Tải bản đầy đủ (.docx) (671 trang)

VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (27.33 MB, 671 trang )

VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ
DÂN TỘC BANA
1. Khái quát chung.
Người Banar (Banar; các tên gọi khác: Jơ Lâng, Rơ Ngao, Tơ Lộ, Bơ
Nâm, Krem, Roh, Con Kde )

1.

Dân số.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Banar ở Việt Nam
có dân số 227.716 người, cư trú tại 51 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố.
Người Banar cư trú tập trung tại các tỉnh: Gia Lai (104.997 người, chiếm
11,8% dân số toàn tỉnh và 45,9% tổng số người Banar tại Việt
Nam), Kon Tum (99.416 người, chiếm 12,5% dân số toàn tỉnh và 43,7%
tổng số người Banar tại Việt Nam), Phú Yên (4.145 người, chiếm 1,8 %
tổng số người Banar tại Việt Nam), Bình Định (18.175 người, chiếm
8,0% tổng số người Banar tại Việt Nam), Đắk Lắk (301 người), Bình
Thuận (133 người)
2. Phân bố.


Người Banar cư trú chủ yếu ở vùng Tây Nguyên và cao nguyên trung
phần Việt Nam.
3. Lịch sử hình thành và phát triển.
Theo các nhà nhân chủng học thì người Banar có nguồn gốc thuộc
chủng Indonesia, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ me. Người
Bana là một trong những cư dân cổ xưa ở Trường Sơn, trước kia họ sinh
sống chủ yếu ở ven biển các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, sau di chuyển
di chuyển lên Tây Nguyên sinh sống ở các địa hình khác nhau, Cư trú
chủ yếu ở vùng Trung Trung Bộ, ven dải Trường Sơn và Tây Nguyên,


các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Bình Định, Phú Yên.
2.VĂN HÓA MƯU SINH
2.1 Trồng trọt
- Trong truyền thống, người Bana có thể coi là cư dân thuần nương rẫy.
- Trong quá khứ xa xưa, khi đất rộng người thưa hoạt động nương rẫy
tương đối thống nhất. Hình thức canh tác theo lối chặt cây, phá rừng,
phát đốt, chọc chỉa theo chu kì ln khoảnh khép kín.
- Nương rẫy ở mọi vùng người Ba Na được gọi là mir. Tuỳ theo tiêu chí
khác nhau mà người Bana chia rẫy thành nhiều loại với những tên gọi
khác nhau. Lấy chất lượng đất làm tiêu chí.
- Mở đầu chu trình làm rẫy là việc chọn rẫy do đàn ơng trong gia đình
đảm nhiệm. Rẫy được chọn thường là khu rừng thứ sinh 10 đến 15 năm
màu mỡ và độ ẩm cao (khi chọn được đám rẫy vừa ý, người Bana khẳng
định quyền chiếm hữu bằng cách phát quang 1 khoảng rừng nhỏ vài
chục mét vng và cắm trên đó một đoạn cây có chạc ngang). Khoảng
cuối tháng 2 đầu tháng 3 dương lịch là lúc người Bana phát rẫy.
- Rẫy phát xong được phơi dưới nắng nóng của mùa khơ, khoảng một
tháng đến một tháng rưỡi thì đốt, cơng việc này tiến hành trong tháng 4.


Rẫy đốt ngày hôm trước, ngày hôm sau người Bana tiến hành dọn rẫy,
tuỳ theo đám rẫy to nhỏ mà việc dọn rẫy kéo dài từ 2 đến 3 ngày.
- Khi những trận mưa đầu mùa đổ xuống, căn cứ vào hiện tượng tự
nhiên: mây bao phủ đỉnh Măng Yang, kiến vào tổ, ve kêu, cỏ đổi màu...
khoảng cuối tháng 5 ở phía đơng hoặc giữa tháng 4 ở phía tây, người
Bana bắt tay vào trỉa rẫy. Thời gian trỉa ở mỗi làng kéo dài khoảng 20-25
ngày.
- Để ngăn gia súc và thú rừng phá hoại lương rẫy, sau khi gieo trỉa,
người Bana tiến hành rào rẫy và làm nhà rẫy.
- Khi lúa đã nảy mầm, người Bana tiến hành việc trỉa lại nhằm bổ sung

hạt giống cho các hố do bị chim ăn hay kiến tha.
- Tháng 6 và tháng 7 được giành riêng cho việc làm cỏ. Tháng 8, tháng
lúa trổ bông và làm hạt, cũng là lúc ngô sớm bắt đầu già. Tháng 9,10,
đôi khi sang đầu tháng 11 là thời gian bước vào mùa thu hoạch rẫy. Với
các giống lúa khác nhau mà người ta thu hoạch vào những thời kì và
phương pháp khác nhau:
+ Với lúa tẻ, do đặc tính chín dễ rụng, người ta hay tuốt bằng tay.
+ Với lúa nếp, loại lúa dài và khó rụng, để tránh đau tay, người
Bana sử dụng 2 thanh tre kẹp vào nhau để tuốt.
- Ngoài cây lúa cịn 2 loại cây khác, vai trị khơng kém cây lúa: thứ nhất
là cây bobo, có nguồn gốc bản địa; thứ 2 là cây lúa Miến có nguồn gốc
Nam Á.
- Trên rẫy, người Bana xen canh rất nhiều loại cây trồng khác nhau. Hệ
cây trồng trên rẫy có thể chia thành 4 nhóm chính:
+ Nhóm cây lương thực (lúa, ngơ, sắn, bobo)
+ Nhóm cây thực phẩm (vừng, cà, ớt, bầu, mướp)


+ Nhóm cây ăn quả (chuối, dưa, dứa, mía)
+ Nhóm cây tiêu dùng (bông, thuốc lá, cây nhuộm vải, các cây làm
thuốc như gừng, nghệ...)
- Trừ các loại cây ăn quả, cây sắn và cây bông thường được trồng thành
những khoảng riêng, các loại cây còn lại trên rẫy thường được trồng xen
nhau với một loại cây chính là lúa hoặc ngơ. Có 2 loại xen canh:
+ Xen canh đồng thời: hạt giống của nhiều loại cây được trộn lẫn
theo tỉ lệ xác định, chủ yếu là lúa và ngô, rồi đem trỉa trong từng hốc.
+ Xen canh không đồng thời: một số loại cây được trồng sau, trồng
riêng hố vào những hố đã trỉa từng gốc.
- Với kĩ thuật đa canh và xen canh nói trên, nương rẫy Bana đem lại
nhiều loại sản phẩm, cung cấp phần lớn các nhu yếu phẩm cho cuộc

sống tự sản, tự tiêu.
- Lao động nương rẫy nhìn chung là lao động nặng nhọc, nhiều cơng
đoạn lại địi hỏi tính thời vụ cao. Vì thế người Bana chọn hình thức đổi
cơng cho nhau trong các công đoạn làm rẫy, nhất là trong công đoạn phá
rẫy, trỉa lúa và thu hoạch.
- Lệ thuộc vào thời tiết 2 mùa, rẫy được canh tác 1 vụ 1 năm và trùng
với mùa mưa. Nếu kể cả công đoạn phát rẫy, mùa rẫy nói chung kéo dài
gần 10 tháng, từ tháng 2 đến tháng 10 lịch địa phương.
- Công cụ làm rẫy truyền thống của người Bana bao gồm rìu, dao rựa và
dao có móc ở đầu để phát rẫy; gậy chọc lỗ, ống lồ ô để gieo trỉa; gùi nhỏ,
gùi lớn để thu hoạch.
Kho thóc của người bana: Dưới cột có những mâm gỗ gắn đầu cột để
chống chuột trèo lên. làm chòi trên nương k nhập về nhà vì vào mùa khơ
rất dễ xảy ra hỏa hoạn nên họ phải xây chịi để thóc phịng khi nhà cháy
thì họ vẫn cịn lương thực để sinh sống


=> Như những gì đã trình bày cho thấy, nương rẫy là hoạt động trồng
trọt truyền thống chung nhất của người Bana , đã định hình 1 tập quán
nương rẫy đa dạng, phong phú và thích dụng, phản ánh những tri thức
địa phương được thể nghiệm và đúc kết qua nhiều đời.
2.2 Chăn nuôi
- Chăn nuôi là hoạt động sản xuất có vai trị quan trọng thứ 2 sau trồng
trọt của người Bana. Vật ni truyền thống gồm trâu, bị, ngựa, lợn, dê,
chó, gà. Các giống vật ni của người Bana mang nhiều đặc tính sinh
học của đồng loại sống trong rừng:
+ Trâu: to khỏe, thể chất thô, săn, đầu to, trán phẳng, sừng cánh ná,
ít cong, Mơng phát triển, thấp ở phía trước, cao phía sau. Trâu là vật
ni quan trọng nhất, là biểu tượng của quyền lực và tài sản, là tiêu chí
phân biệt giàu nghèo. Trong xã hội truyền thống mỗi nhà đều có đàn trâu

từ 5-10 con. Trâu là vật ni có giá trị trong trao đổi và trong cúng lễ. Lễ
ăn trâu (Sa kpô) là lễ hội văn hoá, tâm linh đặc trưng và đặc sắc của
người Bana nói riêng và các dân tộc Tây Ngun nói chung.
+ Lợn: vóc nhỏ, lơng cứng, mõm dài, đầu to, tai bé, lưng võng,
bụng xệ, chậm lớn, chạy nhanh, nhiều nạc. Lợn của người Bana được
thả rông theo lối nửa tự nhiên, nửa chăm sóc. Ban ngày tự kiếm ăn trong
làng, buổi tối ngủ dưới sàn nhà.
+ Gà: thể trọng nhỏ, chậm lớn, cánh dài, thịt đậm và ngọt, có khả
năng bay cao và bay xa, ưa ngủ trên cành cao. Gà được nuôi phổ biến ở
mọi nhà, gà được ăn cám và ăn gạo tấm lẫn trong trấu do.
- Gần đây đàn bò được chú ý phát triển thay đàn trâu đang giảm dần do
điều kiện sống và môi trường thay đổi.
- Cũng như lợn, dê không được làm chuồng, được thả rông trong làng, tự
ăn lá cây và buổi tối ngủ dưới gầm sàn nhà.


- Chó là một vật ni thân thiết, làm nhiệm vụ đi săn và trông nhà. Một
số làng Bana kiêng khơng ăn thịt chó vì cho rằng chó là bạn của con
người.
- Do kĩ thuật chăn ni cịn được chăng hay chớ, ít đầu tư và khơng
hoạch tốn, năng suất chăn nuôi thấp. Dịch bệnh, thiếu nước và thiếu cỏ
trong mùa khô là những trở lực lớn cho chăn nuôi.
- Các sản phẩm chăn nuôi chủ yếu dùng làm vật hiến sinh cho các lễ
cúng trong năm hoặc dùng để trao đổi; ít khi nhằm cải thiện bữa ăn hàng
ngày, càng khơng nhằm mục đích cày, kéo hay lấy phân cho trồng trọt.
=> Chăn nuôi truyền thống của người Bana mang đặc trưng chính là vật
ni đa dạng, phương thức nửa thả rơng,nửa chăm sóc, khơng có chuồng
trại, thiếu đầu tư và chăm sóc theo kiểu hoạch tốn kinh tế, chăn nuôi
chưa gắn với trồng trọt, chưa bổ trợ cho trồng trọt làm đối tượng phục
vụ.

2.3 Nghề thủ công
- Người Bana làm một số nghề thủ công chủ yếu tự cấp tự túc cho nhu
cầu cuộc sống hàng ngày, trong đó phổ biến là các nghề đan lát, dệt vải
và rèn.
- Đối với dân tộc Bana, nghề dệt thổ cẩm đã có từ lâu đời. Sản phẩm
thổ cẩm dệt bằng tay của người Bana nổi tiếng bởi những trang trí hoa
văn rất tinh tế.
- Các cô gái Bana đều được bà và mẹ chỉ cho cách dệt vải, dệt thổ cẩm
từ lúc 12-13 tuổi. Để khi đi lấy chồng, các cơ phải tự dệt cho mình một
bộ y phục thật đẹp ra mắt mọi người. Để dệt bộ y phục này, các cô gái
phải tốn rất nhiều công sức và tâm huyết. Thế nên, hầu như mọi phụ nữ
Bana đều biết dệt thổ cẩm. Phụ nữ Bana nổi tiếng bởi kỹ thuật dệt tinh tế
làm ra những bộ trang phục, những tấm chăn, tấm thảm mang nét đặc
trưng riêng. Đầu tiên, họ tạo ra khung dệt thủ công đơn giản bằng cây.
Nguyên liệu dệt vải ngày xưa chủ yếu làm từ bông. Để làm được một


tấm vải phải trải qua nhiều công đoạn: Lấy bông, cán bơng, cào sợi, xe
sợi, rồi nhuộm. Cịn bây giờ người Bana vẫn dệt theo cách thức truyền
thống, nhưng đã dệt từ sợi cơng nghiệp mua ngồi chợ, thế nhưng trang
trí hoa văn, màu sắc vẫn theo lối truyền thống
Người Ba Na thường sử dụng các màu: đen, đỏ, vàng, tạo ấn tượng
mạnh mẽ. Hoạ tiết trên các sản phẩm thổ cẩm của người Bana thường
trang trí đối xứng, phản ánh quan niệm triết lý về vũ trụ, triết lý âm
dương, trời đất, thiên nhiên. Vải truyền thống của đồng bào rất đẹp và
bền. Một tấm dệt thổ cẩm có khi phải dệt trong mấy năm, nhưng rất có
giá trị vì dùng được rất lâu. Chất liệu lại êm, tiện lợi cho việc sử dụng.

- Đan lát do đàn ông thực hiện, biết đan lát là tiêu chuẩn bắt buộc của
thanh niên để được các cô gái chọn làm chồng.

+ Mùa đan lát thường rơi vào 2 kì: tháng 6,7 thời kì chuẩn bị vào
mùa thu hoạch và 11,12 thời kì sau mùa thu hoạch. Sản phẩm đan lát chủ
yếu là các loại gùi dùng trong làm rẫy, đi rừng: gùi, sọt, nia, dần, sàng...
+ Nguyên liệu đan lát: lồ ô làm nan, tre rừng làm cạp, mây rừng
buộc cạp.
+ Địa điểm đan lát thường là tại nhà rông vào mùa nông nhàn, tại
rẫy, tại rừng vào mùa sắp thu hoạch.
+ Sản phẩm đan lát của người Bana nổi tiếng bền, đẹp, nhất là sản
phẩm gùi với những hoa văn trang trí đa dạng, độc đáo hình trám lồng
hoặc hình sao tám cánh.
- Nếu như đan lát là tiêu chuẩn bắt buộc của thanh niên để được các cô
gái để ý thì dệt vải là tiêu chuẩn bắt buộc của thiếu nữ để được các
chàng trai chọn làm vợ.


+ Các công đoạn để làm nên tấm vải bao gồm thu hoạch bông, gỡ
bông, bật bông, se sợi, nhuộm sợi và dệt. Khung dệt vải của người Bana
thuộc loại khung Anđonedien thấy có ở khắp các dân tộc Tây Nguyên.
+ Sản phẩm chủ yếu là những tấm vải nguyên khổ, hoa văn trên các
tấm vải khác nhau tuỳ vào mục đích sử dụng của tấm vải.
- Mỗi làng Bana xưa thường có 1 đến 2 người làm nghề rèn. Thợ rèn bao
giờ cũng là đàn ơng. Để có sắt làm rèn, người Bana trao đổi với người
Sđrá quanh vùng hoặc người kinh đồng bằng.
+ Công việc chủ yếu của thợ rèn là sửa chữa nông cụ, gia cụ, vũ khí
như rìu, dao, cuốc cỏ, thuổng, giáo dài, kiếm.
+ Theo phong tục mỗi năm chỉ có 1 tháng trước khi phát rẫy là thời
kì lị rèn đỏ lửa. Cơng của thợ rèn khơng tính bằng tiền mà bằng cơng
đổi trên nương, rẫy hoặc hiện vật. Do tính chất cơng việc nên thợ rèn là
người được dân làng kính trọng.
- Do yếu tố nguyên liệu, nghề làm gốm không phát triển ở người Bana.

Nghề làm gốm có ở 2 làng Đe Roh và Đe Đơn ở tỉnh Gia Lai. Nghề làm
gốm do phụ nữ thực hiện, sản phẩm là các loại nồi và bát.
+ Gốm được làm bằng tay, không bàn xoay, dụng cụ làm gốm chỉ là
chiếc que nứa và 1 mảnh gốm cong để tạo dáng và tạo tròn cho gốm.
+ Gốm được phơi trong bóng râm 4-7 ngày, sau đó đem đi nung lộ
thiên, thời gian nung là khoảng 3h. Sản phẩm gốm 1 phần được sử dụng
trong nhà, cho bà con họ hàng, 1 phần được dùng làm vật trao đổi với
các làng trong vùng.
2.4 Trao đổi
- Trong truyền thống, do ít giao lưu với bên ngồi, lại sống chủ yếu dựa
vào nương rẫy và rừng, trao đổi ở người Bana kém phát triển. Phương
thức trao đổi vẫn là vật đổi vật. Đồng tiền chưa tham gia vào quá trình
mua bán.


- Tuy chưa xuất hiện tầng lớp thương nhân, nhưng trong xã hội truyền
thống, ở mỗi làng Bana đã xuất hiện đến 1 vài người trung gian trao đổi
có vai trị mơ giới giữa người mua với người bán nhằm hưởng hoa hồng
chênh lệch.
- Giá cả trao đổi thường là tương đối nhưng ít sai biệt giữa các trường
hợp và các vùng: tuỳ hình dáng, hoa văn và màu sắc mà 1 bộ chiêng Lào
đổi được 2-4 trâu, 1 ché quý có hoa văn có thể đổi được 5-7 trâu.
- Để tính khối lượng và giá trị gia súc trong trao đổi người ta đo sừng
đối với trâu, vòng bụng đối với lợn bằng các đơn vị đo chiều dài dân
gian như: tay, nắm tay, cánh tay, khuỷu tay, sải tay.
- Vật được trao đổi: gia súc, gia cầm, nông sản, sản phẩm dệt...
=> Dù trao đổi với bên ngoài, mục đích của trao đổi đều nhằm mục đích
tự cấp, tự túc, thỏa mãn các nhu cầu vốn không phức tạp hằng ngày chưa
nhằm mục đích hàng hố.
2.5 Khai thác nguồn lợi từ tự nhiên

- Khai thác nguồn lợi trong tự nhiên đóng vai trị quan trọng trong đời
sống người Bana gồm săn bắn, săn bắt, đánh cá, hái lượm.
- Săn bắn bao gồm đi săn tập thể và săn cá nhân:
+ Săn tập thể có chó thường thấy vào mùa khơ, ngồi chó đàn thợ
săn mang theo lưới săn sợi gai, trước khi đi săn làm lễ cúng củ gừng (cắt
tiết gà lấy máu rỏ vào củ gừng, cầu xin các thần cho săn được nhiều
thú). Trong khi đi săn đoàn thợ săn tuyệt đối im lặng, nếu gặp chuột
chết, rắn chết, rắn bò ngang đường, chim kêu đằng trước, đằng sau thì họ
buộc phải quay về. Thú săn thường là hươu, nai, hoẵng, thỏ, đôi khi gấu,
lợn rừng.
+ Săn cá nhân có chó được tiến hành vào tháng nơng nhàn. Hàng
trang bao gồm gùi nhỏ có gài tên đeo sau lưng, giáo dài cầm trong tay và


ná vác trên vai. Thú săn khá đa dạng, không chỉ hươu, nai mà cịn chồn,
sóc, khỉ, thỏ, chuột, gà rừng...
- Ngoài việc đi săn, người Bana thường đặt các loại bẫy để bảo vệ mùa
màng.
- Bắt cá dưới sông, suối đem lại nguồn thực phẩm thường xuyên hơn so
với săn bắn dù vai trị khơng quan trọng bằng săn bắn.
- Cùng với săn bắt các loại côn trùng, thủy sản, người dân Bana tìm hái
các loại rau rừng, măng rừng, nấm rừng, quả rừng để đáp ứng nhu cầu
bữa ăn hằng ngày.
- Vào những tháng giáp hạt, lương thực thường cạn kiệt, lúa, ngô, sắn đã
hết, họ đào các loại hạt, củ có bột về ăn thay cơm: củ mài, củ từ...
3. Văn hóa vật thể.
3.1 Nhà ở và các cơng trình kiến trúc.
Người Banar cư trú trên một vùng đất rộng lớn, từ những nơi hẻo lánh
sâu,xa đến nhữngnơi gần đường cái lớn, gần thị trấn, thị xã và xen kẽ
với các dân tộc Xơ đăng, Gia rai, Việt,....

Do vậy mà nhà ở của người Banar cũng có nhiều thay đổi. Thay đổi
trước hết, là cho đến nay hầu như khơng cịn nhà dài hoặc nếu cịn thì
cũng rất hiếm. Sự thay đổi không chỉ ở quy mô và tính chất gia đình
trong ngơi nhà, mà chủ yếu là ở kết cấu bộ khung nhà, ở hình thù của bộ
nóc, ở cách che vách, ở kĩ thuật lắp ráp đến cách bố trí trên mặt bằng
sinh hoạt của nhà... Sự thay đổi về nhà ở của người Banar cịn thể hiện
rõ tính địa phương: từ An Khê trở ra Nghĩa Bình, người Banar ở đây đã
sống gần người Việt từ rất lâu. Song ở ngôi nhà của họ vẫn giữ lại được
những nét đặc trưng rất đáng chú ý: nóc nhà có hai bộ sừng trang trí ở
hai đầu đốc, vách che nghiêng, thang đặt vào một sàn nhỏ trước mặt nhà,
trên sàn để cối giã gạo. Cối gỗ dưới đáy có một cái “ngõng” để khi giã
gạo người ta cắm cái ngõng ấy vào một cái lỗ của một thanh gỗ đặt trên


mặt sàn. Hiện tượng này, không thể không nghĩ đến cảnhgiã gạo trên sàn
được khắc trên trống đồng Đông Sơn.
3.1.1 Nhà sàn của người Banar.
Nhà sàn của người Bana được gọi là Plei, thường được xây trên địa hình
dốc, càng dốc càng tốt. Sàn nhà khá thấp cách đất từ 0,8 đến 1 mét, gầm
sàn thường được dùng để chứa củi đun.
Nguyên vật liệu xây chủ yếu là gỗ, tre, cỏ tranh, gần đây xuất hiện nhà
mái ngói. Nhà sàn của người Bana có vách nghiêng và mái dốc để khi
mùa mưa nước mưa không bị đọng lại trên mái, và không bị hắt nước
vào chân vách (gọi là thượng quách hạ thu) nhà người bana rất ít cửa sổ
Mặt trước cửa nhà thường hướng về phía nào thuận tiện, có nhiều người
qua lại. Đối với những nhà nhỏ, cửa trồ về hai mặt nhỏ của nhà, với
những nhà dài cửa trồ về mặt hông lớn của nhà, cửa trồ thường được làm
trồ ra mặt bắc hoặc nam. Trước cửa ra vào có một hành lang gọi là pra.
Nhà sàn thường lát bằng tre đan, những nhà khá giả lát bằng ván gỗ.
Phên vách ngày trước thường làm bằng nứa hoặc tre đan, cột với lạt

mây, gần đây thì họ biết tô đất sét vào vách phên rồi tô vôi trắng hoặc
vàng. Nóc nhà có hai bộ sừng trang trí ở hai đầu đốc, vách che nghiêng,
thang đặt vào một sàn nhỏ trước mặt nhà, trên sàn để cối giã gạo. Cối gỗ
dưới đáy có một cái “ngõng” để khi giã gạo người ta cắm cái ngõng ấy
vào một cái lỗ của một thanh gỗ đặt trên mặt sàn. Hiện tượng này, không
thể không nghĩ đến cảnh giã gạo trên sàn được khắc trên trống đồng
Đông Sơn.


Nhà ở của người Banar ở An Khê có hai bộ sừng ở đầu dốc
Cấu trúc nhà của người Banar:
Nhà người Banar cũng có kiểu vì hai cột hầu như phổ biến khắp Tây
Ngun. Nhà với kiểu vì này, góc thường được làm riêng rồi khiêng úp
lên bộ khung cột.


Vì hai cột của nhà Banar ở xã Đắc Ruồng, Kon Ploong, Kon Tum Cũng
thuộc loại vì hai cột nhưng đã có kèo. Sở dĩ khơng gọi là vì kèo vì rằng
kèo chưa phải là một bộ phận có mối liên kết chặt chẽ với cột như ở vì
kèo theo công thức kèo-cột-xà. Mà ở đây kèo chỉ là một bộ phận gác lên
đòn tay cái ở đầu cột. Dạng kết cấu này chưa hồn tồn ổn định: khi thì
đầu cột đội đòn tay cái, quá giang gác lên đòn tay cái, kèo gác vào đòn
tay cái giáp với đầu quá giang. Khi thì đầu cột được giáp vào đầu q
giang, địn tay cái gác lên q giang phía bên ngồi đầu cột, kèo gác lên
địn tay cái.


Kết cấu vì của người Banar ở Ha Le, An Khê, Kon Tum
Cũng là vì hai cột nhưng có thêm một trụ ngắn đứng trên lưng quá
giang, đầu chống vào cái nóc, kèo gác trên cái nóc và địn tay cái. Kiểu

vì này người ta đã dùng mộng. Một trong các kiểu vì phổ biến ở người
Banar thị xã Kon Tum.

Kiểu vì kèo của nhà người Banar ở Kon Tum Một số mặt bằng nhà của
người Banar:
Nhà chỉ có ba gian, nhưng được làm khá cơng phu. Cửa chính cũng như
cửa sổ đều có khung bằng gỗ, thanh ngang ở trên là thanh gỗ thẳng,
nhưng thanh ở dưới, hai đầu thừa ra được làm cong lên như hai cái sừng.
Mặt trước nhà có sân sàn lộ thiên để đặt cối giã gạo (chày tay) (CG),
thang (T) là một khúc gỗ chặt khấc ghếch đầu lên sàn.
Trong nhà ba gian để thông nhau: gian hồi bên phải, giáp vách hậu là nơi
để củi (CĐ), gùi (G)... Giáp cửa sổ ở vách hồi đặt sa quay sợi (SS), về
phía trước giáp vách tiền là nơi dành cho vợ chồng con gái chủ nhà (khi
có khách thì dành cho khách, họ chuyển qua gian giữa). Gian giữa để


trống, chủ yếu là để tiếp khách. Gian hồi bên trái, nửa phía trước đặt bếp
chính (BC). Bên trên bếp có dựa treo. Nửa phía sau dành cho vợ chồng
chủ nhà (GC).

Mặt bằng sinh hoạt nhà người Banar ở An Khê
Nhà năm gian, nhưng quy mô không lớn hơn nhà vừa được giới thiệu là
bao nhiêu vì chiều ngang của các gian rất hẹp. Hình thức bên ngồi cũng
giống như nhà ở làng Ha Le. Các gian trong nhà cũng để thơng nhau:
gian hồi bên phải để trống trên có gác xép. Gian thứ hai, giáp vách tiền
có một cái sạp nhỏ, trên để các thứ vặt vãnh như gùi, vỏ bầu khô...Khu
vực ở giữa dành cho vợ chồng chủ nhà (GC). Lui về phía sau giáp vách
hậu là bếp phụ (BP). Gian chính giữa dành cho khách (GK). Gian thứ tư
để trống, giáp vách tiền để một hòm gỗ (HG), gùi (G), nồi đồng (NĐ).
Gian hồi bên trái, ở góc nhà phía trước đặt bếp chính (BC). Khu vực ở

giữa là nơi dành cho con gái (GG) và mẹ chủ nhà (GM). Giáp hồi để
một số cồng chiêng (CC). Dọc theo chân vách hậu là một dãy dài ché và
ú rượu cần (CR).


Mặt bằng sinh hoạt nhà người Banar ở làng Đâng, Yang Trung
Nhà ở Kon Cơ Tủ, xã Đắc Ruồng, huyện Kon Plong, Kon Tum. Nhà ba
gian, mái lợp tranh, hai đầu dốc có bộ sừng trang trí. Nhà này chỉ khác
nhà ở An Khê là có ba sân sàn, một trước mặt nhà, hai ở hai đầu hồi.
Nhà có ba cửa ra vào, cửa trước mặt nhà có cánh cửa, còn hai cửa ở hai
đầu hồi làm theo kiểu cửa lùa.

Mặt bằng sinh hoạt nhà Banar ở làng Kon cơ tú, xã Đắc Ruồng


Nhà ở làng Kơ rơ bàng, xã Vinh Quang, thị xã Kon Tum. Nhà năm gian
với kiểu “vì kèo” hai cột, chỉ có một sân sàn ở gian chính giữa. Ngồi
cửa chính cịn có bốn cửa sổ. Gian hồi bên phải, phía trước đặt bếp
(BC), trên bếp có dựa treo. Phía sau giáp vách hậu là chạn (CB). Gian
thứ hai, phía trước có cối gỗ (CG), phía sau để một nồi đồng (NĐ). Gian
giữa để tiếp khách (GK), giáp vách hậu là bàn thờ chúa (Jesus) (Tj) ( các
cư dân này theo đạo Ki tơ). Gian thứ tư, phía trước có cót thóc (CT), bên
cạnh cót thóc là mấy cái gùi (G), lui về phía sau là nơi dành cho vợ
chồng chủ nhà (GC). Gian hồi bên trái, góc nhà trước có một tủ nhỏ
(TN), góc nhà sau để một vài cái gùi (G).

Mặt bằng sinh nhà năm gian của Banar ở Kơrơbàng, Kon Tum
Một nhà khác cũng ở làng Kơ rơ bàng. Nhà này đã có nhiều thay đổi so
với những nhà đã được giới thiệu. Nhà được làm theo kiểu “vì kèo” bốn
cột, có hiên ở mặt trước, mái lợp ngói, vách vơi- cát, cửa chớp sơn xanh,

sàn lát ván, cột kê trên đá tảng. Sân sàn đằng trước có mái che tạo thành
một cái “chi vồ”. Trong “chi vồ” này hãy cịn để cối giã như nhà cổ
truyền. Nhà bảy gian chia thành ba khu vực:


-Khu vực bên phải gồm: gian đầu hồi bên phải và gian thứ hai. Hai gian
này được chia đôi theo chiều dọc của nhà. Nửa phía sau, dành một phần
làm kho (KT). Nửa phía trước có giường của em trai vợ chủ nhà (GEV).
-Khu vực ở giữa ba gian: gian bên phải để trống. Gian giữa, giáp vách
hậu kê một bộ bàn ghế để tiếp khách (BK). Gian bên trái, phía trước để
gùi (G), phía sau đặt bếp phụ (BP).
-Khu vực bên trái gồm: gian thứ sáu và gian hồi trái. Khu vực này cũng
chia đôi như khu vực bên phải. Nửa nhà phía sau có hai giường, một của
vợ chồng chủ nhà (GC) và một của hai cháu gái cịn nhỏ (GG). Nửa phía
trước có bếp (BC), chạn (CB), một sạp nhỏ trên để chai lọ, và một vài
thứ linh tinh khác (LT), gần bếp là một đống củi (CĐ).

Mặt bằng sinh nhà năm gian của Banar ở Kơrơbàng, Kon Tum.
3.1.2 Cơng trình kiến trúc.
3.1.2.1 Nhà Rơng:


Nhà Rơng của người Banar là cơng trình kiến trúc độc đáo, là nơi sinh
hoạt văn hoá cộng đồng của đồng bào Banar. Đây không chỉ là nơi thể
hiện sự đồn kết, gắn bó cộng đồng, thích ứng với mơi trường thiên
nhiên, mà còn là nơi tránh thiên tai thú dữ,bảo vệ sự sống của các thành
viên trong buôn làng
Mỗi bn làng của người Banar đều có nhà Rơng. Giống như ngơi đình
của người Kinh của người Việt ở vùng đồng bằng, đây là nơi sinh hoạt
chung của dân làng. Tuy nhiên, khác với đình làng, nhà Rơng khơng

phải là nơi thờ tự. Người Banar thường tìm chọn các gỗ quý trên rừng
như: lim, gụ…để làm nhà Rông. Kết cấu nhà Rơng của người Banar rất
độc đáo, khơng có vì kèo. Người Banar chỉ dùng các dây rừng, dây mây,
tre cột, kết nối khung nhà lại với nhau, nhưng ngôi nhà vẫn rất kiên cố
và chắc chắn. Nhà rông thường phải xây dựng trong vòng 7 ngày, nếu
qua 1 tuần khơng xây xong thì họ sẽ dỡ ra làm lại, vì họ quy định mỗi
thành viên trong làng đều phải góp cơng xây nhà rơng, trước khi xây nhà
rơng thì họ phải cúng để xin thần linh cho dựng nhà rông.
Nhà rông thường đc xây ở trung tâm làng để tiện cho các sự kiện và sinh
hoạt trong làng, trong plei của ng bana có 1 đến 2 nhà rơng, nếu plei có 2
nhà rơng thì sẽ được chia thành nhà rông đực và nhà rông cái. Nhà rông
đực là nơi sinh hoạt ngủ nghỉ của nam giới. Con trai cứ 13,14t tối đến
thg ra nhà rông để đc nghe các ông các chú các bác truyền dạy kinh


nghiệm săn bắn, Nhà rông cái là nơi ở của con gái khi đến 12,13t cũng
đc tối ra nhà rông cái để các bà mẹ truyền đạt kinh nghiệm sống làm vợ
làm mẹ….. Những ngôi nhà Rông thường khá giống nhau về hình dáng
và kiến trúc, thường có hành lang rộng phía trước, mái lợp bằng cỏ tranh
dày khoảng 20 cm, hai mái ốp vào nhau thành hình lưỡi búa vươn lên
bầu trời, thể hiện sức mạnh của con người trước thiên nhiên. Nhà Rơng
cao khoảng 25 mét (tính từ mặt đất), dài 12 mét, rộng 8 mét và có sức
chứa khoảng 80-100 người. Để chống đỡ sức nặng của mái, bên trong
mái được đan chéo bằng rất nhiều cây gỗ tròn thẳng, dài hàng chục mét.
Cách làm mái đan chéo các cây gỗ với nhau tạo cho ngôi nhà rất kiên cố
vững chãi và chịu được sức gió mùa mưa bão. Sàn nhà cách mặt đất
khoảng 2 mét, có hai cầu thang đi lên xuống. Cầu thang dành cho nam
gồm 7 bậc ở bên trái và cầu thang dành cho phụ nữ gồm 9 bậc ở bên
phải. Ngoài ra, cịn có cầu thang ở chính giữa, thường dành cho già làng
trong các buổi lễ linh thiêng. Cầu thang chính lên nhà Rơng có cột và tay

vịn được trang trí theo kiểu chạm khắc gỗ tạo nhiều hình tượng dân gian
với đường nét thô ráp khỏe khoắn. Trên sàn nhà Rơng phải có bếp lửa,
bếp ở đây khơng có giàn bếp ở trên như ở hộ gia đình, ít nhất cũng phải
có một bếp, thường là có hai bếp, có nhà rơng có 3-4 bếp lửa để buổi tối
bà con đốt lửa tổ chức những sinh hoạt văn hóa cộng đồng như tiến hành
các nghi lễ, luật tục truyền thống, đánh cồng chiêng, hát kể sử thi, truyện
cổ dân gian, đàn hát dân ca đối đáp, nhảy múa,... Ở giữa nhà Rơng có
các rãnh để khi có dịp uống rượu cần thì ngụm rượu đầu tiên sẽ nhổ
xuống dưới rãnh này.
Trang trí bên trong nhà rơng chủ yếu là các loại hoa văn tùy theo từng
dân tộc thể hiện trên cột, kèo và vách,...mỗi nhà Rơng đều có góc thiêng
để vật thiêng có ý nghĩa tâm linh theo tín ngưỡng dân gian, theo tập
quán từng dân tộc, đồ vật bên trong được bố trí và bày biện như là phịng
triển lãm của làng, đầu trâu và các con vật hiến sinh trong các lễ hội của
các con vật săn bắn được treo trên vách.
Nhà Rơng cịn treo các cặp sừng trâu và hàm lợn. Căn cứ vào số sừng
trâu và hàm lợn người ta biết được làng đã tổ chức bao nhiêu lần lễ hội
đâm trâu và đi săn cùng nhau bao nhiêu lần, càng nhiều sừng hươu nai


thì càng biết được sức mạnh của nhà đó. Trong nhà Rông cũng được treo
rất nhiều các loại chiêng, ché khác nhau.
Trước nhà Rơng phải có một cây nêu với quan niệm rằng khi tổ chức lễ
hội đâm trâu ở đây thì các vị thần mới về cư ngụ tại nhà Rơng và người
dân mới có thể sinh hoạt tại đây.
Cây nêu của ng bana là cầu nối thần linh với con người, để truyền tải lời
cầu khấn của con ng đến thần linh. Ngược lại thần linh cũng sẽ về dự vs
con ng thông qua cây nêu.
3.1.2.2 Nhà mồ.
Người Banar có câu: Khẽi ning nơng nghĩa là tháng nghỉ làm nhà mồ,

tháng nghỉ đó lại là mùa hội, mùa vui, mùa uống tháng, ăn năm, trâu
đâm, lợn mổ. Người Tây Nguyên quan niệm chết nghĩa là bắt đầu cuộc
sống mới ở một thế giới khác thế giới bên kia, thế giới của hồn ma. Bởi
vậy, khi người chết đã ra đi là ra đi vĩnh viễn để sống cuộc sống khác.
Ngôi nhà mồ, những pho tượng mồ được làm ra để phục vụ cho lễ bỏ mả
hay cuộc chia tay, cuộc vui cuối cùng giữa người sống và người chết. Để
người chết ra đi thanh thản và có cuộc sống đầy đủ ở thế giới bên kia.
Hôm làm lễ bỏ mả, người sống không chỉ làm nghi thức sinh thành cho
người chết mà còn chia của cải cho người chết đem đi .Bởi vì ở khơng ít
khu nhà mồ, nhất là ở các vùng xa ta chỉ gặp ba hình ảnh : Giao hoan,
đàn bà chửa và hài nhi. Vì để thể hiện một hình tượng, một ý niệm, nên
những con người ở lớp tượng mồ cổ không phải là một con người cụ thể
mà là con người chung, con người khái qt haycon người vũ trụ, cịn
ngơn ngữ của điêu khắc là ngôn ngữ gợi chứ không tả.Một điều đáng
chú ý nữa của lớp tượng mồ thứ nhất này là bố cục đồng hịên ý ba hình
ảnh hay ba hành động diễn ra trong thời gian kế tiếp nhau: Giao hợp,
chửa, hình hài nhi được thể hiện cùng một lúc trên một mặt phẳng của
lối rào quanh nhà mồ. Do vậy có thể gọi phong cách đầu của tượng nhà
mồ Tây Nguyên là phong cách biểu tượng gợi tả - đồng hiện ghi ý.
Không phải ngẫu nhiên mà người Tây Nguyên gọi những tượng mồ xưa
này là hình chứ không phải tượng (tiếng Banar là mêu).


Kiến Trúc Nhà Mồ.

Kiến trúc đặc trưng của nhà mồ Tây Nguyên là thường được làm từ cây
gỗ tốt trong rừng, và cột được dựng một cách chắc chắn. Thời gian chịu
đựng từ 5 – 7 năm. Người Banar gọi cột nhà mồ là cây Crao – với ý
nghĩa cây này thông giữa trần gian và thần linh, dẫn linh hồn về trời.
Cây Crao được dựng trong tiếng cồng chiêng trầm hùng ai ốn.

Mái che có thể làm từ một mái (nếu nhà nghèo) – 2 mái (nếu nhà khá
giả) – và 4 mái (nếu nhà giàu). Mái được làm bằng tranh – phên. Ngày
nay cịn có cả mái lợp ngói – tơn – bêtơng. Trước mồ có một lỗ thông
xuống dưới tới chỗ để xác chết, được làm từ một ống tre rỗng ruột. Lỗ
thông hơi này dùng để cho người thân của ma hàng này bưng cơm nước
bỏ vào đó cho ma dùng, trong thời gian từ 3 đến 5 năm, cho đến khi làm
lễ bỏ mả. Vì người Banar tin rằng chết chưa phải là chấm dứt, mà người
chết còn tồn tại ở thế giới bên kia. Chỉ sau khi làm lễ bỏ mả thì người
chết mới được siêu thoát đi đầu thai. Trong lễ bỏ mả cịn có tục chia của
cho người chết, để họ ra đi khơng cịn gì vướng bận ở trần gian nữa.


Tượng Nhà Mồ:

Nét đặc sắc của nhà mồ Tây Nguyên chính là những tượng gỗ, gọi là
tượng nhà mồ. Những tượng này được đặt xung quanh khuôn viên nhà
mồ và có hàng rao bao bọc. Số lượng tượng nhiều hay ít phụ thuộc vào
kinh tế gia đình đó, đồng thời cũng biết được sở thích của người chết.
Tượng nhà mồ thường được tạc theo 2 chủ đề chính:
Cầu mong người chết sớm đi đầu thai kiếp khác thì gồm cónhững tượng
như : tượng nam nữ giao phối với nhau (thường đượcđặt ở đầu nhà mồ)
– tượng nam nữ với các bộ phận sinh dục được bày ra (thường được đặt
ở 2 bên) – tượng phụ nữ mang thai – tượng hài nhi mới chào đời – tượng
phụ nữ ẵm con, dắt con – tượng nữ thần vú dài – tượng người mẹ cầm
quả bầu – tượng người cha cầm trống.
Tượng làm đẹp nhà mồ – theo sở thích của người chết lúc sống : tượng
loại này rất phong phú và đa dạng như cầu thủ đá banh – thợ chụp hình –
con khỉ.



Các thợ tạc tượng nhà mồ là những người được Yang lựa chọn, là người
có đức có tài. Trong lúc tạc tượng, người thợ phải kiêng cữ một số điều
như : không được uống rượu – không làm điều bậy…nếu khơng sẽ mang
xui xẻo đến cho mình và người th tạc tượng.
Công việc tạc tượng nhà mồ được coi là rất linh thiêng. Tượng phải
được tạc từ một thân cây tốt – khơng được mang tượng về nhà vì tượng
được tạc là đễ cho người chết chứ không phải cho người sống.
3.2 Trang phục.
Sắc màu trong trang phục của dân tộc Banar thì Đen, đỏ, trắng là những
màu sắc được người Banar sử dụng nhiều trong thổ cẩm. Các hình mẫu
là sự cách điệu của cảnh núi rừng. Hoa văn trên thổ cẩm của người
Banar có màu sắc sặc sỡ, chủ yếu chạy dọc theo chiều tấm vải. Vì thế
khi mà may thành áo, váy thì hoa văn sẽ nằm theo chiều ngang
Màu đen được người Banar xem là màu chủ đạo, gây ấn tượng mạnh về
phong cách, phản ánh đường nét văn hóa truyền thống và đời sống sinh
hoạt hằng ngày. Mỗi màu sắc lại có tiếng nói riêng. Màu đen tượng
trưng cho đất rừng trù phú, màu đỏ tượng trưng cho khát vọng, tình yêu.
Nguyên liệu dệt thổ cẩm của người Banar chủ yếu là sợi bông vải (người
Banar gọi là along kpaih). Cây bông được trồng ven sườn nhà hoặc trên
đất nương rẫy. Sau khi kéo bông thành sợi, người Banar đem nhuộm với
các chế phẩm được lấy từ mmột số loại vỏ cây, củ rừng, dây rừng.
3.2.1 Trang phục nam.


Trang phục đàn ông gồm. Khăn, áo và khố
Người đàn ơng dùng dải khăn bịt đầu có hoa văn hình học, rộng 10cm,
dài 1m. Khăn được buộc qua trán, thắt nút ở phía sau đầu và để rủ hai
dải xuống vai. Vào dịp lễ hội, người ta gài bên trong vành khăn những
vật trang sức như lông chim, xương thú, bơng hoa rừng hình đi chó...
Ngày thường, người đàn ơng Ba na ở trần. Vào ngày lễ hội hoặc giá

lạnh, đàn ông Ba na mới mặc áo, áo của đàn ông là loại áo cộc tay, chui
đầu, cổ vuông hay cổ khoét, tạo thành bởi hai tấm vải khâu ở vai và
sườn, cịn gọi là áo pơng xơ. Tồn bộ áo màu chàm, chỉ có một đường
hoa văn đỏ - trắng chạy theo gấu áo
Có hai loại khố khác nhau là khố ngày thường và khố ngày lễ. Khố ngày
thường rộng 20-25cm, dài 2,5-3,0m, nền màu chàm, có ba dải hoa văn
màu đỏ - trắng chạy dọc theo khố, hai dải hai bên rìa rộng 3cm, một dài


×