Tải bản đầy đủ (.pdf) (20 trang)

Bài Tập Thảo Luận Luật Dân Sự Lần 2 (Những Quy Định Chung Về Tài Sản, Thừa Kế)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (510.73 KB, 20 trang )

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ,
TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ
BÀI THẢO LUẬN LẦN THỨ HAI

Năm học: 2021 - 2022


MỤC LỤC
PHẦN 1: NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CHỦ THỂ TRONG XÁC LẬP
GIAO DỊCH

3

PHẦN 2: GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI KHƠNG CĨ KHẢ NĂNG NHẬN
THỨC

5

PHẦN 3: GIAO DỊCH XÁC LẬP DO CÓ LỪA DỐI

7

PHẦN 4: HẬU QUẢ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU

10

1


PHẦN 1: NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CHỦ THỂ TRONG
XÁC LẬP GIAO DỊCH


Tóm tắt bản án 32/2018:
Bản án số 32/2018/DSST ngày 20/12/2018, do Tòa án TP tỉnh Vĩnh Long xét xử về
vụ việc tranh chấp đất giữa nguyên đơn vợ chồng ông J Ph T, bà A Th Ph và bị đơn
là bà L K Đ. Vợ chồng nguyên đơn đã 2 lần:
Lần 1: ngày 31/5/2004 mua nền thổ cư 200m2 với giá trị là 60.000.000VNĐ nhưng
khơng có giấy giao tiền còn chữ viết trong giấy xác nhận thì ơng bà khơng ghi rõ là
ai.
Lần 2: ngày 02/06/2004 có giấy nhượng quyền đất thổ cư của bà L K Đ thực chất là
đất vườn có diện tích 1.05,8m2.
Nay nguyên đơn yêu cầu bà L K Đ phải giao căn nhà cấp 4, quyền sử dụng đất có
diện tích 1.251,8m2 và toàn bộ cây trồng cho nguyên đơn nhưng bị đơn khơng đồng
ý. Sau khi xem xét tình tiết vụ án thì Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã vơ hiệu hóa
giấy nhường đất thổ cư ngày 03/06/2004, giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004 và giấy
cam kết ngày 16/3/2011. Buộc bà L K Đ phải trả lại số tiền 329.000.000 VNĐ cho
bên nguyên đơn (đó là tổng số tiền nguyên đơn đã gửi về để mua đất và xây nhà là
13.950 USD tương đương là 329.000.000 VNĐ) nhưng bà L K Đ đã tự nguyện trả
350.000.000 VNĐ và xin miễn giảm án phí. Sau khi trả tiền cho nguyên đơn thì bà Đ
vẫn tiếp tục được sự dụng đất và căn nhà cấp 4 cùng với cây trồng trên đất.
Câu 1: So với BLDS năm 2005, BLDS 2015 có gì khác về điều kiện có hiệu lực
của giao dịch dân sự? Suy nghĩ của anh/chị về sự thay đổi trên.
Khoản 1 Điều 122 BLDS 2005
- Người tham gia giao dịch có năng lực
hành vi dân sự;
- Mục đích và nội dung của giao dịch
khơng vi phạm điều cấm của pháp luật,
không trái đạo đức xã hội;
- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự
nguyện.

Khoản 1 Điều 117 BLDS 2015

- Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự,
năng lực hành vi dân sự phù hợp với
giao dịch dân sự được xác lập;
- Chủ thể tham gia giao dịch dân sự
hồn tồn tự nguyện;
- Mục đích và nội dung của giao dịch
dân sự không vi phạm điều cấm của
luật, không trái đạo đức xã hội.
1


Điểm khác về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự ở BLDS 2005 so với BLDS
2015:
- BLDS 2015 có sự thay đổi trong từ ngữ, thay vì dùng “Người” như BLDS
2005, BLDS 2015 đã sử dụng “Chủ thể”. Đây là một chủ ngữ có tính bao qt
hơn, và khoa học hơn, đồng thời việc sử dụng “chủ thể” sẽ tránh được những
-

hiểu lẩm liên quan đến giao dịch dân sự của các pháp nhân hay các tổ chức.
Ngoài ra, BLDS 2015 quy định cụ thể rằng “năng lực hành vi dân sự phù hợp
với giao dịch dân sự được xác lập” nhằm hạn chế những giao dịch dân sự
không phù hợp với độ tuổi và nhu cầu sinh hoạt của những người chưa thành
niên (dưới 6 tuổi, từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi, hoặc từ đủ 15 tuổi đến chưa
đủ 18 tuổi).

Câu 2: Đoạn nào của bản án cho thấy ông T và bà H khơng có quyền sở hữu nhà
ở tại Việt Nam?
Bản án cho thấy ơng T và bà H khơng có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Cụ thể ở
đoạn:
“Tuy nhiên giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư 02/6/2004

được lập giữa nguyên đơn và bị đơn L K Đ xét về hình thức thì tờ cho đất thổ cư và
tờ nhường đất thổ cư không tuân thủ theo quy định của pháp luật, không được công
chứng, chứng thực theo quy định tại Điều 127 của Luật Đất đai năm 2003 và Điều
117 BLDS nên không phát sinh hiệu lực hợp đồng. Hơn nữa ông Ph J T và bà L Th
H là người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền sở hữu nhà ở Việt Nam khi
thỏa mãn các điều kiện sau: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài
tại Việt Nam, người có cơng đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hóa, nhà khoa
học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp
xây dựng đất nước, người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng
khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định được sỡ hữu nhà ở tại Việt Nam”.
“Người Việt Nam định cư ở nước ngồi khơng thuộc diện quy định này đã về Việt
Nam cư trú với thời hạn được cho phép từ sáu tháng trở lên được sở hữu một nhà
riêng lẻ hoặc một căn hộ” do đó ơng T và bà H khơng được sở hữu quyền sử dụng
đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm tại Việt Nam vì vậy các giao dịch cho nền
thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004, giấy cam kết ngày
16/3/2011 bị vô hiệu do vi phạm điều cấm cuả pháp luật và do không tuân thủ quy
định về hình thức theo Điều 117, 123,129 của Bộ luật dân sự và căn cứ theo Điều 131

2


BLDS thì các đương sự phải khơi phục lại tình trạng ban đầu, hồn trả cho nhau
những gì đã nhận.”
Câu 3: Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ
đã bị Tịa án tun bố vơ hiệu?
Tại phiên tịa vị kiểm soát viên phát biểu về việc tuân thủ theo pháp luật trong quá
trình giải quyết vụ án: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định
pháp luật, về thu thập chứng cứ và mở phiên tòa bảo đảm đúng thủ tục tố tụng. Đề
nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ngun đơn.
-


Vơ hiệu hóa giấy nhường đất thổ cư ngày 02/06/2004, giấy cho nên thổ cư
ngày 31/5/2004 và giấy cam kết ngày 16/3/2011.

-

-

Buộc bà L K Đ hồn trả lại cho ơng J Ph T và bà A Th Ph số tiền tổng cộng là
35.000.000 đồng. Bà Đ được tiếp tục sử dụng đất và sở hữu căn nhà cấp 4 cùng
với cây trồng trên quyền sử dụng đất có diện tích 1.251,8m2, thuộc thửa 28, tờ
bản số 15, tọa lạc tại ấp T M, xã T L, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.
Chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, định giá tài sản là 4.395.000 đồng, nguyên
đơn chịu 2.197.500 đồng, bị đơn chịu 2.197.000 đồng.
Về án phí: nguyên đơn và bị đơn được miễn án phí do thuộc trường hợp người
cao tuổi.

Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị (trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của chủ
thể) về căn cứ để Tòa án tuyên bố giao dịch trên vơ hiệu?
Tịa án tun bố giao dịch dân sự vơ hiệu là hợp lý vì:
- Do ông T và bà H là người Việt Nam ở nước ngồi đã nhập quốc tịch Mỹ
nhưng khơng thuộc diện có cơng đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn
hóa, nhà khoa học, hoặc các đối tượng khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội
quy định được sở hữu nhà ở tại Việt Nam hay đã về Việt Nam cư trú với thời
hạn từ 6 tháng trở lên. Dựa theo Luật Nhà ở năm 2005.
Vậy nếu xét điều kiện để giao dịch dân sự được xác lập theo điểm a khoản 1 Điều
117 BLDS 2015: “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự
phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập”. Năng lực pháp luật của hai ông bà không
phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập.


3


PHẦN 2: GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI KHƠNG CĨ KHẢ
NĂNG NHẬN THỨC
Tóm tắt Quyết định số 329/2013/DS-GĐT:
Vụ việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất” giữa
ông Hội, bà Hương với vợ chồng ông Hùng bà Trinh. Ngày 8/2/2010, ông Hội và bà
Hương lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông Hùng và vợ là bà Trinh quyền sử dụng
thửa đất, diện tích 120m2. Và chị Ánh cho rằng lúc ký hợp đồng mua bán thì ơng Hội
đã bị mất năng lực hành vi dân sự nên hợp đồng trên là vô hiệu và nay ông Hội chết,
chị yêu cầu hủy hợp đồng để đảm bảo quyền lợi của những người thừa kế. Nhưng về
phía bà Hương, bà cho rằng lúc ký kết thì ơng Hội vẫn cịn ý thức, khơng mất năng
lực hành vi dân sự, nên hợp đồng là đúng theo quy định pháp luật. Và theo Tịa án
phúc thẩm, cơng nhận tồn bộ hợp đồng mua bán, theo tịa án sơ thẩm thì hủy hợp
đồng mua bán, nhưng cả hai đều khơng đúng. Ngồi ra theo giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất là tài sản chung của ông Hội và bà Hương: do đó bà Hương có quyền
định đoạt phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Hương. Cuối cùng, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao
xét xử Giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy bản án dân sự
sơ thẩm.
Câu 1: Từ thời điểm nào ông Hội thực chất khơng cịn khả năng nhận thức và
từ thời điểm nào ơng Hội bị Tịa án tun bố mất năng lực hành vi dân sự?
Theo Quyết định số 329/2013/DS-GĐT ngày 25/7/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân
dân tối cao:
- Thực chất năm 2007 ông Hội đã bị tai biến nằm liệt một chỗ không nhận thức
được.
- Nhưng đến ngày 10/8/2010 Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa tuyên bố cha
chị Đặng Thị Kim Ánh là ông Đặng Hữu Hội mất năng lực hành vi dân sự.
Câu 2: Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau

khi ông Hôi bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự?
Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước khi ông Hội bị tuyên
mất năng lực hành vi dân sự. Ngày 8/2/2010, ông Hội và bà Hương lập hợp đồng
chuyển nhượng cho ông Hùng và vợ là bà Trinh quyền sử dụng thửa đất theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ơng Hội bà Hương, diện tích 120m2 với giá
300.000.000 đ có chứng thực của chính quyền địa phương ngày 9/2/2010. Khi đó,
4


ông Hội vẫn chưa bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự. Đến ngày 7/5/2010, ơng Hội
mới bị Tịa án tuyên mất năng lực hành vi dân sự.
Câu 3: Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dich của ơng Hội có vơ hiệu
khơng? Vì sao? Trên cơ sở quy định nào?
Năm 2007, ông Hội bị tai biến nằm liệt một chỗ không nhận thức được. Đến
10/8/2010 mới tuyên bố ông bị mất năng lực hành vi dân sự vậy theo quy định thì xác
lập giao dịch dân sự ơng Hội là người có năng lực hành vi dân sự.
Theo Tịa án nhân dân tối cao thì phần giao dịch bị vơ hiệu mặc dù giao dịch đó được
xác lập trước khi ông Hội bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự. Bởi lẽ, xét theo
Điều 128 BLDS 2015 “người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch
vào đúng thời điểm khơng nhận thức và làm chủ hành vi thì có quyền u cầu Tịa án
tun bớ giao dịch đó vơ hiệu”.
Như vậy, giao dịch giữa ông Hội bà Hương với vợ chồng ông Hùng bị vô hiệu một
phần (phần giao dịch của ơng Hội). Vì đây là tài sản chung của ơng Hội và bà Hương
do đó bà Hương có quyền định đoạt một phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng
của bà Hương.
Câu 4: Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hồn cảnh của ơng Hội khơng
và Tịa án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà anh/chị
biết?
Trong thực tiễn xét xử, vụ việc về vấn đề giao dịch xác lập bởi người khơng có khả
năng nhận thức là Bản án số 169/2017/DS-PT xét xử phúc thẩm công khai vụ án

“Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”. Nguyên đơn là Nguyễn Văn B
(ông B bị mất năng lực hành vi dân sự), người đại diện theo pháp luật là Bà Nguyễn
Thị Út T. Và bị đơn là Bà Nguyễn Thị T1. Sơ lược về nội dung vụ án: Ngày
30/9/2011, Ông B ký hợp đồng tặng cho bà T1 mảnh đất mà ông được thừa hưởng từ
người anh của mình. Nhưng bà T lại cho rằng tại thời điểm tặng cho thì ơng B đã mất
năng lực hành vi dân sự, nên việc ông B tặng mảnh đất cho bà T1 mà khơng có sự
đồng ý của bà T là khơng hợp pháp. Nhưng Tịa án sơ thẩm đã bác bỏ toàn bộ yêu
cầu của bà Nguyễn Thị Út T là người đại diện theo pháp luật cho ông Nguyễn Văn B
về việc: yêu cầu hộ bà Nguyễn Thị T1 di dời nhà trả lại cho ông Nguyễn Văn B. Và
ở phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm và chấp nhận
tồn bộ u cầu khởi kiện của ơng B, bà T vì bà T cho rằng việc ơng B ký vào Hợp
đồng để tặng cho bà T1, và cơ quan chuyên môn xác định ông B bị bệnh tâm thần
phân liệt, mất năng lực hành vi dân sự. Và theo nhận định của tòa phúc thẩm, việc
5


ông B ký kết hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho bà T1 là không phù hợp nhưng
về nội dung khơng trái với ý chí của ơng B, thể hiện quyền định đoạt về quyền sử
dụng đất của ông B.
Cuối cùng, quyết định của Tòa án phúc thẩm là khơng chấp nhận tồn bộ u cầu
khởi kiện của bà Nguyễn Thị Út T là người đại diện theo pháp luật cho ông Nguyễn
Văn B về việc: yêu cầu hộ bà Nguyễn Thị T1 di dời nhà trả lại phần đất cho ông
Nguyễn Văn B. Đồng thời, yêu cầu huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa
ông Nguyễn Văn B với bà Nguyễn Thị T1, và công nhận cho bà Nguyễn Thị T1 được
tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất hiện do bà Nguyễn Thị T1 đứng tên giấy CNQSDĐ.
Câu 5: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao
trong vụ việc trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp
lý khi đưa ra hướng xử lý.
Theo em, hướng xử lí của Tịa án nhân dân tối cao về vụ án: “Tranh chấp hợp đồng
mua bán nhà ở: gắn liền với quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là chị Đặng Thị

Kim Ánh với bị đơn là bà Phạm Thị Hương với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan là ơng Lưu Hồng Phi Hùng, bà Bùi Thị Tú Trinh và những người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan khác là hợp lí. Tịa án đã quyết định hủy bỏ bản án dân sự phúc
thẩm 35/2012/DSPT ngày 10/07/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên với bản án
dân sự sơ thẩm số 92/2011/DSST ngày 22/12/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố
Tuy Hòa là hợp lí theo quy định của pháp luật. Tịa cho rằng ở thời điểm bà Hương
ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho vợ chồng ơng Hùng thì ơng Hội chưa chết và
cũng chưa bị tòa tuyên bố trở thành người mất năng lực hành vi dân sự, nên giao dịch
dân sự giữa vợ chồng ông Hội và vợ chồng ông Hùng là có hiệu lực một phần theo
khoản 1 điều 122 BLDS 2005:
“1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
b) Mục đích và nội dung của giao dịch khơng vi phạm điều cấm của pháp luật, không
trái đạo đức xã hội;
c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện”
và theo Điều 133 BLDS 2005 “người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập
giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ hành vi thì có quyền u
cầu Tịa án tun bớ giao dịch đó vơ hiệu”.
Câu 6: Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ơng Hội thì giao dịch
đó có bị vơ hiệu khơng? Vì sao?
6


Trường hợp thứ nhất, ông Hội mất năng lực hành vi dân sự nhưng chưa được Tịa án
tun bố thì khi có giao dịch tặng cho thì việc nhận hay khơng là tùy thuộc vào ý chí
của ơng Hội.
Trường hợp thứ hai, Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa quyết định tuyên bố ông
Đặng Hữu Hội bị mất năng lực hành vi dân sự kể từ ngày 07/05/2010. Mà theo điểm
a khoản 1 Điều 117 BLDS 2015, giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi đáp ứng điều
kiện “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với

giao dịch dân sự được xác lập”.Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi của người bị mất
năng lực hành vi dân sự nên trong điểm b khoản 2 Điều 125 BLDS 2015 có quy định
giao dịch dân sự của người quy định tại khoản 1 điều này không bị vô hiệu khi “Giao
dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành
niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm
chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực
hiện giao dịch với họ”. Vì vậy, nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ơng
Hội thì giao dịch đó khơng bị vơ hiệu do chỉ làm phát sinh quyền cho ông Hội.

7


PHẦN 3: GIAO DỊCH XÁC LẬP DO CĨ LỪA DỐI
Tóm tắt Quyết định số 521/2010/DS-GĐT:
Hợp đồng mua bán căn nhà của ông Nguyễn Danh Đô, bà Phạm Thị Thu với bên mua
là bà Trần Thị Phố, là hợp pháp và có hiệu lực. Trong q trình giải quyết vụ án, bà
Phố đã trả 230 lượng vàng, còn lại 100 lượng vàng chưa thanh tốn. Nhưng sau đó,
Thế Vinh, con bà Phố, khơng có thỏa thuận của bà Phố đã hốn nhượng ½ diện tích
nhà cho bà Thu sử dụng và khơng phải trả số vàng cịn lại. Nhưng sau đó, “Thỏa
thuận hốn nhượng” vơ hiệu do tình trạng nhà đất có quyết định thu hồi giải tỏa, anh
Vinh và những người liên quan đã không thông báo cho bà Thu và ơng Đơ biết. Và
Tịa án cấp sơ thẩm buộc bà Phố trả phần tiền cịn lại và khơng tun bố giao dịch vơ
hiệu là khơng đúng. Tịa án phúc thẩm cho rằng thỏa thuận giữa bà Thu và anh Vinh
sẽ được trả bằng ½ số tiền do nhà nước bồi thường do thu hồi, bác bỏ yêu cầu của
ông Đơ và bà Thu.
Tóm tắt Quyết định số 210/2013/DS-GĐT:
Vụ việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn
là bà Châu Thị Nhất và bị đơn là ông Nguyễn Văn Dưỡng, hai vợ chồng đã ly hôn
vào tháng 8 năm 2007. Bà Nhất đã khởi kiện và yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất với nguyên nhân là do ông Dưỡng đã giả mạo chữ ký của

bà để bán phần tài sản chung của vợ chồng trong lúc bà đang xuất khẩu lao động Đài
Loan. Tòa sơ thẩm đã tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng giữa bà Nhất và ông Thi là
vô hiệu, và buộc ông Dưỡng bồi thường giá trị quyền sử dụng đất. Tòa phúc thẩm
bác bỏ đơn yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng của bà. Ngoài ra, bà Nhất khơng
có quyền khởi kiện u cầu tun bố hợp đồng vơ hiệu do lừa dối vì bà khơng thuộc
một bên tham gia giao dịch và nếu diện tích đất tranh chấp trong ly hơn chưa được
giải quyết thì bà khơng có quyền khởi kiện tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng đất
vì đây là tài sản chung của hai vợ chồng chưa chia. Đồng thời, thời hiệu khởi kiện
của bà Nhất cũng đã hết nên khơng thể làm theo Tịa sơ thẩm.
Câu 1: Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vơ hiệu do có lừa dối theo
BLDS 2005 và BLDS 2015?
Theo Điều 132 BLDS 2005:
-

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có
quyền u cầu Tịa án tun bớ giao dịch dân sự đó là vơ hiệu.
8


-

Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba
nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc
nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

-

Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba
làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính
mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha,

mẹ, vợ, chồng, con của mình.

Theo Điều 127 BLDS 2015:
-

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép
thì có quyền u cầu Tịa án tun bớ giao dịch dân sự đó là vơ hiệu.

-

Lừa dới trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người
thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đới tượng
hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

-

Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc
của người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm
tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của
mình hoặc của người thân thích của mình.

Câu 2: Đoạn nào của quyết định số 521 cho thấy thỏa thuận hốn nhượng đã bị
tun vơ hiệu do có lừa dối?
Việc anh Vinh và người liên quan (ơng Trần Bá Toàn, bà Trần Thị Phú Vân- họ hàng
của anh Vinh) không thông báo cho ông Đô, bà Thu biết tình trạng về nhà, đất mà
các bên thỏa thuận hốn đổi đã có quyết định thu hồi, giải tỏa, đền bù (căn nhà đã có
quyết định tháo dỡ do xây dựng trái phép từ năm 1998 nên không được bồi thường
giá trị căn nhà; còn thửa đất bị thu hồi thì khơng đủ điều kiện để mua nhà tái định cư
theo Quyết định số 135/QĐ-UB ngày 21/11/2002) là có sự gian dối. Mặt khác, tại
bản “Thỏa thuận hoán nhượng” khơng có chữ ký của ơng Đơ (chồng bà Thu) và là

người cùng bà Thu bán căn nhà 115/7E Nguyễn Kiệm, quận Gò Vấp cho bà Phố (mẹ
của anh Vinh). Do vậy, giao dịch “Thỏa thuận hoán nhượng’’ giữa anh Vinh và bà
Thu vô hiệu nên phải áp dụng Điều 132 BLDS để giải quyết.

Câu 3: Hướng giải quyết trên đã có tiền lệ chưa? Nếu có tiền lệ, nêu vắn tắt tiền
lệ anh/chị biết.
Hướng giải quyết trên chưa có tiền lệ.
9


Câu 4: Hướng giải quyết trên có cịn phù hợp với BLDS 2015 khơng? Vì sao?
Hướng giải quyết trên là phù hợp với BLDS 2015. Bởi lẽ:
Điều 127 BLDS 2015 nêu rõ “Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối
hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền u cầu Tịa án tun bớ giao dịch dân sự đó
là vơ hiệu”. Việc anh Vinh và người liên quan (ơng Trần Bá Tồn, bà Trần Thị Phú
Vân – họ hàng của anh Vinh) không thông báo cho ơng Đơ, bà Thu biết tình trạng về
nhà, đất mà các bên thỏa thuận hốn đổi đã có quyết định thu hồi, giải tỏa, đền bù
(căn nhà đã có quyết định tháo gỡ do xây dựng trái phép từ năm 1998 nên không được
đền bù giá trị căn nhà cịn mảnh đất bị thu hồi thì khơng đủ điều kiện để mua nhà tái
định cư theo Quyết Định số 135/QĐ-UB ngày 21/11/2002) là có sự gian dối. Vì vậy,
theo Điều 127 BLDS 2015 thì tun bố thỏa thuận hốn nhượng bị vơ hiệu là hồn
tồn hợp lí.
Câu 5: Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, ai được yêu cầu và ai khơng được
u cầu Tịa án tun bố hợp đồng có tranh chấp vơ hiệu?
Trong quyết định số 210, theo tịa án bà Nhất khơng phải là một bên tham gia giao
dịch với ông Thi, nên bà Nhất khơng có quyền khởi kiện u cầu tun bố hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất vơ hiệu hóa do bị lừa dối. Trường hợp này chỉ có
ơng Thi mới có quyền khởi kiện u cầu tịa án tun bố hợp đồng vơ hiệu hóa do bị
lừa dối, nếu ơng Tài khơng biết vụ ơng Dưỡng giả mạo chữ kí bà Nhất khi tiến hành
giao dịch hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Câu 6: Trong quyết định số 210, theo Tòa án, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố
hợp đồng vơ hiệu do lừa dối có cịn khơng? Vì sao?
Thời hiệu u cầu Tịa án tun bố hợp đồng vơ hiệu do lừa dối là khơng cịn. Bởi vì:
khoản 1 Điều 142 BLDS 1995 quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp
đồng chuyển quyền sử dụng đất do bị lừa dối là một năm, khoản 1 Điều 136 BLDS
2005 quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất vô hiệu do bị lừa dối là hai năm kể từ ngày giao dịch được xác lập. Còn
Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự quy định trong trường hợp pháp luật khơng có quy
định về thời hiệu khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là hai năm kể từ ngày
người có quyền khởi kiện biết được quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm. Bà Nhất
khai năm 2007 vợ chồng ly hôn mà mới biết ông Dưỡng giả mạo chữ ký của bà để
10


chuyển nhượng đất cho ông Tài, nhưng đến 10/12/2010 bà Nhất mới khởi kiện. Nên
nếu xác định bà Nhất có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất nêu trên bị vô hiệu do lừa dối, thì cũng đã hết thời hiệu
khởi kiện.
Câu 7: Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Tịa án tun bố hợp đồng vơ
hiệu do lừa dối, Tịa án có cơng nhận hợp đồng khơng? Vì sao?
Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vơ hiệu do lừa dối,
Tịa án cơng nhận hợp đồng vì theo khoản 1 Điều 136 BLDS 2005 thời hiệu yêu cầu
Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu của Bộ luật này là 02 năm, kể từ ngày:
-

Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị
nhầm lẫn, do bị lừa dối.1

-


Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tn
thủ quy định về hình thức.2

Do đó, hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều 136 mà khơng có u cầu tun bố
giao dịch dân sự vơ hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực.
Riêng đối với giao dịch dân sự quy định tại Điều 128 và Điều 129 của BLDS 2005
thì thời hiệu u cầu Tịa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế.
Câu 8: Câu trả lời cho các câu hỏi trên có khác khơng nếu áp dụng các quy định
tương ứng của BLDS 2015 vào tình tiết như trong Quyết định số 210?
Câu trả lời cho các câu hỏi trên sẽ khơng có thay đổi nếu áp dụng các quy định tương
ứng của BLDS 2015 vào các tình tiết như trong Quyết định số 210.

1

Xem: Điều 126, Điều 127 BLDS năm 2015.

2

Xem: Điều 129 BLDS năm 2015.

11


PHẦN 4: HẬU QUẢ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU
Tóm tắt Quyết định số 75/2012/DS-GDDT:
Vụ án dân sự về “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa ông
Nguyễn Văn Sanh và vợ chồng anh Nguyễn Văn Dư chị Dương Thị Chúc. Anh Dư
và chị Chúc đã chuyển nhượng cho ông Sanh 100m2 nhưng khi làm thủ tục chuyển
nhượng lại không chịu ký kết. Năm 2007, ông Sanh xây dựng nhà xưởng trên đất, và
anh Dư chị Chúc muốn đòi lại mảnh đất, đồng thời kêu anh Sanh phải tháo dỡ nhà

xưởng. Tòa án sơ thẩm xét xử và công nhận giao cho ông Sanh quyền sử dụng đất.
Nhưng Tòa án phúc thẩm lại cho rằng hợp đồng giao dịch của hai bên khơng đầy đủ
về hình thức, do lỗi của anh Dư và chị Chúc nên hợp đồng giao dịch khơng được cơng
nhận, vì thế ơng Sanh phải trả lại thửa đất, đồng thời giao quyền sử dụng 1 nhà máy
xưởng cho vợ chồng anh Dư và nhận bồi thường là 571.755.000đ.
Tóm tắt bản án số 133/2017/DSPT:
Ngày 16/8/2016, nguyên đơn là ông Bùi Tiến Văn và bà Nguyễn Thị Tằm kiện ba
người con trai của mình là anh Bùi Tiến Dậu, anh Bùi Tiến Sinh và anh Bùi Tiến
Bình u cầu Tịa án hủy 3 hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, giấy CNQSD đất
trái pháp luật, buộc anh Dậu, anh Sinh và anh Bình trả cho ơng bà diện tích 350m2
đất. Theo lời khai của ông Văn và bà Tằm, năm 2008, anh Văn có nói với ơng bà là
muốn mượn trích lục đất của ông bà để thế chấp ngân hàng vay vốn làm ăn nên hai
ông bà đã đồng ý. nhưng nhân lúc bà Tằm khơng có nhà thì anh Dậu đã đem hợp
đồng và lừa ông Văn đây là hợp đồng thế chấp cho ngân hàng nhưng thật ra là giấy
tờ chuyển nhượng đất cho 3 người con trai của ông là anh Dậu, anh Bình và anh Sinh.
Tin lời con trai nên ông đã ký và ký thay cho bà Tằm khi chưa đọc kĩ hợp đồng mãi
đến năm 2010 thì ơng bà mới biết mình bị lừa. Khi phiên tòa sơ thẩm ra quyết định
bản hợp đồng cho tặng và quyền sử dụng đất vơ hiệu thì anh Dậu và anh Bình kháng
cáo, nhưng sau đó anh Bình đã rút tồn bộ nội dung kháng cáo. Đến phiên tịa phúc
thẩm, tịa quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của anh Bình,
khơng chấp nhận kháng cáo của anh Dậu, xác định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất của vợ chồng ông Văn với anh Dậu là vô hiệu, hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất trong hợp đồng vô hiệu mang tên anh Dậu, vợ chồng ơng Văn bà Tằm có
thể xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

12


Tóm tắt Quyết định số 26/2013/KDTM-GĐT:
Tranh chấp trong vụ án là “Hợp đồng dịch vụ” giữa Công ty Orange và Công ty Phú

Mỹ. Công ty Phú Mỹ đã không thanh tốn tiền đúng theo thời hạn với lý do rằng
Cơng ty Orange đã khơng đáp ứng các gói cơng việc hồn chỉnh, các bản chi tiết phối
cảnh cây xanh, khơng bàn giao bản vẻ đúng theo yêu cầu nên Công ty Phú Mỹ đã
phải chịu thiệt hại lên đến 1.800.00 USD. Bên Cơng ty Orange cho rằng vì sau khi
thực hiện xong và trong giai đoạn kiểm tra thì Cơng ty Phú Mỹ khơng có phản hồi
hay khiếu nại nên đã hoàn thành trách nhiệm theo hợp đồng đưa ra trước đó. Ngồi
ra trong q trình bàn giao bản vẽ, việc bàn giao không được thành lập thành theo
văn bản, chưa làm rõ những ngày cụ thể về bàn giao sản phẩm, nội dung, khối lượng
công việc như thế nào, các ý kiến phản hồi về sản phẩm. Và khi đã xác định rõ các
thông tin cần thiết, nếu hợp đồng dịch vụ là hợp pháp thì Cơng ty Phú Mỹ phải thanh
toán phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực
hiện cùng với tiền lãi suất do chậm thanh toán.
Câu 1: Giao dịch dân sự vơ hiệu có làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các
bên không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Theo Khoản 1 Điều 131 BLDS 2015: “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh,
thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được
xác lập.”
Câu 2: Trên cơ sở BLDS, khi xác định Hợp đồng dịch vụ vơ hiệu thì Cơng ty
Phú Mỹ có phải thanh tốn cho Cơng ty Orange phần giá trị tương ứng với khối
lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện khơng? Vì sao?
Trên cơ sở BLDS, nếu xác định Hợp đồng dịch vụ vơ hiệu thì Cơng ty Phú Mỹ phải
thanh tốn cho Cơng ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà
Công ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng. Vì theo khoản 1 và khoản
2 Điều 131 BLDS 2015:
“ 1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch dân sự được xác lập.
2. Khi giao dịch dân sự vơ hiệu thì các bên khơi phục lại tình trạng ban đầu, hồn
trả cho nhau những gì đã nhận.
Trường hợp khơng thể hồn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn
trả.”

13


Câu 3: Hướng giải quyết của Hội đồng thẩm phán về với khối lượng công việc
mà Công ty Orange đã thực hiện như thế nào?
Hướng giải quyết của Hội đồng Thẩm phán về khối lượng công việc mà Công ty
Orange đã thực hiện là: Nếu xác định hợp đồng dịch vụ vơ hiệu thì phải buộc Cơng
ty Phú Mỹ phải thanh tốn cho Cơng ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng
công việc mà Công ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng. Còn nếu
Hợp đồng dịch vụ là hợp pháp thì phải buộc Cơng ty Phú Mỹ phải thanh tốn cho
cơng ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange
đã thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng cùng tiền lãi suất do chậm thanh toán theo
quy định của pháp luật.
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Hội đồng thẩm phán
liên quan tới khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện khi xác định
hợp đồng vô hiệu
Hướng giải quyết của Hội đồng thẩm phán liên quan tới khối lượng công việc mà
Công ty Orange đã thực hiện khi xác định hợp đồng vô hiệu là chưa thỏa đáng cho
bên Công ty Phú Mỹ:
-

Thứ nhất, nếu ta xét theo khoản 2 Điều 131 BLDS 2015 quy định: “Khi giao
dịch dân sự vơ hiệu thì các bên khơi phục lại tình trạng ban đầu, hồn trả cho
nhau những gì đã nhận. Trường hợp khơng thể hồn trả được bằng hiện vật
thì trị giá thành tiền để hồn trả”. Nên có thể nói đây là hướng giải mà cho
dù hợp đồng được xác định là hợp pháp hay vơ hiệu thì bên Công ty Phú Mỹ
cũng đều phải bồi thường cho Công ty Orange.

-


Thứ hai, bên cạnh việc Công ty Phú Mỹ phải bồi thường cho bên Công ty
Orange tùy thuộc vào tình trạng hợp đồng được xác định như thế nào, thì Cơng
ty Orange cũng đã khơng hồn thành trách nhiệm trong nhiệm bàn giao các
bản vẽ, thực hiện các gói cơng việc một cách hồn chỉnh dẫn đến gây thiệt hại
nặng cho bên Công ty Phú Mỹ, cụ thể là 1.800.000 USD. Vì thế nếu hợp đồng
vơ hiệu thì Cơng ty Orange cũng phải có một phần trách nhiệm bồi thường lại
một phần cho bên phía của Cơng ty Phú Mỹ.

Câu 5: Hướng xử lý của Hội đồng thẩm phán đối với khối lượng công việc mà
Công ty Orange đã thực hiện như thế nào khi xác định hợp đồng dịch vụ không

14


vô hiệu? Nội dung xử lý khác với trường hợp xác định hợp đồng dịch vụ vô hiệu
như thế nào? Suy nghĩ của anh/chị về chủ đề này như thế nào?
Hướng xử lý của Hội đồng thẩm phán:
-

“...Nếu Hợp đồng dịch vụ là hợp pháp thì phải buộc Cơng ty Phú Mỹ phải
thanh tốn cho Cơng ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công
việc mà Công ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng cùng tiền
lãi suất do chậm thanh toán theo quy định của pháp luật.”

Nội dung xử lý khác với trường hợp xác định hợp đồng dịch vụ vô hiệu:
-

Nếu xác định hợp đồng vơ hiệu thì Cơng ty Phú Mỹ chỉ thanh tốn cho Cơng
ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange
đã thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng. Nhưng xác định hợp đồng dịch vụ

hợp pháp thì Cơng ty Phú Mỹ phải thanh tốn cho Cơng ty Orange phần giá
trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện theo
thỏa thuận tại hợp đồng cùng tiền lãi suất do chậm thanh toán theo quy định
của pháp luật.

Về chủ đề này:
-

Qua đó, em nhận thấy được tầm quan trọng của việc xác định hợp đồng dịch
vụ có vơ hiệu hay khơng. Vì mỗi trường hợp sẽ phát sinh những hậu quả pháp
lý khác nhau, từ đó có ảnh hưởng không nhỏ đến việc xác định quyền và nghĩa
vụ các bên tranh chấp.

Câu 6: Trong quyết định số 75, vì sao Tịa dân sự Tịa án nhân dân tối cao xác
định hợp đồng vơ hiệu?
Tịa án đã đưa ra quyết định xác định “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài
sản gắn liền với đất” không số giữa bên tặng cho là ông Bùi Tiến Văn, bà Nguyễn
Thị Tằm và bên được tặng cho là anh Bùi Tiến Dậu, do UBND xã Đông Tân, huyện
Đông Sơn (nay là thành phố Thanh Hóa) chứng thực ngày 24/6/2008 là hợp đồng vô
hiệu. Do ông Văn không biết mục đích của hợp đồng mà mình ký với anh Dậu. Ông
Văn do tin con, nên đã ký vào hợp đồng mà ký vào hợp đồng mà anh Văn đã lừa cha
mình là hợp đồng thế chấp đất cho ngân hàng. Vì thế, theo điều 127 BLDS 2015 thì
“Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” không số giữa bên
tặng cho là ông Bùi Tiến Văn, bà Nguyễn Thị Tằm và bên được tặng cho là anh Bùi
Tiến Dậu là vô hiệu. Điều 127 BLDS 2015, giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối,
đe dọa, cưỡng ép:

15



“Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dới hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì
có quyền u cầu Tịa án tun bớ giao dịch dân sự đó là vơ hiệu.
Lừa dới trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba
nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đới tượng hoặc nội dung
của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ
ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính
mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân
thích của mình.”
Câu 7: Suy nghĩ của anh/chị về Tòa án dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác định
hợp đồng vô hiệu trong quyết định trên?
Trong Quyết định số 75/2012/DS-GĐT ngày 23/02/2012 của Tòa dân sự Tòa án nhân
dân tối cao về việc xác định hợp đồng vơ hiệu là hồn tồn đúng đắn, hợp lí. Vì giao
dịch dân sự đã vi phạm Khoản 2 Điều 119 BLDS 2015 “Trường hợp luật quy định
giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có cơng chứng, chứng thực, đăng
kí thì phải tn theo quy định đó”.
Câu 8: Với thơng tin trong Quyết định số 75 và pháp luật hiện hành, ông Sanh
sẽ được bồi thường thiệt hại bao nhiêu? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời?
Theo khoản 2 Điều 131 BLDS 2015: “ Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khơi
phục lại tình trạng ban đầu, hồn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp khơng
thể hồn trả bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hồn trả”. Ơng Sanh sẽ được bồi
thường thiệt hại với số tiền là 141.500.000đ bao gồm 160.000.000đ tiền giao dịch
chuyển nhượng đất ban đầu và 81.500.000đ giá trị cơng trình xây dựng trên mảnh đất
của vợ chồng anh Nguyễn Văn Dư.
Câu 9: Trong bản án số 133, Tòa án quyết định hủy giấy chứng nhận cấp cho
anh Dậu và ghi nhận ông Văn, bà Tằm quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền
để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có là hệ quả của giao dịch
dân sự vơ hiệu khơng? Vì sao?
Trong bản án số 133, Tòa án quyết định hủy giấy chứng nhận cấp cho anh Dậu và ghi
nhận ông Văn, bà Tằm quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp lại giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất là hệ quả của giao dịch dân sự vô hiệu. Vì trong quá
16


trình ký kết giữa ơng Văn và con trai ơng là Bùi Tiến Dậu, anh Dậu đã nói với cha
mẹ là mượn trích lục đất để thế chấp vay tiền ngân hàng làm ăn. Nhưng nhân lúc vợ
chồng ông bà không để ý, anh Dậu đã chuẩn bị sẵn các hợp đồng chuyển quyền sử
dụng đất và lợi dụng lòng tin của ơng Văn để đạt được mục đích.
Ngồi ra, trong q trình giải quyết, Tịa án đã trưng cầu giám định và kết luận chữ
ký, chữ viết họ tên “Nguyễn Thị Tằm” dưới mục đồng sở hữu trên tài liệu cần giám
định với chữ ký, chữ viết trên các tài liệu so sánh là không phải do một người ký và
viết ra.
Nên theo Điều 132 BLDS 2005, giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa:
“Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dới hoặc bị đe dọa thì có quyền
u cầu Tồ án tun bớ giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm
cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao
dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó…”.

17


Tài liệu tham khảo
1. Bộ luật Dân sự năm 2005.
2. Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Án lệ sô 05/2016

18




×