Tải bản đầy đủ (.pdf) (224 trang)

(Luận án tiến sĩ) nghiên cứu kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp chế biến gỗ khu vực nam trung bộ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (5.03 MB, 224 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
---------------------------------

LÊ VĂN TÂN

NGHIÊN CỨU KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN
GỖ KHU VỰC NAM TRUNG BỘ

Chun ngành: Kế tốn, kiểm tốn và phân tích
Mã số: 9340301

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS. Đặng Thị Loan

HÀ NỘI – 2021


i

LỜI CAM KẾT
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật.
Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không
vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.

Hà Nội, ngày 01 tháng 12 năm 2021
Tác giả luận án

Lê Văn Tân




1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Việt Nam đã và đang tích cực hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới thể hiện
thông qua hàng loạt các hiệp định song phương, đa phương được ký kết thời gian vừa
qua; trong đó quan trọng nhất là Hiệp định Đối tác tồn diện và tiến bộ xun Thái
Bình Dương đã mở ra cơ hội cho sản phẩm của các doanh nghiệp Việt thâm nhập các
thị trường lớn, tiếp cận các khách hàng mới nhiều tiềm năng. Đặc biệt, các DN hoạt
động trong ngành sản xuất và chế biến gỗ với đặc thù chủ yếu sản xuất kinh doanh các
sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu nếu tận dụng tốt cơ hội này sẽ đạt được tốc độ tăng trưởng
vượt bậc. Các sản phẩm đồ gỗ của các DNCBG nước ta sản xuất gồm đồ gỗ ngoài trời
và đồ gỗ nội thất với mẫu mã đa dạng, chất lượng tốt và giá cả hợp lý được khách hàng
rất ưa chuộng. Hiện nay, các sản phẩm đồ gỗ thương hiệu Việt đã xuất khẩu đến hơn
60 quốc gia, đem về nguồn thu ngoại tệ đáng kể và góp phần tạo ra cơng ăn việc làm
cho số lượng lớn lao động. Ngành sản xuất và chế biến Gỗ có vai trị, vị trí ngày càng
quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội nước ta; là một trong các ngành công
nghiệp mũi nhọn với giá trị kim ngạch xuất khẩu đứng thứ sáu của Việt Nam, chiếm
6% thị phần thế giới, đứng đầu trong khối ASEAN, đứng thứ hai Châu Á và thứ năm
thế giới. Theo Hiệp hội gỗ và Lâm sản Việt Nam, giá trị kim ngạch xuất khẩu gỗ và
các sản phẩm gỗ năm 2020 của cả nước đạt 12,9 tỷ USD, tăng 14% so với năm 2019,
trong đó giá trị kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm từ gỗ đạt 7,46 tỷ USD chiếm
76,12% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ, tăng 20,6% so với năm
2019. Dự kiến năm 2021, giá trị kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ đạt 14,5
tỷ USD, tăng 12% so với năm 2020.
Ở nước ta, các DNCBG tập trung chủ yếu tại ba khu vực chính gồm Nam Trung
Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ. Trong đó, khu vực Nam Trung Bộ có số lượng lớn các
DNCBG đăng ký hoạt động và được đánh giá là một trong những trung tâm chế biến

xuất khẩu đồ gỗ có tốc độ tăng trưởng nhanh của cả nước, với nhiều lợi thế như: lực
lượng lao động dồi dào; hệ thống cảng biển lớn, hạ tầng giao thông phát triển đồng bộ
gồm quốc lộ 1A, quốc lộ 19, tuyến đường sắt Bắc – Nam; cửa ngõ ra biển Đông của
các tỉnh Tây Nguyên và một số quốc gia Đông Nam Á… Có thể thấy tiềm năng phát
triển của ngành chế biến gỗ khu vực Nam Trung Bộ là rất lớn tuy nhiên hiệu quả sản
xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh của các DNCBG khu vực Nam Trung Bộ còn
khá thấp so với các DN khu vực khác trong cùng ngành. Quy mô của các DNCBG khu
vực Nam Trung Bộ chủ yếu là các DN quy mô vừa và nhỏ nên trình độ tổ chức sản


2

xuất và năng lực quản lý còn nhiều hạn chế; sử dụng lao động trình độ thấp nên năng
suất lao động chưa cao; hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNCBG được tổ chức
riêng biệt; tính kết nối, liên kết và hợp tác giữa các DNCBG trong khu vực vừa thiếu
vừa yếu. Do vậy mỗi DN đều phải tự thực hiện tất cả các cơng đoạn của quy trình chế
biến cũng như tự tìm kiếm thị trường tiêu thụ nên các chi phí sản xuất kinh doanh
thường phát sinh lớn dẫn đến hiệu quả kinh doanh thấp. Bên cạnh đó, các DNCBG khu
vực Nam Trung Bộ vẫn chưa quen vận dụng các công cụ quản trị DN như KTQTCP
nên gặp nhiều bất lợi khi cạnh tranh với các DNCBG lớn của nước ngoài. Hơn nữa,
nguồn nguyên liệu gỗ đầu vào của các DNCBG khu vực Nam Trung Bộ cũng đang
gặp một số khó khăn, thách thức lớn như: thách thức về thu mua nguyên liệu gỗ rừng
trồng; cạnh tranh với các thương nhân nước ngoài vào thu mua gỗ rừng trồng của Việt
Nam; thách thức về chất lượng gỗ rừng trồng trong nước; thách thức về gỗ có chứng
chỉ FSC và thách thức về nguồn cung trong tương lai gần. Hiện nay, các DNCBG khu
vực Nam Trung Bộ chủ yếu phải nhập khẩu gỗ nguyên liệu với giá đầu vào cao dẫn
đến giá thành các sản phẩm gỗ tăng mạnh, trong khi giá bán đầu ra các sản phẩm gỗ
không thể thay đổi do sự cạnh tranh mạnh mẽ về giá với các DNCBG xuất khẩu từ Đài
Loan, Trung Quốc… nên lợi nhuận của các DNCBG khu vực Nam Trung Bộ sụt giảm
đáng kể trong thời gian gần đây.

Trước những khó khăn và thách thức như trên, để nâng cao năng lực cạnh tranh
và đảm bảo sự ổn định, phát triển bền vững trong môi trường cạnh tranh khốc liệt hiện
nay, nhà quản trị các DNCBG khu vực Nam Trung Bộ cần phải nhanh chóng đổi mới
phương thức quản trị DN, đưa vào áp dụng các công cụ quản trị chi phí hiệu quả nhằm
tăng cường kiểm sốt, giám sát chặt chẽ các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất
kinh doanh của đơn vị từ đó sẽ giúp DN có thể thích ứng tốt với sự biến đổi liên tục
của môi trường kinh doanh hiện nay. Và KTQTCP là một cơng cụ thích hợp, hữu hiệu
giúp nhà quản trị DNCBG có thể hoạch định các chi phí, kiểm soát và ra quyết định sử
dụng hiệu quả, tiết kiệm các nguồn lực nên sẽ giảm được các chi phí phát sinh trong
q trình sản xuất kinh doanh của đơn vị. Việc áp dụng và liên tục cải tiến công tác
KTQTCP sẽ giúp DNCBG khu vực Nam Trung Bộ thích ứng linh hoạt với những thay
đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh và hội nhập quốc tế. Mặt khác, các
DNCBG cần quan tâm đến việc đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cao năng suất lao
động, cải tiến chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm về mẫu mã, kiểu dáng nhằm đáp
ứng kịp thời thị hiếu và các yêu cầu ngày một khắt khe của khách hàng.
Qua khảo sát sơ bộ của tác giả, một số DNCBG khu vực Nam Trung Bộ đã
bước đầu triển khai vận dụng KTQTCP trong công tác quản trị, điều hành DN nhưng


3

tỷ lệ vận dụng KTQTCP còn thấp và chủ yếu tập trung tại các DNCBG có quy mơ lớn.
Các nội dung và kỹ thuật KTQTCP được các DNCBG vận dụng hầu hết là nội dung,
kỹ thuật KTQTCP truyền thống mà chưa xem xét việc vận dụng các nội dung, kỹ thuật
KTQTCP hiện đại nên các thơng tin chi phí cung cấp chưa đáp ứng đầy đủ, kịp thời
nhu cầu của nhà quản trị trong việc hoạch định, kiểm soát và ra quyết định kinh doanh.
Bên cạnh đó, hầu hết nhà quản trị các DNCBG khu vực Nam Trung Bộ còn chưa nhận
diện được các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQTCP trong DN nên khi triển
khai vận dụng KTQTCP trong DN còn gặp nhiều vướng mắc, hiệu quả không được
như kỳ vọng. Do vậy cần thiết phải nghiên cứu thực trạng KTQTCP cũng như nhận

diện và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến việc vận dụng KTQTCP trong
các DNCBG khu vực Nam Trung Bộ nhằm tìm ra các giải pháp hồn thiện và tăng
cường vận dụng KTQTCP trong cơng tác quản trị chi phí tại các DN này là một vấn
đề cấp thiết, quan trọng trong giai đoạn hiện nay.
Từ những phân tích trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu kế tốn quản
trị chi phí trong các doanh nghiệp chế biến gỗ khu vực Nam Trung Bộ” để thực
hiện luận án của mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu tổng quát là nghiên cứu KTQTCP
trong các DNCBG khu vực Nam Trung Bộ. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu này, tác
giả xác định các mục tiêu nghiên cứu cụ thể gồm:
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng KTQTCP tại các DNCBG khu vực Nam
Trung Bộ.
- Nhận diện và xác định mức độ tác động của các nhân tố đến việc vận dụng
KTQTCP tại các DNCBG khu vực Nam Trung Bộ.
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện KTQTCP tại các DNCBG khu vực Nam Trung Bộ.
- Đề xuất các khuyến nghị tăng cường vận dụng KTQTCP trong các DNCBG
khu vực Nam Trung Bộ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập
quốc tế.

3. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận án cần trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Thực trạng KTQTCP tại các DNCBG khu vực Nam Trung Bộ ra sao?


4

- Những nhân tố nào tác động đến việc vận dụng KTQTCP tại các DNCBG khu
vực Nam Trung Bộ?

- Mức độ tác động cụ thể của từng nhân tố đến việc vận dụng KTQTCP tại các
DNCBG khu vực Nam Trung Bộ?
- Những giải pháp nào cần thực hiện nhằm hoàn thiện KTQTCP tại các
DNCBG khu vực Nam Trung Bộ?
- Các khuyến nghị nào nhằm tăng cường vận dụng KTQTCP trong các DNCBG
khu vực Nam Trung Bộ?

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là KTQTCP và các nhân tố tác động đến việc
vận dụng KTQTCP trong các DNCBG khu vực Nam Trung Bộ. Với đối tượng nghiên
cứu này, đề tài sẽ nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng KTQTCP tại các
DNCBG khu vực Nam Trung Bộ, đồng thời nhận diện các nhân tố tác động và xác
định mức độ tác động của từng nhân tố đến việc vận dụng KTQTCP trong các
DNCBG khu vực Nam Trung Bộ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu KTQTCP đối với các khoản mục
chi phí sản xuất, chi phí ngồi sản xuất tại các DNCBG khu vực Nam Trung Bộ và
khơng nghiên cứu các chi phí tài chính, chi phí khác.
Về khơng gian: Phạm vi nghiên cứu của luận án là các DNCBG khu vực Nam
Trung Bộ, ngoại trừ các DNCBG có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các DNCBG được
tác giả lựa chọn để khảo sát chủ yếu tập trung ở 6 tỉnh, thành phố thuộc khu vực Nam
Trung Bộ gồm: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú n và Khánh Hịa.
Về thời gian: Các dữ liệu của nghiên cứu được tác giả khảo sát và thu thập
trong khoảng thời gian từ tháng 9/2019 đến tháng 3/2021.

5. Những đóng góp mới của đề tài
5.1. Về mặt lý luận
Luận án đã góp phần bổ sung vào cơ sở lý luận về KTQTCP trong các DNSX
trên các phương diện về khái niệm, chức năng và nội dung KTQTCP. Bên cạnh đó,

luận án đã tập hợp các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQTCP trong DNSX; bởi


5

vì cho đến nay các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQTCP trong DNSX vẫn
chưa được tập hợp đầy đủ trong các nghiên cứu trước. Đặc biệt, luận án đã bổ sung
một lý thuyết nền làm cơ sở xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng
KTQTCP trong các DNSX là lý thuyết phổ biến công nghệ, các nghiên cứu trước chưa
đề cập đến lý thuyết này.
5.2. Về mặt thực tiễn
Luận án đã mô tả, phân tích và đánh giá thực trạng KTQTCP trong các DNCBG
khu vực Nam Trung Bộ. Kết quả nghiên cứu đã cung cấp các hướng dẫn và giải pháp
hoàn thiện KTQTCP tại các DNCBG khu vực Nam Trung Bộ. Đồng thời, luận án đã
nhận diện, đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến việc vận dụng KTQTCP
trong các DNCBG khu vực Nam Trung Bộ bao gồm: Chiến lược kinh doanh, Trình độ
của nhân viên kế tốn, Cơng nghệ sản xuất, Ứng dụng CNTT, Nhận thức về KTQTCP
của nhà quản trị và Quan hệ chi phí – lợi ích. Từ đó đề xuất một số hàm ý, khuyến
nghị đối với các nhà quản trị DNCBG khu vực Nam Trung Bộ, các cơ quan Nhà nước,
Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam trong việc hỗ trợ các DNCBG khu vực Nam Trung
Bộ triển khai thực hiện KTQTCP hiệu quả trong công tác quản trị DN. Kiến thức thu
được từ nghiên cứu này sẽ giúp nhà quản trị DNCBG khu vực Nam Trung Bộ nâng
cao khả năng hoạch định, kiểm soát, quản trị chi phí và sử dụng hiệu quả các nguồn
lực tại DN; góp phần cải thiện, nâng cao năng lực cạnh tranh, đảm bảo sự tồn tại và
phát triển bền vững của các DNCBG trong môi trường kinh doanh nhiều biến động và
cạnh tranh khốc liệt hiện nay.

6. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận chung, các danh mục chữ viết tắt, danh mục hình
vẽ, bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu gồm

5 chương sau:
Chương 1: Tổng quan cơng trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
Chương 2: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp sản xuất.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Giải pháp hồn thiện kế tốn quản trị chi phí trong các DNCBG khu
vực Nam Trung Bộ.


6

CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN CƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
KTQTCP là một chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu lựa chọn và tiến hành
nghiên cứu dưới nhiều góc độ cả về lý luận, thực tiễn và bằng nhiều cách tiếp cận khác
nhau. Qua nghiên cứu tổng quan các cơng trình nghiên cứu về KTQTCP trong DN,
theo tác giả có thể tổng hợp các nghiên cứu về KTQTCP thành ba hướng nghiên cứu
chính sau: Nghiên cứu KTQTCP trong các loại hình DN; Nghiên cứu tình hình vận
dụng các kỹ thuật KTQTCP trong DN và Nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc
vận dụng KTQTCP trong DN.

1.1. Nghiên cứu KTQTCP trong các loại hình doanh nghiệp
Các nghiên cứu về KTQTCP theo hướng này được số lượng lớn nhà nghiên cứu
thực hiện, các tác giả tiếp cận nghiên cứu thông qua khảo sát nội dung KTQTCP trong
các DN thuộc nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau; từ đó phân tích, đánh giá ưu
nhược điểm và đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng, hoàn thiện KTQTCP phù hợp
với đặc thù hoạt động sản xuất kinh doanh, yêu cầu quản lý của từng loại hình DN.
Một trong những nghiên cứu đầu tiên về KTQTCP theo hướng tiếp cận này là
nghiên cứu của tác giả Trần Văn Dung (2002). Tác giả đã tiến hành nghiên cứu mối

quan hệ giữa KTQTCP với kế tốn tính giá thành và phạm vi nghiên cứu được giới
hạn trong các DNSX nhằm tìm ra mối liên hệ giữa KTQTCP với cơng tác tính giá
thành sản phẩm trong các DNSX hỗ trợ cho việc ra quyết định kinh doanh. Với mục
tiêu nghiên cứu đã xác định, tác giả đã tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu thực trạng
KTQTCP và tính giá thành sản phẩm trong các DNSX, từ đó chỉ ra một số hạn chế và
đề xuất các giải pháp hoàn thiện từng nội dung cụ thể của tổ chức cơng tác KTQTCP
sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các DNSX. Tuy nhiên, các giải pháp đề xuất
của tác giả chỉ mang tính định hướng chung cho tất cả các DNSX mà chưa đưa ra các
giải pháp chi tiết cho từng ngành sản xuất cụ thể nên gây khó khăn cho các nhà quản
trị DNSX khi xem xét triển khai vận dụng KTQTCP trong công tác quản lý tại đơn vị.
Vì vậy, các nghiên cứu kế tiếp về KTQTCP được các tác giả thực hiện trong
từng ngành nghề kinh doanh cụ thể nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp hơn với từng
DN như nghiên cứu của Phạm Thị Thủy (2007) với ngành sản xuất dược phẩm,
Nguyễn Quốc Thắng (2010) với ngành giống cây trồng, Nguyễn Hoản (2011) với
ngành sản xuất bánh kẹo, Nguyễn Thị Ngọc Lan (2012) với ngành vận tải đường bộ,
Hồ Mỹ Hạnh (2013) với ngành may, Nguyễn Thị Mai Anh (2014) với ngành nhựa,


7

Đào Thúy Hà (2015) với ngành thép, Nguyễn Thị Bình (2018) với ngành dược phẩm;
Phạm Quang Thịnh (2018) với ngành xi măng, Đặng Nguyên Mạnh (2019) với ngành
sản xuất gốm, sứ xây dựng; Tô Minh Thu (2019) với ngành sản xuất giấy và Nguyễn
Văn Hải (2020) với ngành da giày...
Phạm Thị Thủy (2007) thực hiện nghiên cứu KTQTCP trong các DNSX dược
phẩm Việt Nam. Tác giả đã nghiên cứu chi tiết các đặc trưng của ngành sản xuất dược
phẩm, từ đó đi sâu nghiên cứu nội dung kế tốn chi phí trong các DNSX Việt Nam qua
các giai đoạn và đánh giá thực trạng kế tốn chi phí trong các DNSX dược phẩm Việt
Nam chưa thực sự phù hợp với đặc thù ngành dược; vì thế kế tốn chi phí chưa thể đáp
ứng được nhu cầu thông tin của nhà quản trị cho việc ra các quyết định kinh doanh

hợp lý. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất xây dựng mơ hình KTQTCP trong các DNSX
dược phẩm với các nội dung cần thực hiện như: lập dự toán ngân sách, phân loại chi
phí theo cách ứng xử chi phí… Đóng góp nổi bật của tác giả trong nghiên cứu này
chính là việc tác giả đề xuất áp dụng kỹ thuật KTQTCP hiện đại mà cụ thể là phương
pháp ABC trong việc xác định và phân bổ chi phí cho các đối tượng chịu phí thay cho
việc xác định và phân bổ chi phí truyền thống. Tuy nhiên, tác giả chỉ mới dừng lại ở
việc đưa ra ý tưởng mà chưa làm rõ được lợi ích của phương pháp này cũng như trình
tự nội dung các bước cần triển khai thực hiện khi đưa phương pháp ABC vào áp dụng
trong thực tế tại các DNSX dược phẩm.
Tiếp đó, Nguyễn Quốc Thắng (2010) nghiên cứu KTQTCP trong các DN thuộc
ngành giống cây trồng Việt Nam. Tác giả đã nghiên cứu thực trạng KTQTCP và tính
giá thành sản phẩm trong các DNSX giống cây trồng, từ đó đưa ra một số nhận xét,
tồn tại trong công tác KTQTCP tại các DNSX thuộc ngành này và đề xuất một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả cơng tác KTQTCP và tính giá thành sản phẩm trong các
DNSX thuộc ngành giống cây trồng Việt Nam. Đặc biệt, kết quả nghiên cứu của tác
giả cho thấy tổ chức KTQTCP và tính giá thành sản phẩm theo phương pháp hiện đại
kết hợp với hệ thống KTQTCP và tính giá thành theo phương pháp truyền thống sử
dụng trong các DN thuộc ngành giống cây trồng Việt Nam có tác dụng nâng cao khả
năng xử lý, cung cấp thông tin cho nhà quản trị DN trong việc ra quyết định kinh
doanh cả trong ngắn hạn và dài hạn. Và theo tác giả khẳng định mơ hình kết hợp này
nếu được các DN thuộc ngành giống cây trồng Việt Nam áp dụng sẽ tăng cường hiệu
quả quản trị chi phí của DN trong thời gian đến, đây chính là một đóng góp nổi bật của
tác giả trong nghiên cứu này. Tuy nhiên, tác giả chưa đưa ra được các giải pháp cụ thể
hướng dẫn các DN giống cây trồng trong việc triển khai mơ hình này.


8

Nguyễn Hoản (2011) nghiên cứu KTQTCP trong các DNSX bánh kẹo của Việt
Nam. Tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức KTQTCP tại một số DN sản

xuất bánh kẹo ở Việt Nam. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện tổ chức
KTQTCP trong các DN này và các giải pháp được tác giả đề xuất tập trung vào một số
nội dung cơ bản như: tổ chức bộ máy KTQTCP theo mơ hình kết hợp, phân loại chi
phí theo mức độ hoạt động, vận dụng hệ thống dự toán linh hoạt để đo lường và kiểm
sốt chi phí tại nhiều mức độ hoạt động khác nhau của DN. Căn cứ vào đặc thù của
DN bánh kẹo, tác giả cũng đưa ra cách thức phân tích ra quyết định trong các tình
huống cụ thể: quyết định tự sản xuất hay mua ngoài một số yếu tố đầu vào trong quá
trình sản xuất sản phẩm, quyết định tiếp tục chế biến thành sản phẩm hay bán ngay...
điều này rất phù hợp với đặc điểm sản xuất của các DN bánh kẹo đó là quy trình sản
xuất sản phẩm trải qua nhiều công đoạn, đầu ra của công đoạn này là đầu vào công
đoạn kế tiếp. Mặc dù có nhiều đóng góp mới về giải pháp hồn thiện tổ chức KTQTCP
trong các DN sản xuất bánh kẹo khi đưa ra mơ hình tổ chức bộ máy KTQTCP kết hợp
giữa KTQT với kế tốn tài chính, tuy nhiên tác giả chưa chỉ rõ được các yếu tố nào có
ảnh hưởng đến việc lựa chọn mơ hình tổ chức bộ máy KTQTCP áp dụng cho các DN
thuộc lĩnh vực này cũng như mối quan hệ giữa KTQT và kế tốn tài chính trong mơ
hình này.
Trần Thế Nữ (2011) đã thực hiện nghiên cứu“Xây dựng mơ hình kế tốn quản
trị chi phí trong các doanh nghiệp thương mại quy mơ vừa và nhỏ ở Việt Nam”. Qua
nghiên cứu, tác giả đã đánh giá thực trạng KTQTCP ở các DN vừa và nhỏ nói chung
và các DN thương mại quy mơ vừa và nhỏ Việt Nam nói riêng mới chỉ ở giai đoạn sơ
khai và còn nhiều hạn chế nên để đảm bảo cung cấp nguồn thông tin tin cậy cho nhà
quản trị, rất cần thiết lập một mơ hình KTQTCP ở các DN này. Sau đó, tác giả đi vào
xây dựng mơ hình KTQTCP ở các DN thương mại quy mô vừa và nhỏ xuất phát từ
nhu cầu thực tế, đặc điểm của các DN cũng như đảm bảo những nguyên tắc kế toán cơ
bản hay sự tuân thủ pháp luật. Nội dung xây dựng gồm: phân loại chi phí, lập dự tốn
chi phí, kế tốn chi phí thực hiện, lập báo cáo KTQTCP, phân tích chi phí để kiểm sốt
chi phí và ra quyết định kinh doanh. Nhìn chung, các nội dung tác giả đưa ra khá đầy
đủ, tuy nhiên các vấn đề được trình bày chưa sâu cịn mang tính lý thuyết chưa gắn với
thực tiễn của các DN thương mại. Bên cạnh đó, mơ hình KTQTCP tác giả đề xuất
muốn áp dụng cho các DN thương mại quy mô vừa và nhỏ cần có sự hỗ trợ từ nhiều

phía: các cơ quan chức năng Nhà nước, các đơn vị đào tạo, nghiên cứu KTQT cũng
như các DN thương mại, đặc biệt là vấn đề nhận thức và văn bản pháp quy điều chỉnh
hoạt động này. Do vậy, tính khả thi của mơ hình gặp nhiều thách thức.


9

Năm 2012, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan nghiên cứu “Tổ chức kế tốn quản trị
chi phí vận tải hàng hóa trong các cơng ty vận chuyển đường bộ Việt Nam”. Trong
luận án, tác giả tiến hành xây dựng mô hình tổ chức KTQTCP vận tải hàng hóa áp
dụng cho các DN kinh doanh vận tải đường bộ Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu về sự
hình thành và phát triển của hệ thống KTQTCP trên thế giới gắn liền với từng hoàn
cảnh kinh tế cụ thể, cũng như kinh nghiệm vận dụng và các kỹ thuật KTQTCP trong
các nền kinh tế khác nhau, đặc biệt là các nền kinh tế có tính chất tương đồng với nền
kinh tế Việt Nam. Từ đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp hồn thiện tổ chức cơng
tác KTQTCP vận tải hàng hóa trong các cơng ty vận tải đường bộ Việt Nam nhằm
cung cấp các thơng tin hữu ích phục vụ cho các nhà quản trị trong việc ra quyết định
kinh doanh. Tuy nhiên, các giải pháp chủ yếu theo quan điểm chủ quan của tác giả nên
khả năng triển khai trong thực tiễn còn hạn chế.
Tiếp tục hướng nghiên cứu này, Hồ Mỹ Hạnh (2013) nghiên cứu hệ thống
KTQTCP trong các doanh nghiệp may Việt Nam. Tác giả đã tiếp cận nghiên cứu
KTQTCP dưới góc độ các yếu tố của hệ thống thơng tin kế tốn với các nội dung
nghiên cứu gồm tổ chức hệ thống thông tin dự tốn chi phí, tổ chức hệ thống thơng tin
thực hiện chi phí, tổ chức kiểm sốt chi phí và ra quyết định kinh doanh. Đồng thời,
luận án cũng đưa ra các điều kiện về phía Nhà nước cũng như các DN may để đảm bảo
hệ thống thông tin KTQTCP được tổ chức và vận hành hiệu quả. Mặt khác, tác giả cịn
nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thơng tin KTQTCP và cho rằng hai nhân tố:
Mục tiêu, chiến lược của DN; Nhu cầu thơng tin KTQTCP từ phía nhà quản trị là hai
nhân tố quan trọng nhất trong việc thiết lập hệ thống thông tin KTQTCP trong DN.
Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra hướng nghiên cứu mở rộng của luận án sẽ tiếp tục phát

triển nghiên cứu về KTQTCP dựa trên cơ sở kiểm sốt chi phí thông qua hệ thống
thông tin KTQTCP theo hướng xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá trách nhiệm của
các cá nhân, bộ phận có liên quan đối với các loại chi phí phát sinh trong các DN may.
Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để đo lường và đánh giá thành quả, trách
nhiệm của các cá nhân, bộ phận khác nhau. Từ đó có các giải pháp gắn kết giữa trách
nhiệm và lợi ích của từng cá nhân, bộ phận trong doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Mai Anh (2014) thực hiện nghiên cứu KTQTCP trong các công ty
cổ phần Nhựa niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tác giả đã tiến hành
khảo sát thực trạng KTQTCP tại 14 công ty cổ phần Nhựa đã niêm yết nhằm phân
tích, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp, điều kiện hoàn thiện KTQTCP phù
hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và đáp ứng nhu cầu thông tin chi phí
của nhà quản trị các cơng ty cổ phần Nhựa niêm yết. Ngoài ra, nghiên cứu của tác giả


10

cịn đóng góp về lý luận khi đã làm rõ bản chất, vai trò của KTQTCP trong DNSX;
đồng thời tác giả đã hệ thống hóa và làm rõ các nội dung cơ bản của KTQTCP trong
DNSX theo chu trình ghi nhận, xử lý và cung cấp thơng tin chi phí phục vụ nhà quản
trị DNSX trong việc kiểm soát chi phí, ra quyết định kinh doanh. Tuy nhiên, do phạm
vi nghiên cứu của tác giả chỉ giới hạn trong 14 công ty cổ phần Nhựa đã niêm yết trên
thị trường chứng khoán nên kết quả nghiên cứu chưa phản ánh hết thực trạng
KTQTCP tại các DN ngành Nhựa do vậy cần mở rộng phạm vi nghiên cứu ở các
nghiên cứu tiếp theo.
Năm 2015, tác giả Đào Thúy Hà nghiên cứu KTQTCP trong các DNSX thép
ở Việt Nam. Trong luận án, tác giả đã tiến hành xác định nhu cầu thông tin chi phí
phục vụ quản trị của từng nhóm DNSX thép và các nhân tố tác động đến nhu cầu
thông tin chi phí của nhà quản trị. Sau khi xem xét lý thuyết kết hợp với kỹ thuật
phỏng vấn chuyên gia, tác giả đã xác định hai nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu thơng
tin chi phí, kế tiếp tác giả tiến hành thu thập dữ liệu của 79 DNSX thép thông qua

phiếu khảo sát, sau đó xử lý, phân tích dữ liệu và sử dụng để kiểm định mối tương
quan giữa các nhân tố. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp hồn thiện
cơng tác KTQTCP và có tính khả thi cao cho từng nhóm DNSX thép. Tuy nhiên, hạn
chế của tác giả trong nghiên cứu này là chưa xây dựng được mơ hình hồi quy để đo
lường mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến nhu cầu thơng tin chi phí trong từng
nhóm DNSX thép ở Việt Nam.
Tiếp đó, tác giả Nguyễn Hải Hà (2016) đã thực hiện nghiên cứu KTQTCP trong
các doanh nghiệp may Việt Nam. Tác giả đã sử dụng phương pháp tổng hợp, quy nạp
và diễn giải trong việc nghiên cứu thực trạng tổ chức KTQTCP tại các DN may theo
một số nội dung: xác định nhu cầu thông tin KTQTCP của các nhà quản trị DN may;
tổ chức bộ máy KTQTCP; phân loại chi phí, xây dựng hệ thống định mức chi phí, lập
dự tốn chi phí; xác định chi phí cho các đối tượng chịu phí; tổ chức thu nhận, hệ
thống hóa và cung cấp thơng tin KTQTCP; phân tích chi phí để kiểm sốt chi phí và ra
quyết định kinh doanh. Thông qua đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hồn
thiện cơng tác tổ chức KTQTCP trong các DN may Việt Nam trên một số nội dung đã
khảo sát ở thực trạng và giải pháp nổi bật nhất mà tác giả đề xuất chính là áp dụng mơ
hình kế tốn chi phí theo hoạt động (phương pháp ABC), tuy nhiên tác giả chỉ mới nêu
được sự cần thiết và đánh giá khả năng áp dụng phương pháp ABC trong các DN may
chưa làm rõ được cách thức triển khai áp dụng mơ hình này trong thực tế. Điều này sẽ
gây khó khăn cho nhà quản trị các DN may khi xem xét và triển khai phương pháp này
trong công tác quản trị chi phí tại đơn vị.


11

Năm 2018, tác giả Nguyễn Thị Bình nghiên cứu KTQTCP tại các DN kinh
doanh dược phẩm trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Trong luận án, tác giả cũng đã sử dụng
phương pháp phỏng vấn lãnh đạo các DN kinh doanh dược phẩm, quan sát trực tiếp
cơng việc hạch tốn của các nhân viên kế toán kết hợp thảo luận, trao đổi với tổ trưởng
các tổ sản xuất, công nhân sản xuất tại các DN này nhằm tìm hiểu về thực trạng

KTQTCP trong các DN kinh doanh dược phẩm tỉnh Thanh Hóa trên các khía cạnh của
cơng tác KTQTCP tương tự như nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hải Hà. Từ đó, tác giả
đề xuất một số giải pháp hoàn thiện KTQTCP tại các DN kinh doanh dược phẩm tỉnh
Thanh Hóa, điểm nổi bật nhất trong các giải pháp này khác với các nghiên cứu trước
khi tác giả đưa ra giải pháp xây dựng mơ hình kế tốn trách nhiệm nhằm gắn trách
nhiệm của các nhà quản trị với các chi phí phát sinh tại trung tâm chi phí mà họ phụ
trách, điều này sẽ giúp cho các DN kinh doanh dược phẩm có thể kiểm soát chặt chẽ
tất cả chi phí phát sinh trong DN. Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ dừng lại ở việc đưa ra ý
tưởng mà chưa nêu rõ các bước triển khai áp dụng mơ hình này trong thực tiễn của các
DN kinh doanh dược phẩm.
Phạm Quang Thịnh (2018) nghiên cứu KTQTCP tại các công ty sản xuất xi
măng trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Tác giả đã hệ thống hóa và làm rõ nội dung
KTQTCP trong DNSX trên quan điểm xuất phát từ nhu cầu thông tin KTQTCP

phục vụ công tác quản lý của nhà quản trị. Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích và
đánh giá thực trạng KTQTCP tại các DNSX xi măng trên địa bàn tỉnh Hải
Dương, tác giả đã đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện KTQTCP tại
các DN này như: đề xuất áp dụng tổ chức bộ máy kế tốn theo mơ hình hỗn hợp giữa kế
tốn tài chính và KTQTCP, dựa vào chức năng hoạt động để xác định ba nhóm trung
tâm chi phí gồm: Trung tâm chi phí sản xuất; trung tâm chi phí quản lý và trung tâm chi
phí kinh doanh. Và tương tự các nghiên cứu trước, tác giả cũng đề xuất chi phí tại các
DNSX xi măng Hải Dương cần được phân loại chi phí theo mức độ hoạt động và đồng
thời bổ sung thêm cách phân loại chi phí theo thẩm quyền ra quyết định để kiểm sốt chi
phí và đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí của các trung tâm chi phí cũng như thành quả
của nhà quản trị các trung tâm chi phí được chính xác, phù hợp. Mặt khác, theo tác giả
việc xác định chi phí cho các đối tượng chịu phí tại các DNSX xi măng cần thực hiện
theo phương pháp xác định chi phí thực tế kết hợp với định mức. Đặc biệt, tác giả có
một đóng góp mới với việc đề xuất các DNSX xi măng khi chuyển đổi công nghệ sản
xuất nên áp dụng phương pháp xác định chi phí Kaizen để cắt giảm chi phí sản xuất của
DN, tuy nhiên tác giả vẫn chưa làm rõ cách thức triển khai áp dụng phương pháp này

nên các công ty sản xuất xi măng Hải Dương khó triển khai vận dụng.


12

Đặng Nguyên Mạnh (2019) nghiên cứu KTQTCP tại các DNSX gốm sứ xây
dựng trên địa bàn tỉnh Thái Bình. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp
nghiên cứu định tính với kỹ thuật phỏng vấn sâu kết hợp khảo sát qua bảng hỏi với nhà
quản trị các cấp, nhân viên kế toán của 30 DNSX gốm sứ xây dựng tỉnh Thái Bình
nhằm nghiên cứu thực trạng KTQTCP và các nhân tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng
KTQTCP tại các DNSX gốm sứ xây dựng Thái Bình. Kết quả nghiên cứu đã có những
đóng góp nổi bật cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Về lý luận, tác giả đã hệ
thống hóa các nội dung KTQTCP gắn liền với các chức năng quản trị và xác định ba
nhóm nhân tố tác động đến việc áp dụng KTQTCP trong DNSX gồm nhóm nhân tố
con người, nhóm nhân tố tổ chức và nhóm nhân tố bên ngồi. . Đồng thời, tác giả đã
nghiên cứu kinh nghiệm KTQTCP và tính giá thành của các nước phát triển như: Mỹ,
Đức và Nhật Bản để rút ra bài học kinh nghiệm cho việc triển khai tại các DNSX Việt
Nam. Về thực tiễn, trên cơ sở kết quả khảo sát, tác giả đã đánh giá những hạn chế và
đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện KTQTCP gắn liền với từng chức
năng quản trị của nhà quản trị cũng như các giải pháp tăng cường vận dụng KTQTCP
tại các DNSX gốm sứ xây dựng trên địa bàn tỉnh Thái Bình. Tuy nhiên, hạn chế của
tác giả trong nghiên cứu này là mẫu khảo sát khá ít và nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc
thống kê mô tả các nhân tố tác động mà chưa đo lường được mức độ tác động của các
nhân tố đến việc vận dụng KTQTCP trong các DNSX gốm sứ xây dựng tỉnh Thái Bình
nên cần thiết phải có những nghiên cứu sâu hơn.
Tiếp tục hướng nghiên cứu này, Ngô Văn Lượng (2019) đã thực hiện đề tài
nghiên cứu KTQTCP trong các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu ở Việt Nam.
Trong nghiên cứu, tác giả sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính với
phương pháp nghiên cứu định lượng để khảo sát thực trạng tổ chức KTQTCP tại 78
DN đại diện cho 356 DN kinh doanh xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Việc sử dụng kết

hợp cả hai phương pháp nghiên cứu đã làm tăng độ tin cậy các kết quả nghiên cứu của
tác giả. Thơng qua nghiên cứu, tác giả đã có những đóng góp ý nghĩa cả về lý luận và
thực tiễn. Về mặt lý luận, nghiên cứu đã hệ thống hóa, làm rõ lý luận về tổ chức
KTQTCP trong các DN kinh doanh xuất nhập khẩu gắn với đặc điểm hoạt động xuất
nhập khẩu của các DN. Về mặt thực tiễn, tác giả đã phân tích, đánh giá những kết quả
đạt được, những hạn chế và nguyên nhân; từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện tổ
chức KTQTCP phù hợp với yêu cầu, đặc điểm của các DN kinh doanh xuất nhập khẩu
Việt Nam. Trong đó, đề xuất áp dụng phương pháp ABC kết hợp với phương pháp thẻ
điểm cân bằng trong cơng tác quản trị chi phí tại các DN kinh doanh xuất nhập khẩu có
thể xem là một đóng góp nổi bật, khác biệt của tác giả so với các cơng trình nghiên cứu


13

trước về KTQTCP. Điều này sẽ tạo tiền đề để các nghiên cứu tiếp theo về KTQTCP có
thể mở rộng nghiên cứu áp dụng kết hợp hai phương pháp này trong quản trị và kiểm
sốt chi phí tại các DN thuộc các lĩnh vực, ngành nghề khác.
Gần đây, tác giả Nguyễn Văn Hải (2020) đã thực hiện nghiên cứu KTQTCP
trong các doanh nghiệp da giầy Việt Nam với cách tiếp cận nghiên cứu các yếu tố cấu
thành hệ thống thông tin KTQTCP. Kết quả nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận
về việc tổ chức hệ thống thông tin KTQTCP theo các yếu tố cấu thành như: tổ chức
con người, tổ chức các quy trình, tổ chức dữ liệu, tổ chức lựa chọn và sử dụng phần
mềm xử lý dữ liệu, tổ chức cơ sở hạ tầng CNTT, tổ chức hệ thống kiểm sốt nội bộ.
Bên cạnh đó, tác giả đã khảo sát thực trạng tổ chức hệ thống thông tin KTQTCP và đề
xuất một số giải pháp hồn thiện nội dung tổ chức hệ thống thơng tin KTQTCP trong
các DN da giầy Việt Nam. Ngoài ra, tác giả đã xây dựng và kiểm định mơ hình các
nhân tố tổ chức tác động tới chất lượng thông tin KTQTCP tại các DN da giầy Việt
Nam; trên cơ sở đó đưa ra một số hàm ý chính sách để nâng cao chất lượng thông tin
KTQTCP như chú trọng đến việc đào tạo con người, thiết kế hợp lý quy trình của hệ
thống thơng tin KTQTCP, giá trị đạo đức, việc xác định các nguồn lực cần thu thập dữ

liệu cho hệ thống thông tin KTQTCP, phần mềm, cơ sở hạ tầng CNTT, đến giá trị văn
hóa và cơ cấu tổ chức.
Nhìn chung, hướng nghiên cứu KTQTCP trong các loại hình DN được nhiều
tác giả lựa chọn với mục tiêu khảo sát thực trạng KTQTCP theo các nội dung
KTQTCP tại các DN thuộc các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau như: phân loại chi phí;
lập dự tốn chi phí; xác định chi phí cho các đối tượng chịu phí; lập báo cáo KTQTCP;
phân tích biến động chi phí để kiểm sốt chi phí và phân tích thơng tin chi phí để ra
quyết định. Phương pháp nghiên cứu được các tác giả sử dụng chủ yếu là phương pháp
nghiên cứu định tính thơng qua việc quan sát trực tiếp kết hợp phỏng vấn nhà quản trị
các cấp, kế toán trưởng và nhân viên kế toán tại các DN nhằm làm rõ thực trạng
KTQTCP, trên cơ sở đó các tác giả đánh giá những hạn chế, xác định nguyên nhân và
đề xuất các giải pháp xây dựng hoặc hoàn thiện KTQTCP tại các DN này. Tuy nhiên,
một số giải pháp được các tác giả trình bày dựa trên quan điểm chủ quan, kinh nghiệm
của bản thân nên tính khả thi của các giải pháp cịn hạn chế.
Một số cơng trình nghiên cứu về KTQTCP được thực hiện gần đây, các tác giả
bắt đầu sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính với phương pháp nghiên
cứu định lượng trong q trình nghiên cứu KTQTCP tại các DN như: nghiên cứu của
tác giả Đào Thúy Hà (2015), Ngô Văn Lượng (2019) và Nguyễn Văn Hải (2020)...
Các nghiên cứu này được các tác giả thực hiện khảo sát trong DNSX thép, DN kinh


14

doanh xuất nhập khẩu và DN da giầy với những đặc thù sản xuất kinh doanh riêng nên
cần thiết phải mở rộng ứng dụng phương pháp nghiên cứu này trong việc nghiên cứu
KTQTCP trong các DNSX thuộc các ngành khác như ngành chế biến gỗ nhằm cung
cấp bức tranh tổng quan về KTQTCP cũng như làm rõ đặc điểm KTQTCP trong các
DN chế biến gỗ so với các ngành nghề khác.

1.2. Nghiên cứu tình hình vận dụng các kỹ thuật KTQTCP trong doanh

nghiệp
Bên cạnh việc tiếp cận nghiên cứu KTQTCP theo hướng trên, một số tác giả lựa
chọn nghiên cứu tình hình vận dụng các kỹ thuật KTQTCP trong DN. Việc lựa chọn
và vận dụng các kỹ thuật KTQTCP phù hợp sẽ phát huy được hiệu quả của KTQTCP
trong công tác kế toán cũng như quản trị DN và đã có nhiều tác giả tiến hành nghiên
cứu về vấn đề này trong các DN thuộc nhiều lĩnh vực ở các quốc gia khác nhau. Các
nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này được thực hiện ở các quốc gia phát triển. Cụ thể,
Drury và các cộng sự (1993) đã nghiên cứu các kỹ thuật KTQTCP áp dụng trong các
DNSX ở Anh và kết quả cho thấy các kỹ thuật xác định chi phí dựa trên nhân cơng
được áp dụng phổ biến trong các DNSX tại đây vì đơn giản và dễ sử dụng. Đồng thời,
các kỹ thuật xây dựng định mức chi phí cũng được đa số DNSX lựa chọn. Điều này
cũng tương tự với kết quả nghiên cứu của Wijewardena và Zoysa (1999) về các kỹ
thuật KTQTCP áp dụng trong các DNSX tại Úc. Các DNSX tại Úc quan tâm đến các
cơng cụ kiểm sốt chi phí như lập dự tốn, xây dựng các định mức chi phí và phân tích
biến động chi phí giữa thực tế với dự toán.
Năm 2000, Adler, Everett và Waldron đã khảo sát các nhà KTQT trong các
DNSX tại New Zealand về các kỹ thuật KTQTCP mà họ áp dụng, kết quả cho thấy các
kỹ thuật KTQTCP truyền thống như: xây dựng chi phí tồn bộ, chi phí trực tiếp và chi
phí định mức được sử dụng phổ biến hơn kỹ thuật KTQTCP hiện đại như KTQTCP
chiến lược. Trong khi đó, Yazdifar (2005) khi nghiên cứu trong các DN ngành bưu
chính Anh đã xác định 5 kỹ thuật KTQTCP được áp dụng phổ biến trong các DN này
gồm: lập dự tốn, phân tích sự biến đổi, đánh giá hiệu quả kinh doanh, dự báo động và
KTQTCP chiến lược. Điều này cho thấy các DN đã bắt đầu quan tâm và đưa vào sử
dụng các kỹ thuật KTQTCP hiện đại mà đại diện là phương pháp ABC nhưng mức độ
áp dụng còn thấp, nhiều DN cho rằng lợi ích mà các kỹ thuật này mang lại so với các
kỹ thuật truyền thống chưa đủ sức thuyết phục để họ xem xét áp dụng phương pháp
ABC (Yazdifar và Askarany, 1997).


15


Bên cạnh các nghiên cứu tình hình vận dung các kỹ thuật KTQTCP được thực
hiện tại các quốc gia phát triển, gần đây các nghiên cứu về kỹ thuật KTQTCP tại các
quốc gia đang phát triển cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm. Năm 1997, Chung
và Toeh nghiên cứu mức độ sử dụng các kỹ thuật KTQTCP trong các DNSX tại
Singapore đã nhận thấy lập dự tốn chi phí là kỹ thuật KTQTCP được các DNSX ở
đây sử dụng phổ biến nhất. Kết quả này có sự tương đồng với kết quả nghiên cứu của
Isa và Thye (2006), Mclellan và Moustafa (2010) khi khảo sát các kỹ thuật KTQTCP
áp dụng tại các DNSX ở Malaysia và các quốc gia vùng Vịnh. Các tác giả nhận thấy
các kỹ thuật kiểm sốt chi phí truyền thống như: xây dựng định mức chi phí, lập dự
tốn, xác định chi phí cho đối tượng chịu phí và phân tích biến đổi chi phí được đa số
DNSX ở các quốc gia này lựa chọn. Trong khi, các kỹ thuật KTQTCP hiện đại như
phương pháp ABC và xác định chi phí mục tiêu vẫn chưa được nhiều DN lựa chọn áp
dụng. Nghiên cứu của Yalcin (2012) về việc áp dụng các kỹ thuật KTQTCP trong các
DNSX tại Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã cho thấy các kỹ thuật KTQTCP truyền thống như lập
dự toán và xác định chi phí cho các đối tượng chịu phí được các DNSX sử dụng hơn
so với các kỹ thuật KTQTCP hiện đại.
Như vậy, qua các cơng trình nghiên cứu trên có thể thấy các kỹ thuật KTQTCP
truyền thống được các DNSX ở cả các quốc gia phát triển và đang phát triển lựa chọn
sử dụng phổ biến. Ngược lại, các kỹ thuật KTQTCP hiện đại như: chi phí mục tiêu, chi
phí Kaizen, phương pháp xác định chi phí theo hoạt động... mặc dù được các DN đánh
giá cao nhưng chưa được áp dụng rộng rãi trong hệ thống KTQTCP (Drury, 1993;
Yazdifar và Askarany, 1997; Mclellan và Moustafa, 2010).

1.3. Nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQTCP trong
doanh nghiệp
Ngoài việc nghiên cứu KTQTCP theo hai hướng trên, một số tác giả đã lựa
chọn nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQTCP trong DN nhằm
phân tích, đánh giá sự tác động của các nhân tố và cung cấp cơ sở giúp nhà quản trị
triển khai thành công KTQTCP trong công tác quản trị DN. Hướng nghiên cứu này

được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm, nổi bật là các nghiên cứu của
Shields (1997), Latinen (2003), McChlery và cộng sự (2004), Hutaibat (2005), Ismail
và King (2007), Abdel – Kader và Luther, R. (2008), Tuan (2010), Nguyễn Hoản
(2011), Eresim (2012), Ahmad (2012), Đoàn Ngọc Phi Anh (2012), Lucas, Prowle và
Lowth (2013), Đào Thúy Hà (2015), Nguyễn Thị Đức Loan (2019), Đặng Nguyên
Mạnh (2019), Tô Minh Thu (2019) và Ngô Văn Lượng (2019)… Tuỳ theo bối cảnh


16

nghiên cứu, mỗi tác giả sẽ đề cập các nhân tố khác nhau có tác động đến việc vận dụng
KTQTCP trong DN.
Đầu tiên, chiến lược kinh doanh là nhân tố được nhiều tác giả quan tâm và đưa
vào mơ hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQTCP trong DN.
Shields (1997), Latinen (2003) và Herath (2007) khi nghiên cứu các nhân tố tác động
đến việc vận dụng KTQTCP trong DN đều cho rằng chiến lược kinh doanh có ảnh
hưởng quan trọng đến việc triển khai áp dụng KTQTCP. Theo các tác giả, chiến lược
kinh doanh là nhân tố thúc đẩy quá trình áp dụng KTQTCP trong công tác quản trị
DN. Tuy nhiên, các tác giả chỉ dừng lại ở việc giải thích sự tác động mà chưa đo lường
mức độ tác động của nhân tố này đến việc vận dụng KTQTCP. Sau đó, tác giả Tuan
Zainun Tuan Mat (2010) khi nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc vận dụng
KTQTCP trong các DNSX tại Malaysia đã tiến hành đo lường mức độ tác động của
chiến lược kinh doanh đến việc vận dụng KTQTCP, kết quả cho thấy chiến lược kinh
doanh tác động cùng chiều đến việc vận dụng KTQTCP trong các DNSX Malaysia.
Đồng thời, tác giả nhận thấy tại các DNSX theo đuổi chiến lược kinh doanh dẫn đầu
chi phí sẽ có khuynh hướng áp dụng KTQTCP nhiều hơn các DN khác nhằm mục đích
kiểm sốt chặt chẽ các chi phí và nguồn lực sử dụng trong q trình sản xuất kinh
doanh để có giá thành sản phẩm thấp nhất.
Nghiên cứu của Wu và cộng sự (2010) về các yếu tố tác động đến việc vận
dụng KTQTCP trong các DN liên doanh tại Trung Quốc đã cho thấy kiến thức và sự

hiểu biết của nhà quản trị có ảnh hưởng đáng kể đến việc vận dụng KTQTCP trong các
DN này. Giải thích cho điều này, Wu cho rằng khi nhà quản trị có kiến thức, hiểu biết
và nhận thức rõ về lợi ích của KTQTCP sẽ thúc đẩy việc triển khai áp dụng công cụ
này trong công tác quản trị DN. Ngược lại, khi nhà quản trị DN khơng có sự am hiểu,
nhận thức về lợi ích của KTQTCP cịn nhiều hạn chế sẽ gây cản trở việc vận dụng
KTQTCP trong DN (Subasinghe và Fonseka, 2009). Tương tự, nghiên cứu của
Sulaiman và cộng sự (2003), Abdel – Kader và Luther (2008), Pollanen và Abdel –
Maksoud (2010), Nguyễn Hoản (2010), Lucas, Prowle và Lowth (2013), Halbouni và
cộng sự (2014) cũng đều tìm thấy mối quan hệ giữa nhân tố này với việc vận dụng
KTQTCP trong DN. Các nghiên cứu đều xác định sự tác động tích cực của nhận thức,
hiểu biết của nhà quản trị về KTQTCP đến việc áp dụng KTQTCP trong DN.
Nghiên cứu của Albu (2012) về các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng
KTQTCP trong các DN tại Romania đã xác định trình độ và năng lực của nhân viên kế
tốn mà đặc biệt là nhân viên KTQT có ảnh hưởng quan trọng đến việc áp dụng
KTQTCP. Kết quả này có sự tương đồng với kết quả nghiên cứu của Haldma và Laats


17

(2002), Chenhall (2004), Ismail và King (2007), Mc Chlery (2004), Nguyễn Hoản
(2011), Trần Ngọc Hùng (2016), Tô Minh Thu (2019); Đặng Nguyên Mạnh (2019);
Nguyễn Thị Đức Loan (2019). Tuy nhiên, nghiên cứu của Ismail và King (2007), Mc
Chlery (2004), Nguyễn Hoản (2011) chỉ dừng lại ở việc nhận diện và giải thích sự tác
động của nhân tố này đến việc vận dụng KTQTCP trong DN mà chưa đo lường, đánh
giá được mức độ tác động của nhân tố đến việc áp dụng KTQTCP trong DN. Trong
khi đó, Haldma và Laats (2002), Chenhall (2004), Trần Ngọc Hùng (2016), Tô Minh
Thu (2019); Đặng Nguyên Mạnh (2019); Nguyễn Thị Đức Loan (2019) tiến hành đo
lường mức độ ảnh hưởng của năng lực nhân viên kế toán đến việc vận dụng KTQTCP
và kết quả đều cho thấy nhân tố này tác động tích cực đến việc vận dụng KTQTCP
trong các DN.

Khi nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQTCP trong DNSX,
một số tác giả đã kiểm chứng sự tác động của công nghệ sản xuất đến việc vận dụng
KTQTCP trong các DNSX. Điển hình là nghiên cứu của Halma và Laats (2002),
Baines và Langfield – Smith (2003), Tuan (2010), Ahmad (2012), Leite và cộng sự
(2015). Kết quả nghiên cứu của các tác giả đều cho thấy công nghệ sản xuất là yếu tố
có ảnh hưởng tích cực đến việc áp dụng KTQTCP, khuyến khích việc thay đổi hệ
thống KTQTCP trong các DNSX. Hơn nữa, các tác giả còn phát hiện tại các DNSX có
cơng nghệ sản xuất tiên tiến thường lựa chọn áp dụng các kỹ thuật KTQTCP hiện đại
hơn các kỹ thuật KTQTCP truyền thống. Phát hiện này có sự tương đồng với kết quả
nghiên cứu của Abdel – Kader và Luther (2008) khi nghiên cứu việc vận dụng
KTQTCP trong 658 DN hoạt động trong ngành công nghiệp thực phẩm, nước giải khát
tại Anh. Tại Việt Nam, tác giả Tô Minh Thu (2019) đã nghiên cứu sự tác động của
công nghệ sản xuất đến việc vận dụng KTQTCP trong các DNSX giấy Việt Nam và
kết quả cho thấy nhân tố này có ảnh hưởng tích cực đến việc vận dụng KTQTCP trong
các DN này.
Hutaibat (2005) khi nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc vận dụng
KTQTCP tại các DNSX Jordan đã nhận thấy mối quan hệ lợi ích – chi phí có ảnh
hưởng đến việc áp dụng KTQTCP trong các DNSX được khảo sát. Sau đó, Trần Ngọc
Hùng (2016) khi nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT trong các
DN nhỏ và vừa Việt Nam đã nhận thấy yếu tố chi phí và lợi ích khi đầu tư áp dụng
KTQTCP trong DN sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến việc xem xét, triển khai KTQTCP
trong DN. Theo tác giả, nhà quản trị các DN chỉ quyết định triển khai vận dụng
KTQTCP trong công tác quản trị DN khi nhận thấy lợi ích đem lại lớn hơn chi phí bỏ
ra cho việc đầu tư.


18

Đặng Nguyên Mạnh (2019) đã nghiên cứu sự tác động của ứng dụng CNTT đến
việc vận dụng KTQTCP trong các DNSX gốm, sứ xây dựng. Kết quả nghiên cứu đã

cho thấy ứng dụng CNTT tác động tích cực đến việc triển khai vận dụng KTQTCP
trong các DNSX gốm, sứ xây dựng. Theo tác giả, tại những DNSX gốm, sứ đã triển
khai ứng dụng CNTT thì việc vận dụng KTQTCP diễn ra nhanh chóng, hiệu quả.
Đồng quan điểm, tác giả Tơ Minh Thu (2019) khi nghiên cứu KTQTCP trong các
DNSX giấy đã nhận thấy ứng dụng CNTT có tác động cùng chiều đến việc vận dụng
KTQTCP trong các DNSX giấy Việt Nam.
Một nhân tố được các nhà nghiên cứu quan tâm khi nghiên cứu về KTQTCP đó
là nhu cầu thơng tin của nhà quản trị. Theo Diefenbach và Wald (2018) nhu cầu thông
tin của nhà quản trị DN mà đặc biệt nhu cầu về thơng tin chi phí là động lực chính để
các DN xem xét triển khai KTQTCP trong cơng tác quản trị DN. Điều này phù hợp
với kết quả nghiên cứu của Cooper và Kaplan (1998); Zimmerman (2016),
Quy mô DN cũng là một nhân tố có tác động đến việc vận dụng KTQTCP trong
DN. Theo Hoque (2000), các DN quy mơ lớn có nhu cầu cao về thơng tin chi phí để
quản trị, điều hành DN nên việc triển khai vận dụng KTQTCP sẽ nhiều hơn so với các
DN quy mơ nhỏ. Ngồi ra, nghiên cứu của Pierce (1998) cho thấy các DN quy mô lớn
với tiềm lực tài chính tốt nên việc áp dụng KTQTCP nhiều hơn so với các DN có quy
mơ nhỏ. Tương tự, Abdel – Kader và Luther, R (2008) khi nghiên cứu việc vận dụng
KTQTCP trong 658 DN hoạt động trong ngành công nghiệp thực phẩm, nước giải khát
tại Anh đã nhận thấy các DN có quy mơ lớn với nguồn lực dồi dào sẽ dễ dàng tiếp cận
và triển khai áp dụng KTQTCP hơn các DN quy mô nhỏ. Đồng thời, tác giả cịn phát
hiện các DNSX có quy mơ lớn sẽ lựa chọn vận dụng KTQTCP ở mức độ phức tạp hơn
so với DNSX có quy mô nhỏ (Abdel – Kader và Luther, 2008). Điều này phù hợp với
kết quả nghiên cứu của Otley (1995), Joshi (2001), Haldma và Laats (2002), Wu và
cộng sự (2010), Albu (2012). Tuy nhiên, một số nghiên cứu tìm thấy khơng có mối
quan hệ giữa quy mơ DN với việc vận dụng KTQTCP trong DN như nghiên cứu của
Van Triest (2007), Pollanen (2010). Theo Van Triest (2007) khơng tìm thấy mối liên
hệ giữa quy mơ DN với việc vận dụng KTQTCP. Tương tự, nghiên cứu của Pollanen
(2010) đã kiểm định và xác nhận quy mô DN không tác động đến việc áp dụng
KTQTCP trong các DNSX tại Canada.
Nghiên cứu của Shields (1997), Sulaiman (2004), Ahmad (2012), Eresim

(2012), Đoàn Ngọc Phi Anh (2012), Leite (2015), Trần Ngọc Hùng (2016) đều cho
rằng cạnh tranh, mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng tăng đòi hỏi các DN phải
sử dụng chi phí và kiểm sốt các nguồn lực sử dụng trong quá trình sản xuất kinh


19

doanh càng chặt chẽ hơn nên nhà quản trị cần nhiều thơng tin chi phí để phục vụ cho
q trình kiểm sốt, quản trị chi phí từ đó khuyến khích các DN triển khai áp dụng
KTQTCP nhiều hơn.
Mặt khác, nghiên cứu của Abdel – Kader và Luther (2008) còn cho thấy các
nhân tố nhận thức của DN về sự bất ổn của môi trường, thiết kế tổ chức phân quyền
của DN, kỹ thuật sản xuất tiên tiến, quản trị chất lượng toàn diện, quản trị tồn kho kịp
thời, sức mạnh về nguồn lực khách hàng có tác động tích cực đến việc vận dụng
KTQTCP trong các DN. Cụ thể, nhóm tác giả đã chỉ rõ khi DNSX nhận thức về sự bất
ổn cao của môi trường sẽ lựa chọn vận dụng KTQTCP ở mức độ phức tạp hơn so với
DNSX nhận thức về sự bất ổn thấp; các DNSX nếu phải đối mặt với nguồn lực khách
hàng mạnh hơn sẽ lựa chọn vận dụng KTQTCP ở mức độ phức tạp hơn, nhằm cải
thiện quy trình ra quyết định và kiểm soát để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng tốt
hơn; các DNSX tổ chức phân quyền sẽ lựa chọn vận dụng KTQTCP ở mức độ phức
tạp hơn so với DNSX tổ chức tập quyền; DNSX áp dụng các kỹ thuật sản xuất tiên
tiến, quản trị chất lượng toàn diện, quản trị tồn kho kịp thời sẽ lựa chọn vận dụng
KTQTCP ở mức độ phức tạp hơn so với DN không áp dụng.
Ngoài các nhân tố trên, một số tác giả cịn đề cập đến một số nhân tố khác có
tác động đến việc vận dụng KTQTCP trong DN như: văn hóa DN (McChlery, 2004;
Chia, 2007; Dik, 2011; Đặng Nguyên Mạnh, 2019), sự hỗ trợ của chính phủ
(McChlery, 2004; Ismail và King, 2007), môi trường kinh doanh (Lucas, Prowle và
Lowth, 2013; Nguyễn Thị Đức Loan, 2015), kỹ thuật thực hiện (Đào Thúy Hà, 2015),
các quy định pháp lý liên quan ngành nghề kinh doanh (Nguyễn Hoản, 2011; Đặng
Nguyên Mạnh, 2019)…

Bảng 1.1: Bảng tổng hợp các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQTCP trong
doanh nghiệp
STT

Nhân tố

Tác giả

Tác động

1

Chiến lược kinh doanh

Tuan
(2010);
Chenhall
(2004); Trần Ngọc Hùng
(2016); Đặng Nguyên Mạnh
(2019); Nguyễn Thị Đức
Loan (2019)

Cùng chiều

2

Nhận thức về KTQTCP

Nguyễn
Hoản

(2012);
Nguyễn Hải Hà (2016); Trần
Ngọc Hùng (2016); Tô Minh

Cùng chiều


20

Thu (2019)
3

Trình độ nhân viên kế tốn DN

Ismail



King

(2007);

Cùng chiều

Mc Chlery (2004); Nguyễn
Hoản (2012); Trần Ngọc
Hùng (2016); Tô Minh Thu
(2019); Đặng Nguyên Mạnh
(2019); Nguyễn Thị Đức
Loan (2019)

4

Công nghệ sản xuất

Baines và Langfield – Smith

Cùng chiều

(2003); Laitinen (2006);
Trần Ngọc Hùng (2016); Tô
Minh Thu (2019)
5

Chi phí tổ chức KTQTCP

Trần Ngọc Hùng (2016);

Cùng chiều

Nguyễn Thị Đức Loan (2019)
6

Ứng dụng CNTT

Hansen và Mowen (2009);
Nguyễn Hải Hà (2016); Đặng
Nguyên
Mạnh
(2019);
Nguyễn Thị Đức Loan (2019)


Cùng chiều

7

Nhu cầu thông tin của nhà Cooper và Kaplan (1998);
quản trị
Zimmerman
(2016);
Diefenbach và Wald (2018)

Cùng chiều

8

Quy mô DN

Cùng chiều

Otley (1995); Pierce (1998);
Hoque (2000); Joshi (2001);
Haldma và Laats (2002);
Abdel – Kader và Luther, R
(2008); Wu và cộng sự
(2010), Albu (2012).

Van Triest (2007); Pollanen Ngược chiều
(2010)
9


Phân cấp quản lý

Abdel – Kader và Luther
(2008); Đoàn Ngọc Phi Anh
(2012); Đào Thúy Hà

Cùng chiều


21

(2015); Tơ Minh Thu (2019)
10

Cạnh tranh

Shields
(2004);

(1997);

Sulaiman

Ahmad

Cùng chiều

(2012);

Eresim (2012); Đồn Ngọc

Phi Anh (2012); Leite
(2015) Trần Ngọc Hùng
(2016)
11

Quy định pháp lý

Nguyễn Hoản (2011); Đặng
Nguyên
Mạnh
(2019);
Nguyễn
(2019)

12

Nguồn lực khách hàng

Thị

Đức

Cùng chiều

Loan

Abdel – Kader và Luther, R.
(2006); Trần Ngọc Hùng

Cùng chiều


(2016)
13

Đặc thù ngành nghề kinh Lucas Maicolm (2013);
doanh
Nguyễn Hải Hà (2016)

Cùng chiều

14

Văn hóa DN

Cùng chiều

Chia (2007); Herath (2007);
Dik (2011); Trần Ngọc
Hùng (2016); Đặng Nguyên
Mạnh (2019)

15

Sự hỗ trợ của chính phủ

McChlery và cộng sự,
(2004); Ismail và King,

Cùng chiều


(2007)
16

Kỹ thuật thực hiện

Đào Thúy Hà (2015)

Cùng chiều

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

1.4. Xác định khoảng trống nghiên cứu và định hướng nghiên cứu của
luận án

1.4.1. Khoảng trống nghiên cứu
Qua tổng quan các cơng trình nghiên cứu liên quan đến đề tài cho thấy đã có
nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu về KTQTCP. Các
nghiên cứu này có thể chia thành ba hướng nghiên cứu chính gồm: nghiên cứu


22

KTQTCP trong các loại hình DN; nghiên cứu tình hình vận dụng các kỹ thuật
KTQTCP trong DN và nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQTCP
trong DN. Trong đó, hướng nghiên cứu KTQTCP trong các loại hình DN được các tác
giả tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản của KTQTCP gồm: phân loại chi phí,
xây dựng định mức chi phí, lập dự tốn chi phí, xác định chi phí cho các đối tượng
chịu phí, phân tích biến đổi chi phí để kiểm sốt chi phí và ra quyết định... Các phương
pháp xác định chi phí được các tác giả trình bày chủ yếu là các phương pháp KTQTCP
truyền thống chỉ có một số ít cơng trình nghiên cứu đề cập các phương pháp, kỹ

thuật KTQTCP hiện đại như phương pháp ABC trong việc tập hợp, xác định và
kiểm sốt chi phí cho các hoạt động, bộ phận, sản phẩm...Mặt khác, các nghiên
cứu vận dụng KTQTCP trong các DNSX được các tác giả thực hiện với các DNSX
thuộc nhiều ngành nghề kinh doanh khác nhau như: dược phẩm, bánh kẹo, giống cây
trồng, sản xuất giấy, xi măng, da giầy… nhưng chưa có cơng trình nào nghiên cứu về
KTQTCP trong các DN ngành chế biến gỗ.
Đối với các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQTCP
trong DN được nhiều tác giả trong và ngoài nước thực hiện. Các tác giả chủ yếu sử
dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, các dữ liệu được các tác giả thu thập thông
qua gửi bảng hỏi đến các đối tượng khảo sát, sau đó xử lý dữ liệu phục vụ cho việc
kiểm định, đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến việc vận dụng KTQTCP.
Tuy nhiên, do đối tượng khảo sát được lựa chọn ở nhiều loại hình DN và nhiều quốc
gia khác nhau nên kết quả nghiên cứu có những khác biệt nhất định, vì vậy cần phải
thực hiện thêm các nghiên cứu để đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện của các nhân tố
đến việc vận dụng KTQTCP trong DN. Tại Việt Nam, các cơng trình nghiên cứu về
các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQTCP trong DN được nhiều tác giả thực
hiện trong các ngành thép, sản xuất giấy, gốm sứ... tuy nhiên chưa có cơng trình
nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQTCP trong các DNSX
ngành Gỗ nói chung và DNCBG khu vực Nam Trung Bộ nói riêng cũng như đo lường
mức độ tác động của các nhân tố đến việc vận dụng KTQTCP trong các DN này. Đây
chính là khoảng trống nghiên cứu mà tác giả sẽ lựa chọn để nghiên cứu trong luận án
của mình.

1.4.2. Định hướng nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở xác định khoảng trống nghiên cứu, với quan điểm tiếp tục kế thừa và
phát triển hướng nghiên cứu về KTQTCP, luận án của tác giả sẽ tiến hành nghiên cứu
thực trạng KTQTCP tại các DNCBG khu vực Nam Trung Bộ. Phương pháp nghiên
cứu được tác giả sử dụng là phương pháp định tính và nội dung nghiên cứu sẽ tập



23

trung vào 5 vấn đề chính của KTQTCP gồm: nhận diện, phân loại chi phí; định mức
chi phí và lập dự tốn chi phí; xác định chi phí cho các đối tượng chịu phí; phân tích
thơng tin chi phí để kiểm sốt chi phí; phân tích thơng tin chi phí để ra quyết định gắn
liền với đặc thù của các DNCBG khu vực Nam Trung Bộ.
Ngoài ra, tác giả sẽ sử dụng phương pháp định lượng để tiến hành nghiên cứu
các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQTCP trong các DNCBG khu vực Nam
Trung Bộ thông qua xây dựng mơ hình nghiên cứu, thu thập, xử lý dữ liệu với sự hỗ
trợ của phần mềm SPSS nhằm kiểm định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố
đến việc vận dụng KTQTCP trong các DNCBG. Từ đó góp phần bổ sung vào lý luận
và thực tiễn về các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQTCP trong DNSX. Mặt
khác, qua nghiên cứu sẽ cung cấp căn cứ để tác giả phân tích, đánh giá và đề xuất các
giải pháp hoàn thiện, khuyến nghị tăng cường vận dụng KTQTCP trong công tác quản
lý tại các DNCBG khu vực Nam Trung Bộ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, hiệu
quả hoạt động của các DNCBG khu vực Nam Trung Bộ trong bối cảnh hội nhập và
toàn cầu hóa hiện nay.


×