Tải bản đầy đủ (.docx) (29 trang)

Vận dụng lý luận tích lũy tư bản của chủ nghĩa mác lenin vào xây dựng nền kinh tế ở việt nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (296.29 KB, 29 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HCM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ


MƠN HỌC: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN

TIỂU LUẬN

TÁC DỤNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TÍCH
LŨY TƯ BẢN TỚI SỰ PHÁT TRIỂN NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG
XHCN Ở VIỆT NAM
GVHD: TS. Trương Quang Đức
SVTH :
Nguyễn Ngọc An

19161202

Chu Nhật Tân

19134082

Văn Đình Quảng Thái

19134083

Mã lớp học: 202LLCT120405


Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng 6 năm 2021



NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................

Điểm: ……………………………..

KÝ TÊN

MỤC LỤC



A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước ta trong quá trình hội nhập, phát triển năng động nhất từ trước
đến nay và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng cả về kinh tế, chính trị, xã
hội, nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế. Đó là những thành quả rất
đáng tự hào mà chúng ta có được nhờ sự lựa chọn đúng đắn đường lối phát triển
kinh tế thị thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự vận dụng sáng tạo các
phương pháp, nguyên lí cơ bản của phát triển kinh tế vào điều kiện Việt Nam.

Mà theo Mác việc tích lũy tư bản là những động lực này cuối cùng sẽ dẫn tới
thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa Cộng Sản. Chính từ nhận định đó ta thấy được
nguồn vốn có vai trò rất lớn đến phát triển đất nước của nước ta hiện nay. Mặc
dù chúng ta có đường lối kế hoạch đúng đắn để xây dựng và phát triển kinh tế,
mà còn cần đến nguồn vốn rất lớn trong việc tăng trưởng kinh tế. Vốn là cơ sở
để tạo ra việc làm, tạo ra công nghệ tiên tiến tăng năng lực sản xuất của các
doanh nghiệp và cả nền kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất theo chiều
sâu. Từ những lí do trên tơi chọn đề tài “Vận dụng lý luận tích lũy tư bản của
chủ nghĩa Mác Lenin vào xây dựng nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài
tiểu luận.
2. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
2.1. Mục đích
- Tìm hiểu sâu hơn về tích lũy tư bản và những thay đổi trong bối cảnh
hiện nay.
- Góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế Việt Nam trong q trình cơng
nghiệp hóa, hiện nay hóa theo đường lối chủ trương chính sách của Đảng và nhà
nước ta.
2.2. Nhiệm vụ
- Đưa ra những lập luận đúng đắn để chỉ rõ vai trò của tích lũy tư bản
- Vận dụng những lý luận vào nền kinh tế Việt Nam.
5


2.3 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu trong phạm vi nền kinh tế ở Việt Nam
3. Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp biện chứng duy vật
-Phương pháp chủ nghĩa duy vật lịch sử
-phương pháp phân tích tổng hợp
4. Ý nghĩa của đề tài

Thấy được tầm quan trọng của tích lũy tư bản đến sự phát triển kinh tế.
Đồng thời thấy được vốn là cơ sở để thúc đẩy tạo ra việc làm, công nghệ mới để
phát triển đất nước.
5. Kết cấu đề tài
-Gồm 4 phần: + Phần mở bài
+ Phần nội dung
+ Phần kết luận
+ Phần tài liệu tham khảo
-Gồm 2 chương : chương 1 Cơ sở lí luận tích lũy tư bản
Chương 2 Vận dụng tích lũy tư bản vào xây dựng nền kinh tế
Việt Nam hiện nay

6


B. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN TÍCH LŨY TƯ BẢN
1.1. Những vấn đề chung về tích lũy tư bản
1.1.1. Thực chất của tích lũy tư bản
Trong bất kì xã hội nào, để đáp ứng đước nhu cầu vật chất và tinh thần
thì cần sản xuất của cải vật chất. Do đó nền sản xuất ln trong q trình tái sản
xuất. Đối với tư bản tái sản xuất giản đơn khơng phải là tái dân xuất của nó mà
tái sản xuất mở rộng. Tái sản xuất mở rộng là lặp lại q trình sản xuất với quy
mơ lớn hơn, khơng phải xã hội có thể bù đắp lại tư liệu vật chất đã tiêu dùng mà
đồng thời còn sản xuất thêm. Muốn vậy, phải biến một bộ phận giá trị thặng dư
thành tư bản phụ thêm.
Việc sử dụng giá trị thặng dư làm tư bản hay sự chuyển hoá giá trị thặng
dư trở lại thành tư bản. Như vây, thực chất của tích lũy tư bản là quá trình tư
bản hố giá trị thặng dư. Nói một cách cụ thể tích lũy tư bản là tái sản xuất ra tư
bản với quy mô ngày càng mở rộng. Sở dĩ giá trị thặng dư có thể chuyển hố

thành tư bản là vì giá trị thặng dư đã mang sẵn những yếu tố vật chất của tư bản
mới
Có thể minh hoạ tích lũy tư bản và tái sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng ví
dụ:
s tư bản bỏ ra K= 1000; c/v= 4/1; m'= 100%
Năm thứ nhất: Quy mô sản xuất 800c+200v+200m=1200
200 m chia thành: + 100m1 tiêu dùng cá nhân
+ 100m2 tích lũy (80c mua máy móc, 20v tuyển công
nhân)
Năm thứ hai: Quy mô sản xuất 880c + 220v +220m.
Vậy tư bản bất biết (c) và tư bản khả biến (v) tăng lên, m cũng tăng theo
Nghiên cứu tích lũy và tái sản xuất tư bản chủ nghĩa cho phép rút ra
những kết luận vạch rõ bản chất bóc lột của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa:
7


Một là nguồn gốc duy nhất của tích lũy tư bản là giá trị thặng dư và tư bản
tích lũy chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong toàn bộ tư bản C. Mác nói rằng“tư bản
ứng trước như là giọt nước nhưng tích lũy là dịng sơng của tích lũy mà thơi.
Trong q trình tái sản xuất, lãi (m) cứ đập vào vốn, vốn càng lớn thì lãi càng
lớn , do đó lao động của cơng nhân trong q khứ lại trở thành phương tiện để
bóc lột chính người cơng nhân .
Thứ hai, q trình tích lũy đã làm cho quyền sở hữu trong nền kinh tế
hàng hoá biến thành quyền chiếm đoạt tư bản chủ nghĩa. Trong sản xuất hàng
hoá giản đơn, sự trao đổi giữa những người sản xuất hàng hoá theo nguyên tắc
ngang giá về cơ bản không dẫn tới người này chiếm đoạt lao động không công
của người kia. Trái lại, nền sản xuất tư bản chủ nghĩa dẫn đến kết quả là nhà tư
bản chẳng những chiếm đoạt một phần lao động của công nhân, mà cịn là người
sở hữu hợp pháp lao động khơng cơng đó. Nhưng điều đó khơng vi phạm quy
luật giá trị.

1.1.2. Động cơ của tích lũy tư bản
Động cơ thúc đẩy tích lũy và tái sản xuất mở rộng là quy luật kinh tế tuyệt
đối của chủ nghĩa tư bản – quy luật giá trị thặng dư. Để thực hiện mục đích đó
các nhà tư bản khơng ngừng tích lũy để mở rộng sản xuất, xem đó là phương
tiện căn bản để tăng cường bóc lột cơng nhân làm th và làm giàu cho bản thân.
Như vậy, tích lũy tư bản giữ vai trò quyết định làm cho nền sản xuất tư
bản lớn nhanh, khơng có tích lũy thì khơng có quy mơ sản xuất lớn hơn. Do đó,
khơng có thêm lợi ích kinh tế, điều này khơng thể chấp nhận đối với một nhà tư
bản và chiếm dụng vốn để phát triển. Mặc khác, do cạnh tranh buộc các nhà tư
bản phải không ngừng làm cho tư bản của mình tăng lên bằng cách tăng nhanh
tư bản tích lũy. Nếu khơng tích lũy thì sẽ khơng thể giữ vững trên thị trường,
đồng nghĩa của sự phá sản của tư bản.
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới quy mô của tích lũy tư bản
Với một khối lượng giá trị thặng dư nhất định thì quy mơ của tích lũy tư
bản phụ thuộc vào tỉ lệ phân chia khối lượng của giá trị thặng dư đó thành quỹ
8


tích lũy và quỹ tiêu dung của nhà tư bản, nhưng nếu tỉ lệ phân chia đó đã được
xác định, thì quy mơ của tích lũy tư bản phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng
dư. Do đó, những nhân tố ảnh hưởng tới khối lượng giá trị thặng dư cũng là
nhân tố quyết định quy mơ của tích lũy tư bản. Những nhân tố đó là:
1.1.4. Trình độ bóc lột sức lao động
Các nhà tư bản nâng cao trình độ bóc lột sức lao động bằng cách cắt xén
vào tiền công. Khi nghiên cứu sự sản xuất giá trị thặng dư, C.Mác giả định rằng
sự trao đổi giữa công nhân và nhà tư bản là sự trao đổi ngang giá, tức là tiền
công bằng giá trị sức lao động. Nhưng trong thực tế, công nhân không chỉ bị nhà
tư bản chiếm đoạt lao động thặng dư, mà còn bị chiếm đoạt một phần lao động
tất yếu, tức cắt xén tiền cơng, để tăng tích luỹ tư bản.
Các nhà tư bản cịn nâng cao trình độ bóc lột sức lao động bằng cách tăng

cường độ lao động và kéo dài ngày lao động để tăng khối lượng giá trị thặng dư,
nhờ đó tăng tích luỹ tư bản. Cái lợi ở đây cịn thể hiện ở chỗ nhà tư bản khơng
cần ứng thêm tư bản để mua thêm máy móc, thiết bị mà chỉ cần ứng tư bản để
mua thêm nguyên liệu là có thể tăng được khối lượng sản xuất, tận dụng được
cơng suất của máy móc, thiết bị, nên giảm được hao mịn vơ hình và chi phí bảo
quản của máy móc, thiết bị.
1.1.1.5. Trình độ năng suất lao động xã hội
Nếu năng suất lao động xã hội tăng lên, thì giá cả tư liệu sản xuất và tư
liệu tiêu dùng giảm xuống. Sự giảm này đem lại hai hệ quả cho tích luỹ tư bản:
Một là, với khối lượng giá trị thặng dư nhất định, phần dành cho tích luỹ
có thể tăng lên, nhưng tiêu dùng của các nhà tư bản khơng giảm, thậm chí có thể
cao hơn trước;
Hai là, một lượng giá trị thặng dư nhất định dành cho tích luỹ có thể
chuyển hố thành một khối lượng tư liệu sản xuất và sức lao động phụ thêm lớn
hơn trước.

9


Do đó, quy mơ của tích luỹ khơng chỉ phụ thuộc vào khối lượng giá trị
thặng dư được tích luỹ, mà còn phụ thuộc vào khối lượng hiện vật do khối lượng
giá trị thặng dư đó có thể chuyển hố thành. Như vậy năng suất lao động xã hội
tăng lên sẽ có thêm những yếu tố vật chất để biến giá trị thặng dư thành tư bản
mới, nên làm tăng quy mơ của tích luỹ. Nếu năng suất lao động cao, thì lao động
sống sử dụng được nhiều lao động quá khứ hơn, lao động quá khứ đó lại tái hiện
dưới hình thái có ích mới, được sử dụng làm chức năng của tư bản ngày càng
nhiều, do đó cũng làm tăng quy mơ của tích luỹ tư bản.
1.1.6. Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng
Trong quá trình sản xuất, tư liệu lao động (máy móc, thiết bị) tham gia
tồn bộ vào q trình sản xuất, nhưng chúng chỉ hao mịn dần, do đó giá trị của

chúng được chuyển dần từng phần vào sản phẩm. Vì vậy có sự chênh lệch giữa
tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng. Mặc dù đã mất dần giá trị như vậy, nhưng
trong suốt thời gian hoạt động, máy móc vẫn có tác dụng như khi cịn đủ giá trị.
Do đó, nếu khơng kể đến phần giá trị của máy móc chuyển vào sản phẩm trong
từng thời gian, thì máy móc phục vụ khơng cơng chẳng khác gì lực lượng tự
nhiên. Máy móc, thiết bị càng hiện đại, thì sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và
tư bản tiêu dùng càng lớn, do đó sự phục vụ khơng cơng của máy móc càng lớn,
tư bản lợi dụng được những thành tựu của lao động q khứ càng nhiều. Sự
phục vụ khơng cơng đó của lao động quá khứ là nhờ lao động sống nắm lấy và
làm cho chúng hoạt động. Chúng được tích luỹ lại cùng với quy mơ ngày càng
tăng của tích luỹ tư bản.
1.1.7. Quy mô của tư bản ứng trước
Với trình độ bóc lột khơng thay đổi, thì khối lượng giá trị thặng dư do
khối lượng tư bản khả biến quyết định. Do đó quy mơ của tư bản ứng trước, nhất
là bộ phận tư bản khả biến càng lớn, thì khối lượng giá trị thặng dư bóc lột được
càng lớn, do đó tạo điều kiện tăng thêm quy mơ của tích luỹ tư bản.
Từ sự nghiên cứu bốn nhân tố quyết định quy mơ của tích luỹ tư bản có
thể rút ra nhận xét chung là để tăng quy mơ tích luỹ tư bản, cần khai thác tốt
10


nhất lực lượng lao động xã hội, tăng năng suất lao động, sử dụng triệt để cơng
suất của máy móc, thiết bị và tăng quy mô vốn đầu tư ban đầu.
1.2. Các quy luật chung của tích lũy tư bản
1.2.1. Q trình tích lũy tư bản là q trình cấu tạo hữu cơ của tích lũy tư
bản
Sản xuất bao giờ cùng là sự kết hợp giữa hai yếu tố: tư liệu sảnxuất và sức
lao động. Sự kết hợp của chúng dưới hình thái hiện vật gọi làcấu tạo kỹ thuật.
Cấu tạo kỹ thuật của tư bản là tỷ lệ giữa số lượng tư liệulaođộng và khối lượng
tư bản cần thiết để sử dụng các tư liệu đó. Cấu tạo kỹthuật là cấu tạo hiện vật,

nên nó biểu hiện dưới hình thức: số llượng máymóc, ngun liệu, năng lượng do
cơng nhân sử dụng trong một thời giannào đó. Cấu tạo kỹ thuật phản ánh trình
độ phát triển của lực lượng sảnxuất.Cấu tạo giá trị của tư bản là tỷ lệ theo đó tư
bản phân thành tưbản bất biến và tư bản khả biến (hay giá trị của sức lao động)
cần thiết đểtiến hành sản xuất.Cấu tạo kỹ thuật thay đổi sẽ làm cấu tạo giá trị
thay đổi.C.Mácđã dùng phạm trù cấu tạo hữu cơ của tư bản để phản ánh mối
quan hệ đó.Cấu tạo hữu cơ của tư bản là cấu tạo giá trị tư bản, do cấu tạo kỹ
thuậtquyết định và phản ánh sự thay đổi của cấu tạo kỹ thuật của tư bản.Cùng
với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, do tác động thườngxuyên của tiến bộ
khoa học, cấu tạo hữu cơ của tư bản cũng không ngừngbiến đổitheo hướng ngày
càng tăng lên. Sự tăng lên đó biển hiện ở chỗ: bộphận tư bản bất biến tăng nhanh
hơn bộ phận tư bản khả biến, tư bản bấtbiến tăng tương đối và tăng tuyệt đối,
còn tư bản khả biến có thể tăng tuyệtđối nhưng lại giảm xuống tương đối.Sự
tăng lên của cấu tạo hữu cơ của tư bản làm cho khối lượng tưliệu sản xuất tăng
lên, trong đó sự tăng lên của máy móc thiết bị là điềukiện để tăng năng suất lao
động, còn nguyên liệu tăng theo năng suất laođộng. Nó địi hỏi việc sử dụng lao
động mới được đào tạo với giá trị sứclao động cao nhưng năng suất lao động
tăng cao lại làm cho hàng hóa kỹthuật hiện đại giảm xuống. Xu hướng chung là
tỷ trọng người lao động cótrình độ cao, lao động trí tuệ ngày càng tăng lên, gây
11


nên những hậu quả xãhội tiêu cực đối với toàn bộ đội ngũ người lao động làm
th
1.1.2. Q trình tích lũy tư bản là q trình tích tụ và tập trung tư bản
Tích tụ và tập trung tư bản là quy luật phát triển của nền sảnxuất lớn tư
bản chủ nghĩa.Tích tụ tư bản và việc tăng quy mơ của tư bản cá biệt bằng
cáchtích lũy của từng nhà tư bản riêng rẽ, nó là kết quả tất nhiên của tích lũy
Tích tụ tư bản một mặt là yêu cầu của việc mở rộng sản xuất, ứng dụng
tiếnbộ kỹ thuật, mặt khác sự tăng lên của khối lượng giá trị thặng dư trong

quátrình phát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa lại tạo khả năng cho tích tụ tư
bản. Tập trung tư bản là sự hợp nhất một số tư bản nhỏ thành một tư bảnlớn cá
biệt.Đây là sự tích tụ những tư bản đã hình thành, là sự thủ tiêu tínhđộc lập riêng
biệt của chúng, là việc nhà tư bản này tước đoạt nhà tư bảnkhác, là việc biến tư
bản nhỏ thành số ít tư bản lớn.Tích tụ và tập trung tư bản giống nhau ở chỗ đều
làm tăng quymô của tư bản cá biệt, nhưng khác nhau ở chỗ nguồn tích tụ tư bản
là giá trịthặng dư tư bản hóa, cịn nguồn tập trung tư bản là hình thành trong xã
hội.Do tích tụ tư bản mà tư bản cá biệt tăng lên, làm cho tư bản xã hội cũngtăng
theo. Còn tập trung tư bản chỉ là sự bố trí lại các tư bản đã có quy mơtư bản xã
hội vẫn như cũ. Tích tụ tư bản thể hiện mối quan hệ giữa tư bản và lao động,còn
tập trung tư bản thì biểu hiện mối quan hệ giữa những nhà tư bản vớinhau. Tập
trung tư bản có vai trò rất lớn đối với sự phát triển sản xuất tưbản chủ nghĩa.
Nhờ có sự tập trung tư bản mà tổ chức được một cách rộnglớn lao động hợp tác,
biến q trình sản xuất rời rạc, thủ cơng thành qtrình sản xuất theo quy mô
lớn, hiện đại. Tập trung tư bản không những dẫn đến sự thay đổi về lượng củatư
bản mà cịn làm cho tư bản có một chất lượng mới, làm cho cấu tạo hữucơ của
tư bản tăng lên, nhờ đó năng suất lao động tăng lên nhanh chóng.
Chính vì vậy, tập trung tư bản trở thành địn bẩy mạnh mẽ của tích lũy tư
bản. Q trình tích tụ và tập trung tư bản ngày càng tăng, do đó nềnsản xuất tư
bản chủ nghĩa ngày càng được xã hội hóa, làm cho mâu thuẫnkinh tế cơ bản của
chủ nghĩa tư bản càng trở nên sâu sắc.
12


1.2.3. Q trình tích lũy tư bản là q trình bần cùng hóa giai cấp vơ sản
Sự phân tích trên cho thấy, cấu tạo hữu cơ của tư bản ngày càngtăng là
một xu hướng phát triển khách quan của sản xuất tư bản chủ nghĩa.Do vậy, số
cân tương đối về sức lao động cũng có xu hướng ngày cànggiảm. Đó là nguyên
nhân gây ra nạn nhân khẩu thừa tương đối, hay cầu sứclao động giảm một cách
tương đối.

Có ba hình thái nhân khẩu thừa: Nhân khẩu thừa lưu động, nhân khẩu
thừa tiềm tàng, nhân khẩu thừa ngừng trệ. Nạn thất nghiệp đã dẫn giai
cấp cơng nhân đến bần cùnghóa. Bần cùng hóa giai cấp cơng nhân là hậu quả
tất nhiên của q trình tíchlũy tư bản. Bần cùng hóa tồn tại dưới hai dạng: bần
cùng hóa tuyệt đối và bần cùng hóa tương đối. Bần cùng hóa tuyệt đối của công
nhân biểu hiện mức sống bị giảm sút. Sự giảm sút này không chỉ xảy ra trong
trường hợp tiêu dùng cá nhân tụt xuống tuyệt đối, mà còn khi tiêu dùng cá nhân
tăng lên, nhưng mức tăng đó chậm hơn mức tăng nhu cầu do chi phí sức lao
động nhiều hơn.

13


Chương 2
VẬN DỤNG TÍCH LŨY TƯ BẢN VÀO XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ
VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Khái quát tình hình tích lũy vốn ở Việt Nam
Đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh
tế, nhất là hơn 20 năm đổi mới vừa qua, tốc độ tăng trưởng khá cao, sản xuất
phát triển, có tích luỹ từ nội bộ, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Để giữ
được tốc độ tăng trưởng cao trong những năm tới sẽ phụ thuộc rất nhiều vào
việc tích lũy, huy động vốn cho nền kinh tế.
Trước đây trong nền kinh tế bao cấp, tiêu dùng còn thiếu thốn thì q trình
tích lũy vốn cịn gặp rất nhiều trở ngại. Nhà nước lại can thiệp quá sâu vào nền
kinh tế dẫn đến việc tổ chức doanh nghiệp không thể phát huy hết khả năng của
mình, nhiệm vụ tích tụ và tập trung vốn không đạt được hiệu quả. Từ khi chuyển
đổi nền kinh tế, đời sống nhân dân đã được cải thiện rõ rệt, thu nhập quốc dân
tăng lên…tuy nhiên nó vẫn cịn q nhỏ bé so với nền kinh tế thế giới. Một
trong những nguyên nhân chính là thực trạng tích lũy vốn của ta chưa đáp ứng
yêu cầu phát triển, quy mô vốn của các doanh nghiệp thấp.

Sự nghiệp cơng nghiệp hố hiện đại hố ở nước ta bắt đầu từ kế hoạch 5
năm lần thứ nhất 1960 đến 1964 do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đề ra.
Q trình này có thể được chia thành 2 thời kỳ:
Thời kỳ 1960- 1985: CNH được tiến hành trong điều kiện cơ chế kinh tế
tập trung quan liêu, bao cấp
Thời kỳ 1986 đến nay: CNH gắn liền với quản lý của nhà nước theo định
hướng XHCN. Từ năm 1986 đến nay, cùng với công cuộc đổi mới, mở cửa, các
kênh huy động vốn cho CNH, HĐH cũng bắt đầu phong phú, linh hoạt hơn. Đối
với nguồn vốn nước ngồi, ngồi hình thức cũ là vay nợ và viện trợ, đã có thêm
hình thức đầu tư trực tiếp. Nguồn vốn trong nước cũng được bổ xung một số
kênh mới, đặc biệt là từ khi có pháp lệnh Ngân hàng nhà nước Việt Nam và
Pháp lệnh Ngân hàng, tín dụng và cơng ty Tài chính. Theo 2 pháp lệnh này, hệ
thống ngân hàng một cấp ở nước ta đã chuyển sang hệ thống ngân hàng hai cấp.
14


Các Ngân Hàng Thương Mại có thể được thành lập dưới hình thức cơng ty cổ
phần và được phép thực hiện đa dạng hoá các nghiệp vụ. Đây là tiền đề pháp lý
đầu tiên cho phép các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam có thêm nhiều khả
năng thực hiện các nghiệp vụ tài chính, góp phần thúc đẩy nhanh q trình tích
tụ và tập trung vốn... Tính chung tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện
cả giai đoạn 1996 - 2000 thì cả nước đạt 394,1 ngàn tỷ đồng, tăng 66,7% so với
giai đoạn 1991 - 1995. Tỷ trọng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn
1996-2000 chiếm trong GDP bình quân là 28,6% năm. Tích luỹ nội bộ của nền
kinh tế từ mức khơng đáng kể đã tăng lên 25%GDP. Trong giai đoạn từ năm
2000 đến nay: năm 2001- 2006 chiếm 28,2% so với tỷ lệ đóng góp của vốn đầu
tư là 52,7% năm 2007 tốc độ tăng trưởng tín dụng là 53,9%, gấp 3,1 lần tốc độ
tăng GDP theo giá thực tế; năm 2008 tăng 39,6%, gấp 3,3 lần, năm 2009 tăng
34,8%, năm 2010 tăng 37 ,5%, năm 2011- 2017 chiếm nguồn vốn đầu tư toàn xã
hội ước đạt 15.524 tỷ đồng; trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi ước thực

hiện 1.150 tỷ đồng.
Trong các nguồn vốn cấu thành nên tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn
xã hội, nguồn vốn Nhà nước có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất. Trong khi đó thì
nguồn vốn ngồi Quốc doanh qua các năm 1996-2000 lại có chiều hướng Vốn
đầu tư tồn xã hội ngày càng giảm sút, mặc dù năm 2000 có tăng hơn 1999
nhưng vẫn ở mức thấp so với năm 1995. Trong tổng số vốn đầu tư ngồi quốc
doanh thì vốn trong nước ước tính đạt 674,8 nghìn tỷ đồng, tăng 10,5% so với
cùng kỳ năm trước và bằng 32,8% GDP tính đến năm 2017, dân cư chiếm tỷ
trọng lớn, trên 80%, cịn vốn của các doanh nghiệp ngồi quốc doanh chỉ chiếm
dưới 20%. cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội phân theo ngành kinh tế cũng đã
có những chuyển biến theo chiều hướng tích cực. Tuy nhiên, bên cạnh những kết
quả đạt được, vấn đề huy động và sử dụng vốn trong nước hiện nay đang bộc lộ
những yếu kém cần khắc phục. Ngân sách nhà nước luôn ở trong tình trạng căng
thẳng, khơng thể đáp ứng đủ các yêu cầu cho đầu tư phát triển và các yêu cầu
cấp bách về xã hội. Đầu tư của nhà nước bị phân tán do phải đáp ứng quá nhiều
15


nhiệm vụ. Các nguồn thu từ đất đai, nhà ở, các loại dịch vụ cơng ích như: viện
phí, phí cung cấp điện, nước,... cịn để thất thốt và lãng phí lớn. Đóng góp của
nhân dân để xây dựng mới và cải tạo trường học, trạm xá, giao thông địa
phương,...vào sự nghiệp Văn hoá - Giáo dục - Y tế,... chưa được thể chế hoá, sử
dụng và quản lý kém hiệu quả, bất hợp lý, bị lạm dụng và thất thoát. Số vốn huy
động được thơng qua hệ thống tín dụng chủ yếu là ngắn hạn, không đáp ứng
được nhu cầu đầu tư phát triển và chuyển đổi cơ cấu sản xuất. Vốn đầu tư trực
tiếp của khu vực kinh tế tư nhân trong nước vẫn ở quy mô nhỏ, tập trung chủ
yếu (80%) vào các lĩnh vực: thương mại, dịch vụ phục vụ tiêu dùng. Một bộ
phận không nhỏ vốn trong nước đã huy động vào hệ thống Ngân Hàng Thương
Mại đang bị ứ đọng, không chuyển thành đầu tư được. Theo ý kiến dự báo khác
nhau, khoảng 50 - 70 nghìn tỷ đồng tiền tiết kiệm của nhân dân đang được cất

trữ dưới dạng vàng, bạc, tiền mặt, ngoại tệ, tài sản có giá trị cao... chưa chuyển
thành vốn đầu tư và kinh doanh.
2.2. Vận dụng tích lũy tư bản vào xây dựng nền kinh tế Việt nam hiện nay
2.2.1. Quá trình mở rộng sản xuất ở Việt Nam hiện nay
Trước đổi mới, mơ hình kinh tế hiện vật, phủ nhận sản xuất hàng hóa và
kinh tế thị trường với cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp
đã làm triệt tiêu động lực của người lao động, kìm hãm lực lượng sản xuất phát
triển, dẫn đến sự trì trệ về kinh tế và khủng hoảng về mọi mặt đời sống xã hội.
Bởi vậy, đổi mới mơ hình là điểm mấu chốt trong đổi mới quan hệ tổ chức, quản
lý sản xuất ở Việt Nam.
Trong thời gian qua, với xu thế tồn cầu hóa, sự chuyển giao và hội nhập
quốc tế về khoa học, công nghệ đã khiến nền kinh tế nước ta phát triển mạnh
mẽ. Những cơng cụ lao động giản đơn mang tính chất tiểu thủ công nghiệp đã
được thay thế bằng những dây chuyền máy móc thiết bị tối tân, hiện đại. Sức lao
động của con người được giải phóng, lao động chân tay dần được thay thế bởi
lao động trí óc, lao động giản đơn dần được thay thế bằng sự chun mơn hóa
ngày càng cao. Những sự thay đổi lớn lao của công cụ sản xuất đã làm cho năng
16


suất lao động tăng vượt bậc, khi lượng sản phẩm làm ra ngày càng nhiều và có
chất lượng cao. Nhờ q trình tích lũy vốn thay thế các q trình sản xuất nhỏ lẻ
thành quá trình sản xuất lớn hơn với quy trình cơng nghệ phù hợp với nền kinh
tế thị trường.
Như ở nước ta nơng nhiệp đóng vai trị rất quan trọng đối với nền kinh tế,
cho nên việc mở rộng sản xuất nông nghiệp là cần thiết. Nhờ q trình tích lũy
vốn nên trong nơng nhiệp đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể thông qua việc
đầu tư máy móc thiết bị, nâng cao trình độ cho người nông dân, mở các buổi hội
thảo dưới sự hướng dẫn của người nước ngồi. Nhiều nơi việc làm nơng khơng
cịn làm bằng thủ công mà đã chuyển sang dây chuyền với quy mơ khép kín và

đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể.
Từ đó nơng nghiệp đã đạt đước những thành tựu kim ngạch xuất khẩu các
mặt hàng nông – lâm – thủy sản sẽ đạt 15 tỷ USD tốc độ tăng trưởng nông
nghiệp 4,0% lên 4,5%/năm, GDP nông nghiệp tăng tõ 3,3% đến 3,5%/năm, tốc
độ tăng trưởng kinh tế nơng thơn đạt 7,8-8%/năm.
2.2.2. Sự hình thành các tập đồn kinh tế ở Việt Nam.
Việc xây dựng tập đoàn kinh tế là chủ trương của Đảng và Nhà nước
nhằm đưa nền kinh tế phát triển và hội nhập với kinh tế thế giới. Đảng và nhà
nước cũng đã xác định rõ một số lĩnh vực trọng điểm cần phải hình thành tập
đồn kinh tế.
Trong hầu hết các chính sách phát triển kinh tế của mình, Nhà nước đều
thể hiện quan điểm hình thành các tập đồn kinh tế mũi nhọn và đủ sức cạnh
tranh trên thị trường quốc tế. Theo đó một số tổng cơng ty nhà nước trong một
số lĩnh vực mũi nhọn sẽ được chuyển đổi thành các tập đoàn kinh tế. Trên thực
tế trong năm 2006 và đầu năm 2007, tám tập đoàn kinh tế quốc gia trong các
lĩnh vực mũi nhọn như Bưu chính-Viễn thơng, Than-Khống sản, Dầu khí, Điện
lực, Cơng nghiệp tàu thuỷ, Dệt may, Cao su, Tài chính-Bảo hiểm đã được thành
lập. Đây là những tổng cơng ty có quy mơ lớn mạng lưới thành viên có quan hệ
mật thiết, liên doanhvà hợp tác với nhiều đối tác. Tuy nhiên trong quá trình
17


thành lập các tập đoàn kinh tế nhà nước đã xuất hiện sự lúng túng trong giải
quyết các vấn đề cụ thể khi xây dựng đề án. Tuy nhiên trong q trình thành lập
các tập đồn kinh tế nhà nước đã xuất hiện sự lúng túng trong giải quyết các vấn
đề cụ thể khi xây dựng đề án. Các vấn đề nảy sinh đó là mối quan hệ và liên kết
giữa các đơn vị trong tập đoàn, cơ chế thực hiện liên kết, cơ cấu tổ chức bộ máy
quản lý (thành phần, quyền, trách nhiệm và mối quan hệ giữa các bộ phân quản
lý trong bộ máy của tập đoàn), thương hiệu của tập đồn, quy mơ, vốn điều lệ và
các vấn đề khác để xác lập tập đoàn. Ngay như địa vị pháp lý của tập đồn vẫn

cịn những ý kiến khác nhau như tập đồn có hay khơng có tư cách pháp nhân,
đăng ký hay khơng đăng ký, có hay khơng có bộ máyquản lý riêng. Như vậy,
trong những năm vừa qua vẫn còn rất nhiều những quan điểm khác nhau về
ngun tắc hình thành tập đồn kinh tế trên cơ sở Tổng công ty nhà nước. Về
vốn mà các tập đoàn sử dụng là Tám tập đoàn kinh tế cùng với 96 tổng công ty,
công ty lớn của Nhà nước sở hữu gần 400.000 tỷ đồng, chiếm hầu hết vốn của
Nhà nước có tại các doanh nghiệp nhà nước. Các tập đồn và tổng cơng ty đang
nắm giữ 75% tài sản cố định của quốc gia, khoảng 60% tổng tín dụng ngân hàng
trong nước và tổng vốn vay nước ngoài nhưng chỉ tạo ra khoảng 40% tổng sản
phẩm trong nước tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của các đơn vị này là
17%, 28,8% thu ngân sách. Tính đến cuối năm 2007, tổng số vốn chủ sở hữu của
các tập đồn và tổng cơng ty đã tăng 18%, tổng tài sản tăng 26%. Bên canh
những tập đồn kinh tế lớn nhà nước cịn có các tập đoàn kinh tế tư nhân như
FPT, Đồng Tâm, Kinh Đơ, Hịa Phát, Hồng Anh Gia Lai, Vincom, Trung
Ngun,… Các tập đồn này đều có vốn góp, cổ phần chi phối lẫn nhau ở các
công ty con, công ty liên kết, ngân hàng, đối tác chiến lược trong và ngoài nước
với hàng ngàn cổ đơng. Các tập đồn kinh tế tư nhân cũng góp phần làm thúc
đẫy nền kinh tế phát triển và làm tăng %GDP quốc doanh của Việt Nam
2.2.3. Sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội
Phân hóa giàu nghèo ở nước ta ngày càng nghiêm trọng và ai cũng nhận
ra qua thực tế cuộc sống hàng ngày. Ở Việt Nam, sự phân hóa giàu nghèo diễn ra
18


ngay từ thời kỳ quản lý kinh tế - xã hội theo cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp.
Tuy nhiên, lúc đó sự chênh lệch giàu nghèo, phân hóa thu nhập và những biểu
hiện của phân tầng xã hội chưa rạch ròi, rõ nét, bị che khuất bởi chủ nghĩa bình
qn và chế độ cơng hữu với cơ cấu giai cấp “hai giai một tầng”(giai cấp công
nhân liên minh với giai cấp nơng dân và tầng lớp trí thức). Chỉ từ sau khi đất
nước bước vào công cuộc đổi mới tồn diện (1986), xóa bỏ cơ chế quản lý cũ,

thực hiện phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, thì sự chênh lệch giàu nghèo, phân tầng xã hội mới bộc lộ một
cách rõ ràng và ngày càng trở nên sâu sắc. Lúc này đã xuất hiện những cơng
trình nghiên cứu về cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội nhằm cung cấp những căn
cứ lý luận và thực tiễn giúp Đảng và nhà nước kịp thời đưa ra những định hướng
chiến lược và những chính sách phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với thời kỳ
chuyển đổi cơ chế và mơ hình quản lý phát triển đất nước
Cách đây 20 năm, khi vừa mới thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế,
Việt Nam có quá nửa tổng số hộ dân sống dưới mức nghèo khổ, nay thì cả nước
chỉ cịn khoảng 10% tổng số hộ nghèo và hầu như khơng cịn hộ đói. Cũng cách
đây 20 năm, có đến 2/3 tổng số hộ ở khu vực nơng thơn sống ở mức nghèo khổ
và cũng có một tỷ lệ khơng nhỏ số hộ cịn bị đói, giờ thì tỷ lệ này đã giảm khá
nhanh. Tuy đạt được những kết quả tích cực, nhưng tỷ lệ nghèo và quy mơ số
người nghèo ở Việt Nam cịn lớn. Việc phân bố số người nghèo không chỉ chênh
lệch ở tỷ lệ cao thấp qua các vùng, mà còn ở quy mô số người tuyệt đối. Theo số
liệu thống kê của nhà nước, vùng Đồng bằng sơng Hồng có khoảng 1,23 triệu
người, vùng trung du và miền núi phía Bắc có 2,76 triệu người, vùng Bắc Trung
bộ và duyên hải miền Trung có 3,21 triệu người, vùng Tây Nguyên có khoảng
trên 1 triệu người, Đơng Nam bộ có gần 213.000 người và vùng Đồng bằng sơng
Cửu Long có trên 1,84 triệu người. với một đất nước liên tục phải gánh chịu
thiên tai như Việt Nam thì ranh giới giữa mức cận nghèo và nghèo là rất mong
manh nên nguy cơ số hộ nghèo tăng lên rất dễ xảy ra. Thực tế trên cho thấy, bất
bình đẳng trong thu nhập ở nước ta ngày càng rõ nét và gay gắt hơn, tỷ lệ hộ
19


nghèo tập trung chủ yếu ở những vùng khó khăn, có nhiều yếu tố bất lợi như
điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, kết cấu hạ tầng kém, trình độ dân trí thấp, trình
độ sản xuất manh mún, sơ khai. Ngồi ra, còn xuất hiện một số đối tượng nghèo
mới ở những vùng đang trong q trình đơ thị hóa và nhóm lao động nhập cư

vào đơ thị, họ thường gặp khó khăn nhiều hơn và phải chấp nhận mức thu nhập
thấp hơn lao động sở tại. Đây là những yếu tố làm gia tăng tình trạng tái nghèo
và tạo ra sự không đồng đều trong tốc độ giảm nghèo giữa các vùng trong cả
nước.
Hiện nay, hệ số chênh lệch giàu nghèo của Việt Nam cao hơn nhiều nước
đã trải qua thời kỳ dài phát triển kinh tế thị trường. Nhìn chung, cơ chế thị
trường của chúng ta còn mới mẻ, thậm chí có người cho là nền kinh tế thị trường
hoang dã, đã tạo ra những kẽ hở để cho một bộ phận lách cơ chế hoặc lợi dụng
cơ chế để trục lợi, tham nhũng. Số người làm giàu dạng này thường khơng đóng
góp bao nhiêu để chia sớt gánh nặng của nhà nước mà còn làm cho tiềm lực kinh
tế ngày càng suy giảm. Vì thế, nếu khơng nhanh chóng hồn thiện thể chế, nhất
là thể chế dân chủ, nhà nước pháp quyền, đồng thời xử lý vấn đề lợi ích nhóm,
sở hữu chéo, lạm dụng độc quyền… thì chênh lệch giàu – nghèo hiện đang quá
lớn lại sẽ càng tăng nhanh.
2.3. Những giải pháp tăng cường tích lũy vốn
2.3.1. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ tích lũy tiêu dùng.
Vì mục tiêu của xã hội là khơng ngừng tái sản xuất mở rộng, tăng thêm
sản phẩm xã hội, nâng cao mức sống của người dân mà chúng ta phải xác định
cho được quan hệ giữa quỹ tích lũy và tiêu dùng. Tương quan giữa tích lũy và
tiêu dùng được coi là tối ưu khi sử dụng được các tài sản hiện có, thực hiện được
mức tích lũy có thể đảm bảo phát triển sản xuất với tốc độ cao ổn định mà cuối
cùng vẫn đảm bảo tăng tiêu dùng.Việc phân chia này tùy thuộc vào nhu cầu nền
kinh tế ở từng thời kỳ nhất định.Đồng thời phải khuyến khích mọi người khơng
ngừng tiết kiêm, tích lũy. Tương quan giữa tích luỹ và tiêu dùng được coi là tối
ưu khi sử dụng đươc các tài sản hiện có, thực hiện được mức tích luỹ có thể đảm
20


bảo phát triển sản xuất với tốc độ cao và ổn định mà cuối cùng vẫn đảm bảo
tăng tiêu dùng và tích luỹ khơng đến mức cao nhất. Vởi tỷ lệ giữa tích luỹ và

tiêu dùng sắp xếp như thế nào là thích đáng? Tỷ lệ này có phải cố định không và
dựa trên nguyên tắc nào để sắp xếp tỷ lệ đó? Đây là vấn đề trung tâm của việc
phân phối xã hội chủ nghĩa, nó thể hiện cụ thể mối quan hệ giữa xây dựng kinh
tế và cải thiện đời sống giữa lợi ích lâu dài và lợi ích trước mắt, giữa lợi ích của
nhân dân và lợi ích của toàn xã hội... Việc phân chia tỷ lệ này không cố định mà
thay đổi tuỳ thuộc vào nhu cầu của nền kinh tế trong từng thời kỳ nhất định.
Đồng thời chúng ta phải khơng ngừng khuyến khích tất cả mọi người dân đều ra
sức tiết kiêm, tích luỹ. Như vậy có thể nói tỷ lệ giữa tích luỹ và tiêu dùng không
chỉ đơn thuần là tỷ lệ về kinh tế mà là thể hiện đường lối chính sách của Đảng
trong từng thời kỳ nhất định.
2.3.2. Sử dụng hiệu quả các nguồn vốn
Để sử dụng hiệu quả các nguồn vốn, trước hết chúng ta phải xác định rõ
từng đốitượng được cấp vốn, từđó phân bổ nguồn vốn một cách hợp lý cho các
ngành nhằm tạo ra hiệu quả sử dụng vốn cao hơn. Đối với các doanh nghiệp nhà
nước, chính phủ khơng nên cấp vốn tồn bộ mà nên tiến hành cổ phần hoá
doanh nghiệp, nhờ vậy doanh nghiệp sẽ có trách nhiệm hơn với đồng vốn của
mình, đồng thời chính nhờ có cổ phần hố mà tạo điều kiện cho các chủ doanh
nghiệp phát huy mọi năng lực cũng như khả năng quản lý của họ từđó sẽ nâng
cao rất nhiều hiệu quả sử dụng vốn. Việc đồng vốn cóđược sử dụng hiệu quả hay
khơng một phần lớn phụ thuộc vào yếu tố con người. Vì thế cần phải có một đội
ngũ cán bộ quản lý có trình độ năng lực và trách nhiệm cao. Đồng thời nhà nước
cũng cần phải xem xét lại mơ hình tổ chức quản lý, chúýđến đội ngũ cán bộ, tạo
điều kiện thuận lợi nhất cho họ có thể phát huy mọi năng lực của mình. Đặc biệt
trong điều kiện cạnh tranh quyết liệt nguồn vốn FDI trong khu vực cũng như
trên thếgiới thì việc thiết lập một cơ chế tổ chức gọn nhẹ khơng chồng chéo có
hiệu quả cũng tạo ra khả năng cạnh tranh lớn.
21


2.3.3. Tăng cường tích luỹ vốn trong nước và có biện pháp thu hút vốn đầu

tư nước ngồi
Tích luỹ vốn trong nước có nhiều giải pháp nhưng giải pháp hàng đầu là
nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, nguồn vốn này sẽ đóng vai trị quan trọng để
giải quyết các nhu cầu chi của nhà nước về chi thường xuyên, chi cho đầu tư
phát triển và cho phát triển công nghiệp. Vì vậy nâng cao hiệu quả tích luỹ, tích
tụ và tập trung vốn qua ngân sách nhà nước là hết sức cấp bách và cóý nghĩa
thực tiễn lớn lao.
Một biện pháp để tăng cường lượng vốn là thông qua các tổ chức tín dụng
và ngân hàng. Đây là hai hình thức tích luỹ vốn có hiệu quả tương đối cao do có
thể thu hút được vốn cịn nhàn dỗi trong nhân dân. Để thực hiện được ngày càng
tốt các nghiệp vụ của mình, một mặt ngân hàng cần phải tựđổi mới phương thức
phục vụ khách hàng mở rộng các hình thức tiết kiệm qua bưu điện cải tiến các
thủ tục đảm bảo an tồn bí mật vàổn định cho tiền gửi của khách hàng, đồng thời
chính phủ cũng cần có biện pháp nâng cao lãi suất nhằm thu hút ngày càng
nhiều vốn nhàn dỗi trong dân. Đặc biệt là hệ thống ngân hàng cần phối hợp chặt
chẽ với các quỹ tín dụng nhân dân để tích tụ và tập trung vốn được thuận
tiện.Mặt khác, việc tích tụvà tập trung các nguồn vốn trong nước từ các nguồn
tài nguyên quốc gia và từ những tài sản cơng cịn bỏ phí vừa là mục tiêu vừa là
biện pháp cơ bản trước mắt và lâu dài để chúng ta tăng thêm nguồn vốn trong
nước cho đầu tư phát triển. Cần nghiên cứu lại các quy định vềđất và quyền sử
dụng đất kết hợp hài hoà với các tổ chức thị trường liên quan. Trong thời gian
tới phải tìm cách để khai thác cao nhất hiệu quả nhất nguồn vốn từ tài sản cơng.
Đó là cơ sở vật chất trực tiếp sẵn có mà chúng ta có thể huy động bằng cả hiện
vật hoặc huy động bằng tiền trở thành nguồn thu trực tiếp của ngân sách Nhà
nước là cơ sở ban đầu cần thiết để gọi vốn đầu tư nước ngoài. Và một biện pháp
mới được áp dụng ở nước ta hiện nay là thu hút vốn thơng qua thị trường chứng
khốn. Đây là hình thức tích tụ và tập trung vốn rất có hiệu quảđang được các
nước phát triển áp dụng. Chính thị trường chứng khốn là một hình thức của thị
22



trường vốn, và nếu thị trường chứng khoán hoạt động tốt thì nó sẽ góp phần thúc
đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế. Ngồi nguồn vốn tích luỹ trong nước
thì trong hồn cảnh hiện nay khi nền kinh tế mở cửa hội nhập vào nền kinh tế
thế giới thì một nguồn vốn có vai trị đặc biệt quan trọng khác là nguồn vốn đầu
tư nước ngoài, bao gồm vốn đầu tư trực tiếp và vốn đầu tư gián tiếp trong đó
vốn đầu tư trực tiếp có ý nghĩa vô cùng lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế
trong nước. Vì thế mà chúng ta cần phải có chính sách thu hút vốn đầu tư trực
tiếp, đặc biệt là vốn của các nước phát triển.

23


KẾT LUẬN
Với một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đất nước ta đang ở
trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ và năng động nhất từ trước tới nay. Sự phát
triển của nền kinh tế cũng tạo ra áp lực về tăng quy mô vốn cho nền kinh tế. Vì
vậy việc nghiên cứu tích luỹ tư bản và việc vận dụng lí luận đó vào thực tiễn
Việt Nam là rất quan trọng và cần thiết. Quá trình CNH-HĐH đất nước đạt được
thành cơng trước hết phải có vốn lớn.
Từ những thực tiễn trên ta thấy được tích lũy tư bản có vai trị rất lớn đến
nền kinh tế nước ta, để đạt được những thành tựu thì trước hết phải đưa ra những
thực trạng và giải pháp đúng đắn cho nền kinh tế thơng qua những cơ sở lí luận.
Đồng thời thấy được tầm quan trọng của vốn đối với sự phát triển kinh tế của
đất nước và khẳng định nguồn vốn là cơ sở để tạo việc làm, mở rộng công nghệ
thúc đây tăng trưởng %GDP cho nền kinh tế. Đó chính là con đường dẫn đến sự
thành cơng của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, khẳng định tính đúng đắn của
chính sách mở cửa, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN,
sớm đạt mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.


24


D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1].

GS, TS Phạm Văn Quang, TS Phạm Văn Sinh (chủ biên) (2009), Giáo trình
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia Hà Nội

[2].

GS, TS Nguyễn Ngọc Long, GS, TS Nguyễn Hữu Vui (chủ biên) (2006), Giáo
trình triết học Mác – Lênin (Dùng trong các trường đại học, cao đẳng), Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia.

[3].

Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin của

[4].

Báo Vũng Tàu (bài viết của Lê Ngân)

[5].

Tài liệu tham kháo môn kinh tế chính trị của Ngơ Đạt.

[6].


Báo Diễn đàn doanh nghiệp (bài tình hình kinh tế xã hội của Nguyễn Tuấn)

[7].

Tạp Chí phát triển kinh tế (bài vấn đề tích lũy vốn đối với sự phát triển của đất
nước của Ngọc Oanh)

[8].

Số liệu của Tổng Cục Thống Kê về vốn đầu tư phắt triển toàn xã hội năm 19952000

[9].

Số liệu của Tổng Cục Thống Kê về vốn đầu tư phát triển xã hội năm 2001-2017
.

25


×