp quyền là đưa lại tự do, hạnh phúc cho
con người nên nhà nước không chỉ tuyến bố một hệ thống rộng lớn các quyền tự do của
công dân mà quan trọng hơn là phải tạo ra một cơ chế đồng bộ bảo đảm cho các quyền,
tự do đó dược thực hiện trên thực tế. Đồng thời, phải ngăn chặn và loại bỏ mọi sự xâm
hại đôi với các quyền và tự do đó, bảo đảm khơng ngừng mở rộng, làm phong phú thêm
các quyền, tự do của công dân. Phải bảo đảm mọi hoạt động, mọi cố gắng của nhà nước,
của xã hội đều nhằm phục vụ cho hạnh phúc của con người.
Thứ sáu, nhà nước pháp quyền phải giải quyết hợp lý mối quan hệ qua lại giữa
nhà nước và công dân
Trong quan hệ với công dân, nhà nước là một bên nhưng lại là chủ thể có quyền
ban hành pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được thực hiện, là chủ thể thực hiện việc
xét xử, phán quyết mỗi khi có tranh chấp, vi phạm, do vậy, nhà nước phải bị ràng buộc
bởi chính pháp luật đã được nhà nước ban hành từ trước. Công dân là chủ thể của quyền
lực nhà nước, trao quyền cho nhà nước, nhưng hành vi của công dân lại là đối tượng
chịu sự quản lý của nhà nước. Do vậy, nhà nước và cơng dân phải có trách nhiệm qua
lại với nhau, tôn trọng lẫn nhau: Công dân phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối
với nhà nước; nhà nước phải bảo đảm các quyền, tự do cá nhân, lợi ích, danh dự của
cơng dân, tạo điều kiện để chúng được thực hiện và không bị xâm hại.
Trong nhà nước pháp quyền, quan hệ giữa nhà nước và công dân phải diễn ra
theo hướng là nhà nước luôn chịu sự điều chỉnh của luật pháp. Mọi sự phấn đấu, cố
gắng của nhà nước và xã hội phải vì con người, mỗi công dân và cả xã hội luôn tôn
trọng và bảo vệ pháp luật. Cơng dân có quyền đồng thời có khả năng buộc nhà cầm
quyền phải tơn trong và thực hiện đúng pháp luật đã ban hành. Tranh chấp giữa nhà
nước và cơng dân phải do tồ án giải quyết. Tịa án thì phải độc lập, vơ tư và khơng thể
q đắt đỏ để ai cũng có thể tiếp cận và sử dụng được. Tòa án phải xử lý kịp thời, chính
xác, đúng thủ tục và hiệu quả.
12
Thứ bảy, nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải dân chủ hóa mọi mặt của đời sống
nhà nước và xã hội
“Dân chủ và pháp luật là những nhân tố thiết yếu trong sự phát triển và giữ vai
trò cao nhất trong tâm tưởng của các nhà hoạch định chính sách của quốc gia”
(Nguyễn Duy Quý - Nguyễn Tất Viễn (Đồng chủ biên), 2008, trang 55). Dân chủ, pháp
luật là những nhu cầu, điều kiện của nhà nước pháp quyền. Nhà nước và xã hội phải
luôn bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm quyền con người. Để làm được
việc này đòi hỏi phải:
Xây dựng một xã hội thực sự dân chủ (những tổ chức xã hội, hiệp hội phi nhà
nước được thành lập theo nguyên tắc tự nguyện tham gia, tự quản, cùng tự nguyện thực
hiện các hoạt động xã hội vì những mục tiêu, những giá trị và lợi ích chung của cả cộng
đồng, xã hội. Những tổ chức đó hoạt động khơng vì mục đích chính trị, khơng vì mục
đích lợi nhuận . Nhà nước và các tổ chức trong xã hội phải tôn trọng lẫn nhau, lắng
nghe ý kiến của nhau và cùng phấn đấu vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, vì một xã hội
văn minh, phon vì mục thịnh'), trong đó mỗi tổ chức và cá nhân đều thể hiện đúng vị
trí, vai trị của mình trong xã hội.
Thứ tám, nhà nước pháp quyền phải nghiêm chỉnh thực hiện các cam kết quốc tế
mà nhà nước đã ký kết hoặc tham gia. Đồng thời, phải đặt hệ thống pháp luật của nước
mình trong mối quan hệ hài hòa với pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia
khác
Nhà nước pháp quyền là nhà nước trong quan hệ quốc tế luôn cam kết thực hiện
chính xác, đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý của mình xuất phát từ các điều ước quốc tế mà
nhà nước đó ký kết hoặc cơng nhận. Điều này cũng đòi hỏi sự hòa nhập giữa pháp luật
quốc gia và pháp luật quốc tế mà nhà nước đó đã tham gia ký kết hoặc thừa nhận. Như
vậy, nhà nước pháp quyền không chỉ tôn trọng và thực hiện nghiêm minh pháp luật
trong nước mà cả pháp luật quốc tế mà nhà nước đó đã ký kết hoặc thừa nhận. Ngoài
những yêu cầu (đặc điểm) cơ bản trên, một số học giả còn nêu thêm những yêu cầu
13
khác như nhà nước pháp quyền phải gắn bó mật thiết với các tổ chức xã hội khác, vai
trò lãnh đạo của các đảng phái chính trị đối với nhà nước...
Tóm lại, nhà nước pháp quyền là hiện tượng hình thành trong lịch sử lâu dài của
lồi người nó có những thành tố, yêu cầu cho đến nay vẫn còn những giá trị nhân bản
trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, cần phải chú ý là môi thành tố, yêu cầu trên sẽ có giá
trị khác nhau ở các quốc gia khác nhau.
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG ĐIỀU KIỆN CẦN VÀ ĐỦ ĐỂ XÂY DỰNG NHÀ
NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA PHÙ HỢP VỚI ĐẠO LÝ NGƯỜI
BÌNH DÂN VIỆT NAM
2.1 Những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Nhà nước pháp quyền với tính cách là học thuyết về tổ chức và thực hiện quyền
lực nhà nước, là một giá trị, tinh hoa của nhân loại có nguồn gốc xa xưa, từ thời cổ đại
có thể được áp dụng ở các nước trên cơ sở những nét đặc trưng về văn hóa, chính trị,
tư tưởng - pháp lý, truyền thống dân tộc. Chính vì vậy, việc kế thừa áp dụng có chon
lọc học thuyết nhà nước pháp quyền vào nước ta hiện nay bảo. đam phù hợp với những
yêu cầu, mục tiêu xây dung của chủ nghĩa xã hội là điều cần thiết. Vấn đề đặt ra là
chúng ta phải tìm được những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam với bản sắ. dân tộc, truyền thống, văn hóa và những điều kiện riêng
của Việt Nam.
Từ thực tiễn xây dựng và từng bước hoàn thiên Nhà nước cách mạng Việt Nam
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, những đặc trưng cơ bản của Nhà nước
pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân ngày càng được xác định rõ nét hơn,
có thể nêu một số đặc trưng cơ bản sau đây:
Một là: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thực sự
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Hai là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước tôn trọng,
thực hiện và bảo vệ quyền con người, tất cả vì hạnh phúc của con người.
14
Ba là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức và hoạt
động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và bảo dảm tính tối cao của Hiến pháp và pháp
luật trong đời sống xã hội.
Bốn là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước tổ chức
theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân cơng, phối hợp và kiểm
soát việc thực hiện quyền lực nhà nước về mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Năm là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước chịu trách
nhiệm trước công dân về mọi hoạt động của mình và bảo đảm cho cơng dân thực hiện
các nghĩa vụ trước nhà nước và xã hội.
Sáu là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Bảy là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thực hiện
đường lối đối ngoại hồ bình, hữu nghị hợp tác, bình đẳng và phát triển với các nước
láng giềng, các nhà nước và các dân tộc khác trên thế giới; tôn trọng và cam kết thực
hiện các công ước, điều ước quốc tế đã tham gia, ký kết, phê chuẩn.
2.2 Điều kiện và quan điểm để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam
2.2.1 Điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt nam của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Đổi mới tổ chức hoạt động, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân phải đạt được những yêu cầu cơ bản sau
đây:
Xây dựng được một nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân,
đảm bảo thực hiện ngày càng đầy đủ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu tổ chức và
cơ chế hoạt động của nhà nước phải đảm bảo tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân, bảo đảm quyền làm chủ, quyền con người của nhân dân, tất cả vì hạnh phúc của
nhân dân.
Xây dựng nhà nước có đủ năng lực quản lý kinh tế, quản lý xã hội có hiệu quả,
phát huy được mọi tiềm năng của dân tộc; đồng thời, tiếp thu hợp lý những thành tựu
15
khoa học – kỹ thuật, công nghệ mới của thế giới và những tinh hoa văn hóa của nhân
loại.
Xây dựng nhà nước có bộ máy gọn nhẹ, được tổ chức chính quy, có quy chế làm
việc khoa học, bảo đảm kiểm tra, giám sát và điều hành được hoạt động của xã hội,
cũng như hoạt động của bản thân bộ máy nhà nước.
Xây dựng được nhà nước hoạt động trên cơ sở pháp luật, thực hiện quản lý xã
hội theo pháp luật, giữ vững kỷ cương nhà nước và trật tự xã hội, bảo đảm an ninh,
quốc phòng, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng.
Xây dựng một nhà nước có đội ngũ cán bộ, cơng chức trong sạch, tồn tâm, tồn
ý phục vụ nhân dân, có trách nhiệm với dân, đồng thời có bản lĩnh chính trị, năng lực
quản lý, loại trừ được bệnh quan liêu, tham nhũng, đặc quyền đặc lợi, vi phạm quyền
làm chủ của nhân dân,... trong bộ máy nhà nước.
Trị, năng lực quản lý, loại trừ được bệnh quan liêu tham nhũng, đặc quyền đặc
lợi, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân... trong bộ máy của nhà nước.
2.2.2 Quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân cần tiếp tục quán triệt những quan điểm có tính ngun tắc và phương pháp
luận sau đây: Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân phải dựa trên nền tang tư tưởng, lý luận là chủ nghĩa
Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân là quá trình khám phá, xây dựng mơ hình nhà nước thích hợp với
Việt Nam vì thế phải thường xuyên tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm, sửa đổi, điều
chỉnh tổ chức, hoạt động của Nhà nước.
Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân nhưng phải giữ vững bản chất giai cấp của nhà nước xã hội chủ
nghĩa, nghĩa là giữ vững và tăng cường su lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối
16
với Nhà nước; báo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, tất cả vì hanh phúc của
nhân dân, dồng thời chuyên chính với các thế lực thù dịch, với những âm muu, hành
đong đi ngược lại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và
vì dân là van dể rộng lớn, phức tạp, nhạy cảm, các thế lực thù địch và bọn cơ hội dễ lợi
dụng vì thế phải het súc than trọng, phải tiến hành từng bước, chuẩn bị các diều kiện
cần thiết, giữ vững ổn dinh chính trị, ổn dịnh kinh tế - xã hội, ngăn chặn đưoc những
âm mưu, hành động lợi dụng của các thế lực thù dịch và bọn cơ hội.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân theo nguyên tắc tập trung, thống nhất quyền lực nhưng có phân
cơng, phối hợp và kiểm sốt việc thực hiện quyền lực nhà nước về mặt lập pháp, hành
pháp và tư pháp và nguyên tắc tập trung dân chủ; bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ dao táp
trung, thống nhất của Trung ương đồng thời phân cấp mạnh cho chính quyền địa
phương, cơ sở.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân phù hợp với thực tiễn Việt Nam, phù hợp với điều kiện kinh tế,
văn hóa, xã hội, kết hợp các yếu tố dân toc với thoi đại, học tập, tiếp thu có chọn lọc
những kinh nghiệm, thành tưu, tinh hoa của nhân loại trong xây dựng nhà nước pháp
quyền.
2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Hồ Chí Minh ln nhấn mạnh “Nước ta là một nước dân chủ, địa vị cao nhất là
dân vì dân là chủ” (Hồ Chí Minh, Tồn tập, 2000, tập 6, trang 515); “Chế độ ta là chế
độ dân chủ, tức là nhân dân là chủ” (Hồ Chí Minh, 2000, tập 7, trang 499) . Với Hồ
Chí Minh, nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước. Toàn bộ
quyền lực nhà nước đều bắt nguồn từ nhân dân, do nhân dân uỷ quyền cho bộ máy nhà
nước thực hiện, nhằm phụng sự lợi ích của nhân dân. Bộ máy nhà nước được thiết lập
là bộ máy thừa hành ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đội ngũ cán bộ, công chức nhà
nước không thể là các ông quan cách mạng mà là công bộc của nhân dân. “Chúng ta
17
hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ tồn quốc cho đến các làng, đều là công bộc
của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong
thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật” (Hồ Chí Minh, Tồn Tập, 2000, tập 4,
trang 56) .
Là nhà nước của dân, do chính nhân dân lập qua thơng qua chế độ bầu cử dân
chủ. Bầu cử dân chủ là phương thức thành lập bộ máy nhà nước đã được xác lập trong
nền chính trị hiện đại, đảm bảo tính chính đáng của chính quyền khi tiếp nhận sự uỷ
quyền quyền lực từ nhân dân. Chính vì vậy, để thật sự là nhà nước của dân, ngay từ
những ngày đầu giành được nền độc lập, Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm đến tổ chức
cuộc tổng tuyển cử để nhân dân trực tiếp bầu ra các đại biểu xứng đáng thay mặt mình
gánh vác việc nước.
Chỉ một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập vào 3/9/1945 Hồ Chủ Tịch đã họp
và đề ra những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước, trong đó Người đề nghị “Chính phủ
tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thơng đầu phiếu” (Hồ
Chí Minh, Tồn Tập, 2000, tập 4, trang 133) .
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, một nhà nước của dân, không chỉ do dân lập ra
thông qua bầu cử dân chủ mà còn là nhà nước chịu sự kiểm tra, giám sát, định đoạt của
nhân dân. Người khẳng định: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, Chính phủ là đầy tớ của
nhân dân. Nhân dân có quyền đơn đốc phê bình Chính phủ. Chính phủ thì việc to nhỏ
đều nhằm mục đích phục vụ nhân dân”. “Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc
hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra khơng xứng đáng với
tín nhiệm của nhân dân. Nguyên tắc ấy bảo đảm quyền kiểm soát của nhân dân đối với
đại biểu của mình” (Hồ Chí Minh, 2000, tập 7, trang 368). Người nhắc nhở: “Nước ta
là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng từ
người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch nước đều là phân cơng làm đầy tớ cho dân”
(Hồ Chí Minh, 2000, tập 7, trang 275) . Người cịn viết: “Chính phủ cộng hồ dân chủ
là gì? là đầy tớ của dân từ Chủ tịch toàn quốc đến Đảng – Dân là chủ thì Chính phủ là
18
đầy tớ… Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ” (Hồ Chí Minh,
2000, tập 7, trang 282).
Đối với Hồ Chí Minh, một nhà nước của dân thật sự phải là một nhà nước do dân
và vì dân. Người viết: “Kinh nghiệm trong nước và các nước chứng tỏ cho chúng ta
biết: có lực lượng dân chúng, việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được. Khơng có,
thì việc gì làm cũng khơng xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản
đơn, mau chóng, đầy đủ mà những người tài giỏi, những đồn thể to lớn, nghĩ mãi
khơng ra”; “Khơng có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy làm cũng khơng
xong…” (Hồ Chí Minh, Tồn tập, 2000, tập 6, trang 292) .
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân là nguồn sức mạnh của Nhà nước, là
nguồn trí tuệ của Nhà nước, là nguồn sáng kiến vô tận, nhà nước có chức năng khơi
nguồn, phát hiện, tiếp thu và hoàn thiện các sáng kiến của nhân dân để xây dựng chính
sách và luật pháp.
Một nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân theo Hồ Chí Minh là một
nhà nước nếu biết lắng nghe và học hỏi nhân dân, biết tôn trọng bồi dưỡng và nâng cao
sức dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng, ý chí của nhân dân thì sẽ thấy nhân dân khơng
chỉ nói lên những mong muốn của mình mà cịn chỉ ra được nhà nước cần phải hành
động như thế nào để giải quyết các vấn đề quốc kế dân sinh. Chình vì lẽ đó Nhà nước
được thành lập khơng vì mục đích làm thay cho dân, mà thực hiện vai trò người cầm
lái, người tổ chức để nhân dân bằng trí tuệ, sức mạnh của mình giải quyết các vấn đề
của chính mình. Người viết: “Nếu khơng có nhân dân thì Chính phủ khơng đủ lực
lượng. Nếu khơng có Chính phủ thì nhân dân khơng ai dẫn đường. Vậy nên Chính phủ
với nhân dân phải đồn kết thành một khối” (Hồ Chí Minh, Toàn Tập, 2000, tập 4,
trang 56) . Nhà nước của dân, do dân khơng có mục đích tự thân, ý nghĩa, mục tiêu và
sứ mệnh của Nhà nước là phụng sự hạnh phúc của nhân dân, vì nhân dân. Vì lẽ đó Hồ
Chủ Tịch cho rằng “… Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà. Nhưng nếu nước nhà độc lập mà dân khơng hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc
lập cũng chẳng có ý nghĩa gì... Chính phủ ta đã hứa với dân sẽ gắng sức làm cho ai
19
nấy đều có phần hạnh phúc...” (Hồ Chí Minh, Tồn Tập, 2000, tập 4, trang 56) . Người
nhắc nhở: “Việc gì lợi cho dân thì phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân phải hết
sức tránh...” (Hồ Chí Minh, Toàn Tập, 2000, tập 4, trang 57) .
Tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước vì dân, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân
là tư tưởng nhất quán trong suốt cuộc đời của Người. Cả cuộc đời Người là một tấm
gương trong sáng thể hiện sinh động tư tưởng, đạo đức của một con người suốt đời vì
dân, vì nước. Khi đảm nhận chức vụ Chủ tịch nước, Hồ Chủ Tịch đã trả lời các nhà báo
“Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh vác
chức chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tơi phải gắng làm, cũng như một người lính
vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận” (Hồ Chí Minh, 2000, tập 1, trang 381) .
2.4 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tu dưỡng đạo đức, cách thức để hoàn thiện con
người
Bên cạnh việc “trồng người” bằng
con đường giáo dục, Hồ Chí Minh cịn
cho rằng cần phải tu dưỡng đạo đức.
Giáo dục và đạo đức trong quan điểm
của người khơng q tách biệt mà có
mối quan hệ biện chứng, mật thiết với
nhau. Cả giáo dục và đạo đức đều là
những phương thức giúp hoàn thiện con
người, tuy nhiên vấn đề tu dưỡng đạo
đức gần như cụ thể thể và đóng vai trị
Hình 3: Lời dạy của Hồ Chí Minh ngày này năm xưa.
Nguồn: />Yn2KA
như cách thức để hoàn thiện con người.
Khác với các quan điểm đạo đức của các
nhà tư tưởng hay các nhà triết học đó là đạo đức gắn liền với xã hội, gắn liền với hành
vi đạo đức, giá trị đạo đức và các chuẩn mực đạo đức trong xã hội. Thế nhưng quan
điểm đạo đức Hồ Chính Minh với hồn cảnh lịch sử cụ thể là giải quyết các vấn đề cấp
bách của dân tộc nên thiên về gắn liền với vấn đề dân tộc, vấn chính trị quản lý, bởi vì
20
để có một xã hội tốt chắc rằng cần phải có một chế độ tốt, muốn thế chúng ta cần có
đội ngũ tiên phong (chiến sĩ cách mạng, cán bộ, Đảng viên) thật tốt để làm gương và
trực tiếp quản lý, để xã hội ấy ln có tính nhân văn, phục vụ vì con người, cho con
người và tạo điều kiện cho con người phát triển. Ông chỉ ra và tu dưỡng những đức tính
cần có và tất yếu phải có của một người cán bộ cách mạng nói riêng và mọi người nói
chung. Đó cũng là điểm đặc biệt trong quan điểm đạo đức của Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn tột bậc đó là dâng hiến đời mình cho nhân
dân cho đất nước để “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn
toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” (Hồ Chí
Minh, Tồn Tập, 2000, tập 4, trang 161). Để thực hiện được đó thì chúng ta cần phải
thực hiện thành công và triệt để sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, và để có thể
thực hiện thành ơng được sự nghiệp cách mạng thì chúng ta cần phải tu dưỡng rèn luyện
đạo đức cách mạng. Hồ Chí minh đã không ngừng chăm lo giáo dục, rèn luyện đạo đức
cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Người nói: “sức có mạnh mới gánh
được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng
mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” (Hồ Chí Minh, Tồn tập, 2000).
Hồ Chí Minh coi đạo đức là cái gốc, cái nền tảng của người cách mạnh, con người có
sức mạnh thì mới đi xa được, người cách mạng phải có đạo đức, nền tảng của người
cách mạng cũng như gốc của cây, nguồn của sơng suối. “Cũng như sơng thì có nguồn
mới có nước, khơng nguồn thì sơng cạn. Cây phải có gốc, khơng có gốc thì cây héo.
Người cách mạng phải có đạo đức, khơng có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng khơng
lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho lồi người
là một cơng việc to tát, mà phải tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì cịn làm nổi việc gì” (Hồ
Chí Minh, Tồn tập, 2000).
Hồ Chí Minh xem xét đạo đức trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn. Về
lý luận, Người để lại cho chúng ta một hệ thống quan điểm sâu sắc và toàn diện về đạo
đức. Về thực tiễn, Người luôn coi trọng thực hành đạo đức là mặt không thể thiếu, cũng
như trong việc đào tạo các chiến sĩ cách mạng và nhân dân không chỉ bằng chiến lược
21
mà bằng chính gương sáng về đạo đức của Hồ Chí Minh. Bác nhấn mạnh, “một tấm
gương sống cịn giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” (Hồ Chí Minh, 2000,
tập 1, trang 263) và thực sự “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo
đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”
(Hồ Chí Minh, 2000, tập 1, trang 552).
Hồ Chí Minh quan tâm nhất là đạo đức của của cán bộ, đảng viên vì họ là cái dây
chuyền của bộ máy, nếu dây chuyền khơng tốt thì bộ máy có tốt đến đâu cũng khơng
thể hoạt động được. Người suốt đời nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải tu dưỡng, rèn
luyện mình về đạo đức, hình thành tấm gương tốt đẹp và tuyệt vời với người dân trở
thành vị lãnh đạo tốt người đầy tớ trung thành của nhân dân. Bên cạnh đó Hồ Chí Minh
cũng đã sớm đốn được những căn bệnh của những người có chức có quyền và sớm đề
ra những biện pháp cần đề phịng và khắc phục. Trong đó là vấn đề chủ nghĩa cá nhân,
người chỉ rõ “chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng” , chủ nghĩa cá nhân
khơng chỉ “tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập
thể, xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền, xa dời quần chúng, xa rời thực tế,
mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh” mà cịn “khơng có tinh thần cố gắng vươn lên, khơng
chịu học tập để tiến bộ” và thường “mất đồn kết, thiếu tính tổ chức tính kỉ luật” (Hồ
Chí Minh, Tồn Tập, 2000, tập 12, trang 439),...vì chủ nghĩa cá nhân chỉ lo cho lợi ích
của riêng mình mà khơng quan tâm đến lợi ích chung và tập thể, đó là chủ nghĩa gian
xảo dễ đưa người ta xuống dốc, nó thể hiện ở từng nơi, từng lúc khác nhau, tùy trình độ
cương vị và đối tượng khác nhau. Hồ Chí Minh ln nhắc nhở phải đấu tranh khắc phục
nó để một lòng một dạ theo sự nghiệp cách mạng, khơng qt sạch được chủ nghĩa cá
nhân thì khơng thể nâng cao đạo đức cách mạng. Hồ Chí Minh ln là người nhất quán
trong lời nói và hành động, đây là cái cốt lõi cũng như nét độc đáo. Ông không chỉ nêu
ra những chuẩn mực đạo đức (trung với nước, hiếu với dân, yêu thương quý trọng con
người; cần kiệm liêm chính, chí cơng vơ tư, tinh thần quốc tế trong sáng) mà Hồ Chí
Minh nêu nên những nguyên tắc về xây dựng đạo đức (nói đi đơi với làm, phải nêu
gương về đạo đức, xây đi đôi với chống, phải tu dưỡng đạo đức suốt đời).
22
Trung với nước, hiếu với dân, quan hệ nước với dân là quan hệ lớn nhất, và là
chuẩn mực bao trùm nhất. Yêu nước, trung với nước xưa nay luôn là chuẩn mực của
truyền thống dân tộc. Nước là nước của dân, do dân làm chủ, cán bộ phải phục vụ cho
nhân dân chứ không phải là đè đầu cưỡi cổ dân, trung với nước phải đi liền với hiếu
với dân. “Các cơ quan của chính phủ từ tồn quốc cho đến các làng, đều là công bộc
của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong
thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm,
việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân, thì dân mới
u ta, kính ta” (Hồ Chí Minh, Tồn Tập, 2000, tập 4, trang 9). Phải yêu dân, kính dân,
tôn trọng dân, lấy dân làm gốc. Phải đề cao tinh thần phục vụ nhân dân có trách nhiệm
trước nhân dân. Phải luôn quan tâm đến đời sống của nhân dân, chăm lo cải thiện đời
sống cho nhân dân. Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của dân, nâng cao dân trí, để
dân biết và sử dụng được quyền làm chủ của mình. Khi người cán bộ có được đạo đứcc
trung với nước hiếu với dân thì sẽ được dân tin yêu, ủng hộ, giúp đỡ.
Cần, kiệm, liêm, chính, chí cơng vơ tư; Hồ Chí Minh cho rằng cách mạng cần
phải cần kiệm: siêng năng, chăm chỉ, tiết kiệm, phải ít ham muốn với vật chất, tránh xa
hoa lãng phí. Như vậy ta mới có thể đấu tranh giải phóng con người, giải phóng đất
nước. Liêm chính là phải trong sạch ngay thẳng. Chí cơng vơ tư, chí cơng là sự cơng
bằng, cơng minh, chính trực. Vơ tư ở đây là không thiên tư, thiên vị, nhắc nhở người
lãnh đạo phải công bằng không được thiên vị. không được thấy sai mà bỏ qua không
dám lên án làm cho luật pháp bị méo mó. Thêm vào đó Hồ Chí Minh đề cao tính tập
thể lên án chủ nghĩa cá nhân, song ích kỉ chỉ chăm chăm lo tới lợi ích của mình. Hồ Chí
Minh cho rằng, cần, kiệm, liêm, chính là cần thiết đối với tất cả mọi người:
“Trời có bốn mùa: Xn, Hạ, Thu, Đơng
Đất có bốn phương: Đơng, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính
Thiếu một mùa, thì khơng thành trời
Thiếu một phương, thì không thành đất
23