Phần thứ 1: TRIẾT HỌC MÁC -LÊ
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
Nguyên lý về mối quan hệ phổ biến
Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
Quy luật phủ định của phủ định
Quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển LLSX
Biện chứng CSHT và KTTT
Hình thái KT-XH và quá trình lịch sử tự nhiên của sự PT các hình thái KT-XH
Quan điểm của CNDVLS về con người và bản chất con người
MỘT SỐ DẠNG CÂU HỎI PHẦN 1
Mối liên hệ VC-YT
1. Cơ sở lý luận của đường lối chủ trương chính sách? Vì sao mọi chủ
trương chính sách của Đảng và NN phải xuất phát từ đk KQ?
(Giữa VC & YT có mối quan hệ biện chứng, trong đó VC quyết định
YT. Chủ
trương chính sách của Đảng và NN – YT; điều kiện KQ – VC)
- Cơ sở lý luận của đường lối chủ trương chính sách là dựa trên mối liên hệ VC-YT
+Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng. Trong mối quan hệ
này, vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý
thức, song ý thức khơng hồn tồn thụ động mà nó có thể tác động trở lại vật chất
thơng qua hoạt động thực tiễn của con người.
a)
Vai trò của vật chất đối với ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là
nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức vì:
Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người nên chỉ khi
có con người mới có ý thức. Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới vật chất
thì con người là kết quả quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, là sản phẩm
của thế giới vật chất. Kết luận này đã được chứng minh bởi sự phát triển hết sức lâu
dài của khoa học về giới tự nhiên; nó là một bằng chứng khoa học chứng minh quan
điểm: vật chất có trước, ý thức có sau.
Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức (bộ óc người,
thế giới khách quan tác động đến bộ óc gây ra các hiện tượng phản ánh, lao động,
ngôn ngữ), hoặc là chính bản thân thế giới vật chất (thế giới khách quan), hoặc là
những dạng tồn tại của vật chất (bộ óc người, hiện tượng phản ảnh, lao động, ngơn
ngữ) đã khẳng định vật chất là nguồn gốc của ý thức.
Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế giới vật chất nên
nội dung của ý thức được quyết định bởi vật chất. Sự vận động và phát triển của ý
thức, hình thức biểu hiện của ý thức bị các quy luật sinh học, các quy luật xã hội và sự
tác động của môi trường sống quyết định. Những yếu tố này thuộc lĩnh vực vật chất
nên vật chất không chỉ quyết định nội dung mà cịn quyết định cả hình thức biểu hiện
cũng như mọi sự biến đổi của ý thức.
b)
Vai trò của ý thức đối với vật chất
Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thơng qua hoạt
động thực tiễn của con người.
Vì ý thức là ý thức của con người nên nói đến vai trị của ý thức là nói đến vai trị của
con người. Bản thân ý thức tự nó khơng trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực.
Muốn thay đổi hiện thực, con người phải tiến hành những hoạt động vật chất. Song,
mọi hoạt động của con người đều do ý thức chỉ đạo, nên vai trị của ý thức khơng phải
trực tiếp tạo ra hay thay đổi thế giới vật chất mà nó trang bị cho con người tri thức về
thực tại khách quan, trên cơ sở ấy con người xác định mục tiêu, đề ra phương huớng,
xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương pháp, biện pháp, công cụ, phương tiện, v.v. để
thực hiện mục tiêu của mình. Ở đây, ý thức đã thể hiện sự tác động của mình đối với
vật chất thông qua hoạt động thực tiền của con người.
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cực hoặc
tiêu cực. Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có tình cảm cách mạng,
có nghị lực, có ý chí thì hành động của con người phù hợp với các quy luật khách
quan, con người có năng lực vượt qua những thách thức trong quá trình thực hiện mục
đích của mình, thế giới được cải tạo - đó là sự tác động tích cực cúa ý thức. Cịn nếu ý
thức của con người phản ánh khơng đúng hiện thực khách quan, bản chất, quy luật
khách quan thì ngay từ đầu, hướng hành động của con người đã đi ngược lại các quy
luật khách quan, hành động ấy sẽ có tác dụng tiêu cực đổi với hoạt động thực tiễn, đối
với hiện thực khách quan.
Như vậy, bằng việc định hướng cho hoạt động của con người, ý thức có thế quyết định
hành động của con người, hoạt động thực tiễn của con người đúng hay sai, thành công
hay thất bại, hiệu quả hay khơng hiệu quả.
Tìm hiểu về vật chất, về nguồn gốc, bản chất của ý thức, về vai trị của vật chất, của ý
thức có thể thấy: vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung và khả năng
sáng tạo ý thức; là điều kiện tiên quyết để thực hiện ý thức; ý thức chỉ có khả năng tác
động trở lại vật chất, sự tác động ấy không phải tự thân mà phải thông qua hoạt động
thực tiễn (hoạt động vật chất) của con người. Sức mạnh của ý thức trong sự tác động
này phụ thuộc vào trình độ phản ánh của ý thức, mức độ thâm nhập của ý thức vào
những người hành động, trình độ tổ chức của con người và những điều kiện vật chất,
hồn cảnh vật chất, trong đó con người hành động theo định hướng của ý thức.
Ngay từ khi ra đời, Đảng cộng sản Việt Nam đã lấy chủ nghĩa Mác Lênin làm
nền tảng tư tưởng và vận dụng tư tưởng lý luận đó vào thực tế cách mạng nước ta để
đề ra đường lối, chủ trương, chính sách qua từng thời kỳ. Một trong những vận dụng
cơ sở lý luận của triết học Mác Lênin vào công cuộc đổi mới đất nước mà Đảng đã
khởi xướng bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ IV là nguyên tắc khách quan, một nguyên
tắc được rút ra từ mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Đảng cộng sản Việt
Nam "Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng qui luật
khách quan". Việc tìm hiểu quy luật khách quan trên cơ sở mối quan hệ giữa vật chất
và ý thức để vận dụng đúng đắn quy luật này vào thực tiễn là vấn đề hết sức cần thiết
trong giai đoạn hiện nay.
Do thực tại khách quan luôn ln biến động vận động nên nhận thức của nó củng ln
ln biến đổi theo, nhưng xét đến cùng thì vật chất bao giờ củng quyết định ý thức .
Nhưng ý thức đã ra đời thì nó có tác động lại vật chất . Với tính độc lập tương đối của
mình ý thức tác động trở lại vật chất thơng qua hoạt động thực tiển của con người .
Quán triệt quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức của triết học Mác xit.
Trong nhận thức và thực tiễn , chúng ta phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực
tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình . Đồng thời phát huy tính năng
động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố của con người trong việc nhận thức,
tác động cải tạo thế giới. Quan điểm khách quan trên giúp ta ngăn ngừa và khắc phục
bệnh chủ quan duy ý chí.
Bệnh chủ quan duy ý trí là xuất phát từ việc cường điệu tính sáng tạo của ý
thức, tuyệt đối hố vai trị nhân tố chủ quan của ý chí, bất chấp qui luật khách quan, xa
rời hiện thực, phủ nhận xem nhẹ điều kiện vật chất .
Ở nước ta , trong thời kỳ trước đổi mới. Đảng ta đã nhận định rằng chúng ta mắt
bệnh chủ quan duy ý chí trong việc xác định mục tiêu và bước đi trong việc xây dựng
vật chất kỹ thuật và cải tạo xã hội chủ nghĩa ; về bố trí cơ cấu kinh tế; về việc sử dụng
các thành phần kinh tế ….Trong cải tạo xã hội chủ nghĩa ,sử dụng các thành phần kinh
tế , đã có hiện tượng nóng vọi muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ
nghĩa , nhanh chống biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh trong khi đúng ra là
phải duy trì thực hiện phát triển các thành phần kinh tế theo từng bước đi thích hợp ,
phù hợp với thời kỳ quá độ trong một thời gian tương đối dài để phát triển lực lượng sản
xuất.
Nguyên nhân của căn bệnh chủ quan duy ý chí trên là do sự lạc hậu, yếu kém về lý
luận, do tâm lý của người sản xuất nhỏ và do chúng ta kéo dài chế độ quan liêu bao cấp.
Văn kiện Đại Hội toàn quốc lần thứ 6 của Đảng ta đã nêu lên bài học :”Đảng ta
luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo qui luật khách quan". Chúng
ta biết rằng quan điểm khách quan đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải
xuất phát từ bản thân sự vật hiện tượng, phải thừa nhận và tơn trọng tính khách quan
của vật chất, của các qui luật tự nhiên và xã hội, không được xuất phát từ ý muốn chủ
quan.
Bài học mà Đảng ta đã nêu ra , trước hết đòi hỏi Đảng nhận thức đúng đắn và
hành động phù hợp với hệ thống qui luật khách quan. Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận,
nhất là tư duy về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó
là xây dựng CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa cho nên phải trải qua một thời kỳ
quá độ lâu dài nhiều chặn đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất
q độ .
Mổi chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước phải xuất phát từ thực tế
khách quan của đất nước và phù hợp qui luật . Chúng ta biết rằng ý thức là sự phản
ánh hiện thực khách quan trong quá trình con người cải tạo thế giới . Do đó càng nắm
bắt thơng tin về thực tế khách quan chính xác , đầy đủ trung thực và sử lý các thơng
tin ấy một cách khoa học thì q trình cải tạo thế giới càng hiệu quả .Đồng thời cần
thấy rằng sức mạnh của ý thức là ở năng lực nhận thức và vận dụng tri thức củng như
các qui luật của thế giới khách quan .
Xuất phát từ mối quan hệ biên chứng giữa vật chất và ý thức . Đảng ta xác định
Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng qui luật
"
khách quan” là xác định vai trò quyết định của vật chất (thế giới khách quan). Như
vậy , từ chủ nghĩa Mác-Lênin về mối quan hệ vật chất và ý thức, củng như từ những
kinh nghiệm thành công và thất bại trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Đảng
ta đả rút ra bài học trên.
Bài học ấy có ý nghĩa thời sự nóng hổi trong q trình đổi mới đất nước. Hiện
nay, trong tình hình đổi mới của cục diện thế giới và của cách mạng ở nước ta địi hỏi
Đảng ta khơng ngừng phát huy sự hiệu quả lảnh đạo của mình thơng qua việc nhận thức
đúng, tranh thủ được thời cơ do cách mạng khoa học cơng nghệ, do xu thế hội nhập và
tồn cầu hoá đem lại, đồng thời xác định rỏ những thách thức mà cách mạng nước ta
trãi qua.
2. Vì sao trong hoạt động thực tiễn cần tôn trọng nguyên tắc khách quan
của sự xem xét
( câu 13 trang 21 tài liệu màu vàng) ý nghĩa pp luận
-
Nguyên tắc khách quan?
Nguyên tắc khách quan trong xem xét được xây dựng dựa trên nội dung của
nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới. Yêu cầu của nguyên tắc này được
tóm tắt như sau :khi nhận thức khách thể (đối tượng), sự vật, hiện tượng tồn tại trong
hiện thực – chủ thể tư duy phải nắm bắt, tái hiện nó trong chính nó mà khơng được
thêm hay bớt một cách tùy tiện .
-
L. do tôn trọng nguyên tắc khách quan khi
xem xét?
- Vật chất là cái có trước tư duy. Vật chất tồn tại vĩnh viễn và ở một giai đọan
phát triển nhất định của mình nó mới sản sinh ra tư duy. Do tư duy phản ánh thế giới
vật chất, nên trong q trình nhận thức đối tượng ta khơng được xuất phát từ tư duy,
từ ý kiến chủ quan của chúng ta về đối tượng.mà phải xuất phát từ chính bản thân đối
tượng, từ bản chất của nó, khơng được ”bắt” đối tượng tuân theo tư duy mà phải “bắt”
tư duy tuân theo đối tượng. Không ép đối tượng thỏa mãn một sơ đồ chủ quan hay
một “Lơgíc” nào đó, mà phải rút ra những sơ đồ từ đối tượng, tái tạo trong tư duy các
hình tượng, tư tưởng- cái lơgíc phát triển của chính đối tượng đó.
- Tồn bộ “nghệ thuật” chinh phục bản chất của sự vật, hiện tượng được gói
ghém trong sự tìm kiếm, chọn lựa, sử dụng những con đường, cách thức, phương tiện
thâm nhập hữu hiệu vào “thế giới” bên trong của sự vật. “nghệ thuật” chinh phục như
thế không mang đến cho sự vật, hiện tượng một cái gì đó xa lạ với chính nó. Điều này
đặt ra cho chủ thể một tình thế khó khăn. Làm như thế nào để biết chắc chắn những
suy nghĩ của chúng ta về sư vật là khách quan, là phù hợp với bản thân sự vật?
Nguyên tắc khách quan đòi hỏi được bổ sung thêm yêu cầu phát huy tính năng động
sáng tạo của chủ thể và nguyên tắc tính đảng .
- Khi nhận thức các hiện tượng xã hội chúng ta phải chú trọng đến mức độ
quan tâm và năng lực nhận thức của các lực lượng xã hội đối với việc giải quyết các
vấn đề xã hội, đối với khuynh hướng phát triển của các hiện tượng xã hội, đối với việc
đánh giá tình hình xã hội … những đánh giá có giá trị hơn, những cách giải quyết
đúng hơn thường là những đánh giá, những cách giải quyết thuộc về các lực lượng xã
hội biết đứng trên lập trường của giai cấp tiên tiến, của những lực lượng cách mạng
của thời đại đó. Vì vậy tính khách quan trong xem xét các hiện tượng xã hội nhất quán
với nguyên tắc tính đảng. Việc xem thường nguyên tắc này dễ dẫn đến vi phạm yêu
cầu của nguyên tắc khách quan trong xem xét, dễ biến nó thành chủ nghĩa khách quan,
cản trở việc nhận thức đúng đắn các hiện tượng xã hội phức tạp.
Những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan
trong xem xét:
Nguyên tắc khách quan trong xem xét có mối liên hệ mật thiết với các ngun
tắc khác của lơgíc biện chứng. Nó thể hiện ở yêu cầu cụ thể sau:
+ Trong hoạt động nhận thức, Chủ thể phải:
- Một là: Xuất phát từ hiện thực khách quan, tái hiện lại nó như nó vốn có mà
khơng được tùy tiện đưa ra những nhận định chủ quan.
- Hai là: Phải biết phát huy tính năng động, sáng tạo của chủ thể, đưa ra các giả
thuyết khoa học có giá trị về khách thể, đồng thời biết cách tiến hành kiểm chứng các
giả tuyết đó bằng thực nghiệm.
+ Trong hoạt động thực tiễn, Chủ thể phải :
- Một là: Xuất phát từ hiện thực khách quan, phát hiện ra những quy luật chi phối
nó.
- Hai là: Dựa trên các quy luật khách quan đó, chúng ta vạch ra các mục tiêu,
kế họach, tìm kiếm các biện pháp, phương thức để tổ chức thực hiện. Kịp thời điều
chỉnh, uốn nắng họat động của con người đi theo lợi ích và mục đích đã đặt ra.
Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức có nghĩa là phát huy vai trị tri
thức, tình cảm, ý chí, lý trí… tức là phát huy vai trị nhân tố con người trong họat
động nhận thức và họat động thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan, vươn lên làm chủ
thế giới.
3. Vận dụng pp luận của mối quan hệ VC-YT vào cuộc sống nói chung và
đời sống sinh viên nói riêng
Khái niệm VC, YT, mối quan hệ VC-YT
Ý nghĩa PPL của mối quan hệ này và vận dụng
VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT- Ý THỨC
TRONG CUỘC SỐNG HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN
Thứ nhất,vì vật chất quyết định ý thức nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn đòi
hỏi phải xuất phát từ thực tế khách quan. Đầu tiên, bản thân mỗi người phải tự xác
định được các điều kiện khách quan ảnh hưởng đến cuộc sống học tập của bản thân.
Là sinh viên năm nhất sư phạm, học theo học chế tín chỉ, sống trong đất nước Việt
Nam – một đất nước đang phát triển nằm trên bán đảo Đông Dương, tôi tự nhận thức
được rằng điều kiện của đất nước cịn khó khăn, cơ sở vật chất vẫn chưa hoàn thiện và
hiện đại để đáp ứng nhu cầu của sinh viên. Ví dụ như trong trường Đại học Sư Phạm
thành phố Hồ Chí Minh vì lý do tính chất đặc thù của Khoa Giáo dục Đặc biệt nên số
lượng sách chuyên ngành thật sự rất hiếm vì thế nên việc tìm kiếm tài liệu học tập gặp
nhiều khó khăn hay do thiếu thốn về trang thiết bị nên quá trình giảng dạy của giảng
viên và quá trình học tập của học sinh đều bị ảnh hưởng.
Mặt khác, mỗi người cần phải đặc biệt chú ý tôn trọng tính khách quan và hành động
theo các qui luật mang tính khách quan, thể hiện qua một số hành động như: tuân thủ
theo thời khóa biểu mà mỗi khoa đã giao cho học sinh để đi học đúng giờ, tham dự
các tiết học đầy đủ đồng thời làm theo những lời mà giảng viên hướng dẫn. Ngoài ra,
cần phải tuân thủ theo đúng nội qui nhà trường, chấp hành đúng kỷ luật đặc biệt là
những qui chế vế việc cấm thi, học lại…
Thứ hai, vì ý thức có sự tác động trở lại đối với vật chất nên cần phải phát huy tính
năng động chủ quan tức là phải phát huy tính tích cực, năng động và sáng tạo của ý
thức. Theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trường Đại học Sư Phạm thành phố
Hồ Chí Minh đã thực hiện tổ chức đăng ký học phần vì vậy bản thân cần phải chủ
động hơn, năng nổ trong từng tiết học.
Trong kết cấu của ý thức thì tri thức là yếu tố quan trong nhất.Tri thức là phương thức
vận động và tồn tại của ý thức. Chình vì vậy, sinh viên cần phải tích cực trong học tập,
chủ động tìm hiểu và khai thác vấn đề, khi học bài không quá phụ thuộc vào giảng
viên mà thay vào đó nên suy nghĩ những ý tưởng mới của riêng mình.Ví dụ như
những buổi học nhóm hay thảo luận kỹ năng, bản thân tơi thường tìm đến kho kiến
thức của thư viện hoặc tài liệu rong kho sách của khoa để trau dồi vốn kiến thức
chuyên ngành. Tuy nhiên những tri thức tiếp thu từ sách vở là chưa đủ, xã hội ln địi
hỏi mỗi người phải có một vốn kỹ năng sống dày dặn. Muốn làm được như vậy thì
chúng ta cần tham gia vào các hoạt động tình nguyện ngồi trời hay tìm kiếm một
cơng việc làm thêm phù hợp để hiểu được giá trị của đồng tiền.
Tình cảm là những rung động của con người trong các mối quan hệ với hiện thực.
Nhờ có tình cảm mà tri thức mới có sức mạnh và sau đó trở thành cơ sở cho hành
động.Nói cách khác, tình cảm là động lực lớn nhất thúc đẩy chúng ta đi đến thành
công. Đối với sinh viên khoa Giáo dục Đặc biệt như tơi, để đạt thành tích tốt trong học
tập cũng như phát triển trong tương lai, cần phải có niềm đam mê đối với mỗi môn
học bất kể là môn chuyên ngành hay môn đại cương. Thiết nghĩ cần phải tạo cảm giác
thoải mái và tình thần vui vẻ khi học tập từ đó mới tạo ra được hứng thú để tìm tịi
vọng của cha mẹ, tình cảm gia đình góp phần giúp bản thân vượt qua những khó khăn
để tiếp tục con đường học tập.
Niềm tin là động cơ tinh thần định hướng cho những hoạt động của con người. Là một
sinh viên tốt thì cần phải biết đặt niềm tin vào nhiều thứ.Đầu tiên, cần phải có niềm tin
ở bản thân mình, phải biết đặt ra hồi bão, ước mơ nhưng khơng được quên việc thực
hiện hóa nó bằng các kế hoạch chắc chắn.Có niềm tin thì chắc chắn sẽ có động lực để
phấn đấu, vươn lên nhằm đạt được những mục tiêu cao đẹp. Cụ thể là, mục tiêu bây
giờ của tôi chính là tốt nghiệp đại học với tấm bằn loại khá trở trên nhưng muốn thực
hiện được điều ấy thì phải lập ra thời gian biểu học tập cụ thể với một phương pháp
học đúng đắn kèm theo.
Ý chí biểu hiện cho sức mạnh tinh thần của con người, giúp con người vượt qua
những khó khăn, trở ngại để đạt được những mục tiêu đã đặt ra.Môi tường đại học ẩn
chứa nhiều thử thách và cám dỗ vì vậy chúng ta cần phải xây dựng cho mình một ý
chí kiên định để tránh xa những thói hư tật xấu. Ví dụ như, cuộc sống sinh viên tự do
địi hỏi tơi phải lập ra những qui tắc riêng cho bản thân để giữ vững lập trường của
mình trước những cạm bẫy trước mắt: tránh tụ tập nhậu nhẹt sa đà, không vì lười
biếng mà cúp học, chưa học bài xong chưa đi ngủ chưa họ bài đủ chưa đi chơi, không
nên chạy theo những cơng việc chỉ sinh ra lợi ích tức thờ mà bỏ bê việc học, nên học
theo tinh thần của câu nói:”Học, học nữa, học mãi” của Lê-nin.
Thứ ba, cần phải chống lại bệnh chủ quan duy ý chí cũng như bệnh bảo thủ trì trệ. Cụ
thể là cần phải tiếp thu có chọn lọc những ý kiến mới, việc hôm nay không nên để
ngày mai, không chủ quan trước mọi tình huống, phải biết lắng nghe và tiếp thu sự
góp ý của người khác. Ví dụ như sau một bài thuyết trình thì phải nán lại lắng nghe ý
kiến chỉnh sửa của cả lớp và giảng viên hay khi làm bài hoặc họp nhóm cần phải sáng
tạo, đột phá, cải tiến cái cũ nhưng không nên quá cầu tồn. Khi đăng kí học phần
khơng nên đăng kí quá nhiều tránh việc không kham nổi.
Thứ tư, khi giải thích các hiện tượng xã hội cần phải tính đến các điều kiện vật chất
lẫn yếu tố tinh thần, điều kiện khách quan lẫn yếu tố khách quan. Ví dụ đối với việc
đăng lý học phần, sinh viên cần phải tính đến năng lực học tập của bản thân, điều kiện
tài chính của gia đình, cân nhắc quỹ thời gian, không đăng ký học phần một cách tràn
lan với mục đích tốt nghiệp sớm tránh trường hợp học khơng theo kịp, dẫn đến hao
phí tiền bạc, thời gian, cơng sức mà kết quả lại khơng đực như ý muốn.
4. Vì sao trong hoạt động thực tiễn phải phát huy tính tích cực năng dộng
sáng tạo của YT/nhân tố chủ quan ? (Nhấn mạnh vai trò YT đv VC)
NGUYÊN LÝ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
5. Phân tích nd nguyên lý MLH phổ biến và liên hệ bản thân
Khái niệm MLH phổ biến, nội dung nguyên l. MLH phổ biến
-Liên hệ Liên hệ bản thân giống câu 6
6. Vận dụng quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử cụ thể trong đời
sống sinh viên
-Nội dung quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử cụ thể
- Vận dụng
Với tư cách là những nguyên tắc phương pháp luận, quan điểm toàn diện, quan điểm
lịch sử - cụ thể góp phần định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực
tiễn cải tạo hiện thực, cải tạo chính bản thân chúng ta. Song để thực hiện được chúng,
mỗi chúng ta cần nắm chắc cơ sở lý luận của chúng - nguyên lý về mối liên hệ phổ
biến và nguyên lý về sự phát triển, biết vận dụng chúng một cách sáng tạo trong hoạt
động của mình. Đối với sinh viên, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, vẫn có
thể sử dụng các nguyên tắc phương pháp luận đó vào việc thực hiện nhiệm vụ chính
trị của mình góp phần xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, xã hội ta ngày càng
tươi
đẹp.
Chúng ta có thể áp dụng những quan điểm này trong cuộc sống
Chúng ta hiện nay đều là những tân sinh viên, khi mới nhập học hầu như là không
quen biết nhau. Khi nhìn thấy 1 bạn nào đấy , chắc chắn chúng ta đều có những ấn
tượng đầu tiên về ngoại hình , tính cách của bạn đó. Nhưng nếu chỉ qua 1 vài lần gặp
mặt mà chúng ta đã đánh giá bạn là người xấu hoặc tốt , dễ tính hay khó tính. Cách
đánh giá như vậy là phiến diện , chủ quan trái với quan điểm tồn diện.Điều có thể
làm cho chúng ta có những quyết định sai lầm . Chẳng hạn như khi nhìn thấy một
người có gương mặt ưa nhìn , ăn nói nhỏ nhẹ đã vội vàng kết luận là người tốt và
muốn làm bạn , còn khi nhìn thấy một người ít nói , khơng hay cười thì cho là khó tính
khơng muốn kết bạn. Qua một thời gian kết bạn mới nhận ra người bạn mà mình chọn
có những đức tính khơng tốt như lợi dụng bạn bè, ích kỷ. Cịn người bạn ít nói kia
thực ra rất tốt bụng , hay giúp đỡ bạn bè. Ấn tượng đầu tiên chỉ quyết định đến quá
trình giao tiếp về sau. Quan điểm toàn diện dạy cho ta biết rằng khi xem xét, đánh giá
một sự vật, hiện tượng phải xem xét đánh giá một cách toàn diện , mọi mặt của vấn đề
để hiểu được bản chất thật sự của sự vật hiện tượng. Chúng ta khơng thể chỉ nhìn bề
ngồi mà phán xét về phẩm chất, đạo đức của người đó.Vẻ bề ngồi khơng nói lên
được tất cả , có thể bạn đó có gương mặt lạnh lùng nhưng tính bạn rất cởi mở, hịa
đồng, dễ gần. Vì vậy muốn đánh giá 1 con người cần phải có thời gian tiếp xúc lâu dài
, nhìn nhận họ trên mọi phương diện , ở từng thời điểm ,từng hoàn cảnh khác nhau.
Trong quan hệ giữa con người với con người, chúng ta phải biết ứng xử sao cho phù
hợp với từng con người. Đối với những người bề trên như ơng ,bà ,bố ,mẹ, thầy cơ…
thì chúng ta cần có thái độ cư xử lễ phép, tơn trọng họ. Đối với bạn bè thì có những
hành động , thái độ thoải mái,tự nhiên .Ngay cả quan hệ với một con người nhất định
ở những không gian khác nhau hoặc thời gian khác nhau, chúng ta cũng phải có cách
giao tiếp, cách quan hệ phù hợp như ông cha đã kết luận: “đối nhân xử thế”. Ví dụ
như khi xưa anh ta là người xấu ,tính cách không tốt hay vụ lợi không nên giao tiếp
chơi thân, nhưng hiện nay anh ta đã sửa đổi tính cách tốt hơn biết quan tâm mọi người
không như xưa , chúng ta cần nhìn nhận anh ta khác đi , có thể cư xử khác trước, có
thể
giao
tiếp
,
kết
bạn
với
anh
ta.
Hay khi xem xét nguyên nhân của một vấn đề nào đó để giải quyết, chúng ta cần xem
xét chúng trong các mối liên hệ để xem nguyên nhân từ đâu để có cách giải quyết, xử
lý tốt . Khi ta học kém đi , điểm số giảm cần tìm nguyên nhân do đâu khiến ta như
vậy. Do lười học, không hiểu bài, không làm bài tập hay khơng có thời gian học. Nếu
tìm được ngun nhân cụ thể, chủ yếu , thì sẽ tìm được cách giải quyết đúng đắn.
Chúng ta có thể áp dụng những quan điểm này trong việc học tập:
Trong học tập bao giờ cũng xác định mục tiêu, động cơ, thái độ đúng đắn thì mới có
kết quả cao hơn. Việc vận dụng quan điểm toàn diện và lịch sử cụ thể trong học tập sẽ
giúp định hướng học tập sâu hơn và cao hơn, quan điểm toàn diện và lịch sử cụ thể là
thế
giới
quan
của
mỗi
con
người.
Để vận dụng quan điểm trên chúng ta cần phân tích, xem xét các mặt của việc học một
cách
cụ
thể,
tồn
diện,
phù
hợp
với
từng
thời
điểm
:
- Học tập là suốt đời, học bằng cái gì: bằng mắt, bằng tai, bằng tay, bằng da, bằng mũi,
bằng miệng, học cái gì trước, cái gì sau, học cái gì để biết, cái gì để làm, học để tồn
tại, học để chung sống với con người, với vạn vật, với mn lồi...
- Người học phải biết khiêm tốn, học phải hỏi, học ở mọi người.
- Nhiều thứ con người muốn học, nhưng muốn hiểu kỷ và sâu sắc thì phải tốn nhiều
thời gian, kiên trì, kiên nhẫn. ví dụ như người trồng lúa: học biết các giống lúa, loại
nào phù hợp vùng đất nào, thời tiết nào, những điều kiện và cách chăm bón đúng cách
để đạt năng suất, khi phát hiện có sâu rầy phải giải quyết thế nào...
- Học phải gắn với hành thì việc học có kết quả nhanh hơn. Người xưa vẫn dạy rằng:
“Trăm hay không bằng tay quen”. Lao động thời nào cũng vậy, phải ln ý thực là lí
thuyết hay cũng khơng bằng thực hành giỏi. Vai trò của thực hành được đề cao là điều
hiển
nhiên.
Ngày nay với đà phát triển của xã hội, quan niệm lí thuyết và thực hành được hiểu
khác hơn, học và hành lúc nào cũng đi đôi, không thể tách rời nhau. Trước hết ta cần
hiểu : “học” là tiếp thu kiến thức đã được tích luỹ trong sách vở, là nắm vững lí luận
đã được đúc kết trong các bộ môn khoa học, đồng thời tếp nhận những kinh nghiệm
của cha anh đi trước. “Học” là trau dồi kiến thức, mở mang trí tuệ, từng lúc cập nhật
hóa sự hiểu biết của mình, khơng để tụt lùi, lạc hậu. “Học” là tìm hiểu, khám phá
những tri thức của loài người nhằm chinh phục thiên nhiên, chinh phục vũ trụ. Còn
“hành” nghĩa là làm, là thực hành, là ứng dụng kiến thức, lí thuyết vào thực tiễn đời
sống. Cho nên học và hành có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Học và hành là hai
mặt của một qua trình thống nhất, nó khơng thể tách rời mà phải luôn gắn chặt với
nhau
làm
một.
Chúng ta cần hiểu rõ “hành” vừa là mục đích vừa là phương pháp học tập. Một khi đã
nắm vững kiến thức, đã tiếp thu lí thuyết mà ta khơng vận dụng vào thực tiễn, thì học
cũng trở nên vơ ích. Có nhiều bạn trẻ khi rời ghế nhà trường vào một nhà máy, một cơ
quan… Lúng túng không biết phải làm công việc mà chuyên mơn mình đã được học
như thế nào? Dẫn đến gặp rất nhiều khó khăn, nhiều khi là sự hoang mang, chán nản.
Nguyên do dẫn đến việc “học” mà không “hành” được là do học không thấu đáo, khi
cịn ngồi trên ghế nhà trường khơng thật sự chun tâm, rèn luyện, trau dồi kiến thức
hoặc
thiếu
môi
trường
hoạt
động.
Ngược lại nếu hành mà khơng có lí luận, lí thuyết soi sáng và kinh nghiệm đã được
đúc kết dẫn dắt thì việc ứng dụng vào thực tiễn sẽ lúng túng, gặp rất nhiều khó khăn
trở ngại, thậm chí có khi cịn dẫn đến những sai lầm to lớn nữa. Do vậy việc học tập,
trau dồi kiến thức và kinh nghiệm là nền tảng để mỗi người áp dụng vào thực tế, thực
hành
trong
thực
tiễn
cuộc
sống.
Một thực tế cho thấy, sự thiếu liên hệ giữa kiến thức với thực tiễn ở các trường phổ
thông đã khiến các sinh viên tương lai không biết nên lựa chọn ngành học nào trước
mùa thi. Đa số các em không biết sử dụng những kiến thức đã được học vào việc gì
ngồi
việc
để...
thi
đỗ
đại
học
Hậu quả sâu xa hơn của việc “học” khơng đi đơi với “hành” là có nhiều học sinh, sinh
viên đạt kết quả học tập rất cao nhưng vẫn ngơ ngác khi bước vào cuộc sống, nhiều
thủ khoa sau khi ra trường, va vấp cuộc sống mới tự hỏi: “Không biết việc chọn
trường chọn ngành của mình đã đúng hay chưa?”. Nhất là khi xã hội đang cần những
người có tay nghề cao phục vụ cho cơng cuộc cơng nghiệp hố - hiện đại hố thì việc
“Học đi đơi với hành” càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
- Tuy nhiên, nếu chỉ chăm vào học tập thơi thì chưa đủ, chúng ta cần phải rèn luyện cả
về phẩm chất, đạo đức như Bác đã từng dạy “Có tài mà khơng có đức là người vơ
dụng, có đức mà khơng có tài thì làm việc gì cũng khó” Tài và đức là những phẩm
chất khác nhau nhưng luôn luôn gắn bó mật thiết khơng thể tách rời. Có tài mà khơng
có đức là người vơ dụng, bởi tài năng đó khơng phục vụ cái chung mà chỉ mưu cầu lợi
ích cho một cá nhân thì cũng trở thành vơ giá trị. Con người ta khơng thể sống một
mình, khơng thể tách rời khỏi gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, nhân dân, nhân loại. Giá
trị một con người được xem xét chính bởi tác dụng của cá nhân đó trong mối quan hệ
với đồng loại. Người khơng có đức là người khơng quan tâm đến quyền lợi của người
khác. Nếu có tài, họ cũng chỉ vun vén để có lợi cho riêng họ. Người có tài mà phản
bội Tổ quốc, đi ngược lại lợi ích của tập thể thì chẳng những vơ dụng mà cịn có tội.
Người càng có tài mà kém đạo đức thì tác hại mang đến cho gia đình, xã hội càng lớn.
Nhưng nếu chỉ có đức mà khơng có tài thì làm việc gì cũng khó. Có đức, có khát vọng
hành động vì lợi ích của mọi người nhưng khơng có kiến thức, năng lực kém thì
những ý định tốt cũng khó trở thành hiện thực. Tài năng giúp con người lao động có
hiệu quả. Thiếu tài năng, người ta trở nên ít có tác dụng trong đời sống con người. Rõ
ràng là giá trị con người phải bao gồm cả tài và đức. Đức và tài bổ sung, hỗ trợ cho
nhau thì con người mới trở nên toàn diện, mới đạt hiệu quả lao động cao và mới có ích
cho
mọi
người.
Chúng ta hiện nay đang là những sinh viên, là những người đang trong quá trình phát
triển về mọi mặt cả về thể lực và trí lực, tri thức và trí tuệ nhân cách... cho nên thời kì
này phải tranh thủ điều kiện để hồn thiện bản thân, phải rèn luyện cả phẩm chất, năng
lực, cả đức cả tài, học hỏi bạn bè, gia đình, nhà trường và xã hội để trở thành con
người mới xã hội chủ nghĩa nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện nay làm nền tảng
cho sự phát triển tiếp tục trong tương lai.
7. Phân tích cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện và vận dụng bản
thân( cơ sở lý luận MLH phổ biến)
- Nội dung quan điểm toàn diện
- Cơ sở l.ý luận của QĐ toàn diện
- Vận dụng :tham khảo thêm câu 6
8.
Vì sao trong nhận thức và thực tiễn cần quán triệt quan điểm toàn
diện( xuất phát từ nguyên lý MHL phổ biến)
Nhận thức là sự phản ánh của thế giới khách quan vào trong bộ não con người một
cách năng động và sáng tạo, thông qua lao động và ngôn ngữ.
Hoạt động thực tiễn là tất cả những hoạt động vật chất có tính chất lịch sử và xã hội
của con người nhằm làm biến đổi tự nhiên và xã hội. Những hoạt động thực tiễn như :
hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động làm biến đổi các quan hệ xã hội và thực
nghiệm khoa học.
Nhận thức bắt nguồn từ thực tiễn, hay nói cách khác từ trong hoạt động thực tiễn làm
xuất hiện những nhu cầu buộc con người phải nhận thức thế giới. Thông qua thực tiễn
con người làm cho sự vật hiện tượng bộc lộ những thuộc tính, những liên hệ, trên cơ
sở đó con người nhận thức chúng. Như vậy, thực tiễn đem lại những tài liệu cho quá
trình nhận thức, giúp cho nhận thức nắm được bản chất, các quy luật của thế giới.
Thực tiễn cịn làm hồn thiện các giác quan của con người qua đó làm tăng khả năng
nhận biết của các giác quan thúc đẩy nhận thức của con người phát triển.
Tuy nhiên, thế giới này là thế giới vât chất. Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới
vật chất dù có phong phú, đa dạng, mn màu thì cũng chỉ là những dạng tồn tại khác
nhau của một thế giới duy nhất, thống nhất là thế giới vật chất. Các sự vật, hiện tượng
không tồn tại, biệt lập tách rời nhau mà tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa
lẫn nhau theo những quan hệ xác định; đây chính là mối liên hệ giữa các sự vật hiện
tượng. Vì các mối quan hệ là sự tác động qua lại, chuyển hóa, quy định lẫn nhau giữa
các sự vật, hiện tượng và các mối liên hệ mang tính khách quan, mang tính phổ biến
nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải tơn trọng quan
điểm tồn diện, phải tránh cách xem xét phiếm diện.
Quan điểm tồn diện địi hỏi, muốn nhận thức được bản chất của sự vật hiện tượng
chúng ta phải xem xét sự tồn tại của nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, yếu
tố, thuộc tính khác nhau trong chính chỉnh thể của sự vật, hiện tượng ấy và trong mối
liên hệ qua lại giữa sự vật hiện tượng đó với sự vật, hiện tượng khác; tránh xem xét
phiến diện một chiều, chủ nghĩa chiết trung hay thuật ngữ nguỵ biện.
Để đánh giá được mối liên hệ chủ yếu, bản chất quy định sự vận động, phát triển của
sự vật, hiện tượng cần xem xét, đánh giá từng mặt, từng mối liên hệ của sự vật hiện
tượng đó. Phải biết phân biệt từng mối liên hệ, phải biết chú ý tới mối liên hệ bên
trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên và lưu ý sự
chuyển hóa lẫn nhau giữa các mối quan hệ từ đó có những phương pháp tác động phù
hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của bản thân. Trong nhận thức,
nguyên tắc toàn diện là yêu cầu tất yếu của phương pháp tiếp cận khoa học, cho phép
tính đến mọi khả năng của vận động, phát triển có thể có của sự vật, hiện tượng đang
nghiên cứu; nghĩa là cần xem xét sự vật, hiện tượng trong một chỉnh thể thống nhất
với tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính, cùng các mối quan hệ của
chúng. Để đảm bảo ngun tắc tồn diện q trình nhận thức sự vật, hiện tượng chúng
ta cần xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người.
QUY LUẬT MÂU THUẪN
9. Phân tích câu nói của Lê nin : phát triển là 1 cuộc đấu tranh giữa các
mặt đối lập
-Phát triển là gì? (trang 29 sách vàng)
-Mặt dối lập? (trang 45 sách vàng)
Sự hình thành và phát triển của mâu thuẫn diễn ra ntn ? Kết quả của việc giải quyết
mâu thuẫn? (Trang 45 46 47 48 sách vàng)
QUY LUẬT PĐ CỦA PĐ
10.
Ý nghĩa pp luận của quy luật pđ của pđ.Sự vận dụng của bản thân
- Khái niệm PĐ, PĐ của PĐ, nội dung quy luật PĐ của PĐ,
- . nghĩa PPL của QL này
- Sự vận dụng của bản thân
QUY LUẬT LLSX-QHSX
11. Biện chứng của LLSX VÀ QHSX( nd , sự vận dụng ở VN)
-Kn LLSX, QHSX trang 61 sách vàng
-Mối liên hệ LLSX, QHSX
-Liên hệ VN :Thực trạng LLSX? Phát triển LLSX ntn? QHSX ở VN?
Thực trạng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất của Việt nam
trước và sau Đổi mới ( 1986)
1, Thời kỳ trước Đổi mới
Sau cuộc chiến tranh bảo vệ dân tộc kéo dài, kinh tế nước ta vốn đã lạc hậu nay lại
càng gặp nhiều khó khăn hơn, lực lượng sản xuất của nước ta cịn thấp kém và chưa
có điều kiện phát triển.
Trình độ người lao động rất thấp, hầu hết khơng có chun mơn tay nghề, phần lớn
lao động chưa qua đào tạo. Lao động Việt nam chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông
nghiệp, chủ yếu dựa trên kinh nghiệm mà cha ông để lại. Trường dạy nghề rất hiếm,
chủ yếu chỉ xuất hiện ở Hà Nội, Sài Gịn,....Tại những đơ thị lớn, trình độ của người
lao động cao hơn các vùng khác trong cả nước.
Tư liệu sản xuất mà nhất là công cụ lao động ở nước ta thời kỳ này còn thô sơ, lạc
hậu. Là một nước nông nghiệp thế nhưng cơng cụ lao động chủ yếu là cày, cuốc, theo
hình thức “ con trâu đi trước, cái cày theo sau”, sử dụng sức người là chủ yếu, trong
công nghiệp máy móc thiết bị cịn ít và rất lạc hậu. Phát triển cơng cụ lao động giữa
các vùng, miền cũng có sự khác nhau.
Nhìn chung trước trước Đổi Mới lực lượng sản xuất ở Việt nam thấp kém, lạc hậu và
phát triển khơng đồng đều.
Trong hồn cảnh đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng quan hệ sản xuất xã
hôi chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, bao gồm hai thành phần
kinh tế: thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế
hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động. Nhà nước không thừa nhận
yếu tố kinh tế tư bản như là các thành phần kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân dựa trên
chế độ sở hữu tư nhân, đã phân định tách bạch thuần khiết chế độ sở hữu và thành
phần kinh tế xã hội chủ nghĩa, phi xã hội chủ nghĩa, tuyệt đối hóa vau trị của chế độ
cơng hữu, dẫn đến chủ trương cải tạo, sớm xóa bỏ các thành phần kinh tế phi xã hội
chủ nghĩa. Trong thời kỳ đầu, sau giải phóng miền Bắc, bước vào xây dựng chủ nghĩa
xã hội, chúng ta đã nhấn mạnh thái q vai trị “tích cực” của quan hệ sản xuất, dẫn
đến chủ trương quan hệ sản xuất phải đi trước, mở đường để tạo động lực cho sự phát
triển lực lượng sản xuất. Có những nơi nơng dân bị bắt ép đi vào các hợp tác xã, mở
rộng nông trường qc doanh mà khơng tính đến lực lượng sản xuất cịn rất lạc hậu.
Người lao động khơng được chú trọng về cả trình độ và thái độn lao động, đáng ra là
chủ thể của sản xuất nhưng lại trở nên thụ động trong cơ chế quan liêu bao cấp. Nước
ta quá nhấn mạnh sở hữu tư liệu sản xuất theo hướng tập thể hóa, cho đó là nhân tố
hàng đầu của quan hệ sản xuất mới, từ đó người lao động bị biệt lập với đối tượng lao
động. Quan hệ sản xuất lên quá cao, tách rời với lực lượng sản xuất. Hậu quả là sản
xuất bị kìm hãm, đời sơng nhân dân đi xuống nhanh chóng. Đến cuối năm
1985( 12/1985, giá bán lẻ hàng hóa tăng 845.3%), năng suất lao động quá thấp, kinh tế
lâm vào khủng hoảng trầm trọng.
2, Thời kỳ sau Đổi mới (1986)
Nhận thức được sai lầm trong thời kỳ trước, Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đã
thẳng thắn thừa nhận khuyết điểm, chủ trương Đổi mới phương thức quản lý kinh tế
và cho đến nay đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Người lao động nước ta đến năm
2005 là 44,3 triệu người, trong đó lao động đã qua đào tạo là 24,79 %. Hệ thống
trường dạy nghề các cấp được mở rộng. Đội ngũ trí thức cũng tăng lên nhanh chóng,
năm 2007-2008, cả nước có 1 603 484 nghìn sinh viên. Năm 2008, nước ta có 160
trường đại học, 209 trường cao đẳng và 275 trường trung cấp chuyên nghiệp, đáp ứng
được phần nào nhu cầu đào tạo lao động cho đất nước. Tuy nhiên, thị trường lao động
vẫn bị phân mảng, tồn tại tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu lao động, nhất là
thiếu thợ”. Nền kinh tế đang thiếu đi nguồn nhân lực có tay nghề, chất lượng nhân lực
của Việt Nam còn thấp so với các nước lân cận.
Máy móc và các trang thiết bị hiện đại ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các
ngành kinh tế. Trong nông nghiệp là máy cày, máy bừa,...các giống cây trồng mới
cũng được tìm ra và phổ biến. Trong công nghiệp, kỹ thuật hạt nhân bắt đầu phát
triển, đẩy mạnh sản xuất. Tuy nhiên nhìn chung so với nhiều quốc gia trên Thế giới thì
tư liệu sản xuất nước ta còn nghèo nàn, chậm cải tiến, hiệu quả chưa thật sự cao và
cịn phân hóa giữa các vùng trong cả nước.
Nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức kinh doanh đa dạng,
phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi tiểm năng của các thành phần kinh tế, các quan
hệ sản xuất xã hôi chủ nghĩa, quan hệ sản xuất tư bản, manh mún của quan hệ sản xuất
phong kiến được công nhận. Như vậy, trong hồn cảnh lực lượng sản xuất khơng
ngừng phát triển, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đa dạng các mối quan hệ xã hội
đã bước đầu vận dụng đúng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển của
lực lượng sản xuất và đx đạt hiều thành tựu đáng kể. Năm 2005, tốc độ tăng trưởng
GDP của nước ta là 8,4 %, cao nhất khu vực Đông Nam Á. Trong bối cảnh nhiều
nước rơi vào khủng hoảng thì vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam vẫn cao,cụ thể là
45 tỷ USD vốn FDI từ 2005-2010, GDP trên người khoảng 1168 USD/người/năm. 9
tháng năm 2018, tổng vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn, mua cổ phần của
nhà đầu tư nước ngoài là 25,37 tỷ USD, bằng 99,6% so với cùng kỳ năm 2017. Tốc độ
tăng trưởng GDP năm 2018 đạt khoảng 6,7%, dự báo triển vọng có thể đạt cao hơn.
Quy mô nền kinh tế ước đạt 5,55 triệu tỷ đồng, tương đương 240,5 tỷ USD. Năm
2017, quy mô nền kinh tế đạt 5 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 220 tỷ USD.
QHSX chúng ta thiết lập và xây dựng hiện nay là QHSX trong nền kinh tế thị trường
và định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là QHSX xã hội chủ nghĩa tiến bộ vì nó hơn hẳn
QHSX phong kiến và QHSX tư bản chủ nghĩa ( có bản chất bóc lột và ngày càng tỏ ra
lỗi thời không phù hợp với lịch sử). Và QHSX xã hội chủ nghĩa sẽ dần xóa bỏ áp bức
bóc lột đưa mọi thành viên trong bộ máy sản xuất và cả xã hội đến ấm no, hạnh phúc.
- Đa dạng hóa các hình thức sở hữu: Do trình độ của LLSX ở nước ta hiện nay
đa dạng, không đồng đều, nhiều trình độ do đó nước ta phải xây dựng một QHSX phù
hợp. Cùng với tiến trình xã hội hóa lực lượng sản xuất do cơng nghiệp hóa, hiện đại
hóa mang lại, con đường cơ bản của sự phát triển“ quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
ở nước ta là sự hình thành đa dạng các hình thức sở hữu hỗn hợp, đan kết lẫn nhau
giữa hai nhân tố công hữu và tư hữu bằng những hình thức kinh tế trung gian q độ.
Trong đó, nhân tố cơng hữu sẽ ngày càng tăng lên thơng qua một q trình tích lũy về
lượng bằng những định hướng của Nhà nước phù hợp với sự phát triển của lực lượng
sản xuất và theo đó yếu tố cơng hữu sẽ ngày càng làm tốt hơn vai trò chi phối và chủ
đạo trong nền kinh tế”[3]. Các hình thức kinh tế quá độ để chuyển tư hữu thành công
hữu là rất đa dạng. Thực tiễn cuộc sống và sự phát triển tư duy lý luận sẽ ngày càng
bổ sung thêm những hình thức mới. Cho đến nay chúng ta có thể khẳng định, để
chuyển tư hữu thành công hữu không chỉ bằng con đường tịch thu, quốc hữu hóa hay
bằng chủ nghĩa tư bản nhà nước, mà cịn có thể bằng phát triển rộng rãi các hình thức
của kinh tế hợp tác, các cơng ty cổ phần và các tổ chức kinh tế của những người lao
động làm chủ, liên doanh, liên kết. Đa dạng có nghĩa là chúng ta xây dựng một nền
kinh tế nhiều hình thức sở hữu cùng tồn tại: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu
tư nhân, trong đó sở hữu nhà nước giữ vị trí chủ đạo và then chốt trong nền kinh tế
quốc dân. Điều này hoàn toàn phù hợp với LLSX ở nước ta hiện nay. Quan hệ sở hữu
đang ngày càng tiến bộ vì nó đang vận hành theo hướng hạn chế đến mức tối thiểu
những tiêu cực trong quá trình sản xuất và phấn đấu đi đến xóa bỏ áp bức bóc lột đem
lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho toàn xã hội.
- Xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần: trải qua thời kì chiến tranh nước ta
đã và đang từng bước vượt qua khó khăn, hồn thiện tiến dần tới sự tiến bộ và phù
hợp. Nếu trước kia chúng ta chỉ công nhận sự tồn tại của hai thành phần kinh tế: thành
phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc
sở hữu tập thể của nhân dân lao động. Một ví dụ minh chứng cụ thể cho sự tồn tại
của thành phần kinh tế cũ này là: ở nước ta tồn tại mơ hình hợp tác xã, mơ hình này
trước thời kì đổi mới là các hợp tác xã mang tính chất ép buộc ( buộc mọi người vào
làm trong hợp tác xã), tính cơng theo ngày không quan tâm tới năng suất, hiệu quả,
tinh thần trách nhiệm của mọi thành viên trong hợp tác, cũng như lợi ích của người lao
động, cơng cụ lao động thủ công nên người này chăm chỉ, người khác vẫn có thể lười
biếng. Từ thực trạng tiêu cực đó nước ta khơng thể duy trì hai thành phần kinh tế đó
nữa mà cần có sự đa dạng, mở rộng với việc công nhận thêm các thành phần kinh tế
khác: thành phần kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản, tư
nhân; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi. Trong đó, kinh tế
nhà nước giữ vai trị chủ đạo. Kinh tế tập thể khơng ngừng được củng cố và phát triển.
Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của
nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế.
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi được khuyến khích phát triển. Các thành phần kinh
tế đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật,
cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng
và sự quản lí của nhà nước nhằm tạo ra sự tăng trưởng mạnh mẽ về kinh tế và giữ
được sự ổn định về chính trị, gắn với cơng bằng xã hội.
III/ Phương hướng để phát triển LLSX
Nâng cao trình độ người lao động bằng cách phát triển giáo dục đào tạo đặc biệt là
đào tạo nghề. Nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục đào tạo nghề, nhằm đẩy mạnh
phát triển nguồn lao động cả về số lượng và chất lượng.
Hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để hoàn thiện
quan hệ sản xuất.
Tăng cường những bước cơ bản về cơ sở vật chất cho khoa học – công nghệ, tập
trung xây dựng một số phịng thí nghiệm đạt trình độ tiên tiến trong khu vực trên các
lĩnh vực công nghệ trọng điểm như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, hóa
dầu....
Về quản lý, trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải có sự quản lý
của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý nền kinh tế bằng
pháp luật, chiến lược, kế hoạch, chính sách đồng thời sử dụng cơ chế thị trường, các
hình thức kinh tế và phương pháp quản lý kinh tế thị trường để kích thích sản xuất,
giải phóng sức sản xuất, phát huy tính tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực
KẾT LUẬN
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là
quy luật phổ biến, tác động trong tồn tiến trình lịch sử nhân loại. Sau chặng đường
hơn ba mươi năm thực hiện Đổi mới vừa qua, Đảng ta đã khơng ngừng tìm tòi, phát
triển nhận thức về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất trên tổng thể
và đối với từng yếu tố cấu thành nên quan hệ sản xuất. Thực tiễn cho thấy con đường
chúng ta đang đi là đúng đắn và đạt nhiều thành tựu quan trọng, vượt qua nhiều giai
đoạn lịch sử nhạy cảm. Về con đường và cách thức đi lên xã hội chủ nghĩa ở nước ta
có nhiều vấn đề được làm sáng tỏ nhưng cũng có nhiều vấn đề cần phải phát triển
thêm. Có thể nói việc xây dựng và hồn thiện quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một vấn đề như thế. Mặt khác
cần đi đôi với việc phát triển cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và đi tắt đón
đầu, chú trọng các ngành nhiều thế mạnh trở thahf ngành côn nghiệp mũi nhọn, phù
hợp với sựu phát triển nền khoa học công nghệ nước nhà. Việc phát triển cơng nghiệp
hóa – hiện đại hóa đất nước và phát triển nền kinh tế thị trường phải được thực hiện
đồng thời, thúc đẩy hỗ trợ nhau cùng phát triển. Bởi lẽ nếu cơng nghiệp hóa – hiện đại
hóa tạo nên lực lượng sản xuất cần thiết cho sự phát triển xã hội thì việc phát triển
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự điều tiết của nhà nước và theo định hướng xã
hội chủ nghĩa chính là để xây dựng hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp. Nước ta cần
xác lập và hoàn thiện một quan hệ sản xuất tiến bộ và phù hợp với lực lượng sản xuất
hiện nay để đất nước phát triển hơn nữa,mà trước hết là phát triển kinh tế một cách
bền vững.
QUY LUẬT CSHT-KTTT
12. Mối quan hệ giữa CSHT-KTTT.Liên hệ với nước ta trang 65 sách vàng
Đảng CSVN đã vận dụng mối quan hệ biện chứng này như thế nào vào quá trình
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay
Lịch sử xã hội loài người đã trãi qua 4 hình thái KTXH, đó là : chế độ công sản
nguyên thủy, chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và
đang trãi qua thời kỳ quá độ của CNXH, giai đoạn đầu tiên của CNCS. Mác cho rằng
không phải quốc gia, dân tộc nào cũng nhất thiết phải trải qua tất cả các hình thái kinh
tế - xã hội đã có trong lịch sử. Do những điều kiện khách quan và chủ quan nhất định,
một quốc gia, dân tộc nào đó có thể bỏ qua một hình thái kinh tế - xã hội nhất định
nào đó để tiến lên một hình thái kinh tế - xã hội tiến bộ hơn. Đó cũng là q trình lịch
sử tự nhiên nhưng mang tính đặc thù, rút ngắn lịch sử. Tuy nhiên, phát triển rút ngắn
đòi hỏi phải có những điều kiện khách quan và chủ quan mới có thể thực hiện được.
Lê-nin cũng đã nói con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội có thể có những hình thức
khác nhau; điều đó tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Theo
người, hình thức quá độ trực tiếp là con đường phát triển tuần tự từ CNTB lên CNXH;
cịn hình thức q độ gián tiếp là con đường phát triển rút ngắn, bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghĩa đi lên CNXH. Mọi sự phát triển rút ngắn đều phải nhằm mục đích cuối
cùng là tạo ra sự phát triển vượt bậc, thậm chí là nhảy vọt của lực lượng sản xuất và
do vậy, về thực chất, phát triển rút ngắn chỉ có thể là rút ngắn các giai đoạn hay bước
đi trong tiến trình phát triển liên tục của lực lượng sản xuất
Dựa vào học thuyết của Mác – Lênin về hình thái kinh tế - xã hội, Đảng ta đã vận
dụng những lý luận này vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, chọn lựa con đường phát
triển rút ngắn - tức là đi lên CNXH không trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ
nghĩa. Sự chọn lựa đó dựa trên những yếu tố khách quan và chủ quan như sau :
Về khách quan, thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên
phạm vi toàn thế giới và theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến
tới CNXH. Văn kiện Đại hội IX đã chỉ rõ mặc dù trước mắt CNTB vẫn cịn tiếp tục
phát triển nhưng nó khơng giải quyết được mâu thuẩn cơ bản giữa quan hệ sản xuất đã
lạc hậu với lực lượng sản xuất phát triển mạnh, từ đó làm cho lực lượng sản xuất chưa
phát triển đúng với tiềm năng của nó, dẫn đến những suy thoái kinh tế tất yếu xảy ra
và cùng với nó là sự khủng hoảng về chính trị. Bỡi lẽ, phương thức sản xuất TBCN
làm cho quy mô của các công ty tư bản sẽ ngày càng lớn do hệ quả của các cuộc
khủng hoảng kinh niên và mang tính tàn phá của nền kinh tế tư bản. Cùng với chế độ
bóc lột tư bản chủ nghĩa, sự phân cực xã hội là vơ cùng sâu sắc, sự phân hóa giàu
nghèo được đẩy tới đỉnh điểm. Ở đây của cải ngày càng tập trung vào một số nhỏ các
cá nhân là những triệu phú và tỉ phú; ở cực đối lập là những người sống dưới mức
nghèo khổ ở các nước tư bản phát triển và đông đảo những người cùng khổ, đói rét ở
các nước tư bản đang phát triển. Mặt khác, nội dung vật chất của chế độ bóc lột tư bản
chủ nghĩa là giá trị thặng dư mang hình thức giá trị trao đổi (tức là vàng bạc hay tiền
tệ), làm cho lòng thèm khát tăng lao động thặng dư và khát vọng làm giàu trên cơ sở
đó được đẩy tới cực độ. Hệ quả của thực tế đó chắc chắn sẽ đúng như sự tiên đốn của
C. Mác: "cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, chính cái nền tảng trên đó giai
cấp tư sản đã sản xuất và chiếm hữu sản phẩm của nó, đã bị phá sập dưới chân giai
cấp tư sản. Trước hết, giai cấp tư sản sinh ra những người đào huyệt chơn chính nó.
Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều tất yếu như nhau".
Mặt khác, thế kỷ XXI là thế kỷ khoa học và cơng nghệ có những bước nhảy vọt, kinh
tế trí thức ngày càng có vai trị nổi bật trong sự ảnh hưởng đến quá trình lực lượng sản
xuất của các quốc gia. Bên cạnh đó, tồn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đối với
mọi nước, nhất là các nước đang phát triển, vừa là thời cơ vừa là thách thức. Đối với
nước ta, thời cơ lớn hơn thách thức. Chúng ta chẳng những có khả năng tiếp cận
những tiến bộ KHKT, tranh thủ nắm bắt và vận dụng những thành tựu khoa học và
công nghệ sản xuất, trình độ sản xuất, kỹ năng lao động, trình độ tổ chức và quản lý
sản xuất của con người để nhanh chóng xây dựng lực lượng sản xuất hiện đại mà cịn
có khả năng tạo ra thời cơ nếu ta có đường lối đúng, có bản lĩnh để thực hiện đường
lối đó.
Trong thời gian qua nền kinh tế ở Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng
như: tăng trưởng GDP ở nhịp độ cao, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng
tăng tỉ trọng của công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỉ trọng nông nghiệp. Cơ cấu của
từng ngành cũng có sự chuyển dịch dần theo hướng phát huy lợi thế cạnh tranh hơn
đối với thị trường trong và ngoài nước. Tỉ lệ huy động vốn cho đầu tư phát triển có xu
hướng tăng , các nguồn lực trong xã hội được huy động tốt hơn, đặc biệt trong khu
vực kinh tế tư nhân, đầu tư cho cơ sở hạ tầng có tiến bộ, năng lực sản xuất của nhiều
ngành tăng lên.
Về chủ quan, Qua hơn 20 năm thực hiện những nội dung đối mới đó, nền kinh tế
nước ta đã có những bước chuyển tích cực trong việc xây dựng nền tảng cơ sở vật chất
cho CNXH. Tăng trưởng kinh tế nhanh, cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường, mở
rộng quan hệ quốc tế. Tỷ lệ đói nghèo giảm với khoảng 25 triệu người thốt khỏi đói
nghèo. Song song với sự thành tựu về kinh tế là sự đổi mới về kiến trúc thượng tầng
bắt đầu từ việc đổi mới về chính trị. Đảng cộng sản Việt Nam đã chứng tỏ một bản
lĩnh chính trị vững vàng và đường lối lãnh đạo đúng đắn. Nhà nước đã có nhiều cố
gắng trong việc điều hành và quản lý đất nước. Chúng ta đã có bài học của ba mươi
năm lãnh đạo xây dựng kinh tế trong hịa bình với tư cách của một Đảng cầm quyền
duy nhất của một nước có gần 90 triệu dân vốn cần cù, thông minh và giàu nghị lực
sáng tạo. Đó là những yếu tố chủ yếu đảm bảo sự thành công cho sự nghiệp xây dựng
CNXH
Qua nghiên cứu, tổng kết thực tiển với tư duy quan điểm mới Đảng ta đã nhìn nhận
vấn đề bỏ qua “giai đoạn” hay “thời kỳ” đơn thuần là rút ngắn thời gian trên cơ sở có
được những điều kiện, thời cơ và tiền đề vật chất quan trọng nhất đó là sự phát triển
của LLSX và sự trưởng thành của giai cấp vô sản. Cụ thể hoá nội dung “bỏ qua”, đại
hội ĐBTQ lần IX của Đảng đã nêu rõ :”Bỏ qua chế độ TBCN, tức là bỏ qua việc xác
lập vị trí thống trị của QHSX và KTTT TBCN, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành
tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN, đặc biệt về khoa học và công nghệ,
để phát triển nhanh LLSX, xây dựng nền KT hiện đại”. Nghĩa là chúng ta thừa nhận
sự tồn nền KT nhiều thành phần theo định hướng XCHN. Có tiếp nhận, cải tạo các
quan hệ sản xuất cũ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát huy mọi thành phần kinh
tế, nâng sức sản xuất của XH, tạo ra thật nhiều sản phẩm phong phú có sức cạnh tranh
trên thị trường. Đồng thời thông qua sự nghiệp CNH-HĐH – đây là nội dung mang
tính quyết định và đột phá nhằm nâng tầm về chất của LLSX và xây dựng LLSX cần
thiết cho chế độ mới. Sự nghiệp CNH phải đi đôi với HĐH nghĩa là trong xu thế tất
yếu của tồn cầu hố kinh tế và trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học công
nghệ ngày nay chúng ta tiếp tục đường lối kinh tế đối ngoại rộng mở, hồ nhập đi
trước đón đầu, mở cửa hiện đại hố ra bên ngồi tiếp thu những thành tựu khoa học
hiện đại của nhân loại, chú trọng phát triển kinh tế theo chiều sâu đó là xây dựng
LLSX phát triển với thiết bị hiện đại, công nghệ hàng đầu, đặc biệt là đào tạo lực
lượng lao động có trình độ chun mơn hố cao là điều kiện cần thiết để nền KT phát
triển nhanh, bền vững và hiệu quả.
Tóm lại ”XD CNXH bỏ qua chế độ TBCN tạo ra sự biến đổi về chất của XH, trên tất
cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn phức tạp, cho nên phải trãi qua một thời kỳ
quá độ lâu dài với nhiều chặn đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế XH có tính chất
q độ” là quan điểm đúng đắn của Đảng ta trong việc vận dụng một cách hiệu quả
mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, phù hợp với tình
hình đất nước. Phù hợp với tiến trình lịch sử – tự nhiên của sự phát triển xã hội.
Hình thái KT-XH
13. Vận dụng học thuyết HTKT-XH trong quá trình xd CNXH ở VN
-Chép hết IV trong sách vàng trang 70
-sự vận dụng nước ta
Việc lựa chọn con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa là một tất yếu lịch sử
Nước ta là nước lạc hậu về kinh tế lại bị đế quốc thực dân thống trị một thời
gian dài, cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo và lạc hậu .
Đảng ta khẳng định sau khi Việt Nam tiến hành công cuộc cách màng xã hội
chủ nghĩa , xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nước tiến từ bản chủ nghĩa bỏ qua chủ
nghĩa tư bản sự lựa chọn trên 2 căn cứ sau đây.
Một là, chỉ có CNXH mới giải phóng được nhân dân lao động thốt khỏi áp
bức, bóc lột bất công đem lại cuộc sống ấm lo hạnh phúc cho nhân dân
Hai là, thắng lợi của cuộc cách mạng thắng lợi Nga năm 1971 đã mở ra một
thời đại mới, tạo khả năng thực hiện cho các dân tộc lạc hậu tiến lên con đường
CNXH.
Sự lựa chọn ấy không mâu thuẫn với quá trình phát triển lịch sử tự nhiên của
XHCN, khơng mâu thuẫn với hình thái kinh tế xã hội củ chủ nghĩa Mác Lê-nin. Trong
điều kiện cụ thể sự lựa chọn ấy chính là sự lựa chọn con đường rút ngắn bỏ qua chế
độ TBCN.
Con đường CNXH cho phép chúng ta có thể phát triển nhanh lực lượng sản
xuất theo hướng ngày càng hiện đại, giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội phát
triển xã hội theo chiều hướng tiến bộ vừa có thể tránh cho xã hội và nhân dân lao
động phải trả giá cho các vấn đề của xã hội tư bản mà trước hết là chế độ người bóc
lột người, là quan hệ bất bình đẳng người với người..