ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC
NIÊN LUẬN
TỔNG THUẬT CÁC CƠNG TRÌNH SƯU TẦM, NGHIÊN
CỨU VỀ ĐỊA CHÍ VĂN HĨA DÂN GIAN
THÀNH PHỐ CAO BẰNG
Sinh viên: Nông Tuấn Anh
Giảng viên hướng dẫn: TS. Tạ Thị Thanh Huyền
Mã số sinh viên: 18032420
Lớp: K63 Văn Học
Hà Nội, tháng 10 năm 2020
1
LỜI CẢM ƠN
Để hồn thiện bài niên luận này tơi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS.
Tạ Thị Thanh Huyền người trực tiếp hướng dẫn, định hướng tôi trong quá trình
tìm kiếm tài liệu cũng như trình bày, hồn thành tốt bài nghiên cứu này.
Q trình làm bài nghiên cứu này cịn được sự giúp đỡ tận tình của cán bộ
Ban Tuyên giáo Huyện Ủy huyện Hà Quảng đã hỗ trợ và cung cấp những tư liệu
quý báu giúp tơi hồn thành bài nghiên cứu này.
Nhân đây, cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và gửi lời cảm ơn chân thành
nhất tới các thầy cô khoa Văn Học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tơi trong suốt quá trình học tập tại khoa.
Cảm ơn các anh chị khóa trên, bạn bè trong lớp đã góp ý giúp tơi hồn thành
bài nghiên cứu này.
Do thời gian khơng nhiều và trình độ hiểu biết có hạn nên khơng tránh khỏi
nhiều thiếu sót. Tơi mong thầy cơ và các bạn nhận xét và đóng góp ý kiến để bài
nghiên cứu được đầy đủ và chi tiết hơn.
Xin trân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nông Tuấn Anh
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...................................................................................................................5
1. Lý do chọn đề tài.............................................................................................5
2. Lịch sử vấn đề.................................................................................................6
3. Mục đích nghiên cứu......................................................................................7
4. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................8
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu..................................................................8
6. Cấu trúc đề tài.................................................................................................8
NỘI DUNG...............................................................................................................9
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA CHÍ VĂN HÓA DÂN GIAN..............9
1. Những khái niệm liên quan........................................................................9
1.1. Khái niệm “tổng thuật”............................................................................9
1.2. Khái niệm “địa chí”..................................................................................9
1.3. Khái niệm “văn hóa dân gian”..............................................................10
1.4. Khái niệm “địa chí văn hóa dân gian”..................................................10
1.5. Phạm vi “địa chí văn hóa dân gian thành phố Cao Bằng”..................11
Chương II: TỔNG THUẬT VÀ SO SÁNH CÁC CƠNG TRÌNH NGHIÊN
CỨU ĐỊA CHÍ VĂN HĨA DÂN GIAN THÀNH PHỐ CAO BẰNG...............12
1. Khái quát chung về thành phố Cao Bằng..................................................12
2. Các thể loại văn vần.....................................................................................13
2.1. Ca dao, tục ngữ........................................................................................14
2.1.1. Ca dao, tục ngữ về lao động sản xuất của người Tày - Nùng..............15
2.1.2. Ca dao, tục ngữ về tình cảm của con người Tày – Nùng.....................18
2.1.3. Ca dao, tục ngữ về đời sống – xã hội...................................................20
2.2. Tiểu kết....................................................................................................22
3. Kho tàng truyện kể......................................................................................23
3.1. Huyền thoại về sự hình thành của Cao Bằng...........................................23
3.2. Truyền thuyết...........................................................................................26
3.2.1. Truyền thuyết về con thuồng luồng.......................................................26
3
3.2.2. Truyền thuyết về con rồng....................................................................27
3.3. Tiểu kết....................................................................................................28
4. Phong tục, tập quán, tín ngưỡng................................................................28
4.1. Phong tục và các tín ngưỡng dân gian.....................................................29
4.1.1. Thờ cúng tổ tiên....................................................................................29
4.1.2. Thầy Tào...............................................................................................31
4.1.3. Bà Bụt...................................................................................................31
4.2. Các lễ hội tiêu biểu..................................................................................32
4.3. Tiểu kết....................................................................................................33
5. Di tích văn hóa dân gian..............................................................................34
5.1. Đền...........................................................................................................34
5.2. Miếu.........................................................................................................35
5.3. Chùa.........................................................................................................36
5.4. Tiểu kết....................................................................................................36
6. Nhân vật văn hóa dân gian nổi tiếng ở Cao Bằng.....................................37
7. Ẩm thực dân gian.........................................................................................38
7.1. Lạp Sườn..................................................................................................39
7.2. Bánh áp chao............................................................................................39
7.3. Bánh khảo................................................................................................39
7.4. Vịt quay bảy vị.........................................................................................40
7.5. Tiểu kết....................................................................................................40
KẾT LUẬN............................................................................................................41
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................42
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cao Bằng là một tỉnh miền núi phía bắc của Tổ quốc, có bề dày về lịch sử văn hóa gắn chặt với sự nghiệp dựng nước và giữ nước lâu đời của dân tộc Việt
Nam. Chính vì thế, việc tìm hiểu và lưu giữ những nét lịch sử - văn hóa về Cao
Bằng là trách nhiệm cũng như tình cảm của tỉnh Cao Bằng nói riêng và của cả đất
nước nói chung. Mảnh đất này đã có từ rất lâu đời là mảnh đất thiêng liêng của Tổ
quốc Việt Nam, là mảnh đất địa đầu của Tổ quốc, là cái phên dậu chở che non
sông đất nước.
Cao Bằng, một trong những cái nôi của dân tộc Việt Nam. Tại đây, Thục Chế
(cha của Thục Phán An Dương Vương) đã lập nên nước Nam Cương, cho xây
dựng thành Bản Phủ (nguyên mẫu của thành Cổ Loa). Trải qua mấy nghìn năm
lịch sử, nơi đây đã chứng kiến và ghi dấu đậm nét của những triều đại phong kiến
Việt Nam hay quá trình lịch sử cách mạng hào hùng của dân tộc. Nằm ở miền núi
phía bắc, là mảnh đất địa đầu của Tổ quốc. Từ trước đến nay Cao Bằng đã trải
qua rất nhiều thăng trầm trong lịch sử nhưng nơi đây vẫn lưu giữ được những nét
hoang sơ của núi non, thiên nhiên hùng vĩ mà nên thơ, lộng lẫy mà vẫn dịu dàng
giữa đất trời:
Cao Bằng Mộc Mã rộng thênh thênh
Bốn bề đồng ruộng trải mông mênh…
Không chỉ về cảnh sắc mà con người và văn hóa nơi đây vẫn vậy, vẫn giữ một
nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc riêng tạo thành “nét bản sắc văn hóa Tày –
Nùng”.
Nước sơng Bằng chảy ngược
Một lần uống vẫn cịn nhớ mãi!
Gạo Cao Bằng thật trắng
5
Ăn vào mới biết hát lượn “Nàng ơi”!
Văn hóa dân gian là sản phẩm của sự phát triển xã hội nhất định, nó phản ánh
cuộc sống hiện thực với tư cách là nền tảng tinh thần của xã hội và nó cũng là
động lực và mục tiêu để cho xã hội phát triển. Văn hóa dân gian thành phố Cao
Bằng sẽ là nền tảng tinh thần cho sự phát triển của xã hội thành phố Cao Bằng nói
riêng, và sẽ là bước đệm cho sự phát triển của cả tỉnh Cao Bằng nói chung. Chính
vì vậy, việc nghiên cứu các cơng trình văn hóa dân gian ở thành phố Cao Bằng là
một điều cần thiết. Việc tổng thuật lại các cơng trình sưu tầm, nghiên cứu về địa
chí văn hóa dân gian thành phố Cao Bằng nhằm khẳng định được những giá trị về
văn hóa, lịch sử của tỉnh Cao Bằng, từ đó góp phần vào việc giữ gìn những bản
sắc vốn có và phát huy các giá trị truyền thống mãi đến sau này.
Bản thân tôi là một người con được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Cao Bằng
nơi biên cương của Tổ quốc có bề dày về lịch sử và có nhiều nét văn hóa đặc sắc.
Hơn nữa, tôi là một người học tập và nghiên cứu về Văn Học nên tôi nhận thấy
vấn đề nghiên cứu, tìm hiểu và phát triển văn hóa dân gian ở địa phương mình là
một việc làm rất cần thiết để góp phần lưu giữ và phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống của dân tộc.
Trên cơ sở những lý do trên tôi quyết định chọn đề tài “Tổng thuật các cơng
trình sưu tầm, nghiên cứu về địa chí văn hóa dân gian thành phố Cao Bằng”
làm đề tài niên luận của mình.
2. Lịch sử vấn đề
Các cơng trình về địa chí văn hóa dân gian thành phố Cao Bằng đã được đề
cập đến trong một số sách, công trình nghiên cứu, bài viết của nhiều tác giả, trong
đó tiêu biểu có nhiều cuốn như: Địa chí Cao Bằng, Nơng Hải Pín (Chủ biên), nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia, 2000; Địa chí các xã tỉnh Cao Bằng, Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, 2008; Truyện dân gian người Tày – Nùng Cao Bằng, tác giả
6
Nguyễn Thiên Tứ, nhà xuất bản Thanh Niên, 2011; Văn hóa dân gian Tày – Nùng
Cao Bằng: cơng trình ấn bản theo dự án Văn nghệ dân gian Việt Nam, tác giả
Triệu Thị Mai, nhà xuất bản Lao Động, 2012; Phong tục và tín ngưỡng tơn giáo
người Tày ở Cao Bằng, tác giả Đàm Thị Uyên, nhà xuất bản Văn hóa dân tộc,
2012. Những cuốn sách này, các tác giả đã khái quát về con người, đặc điểm các
sinh hoạt văn hóa dân gian, các nghề thủ cơng của dân tộc, những nét chính về
bản làng, nhà ở, quần áo, đồ ăn, thức uống, các sinh hoạt tinh thần và tập quán
nghi thức xã hội của người dân Tày - Nùng.
Hoàng Tuấn Nam (Chủ biên), Non nước Cao Bằng, Hội Văn nghệ dân gian
Việt Nam, Trung tâm Văn hóa Ngơn ngữ Đông Tây, 2001. Trong cuốn này các tác
giả đã mơ tả khái qt về địa thế, núi, sơng, khí hậu, thảm thực vật… đã nói lên
được sự hình thành của bản đồ hành chính tỉnh từ buổi đầu sơ khai đến nay và
nêu rõ quá trình hình thành của các tộc người và các phong tục tập quán cổ
truyền.
Các cơng trình kể trên đều là những tài liệu rất quan trọng, đóng góp vào việc
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày – Nùng ở Cao Bằng nói riêng và
dân tộc Việt Nam nói chung, nhìn chung các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu
chuyên sâu về mọi mặt của văn hóa và con người nơi đây, nhưng vẫn chưa đề cập
tới tầm quan trọng của văn hóa dân gian và vai trị của nó đối với sự phát triển
của xã hội ở địa phương, mặt khác các cơng trình nghiên cứu về văn hóa dân gian
đã được nghiên cứu cách đây rất lâu, hiện nay đã có nhiều thay đổi so với trước,
vì vậy đây cũng chính là một trong những lí do khiến tơi chọn đề tài này làm
nghiên cứu của mình.
3. Mục đích nghiên cứu
Bài niên luận tổng thuật lại các cơng trình nghiên cứu, sưu tầm về địa chí văn
hóa dân gian nằm trong khu vực thành phố Cao Bằng. Từ đó, làm rõ các giá trị và
7
hạn chế của các cơng trình sưu tầm, nghiên cứu về địa chí văn hóa dân gian thành
phố Cao Bằng nói riêng, tỉnh Cao Bằng nói chung.
4. Phương pháp nghiên cứu
Niên luận sử dụng phương pháp tổng thuật tài liệu: nhằm phân tích các cơng
trình sưu tầm và nghiên cứu về địa chí văn hóa dân gian thành phố Cao Bằng. Từ
đó rút ra những nhận định khách quan về: các hướng tiếp cận, các đối tượng được
lựa chọn, các đánh giá và nhận định của các tác giả.
Đọc và tra cứu các tài liệu, sách báo, văn bản... có liên quan đến đề tài.
Tổng hợp và phân tích những cơng trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu.
Tham khảo từ các trang thơng tin có mức độ ảnh hưởng rộng, độ tin cậy cao.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là các cơng trình sưu tầm và nghiên cứu có đề cập
hoặc viết về địa chí văn hóa dân gian thành phố Cao Bằng.
Phạm vi nghiên cứu: Niên luận khảo sát các cơng trình nghiên cứu và sưu tầm
địa chí văn hóa dân gian thành phố Cao Bằng trong: Địa chí Cao Bằng (2000),
Non nước Cao Bằng (2001), Địa chí tơn giáo lễ hội Việt Nam (2004), Địa chí các
xã tỉnh Cao Bằng (2008), Truyện dân gian người Tày – Nùng Cao Bằng (2011),
Văn hóa dân gian Tày – Nùng Cao Bằng: cơng trình ấn bản theo dự án Văn nghệ
dân gian Việt Nam (2012), Phong tục và tín ngưỡng tơn giáo người Tày ở Cao
Bằng (2012), Truyền thuyết về những người nổi tiếng ở Cao Bằng (2015)…
6. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung bài
nghiên cứu gồm 02 chương:
8
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA CHÍ VĂN HÓA DÂN GIAN
Chương II: TỔNG THUẬT VÀ SO SÁNH CÁC CƠNG TRÌNH
NGHIÊN CỨU ĐỊA CHÍ VĂN HĨA DÂN GIAN THÀNH PHỐ CAO BẰNG
NỘI DUNG
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA CHÍ VĂN HĨA DÂN GIAN
1. Những khái niệm liên quan
1.1.
Khái niệm “tổng thuật”
Tổng thuật là một khái niệm quen thuộc và không hề mới ở Việt Nam.
Nhưng, qua một số tìm hiểu các từ điển tiếng Việt uy tín thì khái niệm này chỉ
được hiểu theo một cách ngắn gọn nhất là thuật lại một cách khái quát những nội
dung cơ bản.
Theo cách hiểu của tơi, “tổng” có nghĩ là tổng hợp các nội dung, những vấn
đề nhất định, “thuật” nghĩa là tường thuật lại, trình bày lại các nội dung, các vấn
đề theo trình tự hoặc theo một logic nhất định. Trong quá trình “tổng thuật” cần
đảm bảo tính hệ thống theo một nguyên tắc nhất quán.
1.2.
Khái niệm “địa chí”
Địa chí là cơng trình khoa học ghi chép, khảo sát, điều tra cơ bản, cô đọng,
khách quan, đúng sự thật về một vùng đất với những nét tổng thể nhất, trong
thời gian lịch sử nhất định, bằng bất cứ ngôn ngữ nào. Trong lịch sử thư tịch
nhân loại địa chí là thể loại tồn tại lâu đời. Theo thời gian, hạt nhân của thể loại
không thay đổi. Nội dung ghi chép của địa chí khá tồn diện, phản ánh đầy đủ
ba yếu tố Thiên - Địa - Nhân, trong đó Địa là yếu tố cơ bản. Địa chí đã khắc họa
diện mạo chung của từng vùng đất. Với những đặc điểm riêng về nội dung và
thể loại sách địa chí có giá trị thực tiễn và tính khách quan, khoa học. Trong lịch
9
sử đã có nhiều tên gọi khác nhau như “địa lý, đồ chí, ký, lục, chí”. Trong 3 thể
loại ký, chí, lục thì chí là thể chủ đạo. Khảo sát các sách địa chí Trung Quốc,
Việt Nam, Nhật Bản có các thể như: Hồng Việt địa dư chí, Hi Ta Chí Phu đơ
ký, Hoan Châu phong thổ kí, Cao Bằng lục... Khái niệm địa chí đã được các nhà
nghiên cứu trong và ngồi nước giải thích cũng như chú giải trong từ điển như
sau:
Trong Giản yếu Hán Việt từ điển của GS Đào Duy Anh, ông quan niệm:
Địa là đất, một khu vực trên mặt đất, miền, nơi chốn, địa phương, Chí là ghi lấy,
bài văn chép, sách biên chép của sự vật ghi chép. Địa chí là sách biên chép dân
phong, sản vật, địa thế các địa phương.
Theo GS Đinh Gia Khánh thuật ngữ địa chí của ta tương ứng với thuật ngữ
quốc tế Chorography. Thuật ngữ này do 2 từ Hy Lạp tạo nên: Khora nghĩa là xứ
sở, graphe nghĩa là ghi chép.
Theo GS Trần Quốc Vượng địa chí là một chun khảo (Monographie) về
một vùng có lãnh thổ và bản sắc văn hóa xác định.
Trên cơ sở đó ta có thể rút ra kết luận sau: Địa chí là ghi chép, phản ánh về
địa phương có thể một làng xã, một huyện, một tỉnh, thành phố hoặc rộng hơn là
một vùng gồm nhiều tỉnh, địa chí chứa đựng vốn hiểu biết tồn diện, có hệ thống
và tối thiểu về một vùng đất. Địa chí ghi chép các hiện tượng ở địa phương trong
đó có văn hóa mang tính khách quan, chính xác, cụ thể và phong phú trong một
thời điểm lịch sử nhất định với bất cứ ngơn ngữ nào, hình thức nào.
1.3.
Khái niệm “văn hóa dân gian”
Thuật ngữ quốc tế "folklore" - Văn hóa dân gian, được WJ. Thom sử dụng
đầu tiên vào năm 1846 để chỉ "phong tục, tập quán, nghi thức, mê tín, ca dao,
tục ngữ... của người thời trước".
1.4.
Khái niệm “địa chí văn hóa dân gian”
10
Có thể hiểu địa chí văn hóa dân gian là ghi chép và phản ánh về văn hóa
dân gian địa phương. Gồm các sáng tác, sinh hoạt, thực hành văn hóa dân gian,
nêu rõ được những phong tục tập quán của địa phương. Ngồi ra địa chí văn hóa
dân gian cịn bao gồm cả loại hình văn học nghệ thuật dân gian, các nghề truyền
thống dân gian.
Đặc trưng của văn hóa dân gian là tính cộng đồng. Ngồi ra, văn hóa dân
gian mang tính địa phương gắn với mơi trường nhất định, là cơ sở để hình thành
văn hóa dân tộc. Vậy nên địa chí văn hóa dân gian góp một phần quan trọng đến
sự phát triển bền vững văn hóa và xây dựng phát triển con người hiện đại.
1.5.
Phạm vi “địa chí văn hóa dân gian thành phố Cao Bằng”
Tỉnh Cao Bằng nằm ở phía đơng bắc Việt Nam cách thủ đơ Hà Nội 280km.
Phía bắc và đơng bắc giáp với khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung
Quốc) Phía tây giáp tỉnh Hà Giang, Phía tây nam giáp tỉnh Tuyên Quang, Phía
nam giáp các tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn.
Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Cao Bằng, có vị trí địa lý: phía
nam giáp huyện Thạch An, các phía cịn lại giáp huyện Hịa An. Sự tiếp giáp của
nhiều huyện khác nhau, thành phố Cao Bằng khơng chỉ mang những nét văn hóa
đời sống và con người khu vực thành phố Cao Bằng mà đó cịn là sự giao thoa
với các huyện cịn lại thuộc tỉnh Cao Bằng.
Văn hóa dân gian Cao Bằng được hình thành từ lâu đời. Khu vực thành phố
Cao Bằng chính là trung tâm của cả tỉnh vì vậy đây chính là nơi lưu giữ những
nét văn hóa dân gian tiêu biểu của cả tỉnh Cao Bằng, hội tụ tinh hoa của nhiều
địa phương, được lưu truyền từ địa phương này đến địa phương khác, được gìn
giữ và phát triển từ đời xưa đến đời nay.
Để hình thành nên nền văn hóa dân gian thành phố Cao Bằng đa dạng như
bây giờ, con người chính là yếu tố quan trọng tạo nên một nền văn hóa của
11
nhiều dân tộc anh em, mỗi dân tộc anh em ở Cao Bằng đều là một tấm thảm
không biết đan dệt bằng bao nhiêu đường chỉ ngang dọc, bao nhiêu sợi chỉ sắc
màu khác nhau đã dệt nên tấm thảm của nền văn hóa dân gian thành phố Cao
Bằng – nền văn hóa Tày Nùng.
Chương II: TỔNG THUẬT VÀ SO SÁNH CÁC CƠNG TRÌNH NGHIÊN
CỨU ĐỊA CHÍ VĂN HĨA DÂN GIAN THÀNH PHỐ CAO BẰNG
1. Khái quát chung về thành phố Cao Bằng
Có một câu ca dao trong kho tàng văn học truyền miệng về vùng Cao
Bằng:
Nàng về nuôi cái cùng con,
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng.
Non nước Cao Bằng được chép trong sử sách từ rất sớm. Sách Dư địa
chí do Nguyễn Trãi soạn năm 1438, khi chép về sơng Bồ và sơng Hịa an đã xác
định vị trí của hai con sơng đó “Ở về Cao Bằng”, sách chép “Cao bằng xưa
là ngoại địa của bộ Vũ Định; đông bắc tiếp giáp Lưỡng Quảng;
tây nam tiếp giáp Thái Nguyên, Lạng Sơn. Có 1 lộ, 4 châu, 273
làng xã. Đấy là phên dậu thứ tư về phương bắc vậy” 1. Sách Việt
kiệu thư của lý văn Phượng (người đời Minh, Trung Quốc) viết năm 1540,
mục “Châu quận duyên cách” ghi tên các đạo, phủ, châu, huyện nước ta hồi đầu
nhà Lê, có tên phủ Cao Bằng.
Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu chép năm 1499 “đặt riêng
ra làm trấn Cao Bằng”. Nhà Mạc chiếm đóng Cao Bằng gần 70 năm, đến năm
vĩnh trị thứ 2 (1677) nhà Mạc mất, nhà Lê lại đặt làm trấn Cao Bằng.
Tháng 10 năm 1950, Cao Bằng đã sạch bóng quân thù, thực dân Pháp thất
bại ở chiến dịch biên giới, Ủy ban Hành chính thị xã được thành lập, từ năm
1954 đến nay ln có sự thay đổi từ năm 1954 - 1971 thị xã bao gồm toàn bộ
12
phường Hợp Giang (ngày nay) và có các phố ngoại thị: Phố Tam Trung, Phố
Thanh Sơn, phố Nà Phía, khu Tân An; từ năm 1971 - 1982 thị xã Cao Bằng
được mở rộng sáp nhập vào thị xã Cao Bằng các xóm của một số xã thuộc Hịa
An là xóm Nà Lắc, xóm Nà Chướng, xóm Nà Hồng, xóm Nà Gà, xóm Nà Rụa,
Nà Phía, Nà Đoỏng, Mỏ Muối, và Khuổi Tít thuộc xã Lê Chung, các xóm Hồng
Ngà, Nà Cạn thuộc xã Quang Trung, xóm Nà Kéo thuộc xã Ngũ Lão. Các xóm
Gia Cung, Nà Pế, Nà Lum, Thắc Thúm, Giả Ngẳm thuộc xã Vĩnh Quang; Đến
tháng 01/2003 mở rộng địa giới hành chính, sáp nhập xã Đề Thám thuộc huyện
Hịa An về thị xã Cao Bằng.
Ngày 18/10/2010 chính thức công nhận thị xã Cao Bằng là đô thị loại III
nhằm đánh dấu bước ngoặt phát triển của thị xã. Ngày 1/11/2010 Chính phủ ban
hành Nghị quyết về việc điều chỉnh mở rộng địa giới hành chính thị xã Cao
Bằng. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, thị xã Cao Bằng 11 đơn vị hành
chính trực thuộc (6 phường: Hợp Giang, Sông Bằng, Tân Giang, Sông Hiến, Đề
Thám, Ngọc Xuân và 5 xã: Duyệt Trung, Hòa Chung, Chu Trinh, Hưng Đạo,
Vĩnh Quang). Ngày 25/9/2012, chính thức thành lập thành phố Cao Bằng thuộc
tỉnh Cao Bằng.
2. Các thể loại văn vần
Thể loại văn vần dân gian bao gồm: ca dao, tục ngữ… Văn vần dân gian ở
Việt Nam được hình thành từ rất sớm và rất phát triển bằng hình thức truyền
miệng. Văn vần dân gian phát triển một cách nhanh chóng và đến bây giờ chúng
vẫn đang tồn tại và được con người bồi đắp thêm tri thức ngày một dày dặn. Thể
loại văn vần dân gian của nhân dân thành phố Cao Bằng cũng vậy, rất phong phú
và phát triển qua từng ngày. Đây chính là quá trình đúc kết từ kinh nghiệm đời
sống, sản xuất, từ những mối quan hệ trong xã hội của cộng đồng dân tộc sinh
sống trên mảnh đất này.
13
Văn vần dân gian là tiếng nói của tư tưởng, tình cảm và mơ ước, khát vọng
của người bình dân. Vì lẽ đó, khi được ra đời và truyền đi trong cộng đồng, từ
sáng tác của một cá nhân mà được sửa đổi đôi chút và trở thành của cả cộng
đồng, của cả những con người có cùng hồn cảnh, ước mơ, tình cảm chứa đựng
trong những câu ca đó. Và có lẽ vì vậy mà qua văn vần dân gian ta cảm nhận
được sâu sắc của sự ấm áp, ngọt ngào cùng tình u thương, lịng lạc quan, nghị
lực ý chí phi thường vượt lên mọi khổ cực của cuộc sống của người dân Việt
Nam nói chung và bà con đồng bào miền núi Cao Bằng nói riêng.
Tuy nhiên, có thể thấy rõ rằng trong những cuốn sách viết về địa chí Cao
Bằng hay những bài nghiên cứu về văn hóa dân gian Cao Bằng thì mảng văn
vần dân gian vẫn chỉ là một phần rất nhỏ và không được chú trọng đến nhiều, đa
phần chỉ là điểm qua một số bài nổi bật. Có thể thấy trong cuốn Địa chí Cao
Bằng khi nhắc đến mảng văn vần thì phần văn vần chỉ điểm qua những bài ca
dao, tục ngữ… của người dân Tày – Nùng và phần văn vần chỉ là một phần nhỏ
trong mảng văn học – nghệ thuật. Ở cuốn Non nước Cao Bằng phần văn vần đã
được tác giả nghiên cứu một cách sơ bộ, chỉ là những đoạn trích lại hay sưu tầm
và đưa ra bản dịch, vẫn chưa đi sâu và việc phân tích kĩ ý nghĩa của từng phần,
tuy đã cho mảng văn vần dân gian một phần riêng biệt nhưng chưa được phát
triển đúng tầm.
Văn vần dân gian vẫn đang tiếp tục phát triển ở thời điểm hiện tại, nhưng
hiện nay vẫn chưa có cơng trình nào tiếp tục nghiên cứu về văn vần dân gian.
Do đó, việc tổng thuật lại các cơng trình văn vần dân gian một cách rõ hơn và
chia cụ thể ra từng mảng là vô cùng cần thiết.
2.1.
Ca dao, tục ngữ
Mỗi dân tộc đều mang trong mình một ngơn ngữ riêng tạo nên dấu ấn của
mỗi dân tộc. Người dân Cao Bằng cũng vậy, đa phần là người Tày – Nùng, sống
14
trên miền núi nên ngày xưa việc tiếp xúc với tri thức nhân loại vẫn là một điều
gì đó rất xa xỉ, vì vậy trước năm 1945 đa phần người dân Cao Bằng đều mù chữ.
Việc giao tiếp vẫn sử dụng ngơn ngữ địa phương, vì vậy đa phần ca dao, tục ngữ
vẫn là tiếng Tày – Nùng.
Ca dao, tục ngữ là một phần không thể thiểu trong văn học cũng như đời
sống của đồng bào dân tộc Tày - Nùng. Trong đó, cơng tác sưu tầm ca dao, tục
ngữ Tày - Nùng bước đầu đã được thực hiện và thu được khá nhiều thành tựu
nhưng những thành tựu ấy chưa thật sự xứng tầm. Theo đánh giá của nhà nghiên
cứu Nguyễn Thiện Tứ trong phần lời giới thiệu của cuốn Phuối rọi (nói thơ):
“so với cả kho tàng phuối rọi cịn nằm rải rác trong dân là q ít ỏi” 2. Khơng
những vậy, trong q trình tuyển chọn, các nhà sưu tầm có xu hướng gạt bỏ
những bài ca dao, tục ngữ không được đánh giá cao. Việc làm này vơ tình làm
mất đi diện mạo hồn chỉnh của ca dao, tục ngữ Tày - Nùng. Ngoài ra ca dao,
tục ngữ của dân tộc Tày và dân tộc Nùng thường được xếp chung một tập. Điều
này có lẽ xuất phát từ thực tế hai dân tộc có nhiều nét tương đồng về ngơn ngữ
cũng như văn hóa, nên việc phân biệt ca dao, tục ngữ giữa hai dân tộc vẫn cịn
nhiều khó khăn.
2.1.1. Ca dao, tục ngữ về lao động sản xuất của người Tày - Nùng
Các loài thực vật nói chung, sinh trưởng cần có các yếu tố: đất, nước,
khơng khí, nhiệt độ, ánh sáng. Đối với nước ta thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió
mùa, nghĩa là trong một năm, khí hậu thay đổi theo mùa. Ví dụ, mùa xuân ấm
áp, có mưa phùn hay mưa xuân. Mùa thu mát mẻ, ít mưa. Mùa hè nóng, mưa
nhiều, ẩm ướt. Mùa đông lạnh, khô ráo... Dựa vào đặc điểm các loài cây mà
người ta chọn thời điểm cấy trồng thích hợp, gọi là thời vụ.
Bươn slam lồng chả
Bươn hả đăm nà.
15
Dịch là:
Tháng ba gieo mạ
Tháng năm cấy lúa.
Tháng 5 âm lịch nóng và mưa nhiều, ngày dài (nhiều ánh sáng), rất thuận
lợi cho việc làm đất.
Mác phầy ốt rù đăng lồng chả
Mác phầy cắm thăm mạ đăm nà.
Dịch
Quả dâu da đút vừa lỗ mũi thì xuống mạ
Quả dâu da màu dái ngựa thì cấy lúa.
Người nơng dân miền núi đã dựa vào tháng 3 xuống mạ, nhưng cũng có
năm thời tiết thất thường, tháng 5 vẫn còn rét chưa xuống mạ được. Chính xác
nhất dân gian quan sát quả dâu da, vì quả dâu da đủ nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng
thì nó mới phát triển, quả mới lớn.
Síp co lả
Bấu tấng hả co thua.
Dịch là:
Mười cây cấy muộn
Không bằng năm cây cấy sớm.
Cấy muộn so với mốc tháng 5 âm lịch. Sau tháng năm là tháng 6, tháng 7
tiết trời thu nhiệt độ hạ dần, ánh sáng kém làm lúa phát triển yếu, thỉnh thoảng
có đợt gió mùa đơng bắc nhiệt độ dưới 18 độ, hạn chế lúa ra đòng, thụ phấn yếu,
hạt lúa bị lép dẫn tới năng suất kém, chỉ bằng nửa sản lượng của vụ chiêm.
Đăm nà q hạ chí
Slí tháp ngám đảy gịn.
Dịch là
Cấy lúa sau hạ chí
16
Bốn gánh mới được một thúng.
Nghĩa là, tiết Hạ chí vào tháng 5 âm lịch, theo tục ngữ cấy lúa sau Hạ chí là
tháng 6, tháng 7, nhiệt độ giảm, ít mưa và ít nắng, lúa kém phát triển, năng suất
lúa giảm tới mức 4 thúng lúa mới thu được 1 thúng gạo.
Người nơng dân miền núi, trong đó có người Tày - Nùng qua thực tế họ
đúc kết được kinh nghiệm thông qua trời đất, cây cỏ mà dự đốn được thời tiết
trong năm. Trên cơ sở đó định ra lịch cấy trồng, chọn giống sao cho thích hợp
với thời tiết.
Gẳm bươn pét slíp hả
Rủng đây đăm co lả
Láp lá đăm co thua.
Dịch là:
Đêm 15 tháng 8
Sáng trong trồng giống lúa muộn
Sáng mờ mờ cấy giống lúa sớm.
Nghĩa là, ánh trăng rằm tháng 8 hằng năm, nếu đêm đó sáng trong, trịn
vành vạnh thì vụ tới cần chọn giống lúa muộn để cấy thì có nhiều thuận lợi, có
kết quả cao. Nếu đêm Trung thu trăng chỉ sáng mờ mờ thì nên chọn giống lúa
sớm để cấy.
Nói về sự cần cù trong lao động sản xuất thể hiện qua câu:
Pây tổng bấu nắt mà, pây nà bấu nắt theo.
Có thể hiểu đó là đi đồng, đi rẫy khơng muốn về nhà. Ra đồng, ra ruộng
người nông dân họ làm việc quên hết giờ giấc ngày tháng, họ coi đồng ruộng
chính là nguồn sống của họ, đó chính là ngn kho báu quý giá nhất của người
nông dân. Mỗi người nông dân là tấm gương của sự chăm chỉ. Đồng thời người
nông dân chăm chỉ sẽ đạt được thành quả trong sản xuất và trở thành tấm gương
17
cho mọi người hướng đến. Vì vậy cịn có câu tục ngữ đề cập đến thành quả lao
động như:
Bát bai slam kin phước, bát cuốc slam kin mằn.
có nghĩa mỗi lần cuốc được 3 củ khoai (được coi mùa màng bội thu) và đánh giá
bản chất lao động chăm chỉ của người nông dân.
Trải qua nông nghiệp hàng ngàn đời nay, người nơng dân có cả kho tàng ca
dao, tục ngữ về kinh nghiệm lao động sản xuất rất phong phú đa dạng. Trên đây
chỉ điểm qua một số câu tục ngữ Tày - Nùng liên quan đến lao động sản xuất,
đồng bào dựa vào đó, coi như một cuốn nông lịch để thực hiện công việc trồng
trọt trong năm, là kinh nghiệm tích lũy từ thời xa xưa của ông cha ta truyền lại
trong sản xuất nông nghiệp.
2.1.2. Ca dao, tục ngữ về tình cảm của con người Tày – Nùng
Với khí hậu miền núi Đơng Bắc rất khắc nghiệt, để đảm bảo sinh tồn, đủ
sức chống lại thiên tai, thú dữ… vậy nên người dân Tày – Nùng ở Cao Bằng rất
coi trọng tình đồn kết cộng đồng, nhất là những người anh em họ hàng, hay
quan trọng hơn vẫn người hàng xóm láng giềng gần gũi, tối lửa tắt đèn có nhau:
Pỉ noọng dú quây
Bấu tấng thua đây tồng tó.
Dịch là:
Anh em ở xa
Khơng bằng chân thang nhà cùng chỗ.
Mỗi khi sảy ra vấn đề gì thì anh em họ hàng ở xa vẫn chưa thể đến giúp đỡ,
vậy nên hàng xóm là những người ln ln sẵn sàng giúp đỡ chúng ta những
lúc khó khăn. Chân thang ở đây chỉ những bậc thang của ngôi nhà sàn, vì người
xưa quan niệm làm nhà sàn để đêm đến thú dữ không thể làm hại được họ.
Ngần dièn tảng tâm nhả, tha nả tẩy sliên kim
18
Được hiểu là tiền bạc coi như đất, như cỏ, tình cảm con người với con
người cịn q hơn nghìn vàng.
Trong quan hệ gia đình, lịng biết ơn, sự coi trọng đấng sinh thành được
giáo dục qua cách đúc kết cô đọng:
Khúy mạ bấu đảy lùm pẳng lăng
Dịch là:
Cưỡi ngựa không được quên họ ngoại.
Hay câu:
Khúy mạ khửn kéo dẳng chắc công của pỏ mẻ
Dịch là:
Cưỡi ngựa lên đèo mới biết công lao cha mẹ.
Khi con gái đã trưởng thành và đi cưới chồng, làm ăn phát đạt, trở nên sang
giàu (có ngựa để cưỡi) khơng được qn người đã sinh ra mình. Có lẽ, từ sự khó
nhọc leo từng bước lên đèo dốc (ngày xưa là đường mòn, xuyên qua núi rừng)
của con ngựa thồ người trên lưng mà người Tày liên tưởng đến sự khó nhọc của
người làm cha, làm mẹ, cũng nặng nhọc, vất vả làm lụng, chăm bẵm những đứa
con cho tới ngày trưởng thành.
Để răn dạy con cháu, không chỉ những câu tục ngữ khen ngợi mà cịn có sự
chê bai, dân gian cũng cảnh báo, phận làm con không biết vâng lời sẽ không thể
có tương lai tốt đẹp:
Mu bấu khảu gọc khỉ slưa, lục bấu tỉnh pỏ mẻ sằn lứ.
Khi người con không vâng lời cha mẹ, nghe lời dạy dỗ từ những người đi
trước thì sẽ khơng có tương lai, sẽ dẫn đến hư hỏng trở thành người xấu. Người
xưa đã dạy cũng như việc con lợn mà không biết vào chuồng thì sẽ chở thành
mồi của cọp.
19
Tình vợ chồng, từ ngày xưa cũng được đề cao ở sự nhẫn nhịn, hịa thuận,
chăm chỉ lao động:
Phua mìa điếp căn,
mì kin q slí.
Vợ chồng u thương nhau, suốt đời suốt kiếp đời đời ấm no đủ ăn đủ
sống.
Phùa mìa thư thua căn
Oảt nặm pế mì oằn nhằng boốc
Hai người khi cưới nhau nên vợ nên chồng không cãi vã, yêu thương cùng
nhau hướng đến tương lai tốt đẹp, sẽ có một ngày tát nước bển cũng cạn, cũng
như việc hai người chỉ bảo nhau cùng nhau làm việc sẽ dẫn đến thành cơng.
Trong tình cảm giữa hai người, việc sảy ra cãi vã hay những vấn đề tác
động bên ngồi là điều khơng thể tránh khỏi:
Mác mặn kin đây quá mác chia
Slao dú toỏn tàng đây quá mẻ mìa
Mẻ mìa gạ mìn rại rại
Tháp nặm quá oằn mại mại tó pi
Pác sao gạ: rà điếp điếp
Puối gần dằng lẹo gằm lét, tẻ ni.
Dịch là:
Quả mận ngon hơn quả lệ chi
Bạn tình hẳn đẹp hơn vợ ta
Vợ chàng ác dữ chua ngoa
Ngày chăm gánh nước, quanh năm suốt tháng
Bạn tình miệng nói thương thương
Chưa xong câu nói, bỏ liều mà đi!
20
Người xưa khuyên đừng vì những lời mật ngọt của người tình mà bỏ mất
người vợ, tuy khơng biết nói những lời mật ngọt chỉ hay chua ngoa chửi mắng
nhưng thực chất người vợ vẫn rất yêu thương, chăm chỉ làm việc để vun đắp
cuộc sống của cả gia đình. Cịn những bơng hoa ngồi kia chỉ biết nói những lời
mật ngọt rồi bỏ rồi bỏ đi mà thôi chứ khơng gắn bó được lâu dài.
2.1.3. Ca dao, tục ngữ về đời sống – xã hội
Ngoài những mảng trên ca dao, tục ngữ cũng hướng đến hiện thực đời sống
xã hội. Đó là q đúc kết từ cái nhìn cuộc sống sinh hoạt, qua việc quan sát từng
hành động và lối sống của người dân, đặc biệt người dân vùng cao. Những bài
ca dao, tục ngữ ra đời với sứ mệnh khuyên răn, dạy dỗ một cách sâu sắc, dễ
hiểu, dễ nhớ in sâu vào tâm trí của mỗi người dân.
Lời khuyên không uống rượu:
Kin lẩu pác gạ oăn oăn
Lẩu đo quẩn puối mê mam quá gừn.
Dịch là:
Mới uống rượu miệng nói ngọt ngọt
Suốt đêm nói nhảm, rượu say hại người.
Lời khun khơng hút thuốc phiện:
Kin dàng dén mì răng đây hỡi cá
Nịn ghèng đút xó xó piêu vầy
Rù tẩu eng tua oài chuốn ngải
Nà ỷ thêm nà oải pây rèo
Dịch là:
Thuốc phiện nào tốt gì đâu
Bên ngọn đèn dầu nằm hút ngổn ngang
Trâu chui lỗ tẩu dễ dàng
21
Ruộng to, ruộng nhỏ xếp hàng đi theo!
Hay câu:
Kin din tức tỏ mì lăng đây
Khai nà cúng chỏ pây phiâu vầy.
Dịch là:
Hút thuốc phiện, đánh cờ bạc có gì hay
Ruộng đất tổ tiên để lại đốt vào lửa.
Ngày xưa, dân trí thấp cuộc sống của người dân đồng bào dân tộc thiểu số
ở Cao Bằng vẫn chưa được tiếp xúc với tri thức nhân loại nên việc uống rượu
hay hút thuốc phiện là một điều không thể thiếu trong đời sống, nó được coi như
một trị chơi mua vui khơng thể thiếu trong mỗi bữa cơm hay bữa tiệc của người
dân tộc thiểu số. Họ uống rượu, hút thuốc phiện để ăn mừng một dịp gì đó, hoặc
đó chỉ là cuộc gặp gỡ của những người quen với nhau tạo nên một phần không
thể thiếu. Không chỉ người dân tộc thiểu số mà sự thật, chính trong xã hội hiện
nay việc uống rượu vẫn phổ biến trong các bữa tiệc. Ngày nay, nhân dân đã
được giác ngộ Nhà nước ngăn cấm trồng và sử dụng cây thuốc phiện, chuyển
sang cây khác. Đời sống nhân dân thay đổi, sống một cuộc sống vui vẻ hạnh
phúc.
2.2.
Tiểu kết
Trên đây là phần tổng thuật và phân tích mảng văn vần của người dân Tày
– Nùng sống tại Cao Bằng. Việc tổng thuật lại những bài cao dao, tục ngữ trên là
sự sắp xếp lại và trọn lọc những bài cao dao, tục ngữ tiêu biểu nhất. Những bài
ca dao, tục ngữ này từ xưa đến nay vẫn ln có sự ảnh hưởng đến cộng đồng.
Chúng không chỉ đại diện cho dân tộc Tày – Nùng sống tại Cao Bằng nói riêng
mà con là bản sắc văn hóa dân gian tiêu biểu của dân tộc Tày – Nùng trên cả
nước.
22
Ca dao, tục ngữ góp phần bổ sung cho nhau làm giàu thêm đời sống văn
hóa, tinh thần của đồng bào dân tộc Tày - Nùng. Càng đi sâu vào tìm hiểu, thì ta
càng thấy ngơn ngữ Tày - Nùng rất linh hoạt, uyển chuyển, tư duy người dân
chân chất, mộc mạc và cũng không kém phần thi vị. Mảng ca dao, tục ngữ là
những lời đúc kết ngắn gọn mà thâm thúy, giản dị nhưng sâu sắc. Đây là những
bài học thấm thía giúp con người định hướng lối sống, tư duy, cách ứng xử, lao
động, góp phần làm cho xã hội ổn định, tốt đẹp và bình yên. Tuy nhiên, ngày
nay ngôn ngữ các dân tộc thiểu số nói chung và ngơn ngữ Tày - Nùng nói riêng
đang đứng trước nguy cơ bị mai một. Trong đời sống hàng ngày tiếng Tày Nùng nói chung và ca dao, tục ngữ nói riêng ngày càng ít được sử dụng. Đứng
trước thực tế này, các nhà nghiên cứu đã đưa ra cảnh báo “Ấy thế mà trong thế
hệ trẻ người Tày - Nùng ngày nay không hiểu lấy một câu Phuối rọi. Họ nói
tiếng khác giỏi hơn tiếng mẹ đẻ. Rõ ràng, văn hóa này nguy cơ xuống vực thẳm
khơng cịn xa nữa”2. Sự mai một của ngơn ngữ dẫn đến một hệ quả tất yếu là sự
mai một vốn cao dao, tục ngữ Tày - Nùng. Do vậy, để giữ gìn, bảo tồn và phát
huy những giá trị văn hóa của người Tày – Nùng ở Cao Bằng nói riêng và ở trên
cả nước nói chung thì việc duy trì vai trị của ca dao, tục ngữ Tày - Nùng trong
đời sống là điều cần được quan tâm. Đơn giản chỉ cần đưa văn vần dân gian vào
các bài học để lấy ví dụ cũng là một phần góp ích cho sự tồn tại của nền văn học
dân gian.
3. Kho tàng truyện kể
Cao Bằng vùng đất có nhiều dân tộc, lại có lịch sử lâu đời. Vì vậy nên con
người nơi đây luôn đặt trong tâm thức một niềm tin về ngày xưa nơi đây được
hình thành như thế nào qua các câu truyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết… Ở
Cao Bằng phần lớn là nơi sinh sống của các dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao, Lô
Lô… các dân tộc đều mang đến kho tàng một nét đặc sắc riêng tạo nên dấu ấn
23
đặc sắc của riêng mình. Kho tàng truyện kể ở Cao Bằng như một bức tranh sinh
động mang nét riêng của mỗi dân tộc nhưng trong đó vẫn mang hình ảnh đại
diện cho văn hóa của tỉnh Cao Bằng. Những câu truyện là hành trình dài được
truyền miệng từ đời này qua đời khác, tồn tại hàng nghìn năm dưới sự nâng niu
của mỗi người dân. Vì những truyện kể ấy chính là lịch sự, là sự hình thành của
nơi mình sinh ra rồi lớn lên, nó như một phần không thể thiếu trong tâm thức
của mỗi người dân. Qua việc tìm hiêu, khảo sát một số tài liệu liên quan, nhìn
chung đa phần các tài liệu chỉ điểm qua các truyện kể một cách ngắn gọn, chỉ kể
lại chứ chưa đi sâu vào phân tích rõ.
3.1.
Huyền thoại về sự hình thành của Cao Bằng
Theo người xưa truyền tai nhau đến giờ, thì non nước Cao Bằng được hình
thành từ những ngày đầu thủa khai thiên lập địa. Cũng như bao vùng đất khác,
Cao Bằng theo dân gian cũng được hình thành nên từ những câu chuyện kể, chỉ
khác với các vùng đất khác thì non nước Cao Bằng được xâu chuỗi thành một hệ
thống từ vì sao lại có núi này rừng nọ, vì sao lại có làng xóm ruộng đồng, vì sao
lại có dân tộc này dân tộc kia… tất cả đều được truyền từ đời này qua đời khác
trong câu chuyện Báo Luông – Slao Cải1.
Cao Bằng thủa đó chỉ là một miền đất hoang vu, rừng núi um tùm, cây cỏ
rậm rạp, dây dợ chằng chịt, hàng nghìn lồi thú thả sức tung hồng, hàng vạn
lồi chim đua nhau bay lượn. Lúc đó lồi người mới sinh ra trên trái đất. Ở đất
Cao Bằng lúc đó mới chỉ có hai người, gái là Slao Cải thân to bằng cây lai, tay
dài như cành trám, trai là Báo Luông cao to như cây đa cổ thụ ngàn năm, tay dài
như cành cây gạo đỏ. Hai người đều ở trần truồng, lơng lá đầy mình. Khi rét họ
lấy vỏ cây che thân, không quần áo, không nhà cửa. Tối đâu, họ ngủ đấy, khi gốc
cây, khi lại hang đá. Một hôm Slao Cải từ Nặm Quét ra vùng đất n Sơn đuổi
nai thì gặp Báo Lng đang săn cáo ở đó. Tình cờ trời đổ mưa, hai người tình cờ
24
chạy vào hang Ngườm Bốc (còn gọi là Ngườm Ngả). Hai người họ hỏi han trị
chuyện, sau đó nên vợ nên chồng. Thấy hang ấm áp kín đáo, họ chọn làm chỗ ở.
Vừa tròn một năm, Slao Cải sinh được một lứa năm đứa con vừa trai vừa gái.
Mới được nửa tháng, bầy con đã biết đi, biết chạy. Được đầy tháng, chúng đã
theo bố mẹ săn bắt muông thú hoặc hái hoa quả trên cây để ăn. Nhưng đàn con
vẫn kêu đói nên họ phải lội xuống suối nhặt các con ốc đá về ăn thay bữa… Con
cái ngày càng lớn, Slao Cải dạy chúng đi kiếm ăn hàng ngày, nhưng vẫn chỉ là
cuộc sống săn bắt.
Một hôm mưa to bão lớn làm lở từng triền núi đá, gây ra động rừng. Có
một tia sáng loé lên, cây móc bị chẻ đôi, lửa cháy không ngớt khiến mưa phải
tạnh. Họ thấy trong cây móc bị cháy có con tắc kè chết cong thơm lừng, họ chia
nhau ăn mỗi người một miếng thấy ngon hơn là ăn sống nuốt tươi như mọi khi.
Họ đã từng đi qua những khu rừng nứa bạt ngàn gặp những ngày nắng to, thân
nứa cọ vào nhau gây nên nạn cháy rừng, họ đi tìm kiếm thú rừng chết cháy để
ăn. Từ đấy họ biết làm ra lửa và cuộc sống mới đã đến với họ. Họ biết làm nhà
để sống với nhau, biết bắt những muôn thú về nuôi, biết trồng cấy những giống
cây nông nghiệp, biết lấy vỏ cây phơi khô để che thân. Tất cả những cái đó đều
là cơng gây dựng lớn lao của Slao Cải. Dần dần con cái đông đúc, họ phải chia
đi các nơi lập thành nhiều dòng họ khác nhau. Đất đai sông núi vùng non nước
Cao Bằng đều ghi lại sự tích: nơi ni chó là Phja Ma, nơi chăn dê là Vò Bẻ, nơi
thả bò là Lủng Mị, chỗ làm kho thóc là Khau Khẩu, chỗ đánh bắt được nhiều cá
là Nà Pja… Do được Slao Cải dạy dỗ nên con cháu đều biết đạo lý ăn ở, các con
là chỗ nhờ cậy lúc tuổi già của Báo Luông và Slao Cải.
Khi 2 ông bà mất, họ đem chơn ở gị Bằng Hà. Để nhớ cơng ơn ơng bà đã
sinh ra lồi người, dạy mọi người biết khai phá ruộng nương, lập nên mường
bản người đời sau đã lập đền thờ ông bà ở bên suối Sẩy, đoạn chảy qua Bản Vạn
(gần Nước Hai). Đến nay ta vẫn gọi đó là đền thờ Pú Lng – Giả Cải, hay còn
25