Địa lý du lịch
PHẦN BA: ĐỊA LÍ DU LỊCH THẾ GIỚI
CHƯƠNG 6
TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ ĐỊA LÍ CỦA
DU LỊCH THẾ GIỚI TRONG THỜI KÌ HIỆN ĐẠI
Mục tiêu:
Sau khi học xong chương này, người học có khả năng:
- Trình bày được đặc điểm và tình hình du lịch thế giới trong thời kì
hiện đại.
- Phân tích được các số liệu về doanh thu, lượng khách, mức độ chi
tiêu của khách du lịch thế giới.
- Nêu được sự phân bố địa lí của các khu vực du lịch thế giới.
- Trình bày được đặc điểm du lịch Đơng Nam Á
- Phân tích được một số vấn đề về du lịch thế giới.
- Liên hệ được tình hình du lịch Việt Nam trong bối cảnh du lịch thế
giới thời kì hiện đại.
Nội dung:
Chương này đề cập đến những vấn đề sau:
- Tình hình và đặc điểm phát triển của du lịch thế giới trong thời kỳ
hiện đại.
- Sự phân bố địa lí của các khu vực du lịch trên thế giới.
- Du lịch khu vực Đông Nam Á.
- Một số vấn đề du lịch thế giới.
6.1 Tình hình phát triển du lịch thế giới
Sang đầu Thế kỉ XX, du lịch thế giới phát triển nhanh chóng và tập trung
ở châu Âu. Đến trước Chiến tranh thế giới II số khách du lịch của thế giới có
khoảng 50 triệu lượt. Trong thời gian chiến tranh du lịch giảm sút nhanh chóng,
gần như đình trệ. Sau chiến tranh cùng với kinh tế, du lịch thế giới được phục
hồi nhanh chóng, đến năm 1950 đã có 25 triệu lượt khách du lịch, bằng nửa thời
kì trước chiến tranh. Ngay sau đó du lịch thế giới đã bước vào thời kì phát triển
ngày càng mạnh mẽ và sôi động. Số khách du lịch tăng nhanh không ngừng và
149
Địa lý du lịch
lớn. Mục đích cũng như các dịch vụ du lịch ngày càng phong phú, đa dạng hơn.
Quan trọng hơn là du lịch đã phát triển và phân bố rộng khắp các châu lục, thu
hút ngày càng nhiều người dân đi du lịch, du lịch đã trở thành hiện tượng phổ
biến của thế giới. Đến năm 2000 thế giới có gần 700 triệu lượt khách du lịch,
gần đây năm 2005 có 808 triệu lượt và năm 2007 là 903 triệu lượt. Năm 2010 đã
có gần 1tỉ lượt và đến năm 2015 đạt 1.184 lượt khách du lịch. (bảng 6.1)
Bảng 6.1. Khách du lịch và thu nhập du lịch của thế giới
Năm
Khách
DL
1950
25,5
1960
69,3
1970
159,7
1980
1990
278,9
2000
454,9
698
2005
2010
2014
2018
949
1.133
1.403
966
1.245
-
808
(tr lượt)
Thu
nhập
2,1
6,9
17,9
102,4
255,0
476
681,5
(tỉ USD)
Nguồn: Tổng cục Thống kê và UNWTO
Du lịch thế giới đã thực sự trở thành một ngành kinh tế quan trọng và đã
mang lại nguồn thu lớn cho nền kinh tế thế giới, đóng góp quan trọng vào GDP
của thế giới. Thu nhập từ du lịch thế giới năm 2000 thu được hơn 470 tỉ USD,
năm 2010 là 966 tỉ USD vànăm 2014 là trên 1000 tỉ USD (bảng 9). Trong đó,
những quốc gia có ngành du lịch phát triển hàng đầu thế giới, tính theo số lượng
khách du lịch quốc tế đến gồm có Pháp, Mỹ, Tây Ban Nha, Italia, Trung
Quốc…Thời điểm năm 2000 có 9 nước có số khách du lịch quốc tế đạt trên 20
triệu lượt, đến năm 2010 có 24 nước và năm 2014 có 10 nước đạt 30 triệu lượt
khách du lịch.(bảng 6.2)
Bảng 6.2. Các quốc gia hàng đầu về đón khách du lịch quốc tế
(triệu lượt)
Năm 2000
Năm 2010
Năm 2018
Pháp
75,50
Pháp
77,65
Pháp
89,4
Mỹ
50,89
Tây Ban Nha
52,67
Tây Ban Nha
82,8
Tây Ban Nha
48,20
Mỹ
60,0
Mỹ
79,6
Italia
41,18
Trung Quốc
55,66
Trung Quốc
62,9
Trung Quốc
31,23
Italia
43,62
Italia
62,1
Anh
25,19
Thổ Nhĩ Kì
31,36
Thổ Nhĩ Kì
45,8
Nga
21,17
Anh
28,30
Mexico
41,1
150
Địa lý du lịch
Mexico
20,63
Đức
28,88
Đức
38,9
Canada
20,42
Malaysia
24,58
Thailand
38,3
Đức
18,98
Mexico
23,29
Anh
36,3
Nguồn: Tổng cục Thống kê và UNWTO
So sánh về thu nhập từ du lịch thì những quốc gia đứng hàng đầu thế giới
gồm có Mỹ, Tây Ban Nha , Pháp, Italia và Anh. (bảng 6.3)
Bảng 6.3. Các quốc gia hàng đầu về doanh thu du lịch
(tỉ USD)
Năm 2000
Năm 2010
Năm 2018
Mỹ
85,16
Mỹ
137,0
Mỹ
214,5
Tây Ban Nha
31,00
Tây Ban Nha
54,64
Tây Ban Nha
73,8
Pháp
29.90
Pháp
47,0
Pháp
67,3
Italia
27,44
Trung Quốc
45,81
Thái Lan
63,0
Anh
19,54
Italia
38,79
Anh
51,9
Đức
17,81
Đức
34,70
Italia
49,3
Trung Quốc
16,23
Anh
32,40
Australia
45,0
Áo
11,44
Australia
28,60
Đức
43,0
Canada
10,77
Ma Cao
27,80
Nhật
41,1
Thổ Nhĩ Kì
22,58
Trung Quốc
40,4
Nguồn: UNWTO
Năm 2000 có 18 quốc gia hàng đầu có trên 10 triệu lượt khách du lịch
quốc tế. Trong đó châu Âu có 13 nước, châu Mỹ có 3 nước và châu Á có 2 nước
và có 9 quốc gia có thu nhập từ du lịch trên 10 tỉ USD.
Đến năm 2002, khu vực Đông Á - Thái Bình Dương có thêm 2 nước đón
trên 10 triệu lượt khách du lịch là Malaysia 13,3 triệu và Thái Lan 10,9 triệu.
Năm 2000 trong tốp những quốc gia hàng đầu về lượng khách du lịch thì
chỉ có 5 quốc gia đón được trên 10 triệu lượt, đến 2010 con số này đã thay đổi
rất nhanh, trong tốp 10 quốc gia dẫn đầu thì thấp nhất là Mexico cũng có 20 triệu
lượt và năm 2014 là gần 30 triệu lượt.
Nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm về số khách du lịch của thế giới
giai đoạn 1990 - 2000 vào khoảng 5,3%. Hiện nay, nếu tính bình qn số lượt
151
Địa lý du lịch
khách du lịch so với dân số thế giới thì cứ 7 người dân có 1 người đi du lịch. Đó
là những con số khá cao. Tùy theo từng khu vực mà sự tăng trưởng rất khác
nhau. Dự báo của UNWTO đến năm 2020 lượng khách du lịch thế giới đạt 1,4 tỉ
lượt và năm 2030 là 1,8 tỉ lượt.
Sự phát triển đa dạng và nâng cao chất lượng của các sản phẩm và dịch vụ
du lịch đã làm cho lượng khách du lịch thế giới tăng dần lên và chi tiêu cho du
lịch cũng rất lớn lên tới 476 tỉ USD vào năm 2000. Ngược lại, chiến tranh và
dịch bệnh đã làm cho lượng khách du lịch giảm đáng kể trên bình diện lớn. Nạn
khủng bố, chiến tranh Vùng Vịnh, dịch SARS, dịch cúm gia cầm, khủng hoảng
kinh tế… những năm qua đã làm cho lượng khách du lịch thế giới tăng chậm,
thậm chí giảm như năm 2002. Sự giảm mạnh tập trung ở một số quốc gia châu
Mĩ, Trung Đông, châu Âu, Đông Nam Á.Năm 2003 thu nhập du lịch thế giới
giảm (-1,7%) so với 2002. Song, sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của nền kinh
tế thế giới, xu thế tồn cầu hố, hội nhập quốc tế và khu vực cùng với sự tiến bộ
của khoa học và công nghệ, phương tiện giao thông và thơng tin liên lạc hiện
đại, thuận tiện, nhanh chóng, các dịch vụ du lịch ngày càng đa dạng với chất
lượng cao là nhân tố thúc đẩy du lịch phát triển mạnh mẽ, không ngừng.
Xét cơ cấu lượng khách du lịch của thế giớicho thấy, ví dụ năm 2014: Xét
theo mục đích chuyến đi, khách có mục đích nghỉ dưỡng và giải trí là 53%, mục
đích chữa bệnh và tơn giáo là 27%, mục đích thương mại và cơng việc là 14%,
các mục đích khác là 6%. Xét theo phương tiện sử dụng thì có 54% khách sử
dụng đường hàng không, 39% đường bộ, 5% đường thuỷ và 2% đường sắt.
6.2 Sự phân bố địa lí du lịch của các khu vực thế giới
Ngày nay du lịch đã trở thành một trào lưu phổ biến ở khắp các châu lục
và khu vực trên thế giới.
Nhờ vào vị trí cực kỳ thuận lợi, kinh tế - xã hội phát triển cùng với vơ số
các di tích lịch sử - văn hố có giá trị mà châu Âu trở thành trung tâm quan
trọng của du lịch thế giới. Thực tế cho thấy du lịch ở châu Âu có giá thấp hơn
cả, giao thông thuận lợi và rẻ, các dịch vụ giá cả vừa phải nên du lịch có ở khắp
nơi. Tại châu Âu có hai luồng chính của dịng khách là Bắc - Nam và Tây Đông Nam. Số khách du lịch của châu Âu ln có số lượng lớn và chiếm tỉ
trọng cao so với thế giới. Năm 2000 châu Âu đón 403 triệu lượt khách du lịch
quốc tế và chiếm khoảng 58% tồn thế giới, châu Mĩ 17,0%, Đơng Á- TBD
16%, khoảng 9% là của các khu vực còn lại. Tuy nhiên mức tăng trưởng của
152
Địa lý du lịch
châu Âu lại vào loại thấp nhất, khoảng 3,0% mỗi năm, giai đoạn 1990 - 2000.
Trong đó vùng Nam Âu - Địa Trung Hải và Tây Âu có vị trí lớn nhất khu vực và
thế giới. Chẳng hạn năm 2005, châu Âu đón 441,6 triệu lượt khách du lịch quốc
tế và thu 347,4 tỉ USD, thì phần cả hai vùng trên là 158,0 và 142,7 triệu lượt, thu
nhập tương ứng là 140,2 và 122,1 tỉ USD.
Châu Mỹ, nhất là Bắc Mỹ có du lịch phát triển tương đối sớm và giữ vị trí
quan trọng của du lịch thế giới. Trước đây khu vực này luôn đứng thứ hai thế
giới về lượng khách đến và thu nhập du lịch, hiện nay vị trí số hai đã xuống thứ
ba về lượng khách đón được. Năm 2005 châu Mỹ đón được 133,6 triệu lượt
khách du lịch quốc tế, thì vùng Bắc Mỹ đã chiếm 90,1 triệu lượt.
Du lịch ở châu Á, châu Phi và châu Đại Dương phát triển nhanh nhất
nhưng tỷ lệ của khách trong các chỉ số tuyệt đối cịn hạn chế. Khu vực Đơng Á Thái Bình Dương có tỉ lệ tăng trưởng cao nhất là 11,0% trong cùng giai đoạn,
hiện đứng thứ hai thế giới về đón khách và thứ ba về thu nhập du lịch.
Giữa các vùng khác nhau trên thế giới có sự khác biệt đáng kể về thu nhập
du lịch, thu nhập này phụ thuộc nhiều vào số lượng khách du lịch của mỗi khu
vực. Khu vực có thu nhập cao nhất dường như cũng là khu vực có chi tiêu cao
nhất về du lịch. Những khu vực du lịch đắt đỏ là Nam Mỹ, châu Á, và châu Đại
Dương. Các chuyến du lịch ở châu Á và Nam Mỹ chưa cao nhưng lại tăng
nhanh nhất. Sự phát triển du lịch ở vùng Cận Đơng và châu Phi có nhiều hứa
hẹn nhưng lại bị cản trở bởi sự căng thẳng ở khu vực. Du lịch nội địa phát triển
mạnh ở Canađa và Mỹ, nhưng do sự tách biệt lãnh thổ nên du lịch gặp nhiều khó
khăn. Tuy vậy, Mỹ lại đứng đầu thế giới về thu nhập ngoại tệ, số ngày lưu trú
bình quân và khách du lịch ra nước ngoài. Các khu vực còn lại hoặc du lịch phát
triển ở mức độ yếu hoặc du lịch hầu như chưa phát triển.
Đến năm 2014 lượng khách du lịch và thu nhập du lịch của các khu vực
đều tăng nhanh song, vai trò cũng như vị trí của các khu vực khơng thay đổi
đáng kể. Châu Âu vẫn dẫn đầu về số khách và thu nhập du lịch, tiếp đến là các
khu vực châu Á- Thái Bình Dương (gồm Đơng Á - TBD và châu Đại Dương),
châu Mỹ, châu Phi và Trung Đông. (bảng 6.4- 6.9)
153
Địa lý du lịch
Bảng 6.4. Khách du lịch quốc tế của các khu vực
(triệu lượt)
Khuvực
Năm
Thế
giới
Châu
Âu
Châu
Mĩ
Đ.ÁTBD
Châu
Phi
Trung
Đông
Châu
Đ.Dương
Nam
Á
1990
457,31
282,74
92,87
54,60
14,98
8,96
5,16
3,16
2000
698,79
403,30
128,99
111,89
27,62
20,56
9,66
6,46
2005
808
441,6
133,6
138,2
36,8
39,7
10,5
8,0
2014
1.133
581,8
181,0
263,3*
55,7
51,0
-
-
2018
1.403
710,0
215,7
347,0
-
-
-
-
Nguồn: Tổng cục Thống kê, UNWTO
(*) Số liệu khu vực Châu Á - Thái bình Dương
Bảng 6.5. Thị trường gửi khách du lịch quốc tế của các khu vực
(triệu lượt)
Khu vực
Châu
Âu
Châu
Mỹ
C.ÁTBD
Châu
Phi
Trung
Đông
Các KV khác
Năm
Thế
giới
2014
1.133
575.0
189,2
276,9
33,2
37,0
30,4
Nguồn: Tổng cục Thống kê, UNWTO
Bảng 6.6. Thu nhập du lịch của các khu vực
(tỉ USD)
Khuvực
Năm
Thế
giới
Châu
Âu
Châu
Mỹ
ĐÁTBD
1990
263,36
143,26
69,20
2000
475,77
231,46
2005
682
2014
1.245
Châu
ĐDương
Châu
Phi
Trung
Đông
Nam Á
39,20
7,12
5,30
4,40
2,03
136,42
82,46
14,12
10,67
9,67
5,09
347,4
145,3
104,3
24,7
21,3
28,6
9,9
508,9
274,0
36,4
49,3
-
376,8
Nguồn: Tổng cục Thống kê, UNWTO
Bảng 6.7. Chi tiêu du lịch của thế giới và các khu vực năm 2000
(tỉ USD)
Khu
vực
Thế
giới
Châu
Âu
Châu
Mỹ
Đông Á
TBD
Châu
Đ.Dương
Châu
Phi
Trung
Đông
Nam Á
Chi
tiêu
475,77
212,32
95,07
51,10
9,66
1,69
2,07
2,13
Nguồn: Tổng cục Thống kê
154
Địa lý du lịch
Bảng 6.8. Các quốc gia hàng đầu về chi tiêu du lịch năm 2000
(tỉ USD)
Mỹ
Đức
Anh
Nhật
Pháp
Italia
65,04
47,61
36,56
31,48
17,17
15,48
Canada Hà Lan T.Quốc
12,41
11,82
10,86
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Bảng 6.9. Các quốc gia hàng đầu về chi tiêu du lịch năm 2014
(tỉ USD)
T.quốc
Mỹ
Đức
Anh
Nga
Pháp
Canada
Italia
Australia
Brazil
164,9
110,8
92,2
57,6
50,4
47,8
33,8
28,8
26,3
25,8
Nguồn: UNWTO
6.3 Du lịch khu vực Đông Nam Á
Đông Nam Á là khu vực có du lịch phát triển muộn của thế giới. Tuy
nhiên Đông Á - TBD lại là khu vực có nền kinh tế và du lịch năng động với nhịp
độ tăng trưởng cao nhất thế giới. Chỉ với hơn 20 năm phát triển, du lịch Đông
Nam Á đã thu hút được sự chú ý của thế giới. Hầu như các nước trong khu vực
đều có sự quan tâm đặc biệt đến phát triển du lịch, coi đây là một ngành kinh tế
quan trọng của đất nước trong việc thu hút đầu tư và ngoại tệ. Các quốc gia này
đã ra sức khai thác tài nguyên du lịch, phát triển các dịch vụ du lịch, tích cực
quảng bá tạo sức hấp dẫn tới khách du lịch. Biển Đông là kho tài nguyên chung
của các nước cùng với các di sản văn hóa Đơng Nam Á của các nước. Kết quả
phát triển du lịch tuy chưa lớn nhưng rất quan trọng. Số khách du lịch tăng
nhanh. Năm 1990 số khách du lịch của khu vực là 21,47 triệu lượt, đến năm
2000 đã lên đến 38,24 triệu lượt, bình quân giai đoạn này đạt 8,5%/năm, năm
2010 đạt 70,5 triệu lượt, năm 2014 đạt 96,7 triệu lượt. Doanh thu du lịch năm
1990 là 14.473 triệu USD và năm 2000 tăng lên là 27.228 triệu USD và năm
2010 là 68,5 tỉ USD, năm 2014 là 106,8 tỉ USD. Trong khu vực châu Á-Thái
Bình Dương, du lịch các nước Đơng Nam Á(ASEAN) có vị trí quan trọng,
chiếm khoảng 34% lượng khách và 38% thu nhập du lịch của toàn khu vực
(2005). Theo dự báo của UNWTO, đến năm 2020 lượng khách quốc tế đến khu
vực này sẽ là 123 triệu lượt, năm 2030 là 187 triệu lượt; với tốc độ tăng trưởng
bình quân giai đoạn 1995- 2010 là 6,2%/năm, năm 2011 - 2020 là 5,8%. Những
quốc gia đứng hàng đầu về phát triển du lịch trong khu vực gồm Malaysia, Thái
Lan, Singapore, Indonesia và Việt Nam. (bảng 6.10)
155
Địa lý du lịch
Bảng 6.10. Khách du lịch quốc tế và thu nhập du lịch của các nước
Đông Nam Á
Năm
Tên nước
ThaiLand
Khách(ngh lượt)
2000
9.509
7.119
Khách(ngh lượt)
27.437
38.437
Khách(ngh lượt)
2019
41.000
Indonesia
Philippins
Campuchia
208
5.064
2.171
466
3.081
9.4359
929
13.970
579
450
9.848
13.000
228
4.767
6.472
6.472
7,874
19.200
Laos
Brunei
114
ĐôngTimo
-
37
225
642
4.297
7.330
18.500
964
2.510
2.953
647
19.203
300
2.534
4.833
2.140
11.858
26.400
Việt Nam
6.370
21.820
Mianmar
35
6.258
4.563
24.780
Thu nhập (trUSD)
Singapore
10.222
Thu nhập(trUSD)
2014
Malaysia
60
92
280
35
-
Nguồn: Tổng cục Thống kê, WNWTO
Năm 2014, nhóm các nước đứng đầu khu vực về đón số khách du lịch
quốc tế tế là: Malaysia với 27,4, Thai Land 24,8, Singapore 11,9 triệu lượt. Đến
năm 2019 là Thai Land với 41,0, Malaysia 26,4, Singapore 19,2 và Việt Nam
18,5 triệu lượt khách.
6.4 Một số vấn đề của du lịch thế giới
6.4.1 Phân loại thị trường du lịch quốc tế
Căn cứ vào tình hình phát triển du lịch quốc tế theo so sánh tương đối
giữa số lượng khách đến và đi du lịch nước ngoài, cũng như cán cân thu - chi du
lịch quốc tế mà các quốc gia, khu vực được chia thành nhóm:
- Nhóm nước phát triển mạnh du lịch quốc tế thụ động: Mĩ, Nhật, Đức,
Anh, các nước Scandinavia, Bỉ, Hà Lan, Luxemburg, Australia, NewDiland, Ba
Lan, Séc, Slovakia.
- Nhóm nước phát triển mạnh du lịch quốc tế chủ động: Tây Ban Nha,
Italia, Thụy Sĩ, Áo, Bồ Đào Nha, các nước Ban căng, các nước Trung Đông, Bắc
Phi, Mêhicô, các nước Caribê, Canađa, Kênia, Hồng Kông,...
156
Địa lý du lịch
- Nhóm nước phát triển du lịch quốc cân đối: Pháp, Nga, Hungari, Israel,
Thổ Nhĩ Kì, một số nước châu Á và châu Mĩ.
Về mặt địa lí có thể nhận thấy, trên thế giới những vùng bờ biển là những
nơi thu hút được nhiều khách du lịch nhất. Địa lí của các trung tâm du lịch biển
đã có nhiều biến đổi sâu sắc. Vai trị thống trị của Địa Trung Hải đã bị giảm sút.
Vùng Hắc Hải và Cận Đông đang vươn lên. Xu hướng phát triển ở vùng Caribê
và Biển Đông được thể hiện rõ. Trong tương lai du lịch biển sẽ giảm xuống do
sự phát triển của du lịch núi. Song, nghỉ biển vẫn là mục tiêu chính của các
chuyến du lịch.
6.4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đối với sự phát triển và phân bố du lịch
Đặc điểm nổi bật và quan trọng của du lịch hiện đại là việc tìm kiếm sự
giải trí nghịch cảnh, khách du lịch mong muốn tìm kiếm một mơi trường nghỉ
ngơi, giải trí đối lập với mơi trường sống của họ.
Sự gần gũi về ngôn ngữ và lãnh thổ có ý nghĩa nhất định (60 % thu nhập
du lịch từ khách nói tiếng Anh)
Tài nguyên du lịch đóng vai trò to lớn trong việc thu hút khách du lịch,
phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật
Ngày nay, các chuyên gia nhận xét rằng, cùng với việc thời gian đi lại của
khách du lịch được rút ngắn hơn do sự tiến bộ của phương tiện giao thông là sự
tăng thời gian nghỉ ngơi và thời gian du lịch, khách du lịch muốn được tham
quan nhiều nơi hơn trong mỗi chuyến đi.
6.4.3. Đặc điểm chủ yếu của thị trường du lịch thế giới
- Khả năng nhận thức của khách về du lịch ngày càng tăng. Nhu cầu của
khách du lịch thay đổi ngày càng đa dạng và phức tạp hơn.
- Sự phát triển của sản phẩm du lịch và phân đoạn thị trường ngày càng đa
dạng và mở rộng nhờ sự tham gia mạnh mẽ của nhiều nước, nhiều thành phần
vào hoạt động du lịch.
- Xu hướng tồn cầu hóa và khu vực hóa cả cung và cầu du lịch.
- Hoạt động tiếp thị du lịch hiệu quả và mở rộng hơn.
- Thiếu nguồn nhân lực có kinh nghiệm và kĩ năng trong hoạt động du lịch.
- Tiến bộ kĩ thuật thúc đẩy quyền lựa chọn sản phẩm du lịch của du khách.
- Tiến bộ trong lĩnh vực viễn thông mở rộng quyền lựa chọn của khách
hàng cho phép tiếp cận trực tiếp tới người cung cấp du lịch.
157
Địa lý du lịch
- Mặc dù là một ngành mới phát triển trên quy mô rộng lớn từ giữa thế kỉ
XX đến nay, nhưng du lịch lại đang trở thành lĩnh vực hàng đầu của nền kinh tế
thế giới.
Câu hỏi ôn tập
1. Anh (chị) nêu tình hình phát triển của du lịch thế giới.
2. Anh (chị) trình bày xu hướng phát triển và phân bố du lịch của các khu
vực trên thế giới ?
3. Tình hình phát triển du lịch các nước Đơng Nam Á?
4. Thảo luận: Tình hình du lịch thế giới ảnh hưởng như thế nào đến du
lịch Việt Nam
158
Địa lý du lịch
CHƯƠNG 7
ĐỊA LÍ DU LỊCH MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Mục tiêu:
Sau khi học xong chương này, người học có khả năng:
- Trình bày được đặc điểm địa lí du lịch của các quốc gia (Anh, Pháp,
Italia, Hoa Kỳ, Australia, Trung Quốc, Thái Lan).
- Nắm được các trung tâm và những điểm du lịch tiêu biểu của 7 quốc
gia.
Nội dung:
Chương này đề cập đến những vấn đề sau:
Giới thiệu khái quát địa lí du lịch về 7 quốc gia gồm Anh, Pháp, Italia, Hoa
Kỳ, Australia, Trung Quốc, Thái Lan về:
- Đặc điểm tự nhiên, lịch sử, văn hoá và tài nguyên du lịch.
- Điều kiện kinh tế, xã hội.
- Tình hình và đặc điểm phát triển của du lịch.
- Các trung tâm và những điểm du lịch tiêu biểu.
7.1 Vương quốc Liên hiệp Anh
Tên gọi “Nước Anh” thực ra là khơng hợp lý, đó là một sai lầm do thói
quen tạo nên. Tên của “Nước Anh” nếu gọi tắt thì cũng phải là “Vương quốc
liên hiệp Anh” và tên đầy đủ là “vương quốc liên hiệp Anh và Bắc Ailen”.
Vương quốc liên hiệp Anh được tạo thành từ bốn vùng: England, Scotland, xứ
Wales và Bắc Ireland. Tuy nhiên, England chiếm địa vị quan trọng trong toàn bộ
Vương quốc liên hiệp cả về diện tích, dân số, kinh tế.
7.1.1 Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên
Vương quốc liên hiệp Anh là quần đảo, gồm đảo lớn nhất Great Britain và
Bắc Ireland nằm giữa vĩ tuyến 50o B và 60o B, ngồi ra cịn hơn 5400 đảo nhỏ
khác nằm rải rác trên bắc Đại Tây Dương và Bắc Hải. Anh nằm ở tây bắc lục địa
châu Âu, với diện tích 242.910 km2. Phía tây tiếp giáp Đại Tây Dương rộng lớn,
159
Địa lý du lịch
phía đơng giáp Bắc Hải, phía nam ngăn cách với lục địa Âu bởi eo biển Manche
(Măng sơ) rộng khoảng 33 km nhìn sang nước Pháp. Nước Anh có vị trí thuận
lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội đặc biệt là hàng hải và giá trị của Biển Bắc.
Nhìn chung, đất nước Anh khơng có được các điều kiện thiên nhiên tốt để
phát triển mạnh du lịch. Nguyên nhân là do khí hậu ít thuận lợi, địa hình đơn
điệu, nguồn nước khống ít, giới sinh vật nghèo nàn.
Nhìn chung cả nước Anh là vùng đồi núi thấp, đồng bằng có diện tích nhỏ
hẹp ở Đông Nam. Đỉnh núi cao nhất là Ben Nevis cao 1313m. Địa hình tương
đối cao ở phía tây và tây bắc, phía đơng và đơng nam tương đối thấp. Nước Anh
có đường bờ biển rất khúc khuỷu, khắp nơi là bán đảo, vịnh, mũi đất,...lớn nhỏ,
đan chéo chằng chịt nên có hơn 10.000 km đường bờ biển so với diện tích nhỏ
bé của đất nước. Tuy nhiên, du lịch nghỉ biển tập trung phát triển ở bờ biển đông
nam, nơi có những bãi biển thoải và nơng như Brighton, Bornmut, Dortmut, ...
Nước Anh nằm trong vành đai khí hậu ơn đới hải dương, mát mẻ, ơn hịa.
Vì là nước hải đảo, bờ biển lại bị chia cắt sâu nên ảnh hưởng của biển có thể ăn
sâu vào nội địa. Tuy ở vĩ độ cao nhưng khí hậu Anh ấm áp do ảnh hưởng của
dịng biển nóng Golstream. Gió Tây và Tây Nam là chủ yếu mang nhiều hơi ẩm
của Đại Tây Dương. Mưa nhiều, phân bố khá đều trong năm, chủ yếu vào mùa
thu và đông, nhưng lại phân bố không đều trên lãnh thổ, giảm dần từ tây sang
đông. Các sườn đón gió vùng núi Tây Bắc Scotland, vùng đất cao xứ Wales, Tây
Nam England có lượng mưa lớn trên 2000 mm (có nơi 5000mm). Sườn khuất
gió lượng mưa dưới 700mm. Đồng bằng Đơng Nam có lượng mưa ít nhất từ 700
– 1000mm. Nhiệt độ tương đối điều hòa, chênh lệch không lớn giữa mùa đông
và mùa hạ. Nhiệt độ trung bình tháng 7 là 16oC, tháng 1 là 3o C, có khi thấp hơn.
Đặc điểm nổi bật của khí hậu nước Anh là có nhiều sương mù, sương mù len lỏi
khắp nơi, đặc như sữa gây trở ngại lớn đối với giao thông và hoạt động của con
người. Số lượng ngày có sương mù lớn, ở vùng ven biển kéo dài 7 tháng, còn
trong lục địa tới 10 tháng. Vì thế London được gọi là “Thành phố sương mù”.
Đây không chỉ là đặc trưng của London mà là của cả nước Anh.
Chính vì thế mà khí hậu của nước Anh rất khó dự báo, trong một ngày
thời tiết thay đổi liên tục. Ơ là vật dụng khơng thể thiếu và phải luôn mang theo
người khi đi du lịch. Từ tháng 4 - 9 là thời gian du lịch phù hợp ở Anh, tháng 7 8 là hai tháng cao điểm của du lịch Anh.
Do đặc điểm của địa hình và khí hậu nên nước Anh khơng có sơng lớn.
Thay vào đó là hệ thống các dịng sơng nhỏ, dày đặc luôn đầy nước, chảy êm ả
và được nối với nhau bằng hệ thống kênh đào tạo mạng lưới giao thông rất thuận
160
Địa lý du lịch
lợi. Hai sông lớn nhất và quan trọng là sông Severn và sông Thames nằm ở miền
Nam. Có năm mùa đơng q lạnh sơng có thể đóng băng trong thời gian ngắn.
Tuy nhiên chúng ít được sử dụng cho du lịch vì tình trạng ơ nhiễm.
Thực vật nghèo nàn, rừng chỉ cịn bao phủ 7% diện tích lãnh thổ, nên
người ta đã phải làm nhiều vườn và xây dựng nhiều công viên ở thủ đô London
và trong các thành phố lớn để tạo môi trường tự nhiên xanh và đẹp.
Những tài nguyên thiên nhiên trên cho phép đất nước này phát triển
chun mơn hóa một số loại hình du lịch tự nhiên: nghỉ biển, nghỉ núi, du lịch
cuối tuần mà chủ yếu dành cho người bản xứ.
7.1.2 Đặc điểm lịch sử - văn hóa và tài nguyên du lịch nhân văn
Nước Anh có lịch sử văn hóa lâu đời với nhiều biến động của các cuộc
chiến xâm lược từ các đế quốc lục địa làm cho các dân tộc Anh bị pha trộn.
Trong thời kì cận đại Anh đã từng nổi tiếng là một cường quốc hùng mạnh trên
thế giới, là nước tư bản đầu tiên, với vai trị như một “cơng xưởng của thế giới”,
đứng đầu về sản lượng công nghiệp và nhiều thuộc địa ở khắp các châu lục.
Nhưng từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ I và lần thứ II, địa vị đó đã bị tụt
xuống trở thành “sâu bệnh của châu Âu”. Tuy vậy vài thập kỉ gần đây, Anh đã
gia nhập Khối cộng đồng châu Âu EEC (nay là EU) và cùng với các nước trong
khối này đang trở thành một cực rất mạnh của kinh tế thế giới, là một trong
những hạt nhân của EU. Tuy nhiên, hiện nay nước Anh đang có xu hướng tách
khỏi EU (Brexit).
Anh - một dân tộc thông minh, quê hương của Cuộc cách mạng khoa học
kĩ thuật. Nước Anh gắn liền với tên tuổi của nhiều nhà bác học thiên tài, nhiều
nhà văn hóa lỗi lạc, quê hương của nhiều môn thể thao hấp dẫn.
Chính vì thế, nước Anh có nhiều di tích lịch sử - văn hóa và kiến trúc
nghệ thuật, chủ yếu thuộc thời kì phong kiến và thời kì hình thành chủ nghĩa tư
bản. Khắp nơi trên đất nước này khách tham quan có thể thưởng thức những
cơng trình kiến trúc tuyệt diệu của các lâu đài, cung điện, nhà thờ, quảng trường,
đài tưởng niệm,... Những cung điện lớn như Buckingham nay vẫn là nơi ở của
Nữ Hoàng, Westmington, Kensington, Edinburgh, lâu đài Windser,.. gắn liền
với những sự kiện của lịch sử xưa và nay. Cũng như các nước châu Âu khác,
nước Anh có rất nhiều thánh đường ở khắp mọi nơi. Nhà thờ Saint Paul lớn thứ
hai thế giới. Giáo đường Westminter là nơi diễn ra các nghi lễ truyền ngơi của
Hồng gia Anh, nơi có mộ của Niwton và Darwin. Giáo đường Canterbury là
tổng bộ Kitô giáo của nước Anh,...Nhiều địa danh gắn với tên tuổi, cuộc đời và
sự nghiệp của nhiều danh nhân thế giới. Thị trấn Strafort upon Avon quê hương
161
Địa lý du lịch
và cũng là nơi đặt mộ, bảo tàng của đại văn hào Shakespeare, hàng năm có tổ
chức liên hoan kịch do ông sáng tác. Mộ Karl Marx trên ngọn đồi tây bắc
London. Trường đại học Cambridge có 800 năm lịch sử, nơi Newton từng học
và làm việc, cùng với Oxford và nhiều trường đại học danh tiếng khác, nơi thu
hút sự chú ý của thanh niên thế giới. Quảng trường là nơi thu hút nhiều khách du
lịch tới tham quan và thưởng thức những cơng trình kiến trúc nghệ thuật như
quảng trường Trafalgar với cột đá cao 56m và bức tượng thủy sư đô đốc nổi
tiếng Nelson, lúc nào cũng có hàng ngàn con chim bồ câu đậu trên quảng
trường, quảng trường Piazza với những phố làng nghề, quảng trường George
được coi là Bảo tàng điêu khắc ngoài trời. Cầu tháp Lon don được xây dựng
năm 1844 cùng với Tháp chuông Big Ben được xem là biểu tượng của London.
Sự thống trị thế giới nhiều thế kỉ về công nghiệp và hàng hải cũng như lãnh thổ
thuộc địa rộng lớn đã tích lũy cho nước Anh một kho tàng những tác phẩm nghệ
thuật quí giá được trưng bày trong các bảo tàng nghệ thuật. Đó là bảo tàng Quốc
gia, bảo tàng Hoàng gia, bảo tàng York, bảo tàng Albert and Victoria...
Những di sản văn hóa thế giới của nước Anh bao gồm: Con đường của
người khổng lồ; Di chỉ Stonehenge Avebury; Quần đảo núi lửa Saint Kilda;
Tháp London; Lâu đài và nhà thờ lớn Durham kiến trúc kiểu Roman đẹp nhất
nước Anh.
7.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
Dân số nước Anh thuộc loại trung bình với 63.742.977 người (2014), có tỉ
lệ gia tăng đân số rất thấp. Thành phần dân tộc tương đối thuần: Chủ yếu là
người England (Anglo - Saxon) chiếm 80% dân số, người Scotland 10%, người
Ireland 4%, người xứ Wales 2%, còn lại là các dân tộc nhập cư. Mặc dù đã áp
dụng chế độ đồng hóa từ bao đời nay nhưng bản sắc dân tộc chủ yếu của họ là
mỗi dân tộc đều có ngơn ngữ riêng của mình. Tuy nhiên, tiếng Anh vẫn là ngơn
ngữ chính và được sử dụng rộng rãi trên thế giới.
Đa số dân Anh theo đạo Anh quốc giáo, một số theo đạo Hồi, đạo Phật.
Vương quốc liên hiệp Anh và Bắc Ai len là nước theo chế độ quân chủ lập hiến,
đứng đầu là vua, nhưng với vai trị tượng trưng, hiện nay là Nữ hồng Elizabeth.
Dân thành thị chiếm tỉ lệ cao hơn 80% dân số với 88 thành phố có hơn
100.000 dân. Thành phố lớn nhất là London hơn 7 triệu người, Manchester 2,5
triệu, Burmingham 2,4 triệu, Glasgow 2 triệu,...
Nước Anh là một cường quốc kinh tế lâu đời và cũng là nơi bắt đầu cuộc
cách mạng công nghiệp. Nhưng nền kinh tế trải qua nhiều thăng trầm, địa vị của
nước Anh dần giảm sút. Nước Anh ngày nay khơng cịn huy hồng như xưa nữa
162
Địa lý du lịch
nhưng vẫn đứng thứ 5 trong 7 cường quốc kinh tế thế giới. Năm 2000 tổng sản
phẩm quốc dân của Anh là 1.415 tỉ USD và thu nhập trung bình đầu người là
23.509 USD. GDP năm 2015 là 2.848 tỉ USD.
Anh là nước công nông nghiệp đều phát triển. Trong nông nghiệp ngành
chăn nuôi và đánh cá có điều kiện phát triển mạnh. Những ngành cơng nghiệp
tiên tiến là cơng nghiệp dầu mỏ và khí đốt, cơng nghiệp khai thác than nổi tiếng
một thời, ngành hàng không với cơng ty Concord hợp tác với Pháp, ngành đóng
tàu, ngành sản xuất xe hơi,... các trung tâm công nghiệp lớn là London,
Manchester, Liverpool, Edinburgh và Glasgow.
Giao thông ở nước Anh rất phát triển. Hệ thống đường sắt được xây dựng
sớm nhất trên thế giới, dày đặc đến kinh ngạc và rất hồn thiện, với tổng chiều
dài 17.000km, điện khí hóa 4.200km. Mạng lưới đường ơtơ trải rộng khắp với
tổng chiều dài tới 350.000km, một phần trong đó là đường cao tốc, đóng vai trị
chủ đạo trong hệ thống giao thơng và rất thuận tiện, hầu như gia đình nào cũng
có ơtơ. Trong thành phố việc đi lại bằng taxi rất thuận tiện. Vận tải hàng không
cũng rất phát triển, Công ty hàng không Anh vào loại lớn nhất thế giới, sân bay
Heathrow lớn nhất nước và cũng là một trong những cảng hàng không tấp nập
nhất thế giới, cứ 3 phút có một máy bay cất cánh hoặc hạ cánh. Hàng hải chiếm
vị trí đặc biệt quan trọng đối với một quốc gia hải đảo và có ngành thương mại
phát triển, đội thương thuyền cũng nổi tiếng như hải quân của họ, với nhiều hải
cảng lớn là Liverpool, London, Glasgow,...là những cảng lớn bậc nhất thế giới.
Hai cảng Douve và Southamton lại có vai trị quan trọng nhất trong vận chuyển
hành khách.
Trong hệ thống giao thông của nước Anh có một điểm cần nhấn mạnh, đó
chính là đường hầm qua biển Manche đã nối liền Anh với lục địa Âu. Hệ thống
đường hầm này được khởi công xây dựng năm 1987, hồn thành năm 1993, có
tổng chiều dài 53km, gồm 2 đường ống lưu thông và 1 đường bảo dưỡng, với
chi phí 15 tỉ USD.
7.1.4 Sự phát triển du lịch
Du lịch ở Anh phát triển rất sớm ngay từ nửa đầu thế kỉ XIX, khi xuất
hiện những dòng khách đi nghỉ tại các bãi biển vùng đông nam của đất nước và
sang các nước vùng Alps và Địa Trung Hải. Cũng từ đây các công ty du lịch,
các cơ sở khách sạn dần được hình thành và lớn mạnh nhanh chóng. Sang thế kỉ
XX, khách du lịch tăng lên, phạm vi tham quan dược mở rộng. Đời sống công
nghiệp và đơ thị hóa cao đã thúc đẩy q trình phát triển du lịch ở đất nước này.
7.1.4.1.Cơ sở vật chất kĩ thuật
163
Địa lý du lịch
Anh là một trong những quốc gia đứng đầu thế giới về số lượng và chất
lượng cơ sở lưu trú du lịch (khoảng 2 triệu giường), trong đó khách sạn chiếm đa
số. Các cơ sở trên tập trung thành 3 cụm chủ yếu: Thành phố London và phụ cận,
Bờ biển đơng nam, các vùng cịn lại. ở London và những thành phố lớn có nhiều
cơng viên là nơi dạo chơi, giải trí, ngắm cảnh rất thú vị của người dân thành phố và
du khách. Đỉnh Millennium là cơng trình giải trí hiện đại ở London.
7.1.4.2.Du lịch quốc tế
Các di tích lịch - sử văn hóa, các hoạt động thể thao, giải trí có sức thu hút
rất lớn đối với người dân Anh và khách du lịch. Hàng năm có hàng chục triệu
lượt khách du lịch quốc tế đến với nước Anh, chủ yếu từ các nước Tây-Bắc Âu
như Pháp, Bỉ, Đức, Tây Ban Nha và Mĩ, tiếp đến là các nước châu Á, Phi thuộc
Khối liên hiệp Anh. Năm 1990 Anh đón được 18,01 triệu lượt khách du lịch
quốc tế, năm 2000 là 25,19 triệu lượt, năm 2010 là 26,30 triệu lượt, năm 2018
là 36,30 triệu lượt. Khách du lịch quốc tế đến Anh với mục đích chính là đi nghỉ
và tham quan, sau đến cơng vụ, thăm thân,... Trước đây họ đến chủ yếu bằng
đường biển và đường hàng không, ngày nay khách đến bằng đường bộ tăng
nhiều qua đường ngầm Manche.
Anh cũng là nước có số dân đi du lịch nước ngoài nhiều trên thế giới,
thường chỉ đứng thứ hai châu Âu, sau Đức. Hàng năm có hơn chục triệu lượt
người Anh tham gia du lịch quốc tế để nghỉ ngơi và tham quan. Vì thế, phần
đông là họ tới những nước phát triển du lịch nghỉ biển và núi như Tây Ban Nha,
Pháp, Italia, áo, Thụy sĩ và Mĩ. Năm 2000 những người Anh đi du lịch ra nước
ngoài đã chi tiêu tới 36.560 triệu USD, đứng thứ hai châu Âu và thứ ba thế giới.
7.1.4.3.Du lịch nội địa
Du lịch nội ở Anh phát triển rất mạnh, bình quân hàng năm mỗi người dân
đi du lịch tới 3 lần, làm cho số khách du lịch nội địa lên tới hơn trăm triệu lượt.
Hình thức du lịch cuối tuần khá phổ biến. Kinh doanh du lịch nội địa có hiệu
quả cao, là nguồn thu lớn (1,9 tỉ bảng - 1976)
7.1.4.4. Doanh thu du lịch của Anh hàng năm rất lớn và du lịch là một ngành
kinh tế quan trọng. Năm 1990 đạt 13,76 tỉ USD, năm 2000 đạt 19,54 tỉ
USD,năm 2010 đạt 32,49 tỉ USDnăm 2018 đạt 51,90 tỉ USD. Anh là quốc gia
phát triển du lịch hàng đầu thế giới.
7.1.5. Những điểm du lịch quan trọng
164
Địa lý du lịch
7.1.5.1. Thủ đô London
Dấu ấn nổi bật nhất của London là dịng sơng Thames. Nó giống như một
con rồng nhỏ uốn mình chảy qua London. Đoạn chảy qua thành phố rộng
khoảng 200m. Đại bộ phận thành phố nằm ở bờ Bắc, hiện lên với hàng loạt các
công trình kiến trúc đồ sộ, hấp dẫn. London có rất nhiều các di tích lịch sử, trên
các đường phố và các ngõ hẻm đều thể hiện rõ nét cổ kính xen lẫn hiện đại.
London nổi tiếng về trà, có nhiều phòng hòa nhạc và ngân hàng. Du lịch trong
thành phố rất thuận lợi bằng hệ thống tàu điện ngầm, xe bt hai tầng và taxi,
cịn có hình thức du lịch thuyền buồm.
* Nhà thờ Saint Paul mái vịm hình trịn, đồ sộ lớn thứ hai trên thế giới,
xây dựng vào cuối thế kỉ XVII. Năm 1981 hôn lễ của công nương Dianna được
tổ chức tại đây. Nhà thờ có kiến trúc hồn mĩ, tinh tế. Đứng trên nóc nhà thờ có
thể ngắm tồn cảnh London.
* Tháp London có tới 900 năm lịch sử, được coi là thành cổ, vương cung
và nhà tù. Tháp London là một trong những di tích lịch sử được tham quan nhiều
nhất, nhất là tòa nhà Jewel House, nơi trưng bày nhiều ngọc ngà châu báu của
Hồng gia Anh. Đặc biệt trong tịa tháp có đặt vương miện của nữ vương. Trên
đỉnh vương miện có có một “Ngôi sao Phi châu” bằng cẩm thạch.
* Cầu tháp London được xây dựng năm 1844, hoàn thành năm 1894, là
cửa ngõ của London, trông giống như hai ngọn tháp. Khi bình minh lên cây cầu
rất nguy nga tráng lệ. Đứng trên cầu có thể ngắm tồn cảnh sơng Thames.
*Cơng viên Hyde là cơng viên lớn nhất London, có từ đầu thế kỉ XVII,
nơi diễn ra các cuộc triển lãm lớn và các hoạt động chúc mừng của Hoàng gia.
* Quảng trường Trafalgar có pho tượng vị anh hùng Đơ đốc hải quân
Nelson đã chiến thắng đội quân Napoleon và hy sinh tại Trafalgar. Xung quanh
là quần thể kiến trúc của Bộ Tư lệnh Hải quân Anh và lúc nào cũng có hàng con
chim bồ câu đậu trên quảng trường.
* Cung điện Buckingham được xây dựng năm 1703. Từ năm 1837 cung
điện trở thành nơi ở của Hoàng gia Anh. Vào lúc 11giờ 30 phút hàng ngày du
khách sẽ được xem nghi lễ đổi gác của của lính ngự lâm.
* Công viên St. James nằm đối diện với cung diện Buckingham, là công
viên đẹp nhất London. Du khách sẽ được dạo chơi ngắm cảnh thiên nhiên và
kiến trúc của cung điện về đêm với hàng ngàn ngọn đèn tỏa sáng.
* Phố Downing là nơi tập trung các cơ quan nhà nước và là trung tâm
chính trị của nước Anh.
165
Địa lý du lịch
* Tháp chuông Big Ben được xây dựng theo lối Gothique điển hình, cao
hơn 100 m, thuộc Giáo đường Westminter và là biểu tượng của London, trong
có treo quả chuông nặng 14 tấn. Từ năm 1859 đến nay, mỗi giờ vang lên một
hồi chuông dài cả thành phố đều có thể nghe thấy. Mặt trước của tháp là một
chiếc đồng hồ lớn và nổi tiếng nhất thế giới, cao gần 100m, nặng 13 tấn, đường
kính gần 7m, từ xa có thể nhìn rõ.
* Giáo đường Westminter được xây dựng theo lối Gothicque, có rất nhiều
ngọn tháp bằng thủy tinh màu chụm lại tạo dáng vẻ lộng lẫy, tráng lệ. Từ năm
1060 đến nay, hầu như các nghi lễ truyền ngơi và các hoạt động trọng đại của
Hồng gia Anh đều được thực hiện tại đây. Trong Giáo đường có nhiều lăng mộ
của Hồng thất và những người nổi tiếng như Newton, Darwin, Watt,...
*Bảo tàng Quốc gia - Great British có lịch sử lâu đời và qui mơ lớn bậc
nhất thế giới. Bảo tàng trưng bày hơn 7 triệu hiện vật là các cổ vật và các tác
phẩm nghệ thuật nổi tiếng.
* Trường đại học Oxford ra đời vào năm 1167, hiện nay có 36 học viện.
Lớn nhất và lâu đời nhất là Học viện Giáo đường Thiên chúa. Trường đã đào tạo
ra nhiều danh nhân của nước Anh và thế giới, trong đó có 16 vị thủ tướng Anh.
* Trường đại học Cambridge ra đời vào năm 1209, hiện nay có 31 học viện
đã đào tạo ra hơn 60 chủ nhân của giải Nobel. Trong đó, học viện thứ 31 đã đào
tạo Newton và hơn 20 chủ nhân giải Nobel, 6 vị thủ tướng Anh. Học viện Quốc
Vương là nổi tiếng nhất. Trường cách trung tâm Thủ đơ 96 km về phía bắc.
* Thị trấn Greenwich nằm ở đông nam London, nơi xây dựng đài Thiên
văn đầu tiên của thế giới và là kinh tuyến gốc của trái đất.
* Di chỉ Stonehenge Avebury còn gọi là Trận đá khổng lồ, là di tích lịch
sử nổi tiếng thế giới, được xây dựng khoảng 1700 năm trước Công nguyên. Di
tích bao gồm vơ số các cột đá, mỗi cột nặng tới 50 tấn tạo thành một vịng trịn
bí ẩn, cùng các hoạt động tôn giáo.
* Đỉnh Millennium, một công trình kiến trúc hiện đại, vĩ đại nhất và tốn
kém nhất, tương đương tháp Eiffel, với 760 triệu bảng Anh. Bên trong có 20 trị
vui chơi, giải trí.
7.1.5.2. Bãi biển Brighton cách thủ đô London không xa, là bãi biển nổi tiếng.
Đến đây khách du lịch được tắm biển, tắm nắng, nhiều hoạt động vui chơi, giải
trí và được tham quan các con đường cảng rất đẹp.
166
Địa lý du lịch
Ở đây cịn có Cung Hồng gia, được cải tạo và xây mới năm 1783. Bên
ngoài Cung có kiến trúc cung điện ấn Độ, bên trong trưng bày các cổ vật Trung
Quốc, mang đậm phong cách Phương Đông.
7.1.5.3. Thành phố York
Đây là thành phố du lịch nằm sát London, nơi đây có sự kết hợp của nhiều
nền văn hóa, lịch sử khác nhau.
* Giáo đường York được xây theo phong cách Gothichque lớn nhất nước
Anh trong 250 năm, đến năm 1470 mới hoàn thành. Hấp dẫn nhất của giáo
đường là tấm kính màu thời Trung cổ, lớn nhất thế giới với hơn 100 ô cửa nhỏ.
Bao quanh giáo đường là bức tường thành cổ.
* Bảo tàng York là một trong những bảo tàng đẹp nhất nước Anh.
7.1.5.4. Thành cổ Edinburgh
Thành cổ Edinburgh là biểu tượng của Scotland, được xây dựng rất sớm
từ năm 850 trước Công nguyên. Đây là di tích thành cổ của Quốc vương
Scotland. Gần đó là cố đơ Edinburgh. Festival nghệ thuật Edinburgh mỗi năm
được tổ chức một lần và thu hút được nhiều khách du lịch tham quan.
7.1.5.5. Thành phố Glasgow
Glasgow nằm ở trung tâm Scotland và lớn nhất Scotland, có nhiều cây
xanh. Trước đây là trung tâm cơng nghiệp đóng tàu và luyện kim. Năm 1990
được chọn là thành phố văn hóa của châu Âu. ở đây có quảng trường George là
bảo tàng điêu khắc ngoài trời với các bức tượng của các Nữ hoàng Anh, nhà thơ,
nhà phát minh và các học giả nổi tiếng của Scotland. Nhà thờ Glasgow được xây
dựng năm 1136 sau 300 năm mới hoàn thành. Ngày nay Glasgow là một trung
tâm giáo dục với nhiều trường đại học lớn.
7.1.5.6. Manchester
Đối với nhiều người Manchester gắn liền với bóng đá. Quả vậy, bóng đá
được người Anh rất hâm mộ và thành phố Manchester đã hiến dâng cho nước
Anh và những người hâm mộ một đội bóng lừng danh Manchester United. Thời
kì cách mạng cơng nghiệp Thành phố là một trung tâm công nghiệp lớn. Ngày
nay đã bị thu hẹp nhiều, chỉ cịn lại là các di tích của một thời huy hoàng.
167
Địa lý du lịch
7.2 Cộng hoà Pháp
7.2.1 Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên
Pháp là nước tư bản lớn nằm ở Tây Âu, có diện tích 551.500 km2. Pháp có
vị trí rất thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội và cả du lịch. Phía bắc, tây
và nam tiếp giáp với các đại dương và biển, là Bắc Băng Dương, Đại Tây
Dương và Địa Trung Hải, phía đơng và tây nam giáp với nhiều quốc gia Tây Âu
khác. Lãnh thổ có dạng hình khối lục giác, gọn thuận lợi cho giao thơng.
Địa hình nước Pháp rất đa dạng, có đủ các loại địa hình núi, cao nguyên,
đồng bằng được phân bố khá đều đặn và hài hoà. Đồng bằng Pari nằm ở miền
Bắc. Núi và cao nguyên nằm ở Trung tâm, miền Nam và Đơng. Gồm có các dãy
núi Trung Tâm ở giữa, dãy Pyreness ở tây nam, đông nam thuộc dãy Alps, cao
ngun Lorraine ở phía đơng bắc. Địa hình đa dạng đã tạo nên những cảnh quan
hấp dẫn ở miền núi và cao nguyên. Đỉnh Mont Blance 4.807 m trên dãy Alps
cao thứ hai châu Âu (cao nhất châu Âu là đỉnh An brut cao 5642m). Kiểu địa
hình karst với những đỉnh núi dựng đứng, hang động và thung lũng đẹp. Hang
Rescau Jecan Bernard sâu nhất thế giới. Đặc biệt, nước Pháp có đường bờ biển
dài với nhiều bãi biển đẹp rất thích hợp với du lịch biển. Những bãi biển nằm ở
miền Nam bên bờ Địa Trung Hải có các điều kiện thiên nhiên lí tưởng. Nơi đây
có bãi biển Riviera đầu tiên của thế giới, bãi biển Biarritz nổi tiếng. Tiếp đến là
các bãi biển thuộc bờ tây bên Đại Tây Dương và bờ bắc bên Bắc Băng Dương.
Nói chung, nước Pháp có khí hậu rất thuận lợi, thuộc miền khí hậu ơn đới
hải dương. Nhiệt độ trung bình hàng năm vào tháng 1 từ 1- 8oC, tháng 7 từ 7 21oC, lượng mưa trung bình 600 -1000 mm. Thời gian phù hợp nhất cho du lịch
là từ tháng 6 đến tháng 10. Tuy nhiên khí hậu có sự phân hố khá đa dạng. Miền
Bắc và miền Tây có khí hậu ơn đới ẩm dễ chịu. Miền Đơng khí hậu có tính lục
địa hơn. Trên miền núi cao có khí hậu lạnh và băng giá. Trong khi, miền Nam
lại có khí hậu cận nhiệt Địa Trung Hải ấm áp và khơ ráo, đặc biệt thích hợp cho
du lịch, hàng khơng và điện ảnh.
Pháp có hệ thống sơng ngịi nhiều cùng với hệ thống kênh đào tạo mạng
lưới giao thông thuận tiện. Những dịng sơng lớn, có cảnh đẹp như sông Seine ở
miền Bắc, sông Loire, sông Garone ở miềm Tây, sơng Rhone ở Miền Nam.
Nước Pháp cịn có nguồn nước khoáng phong phú, nổi tiếng là Vicki, Visi,
Evian,...
Tài nguyên sinh vật nước Pháp thuộc loại phong phú nhất Tây Âu với
những khu rừng lớn che phủ 25 % lãnh thổ. Ngay trong các thành phố cũng có
nhiều cơng viên xanh tạo cảnh quan và môi trường trong lành, xanh, sạch, đẹp.
168
Địa lý du lịch
Những điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên của Pháp rất
thuận lợi và hấp dẫn cho du lịch. Các loại hình du lịch thiên nhiên như nghỉ
dưỡng, leo núi, trượt tuyết, du lịch suối khoáng, du lịch sinh thái, nhất là du lịch
nghỉ biển.
7.2.2 Đặc điểm lịch sử - văn hoá và tài nguyên du lịch nhân văn
Ngày Quốc khánh 17/4/1789. Nước Pháp có lịch sử phát triển lâu đời, trải
qua nhiều cuộc chiến tranh. Năm 843 nước Pháp trở thành một quốc gia độc lập.
Năm 1789 cuộc cách mạng Tư sản Pháp thành cơng, thành lập nước Cộng hồ
đầu tiên. Năm 1804 Napoleon lên ngơi Hồng đế, thành lập Đế quốc đầu tiên.
Năm 1848 cách mạng Paris bùng nổ, con trai Napoleon lên làm Tổng thống
nước Cộng hoà thứ hai. Năm 1870 con trai Napoleon bại trận trong cuộc chiến
tranh Pháp - Phổ, nước Cộng hoà thứ ba được thành lập. Năm 1946 sau Đại
chiến thế giới II, nước Cộng hoà Pháp thứ tư được thành lập. Năm 1958 thành
lập nước Cộng hoà Pháp lần thứ năm.
Pháp đã từng là đế quốc có nhiều thuộc địa trên thế giới. Hiện nay vẫn
cịn một số thuộc địa.
Nước Pháp có trên lãnh thổ của mình cả một kho tàng văn hố q giá của
các thời đại và các nền văn hoá khác nhau với những cơng trình kiến trúc và di
tích tầm cỡ thế giới, tiêu biểu là những di sản của nền văn hoá Phục hưng. Nhờ
vậy, nước Pháp được coi là trung tâm văn hố của châu Âu và thế giới. Tính đến
năm 1999 Pháp có tới 10 di sản thế giới.
Thời kì Trung cổ đã để lại nhiều cơng trình như Thánh đường có ở khắp
nơi, tiêu biểu là Thánh đường Notre Dame de Pari (Nhà thờ Đức Bà Pari), Các
Thánh đường Satr, Strasburg, Rouen, Lille, Tours,...
Dấu ấn của thời Phục hưng Pháp là những lâu đài, đài kỉ niệm, những tác
phẩm nghệ thuật ở khu phố cổ Paris và nhiều thành phố khác. Lâu đài
Fontainebleau, lâu đài Chambord và các cung điện Versailles, Toulouse,
Elysess,...là kiến trúc điển hình của thời kì này. Những tác phẩm hội hoạ, điêu
khắc vơ cùng phong phú trong các viện bảo tàng nổi tiếng như bảo tàng Louvre,
Bảo tàng Lịch Sử Paris, ... Những di tích gắn liền với cuộc Cách mạng Tư sản
Pháp, với Napoleon. ở Pari nhiều ngôi nhà, đài kỉ niệm, bảo tàng, bia tưởng
niệm đã gắn liền với cuộc sống và sự nghiệp của nhiều danh nhân văn hoá như,
Voltaire, Rousseau, Victor Hugo, Các Mác, Ănghen, Lênin, Hồ Chí Minh. Pari
cịn có những cơng trình kiến trúc nghệ thuật lớn rất ấn tượng như Khải Hồn
Mơn; Phố Champs Elysees, cung điện Elysees, Dinh thự Tổng thống; Quảng
trường La Concorde lớn nhất nước Pháp; Nhà hát lớn nhất thế giới Opera
169
Địa lý du lịch
Pompidou; Tháp Eiffel là biểu tượng của Thành phố; Vườn Luxembourg;... Bên
cạnh những đại lộ và công viên rộng rãi cịn có những khu phố cổ vẫn giữ
nguyên thời Trung cổ với đường phố hẹp, cửa hiệu nhỏ và mặt tiền trang trí sặc
sỡ. Mỗi khu phố của Pari đều có nét riêng khác hẳn với các khu còn lại.
Tất cả những địa điểm trên nằm trong những khu rừng và công viên đẹp
đẽ hay bên những bờ sông và hồ, giờ đây được sử dụng cho du lịch tham quan
và nghỉ cuối tuần. ở Pari và các thành phố, các khu du lịch người ta có thể vui
chơi, giải trí với mọi hình thức ở mọi nơi.
Những di sản thế giới của nước Pháp bao gồm: Nhà thờ Mont Saint Michel; Nhà thờ lớn Chartres; Cung điện và công viên Versailles; Nhà thờ và
đồi ở Vezelay; Hang Lascaux ở thung lũng Vezelay; Lâu đài và công viên
Fontainebleau; Lâu đài Chambord; Tu viện dòng Citeaux ở Fonernay; Chiếc cầu
Gard và cống cấp nước thời La Mã; Tháp Eiffel.
Nước Pháp trải qua hàng trăm cuộc chiến tranh lớn nhỏ nhưng ít bị tàn
phá. Nhờ vậy, khách du lịch có thể thưởng thức những di tích, cơng trình giá trị
của nhiều thời đại văn hóa khác nhau.
7.2.3. Điều kiện kinh tế - xã hội
Năm 2014, dân số nước Pháp có 66.259.012 người, hơn 90 % là người
Pháp, đa số theo đạo Thiên Chúa. So với các nước Tây Âu, Pháp có mật độ dân
số khơng cao, khoảng 95 người/km2. Pháp có nhiều kiều dân định cư ở nước
ngồi và nhiều nhất ở Canađa, châu Phi, châu Mĩ,...
Hơn 70 % dân số sống ở thành phố. Những thành phố lớn là Paris (10 triệu
người), Lyon, Marseille, Bordeaux, Nice,...có 20 thành phố trên 150.000 người.
Pháp là một quốc gia tư bản có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới.
Tổng thu nhập quốc dân năm 2000 đạt 1.294 tỉ USD, thu nhập bình quân đầu
người đạt 24.223 USD/ người. GDP năm 2015 là 2.422 tỉ USD.
Giao thông ở Pháp đặc biệt phát triển với nhiều phương tiện nổi tiếng như
máy bay Concorde nay là Airbus, tàu siêu tốc TGV. Mạng lưới giao thơng
đường bộ có chiều dài hơn 400.000 km toả khắp mọi miền đất nước với chất
lượng cao. Trong đó đường cao tốc có hơn 6000 km, đường quốc lộ hơn 30.000
km. Ơtơ là phương tiện đi lại phổ biến của người dân. Tuy nhiên, ắch tắc giao
thông là một vấn đề cần quan tâm. Pháp có mạng lưới đường sắt rất phát triển
với 37.000 km. Đường sắt đã được điện khí hố hơn 9000 km. Pari là đầu mối
giao thơng có các tuyến đường sắt tới các thành phố lớn và nối liền với thủ đô
170
Địa lý du lịch
các nước Tây Âu. Tàu hoả cao tốc TGV có thể đạt 300 km/h. Trong các thành
phố lớn đều có hệ thống tàu điện ngầm và hệ thống xe buýt, xe tắc xi, xe đạp.
Từ các sân bay lớn ở Paris, Marseille, Lyon, Nice, Bordeaux,... có các
tuyến bay quốc tế và nội địa, lưu lượng vận chuyển hành khách lớn, tiện nghi và
thuận tiện. Đặc biệt, tại thủ đơ Paris có 3 sân bay quốc tế lớn là Charles de
Gaulle, Ory và Bulre có các tuyến bay trực tiếp tới những thành phố quan trọng
của thế giới. Nước Pháp được mệnh danh là “trạm trung chuyển trên không của
thế giới”.
Giao thông đường thuỷ cũng rất phát triển với 3.500 km bờ biển, mạng
lưới sơng ngịi, kênh đào. Những hải cảng quan trọng là Marsaille, Rouen,
Nantes, Bordeaux,...
Sản phẩm của các ngành công nghiệp, đặc biệt là thời trang, nữ trang, mĩ
phẩm và rượu nổi tiếng của Pháp cũng là đối tượng hấp dẫn khách du lịch quốc
tế. Paris đã nổi tiếng là kinh đô mua sắm của thế giới.
Thành phố Straburgh nằm gần biên giới với nước Đức được chọn làm trụ
sở của EU.
7.2.4. Sự phát triển du lịch
Du lịch Pháp phát triển rất sớm từ cuối thế kỉ XVIII đầu XIX cùng với sự
phát triển của thành phố. Cuối thế kỉ XIX Pari đã trở thành trung tâm du lịch lớn
nhất châu Âu và thế giới. Riviera nổi tiếng là khu du lịch biển cho tầng lớp quí
tộc thời bấy giờ. Các khu du lịch chữa bệnh bằng nước khống có truyền thống
lâu đời.
7.2.4.1. Du lịch quốc tế
Cảnh quan tuyệt đẹp và những thành phố lịch sử, những món ăn ngon và
những thứ rượu nho hảo hạng, nền văn hóa độc đáo và thời trang, vị trí vô cùng
thuận lợi và cơ sở vật chất tốt đã thu hút ngày càng nhiều khách du lịch từ mọi
nơi trên thế giới đến với nước Pháp. Từ năm 1929 đã có 2,9 triệu lượt khách du
lịch đến Pháp. Lượng khách du lịch quốc tế đến Pháp tăng nhanh không ngừng
và luôn đứng hàng đầu thế giới. Năm 1990 là 52,497 triệu lượt khách, mang lại
nguồn thu là 20,184 tỉ USD. Năm 2000 là 75,5 triệu lượt và 29,9 tỉ USD, năm
2010 là 77,648 triệu lượt và 47 tỉ USD, năm 2018 là 89,4 triệu lượt và 67,3 tỉ
USD. Pháp luôn đứng đầu thế giới về số khách du lịch quốc tế và hàng đầu về
thu nhập du lịch.
171
Địa lý du lịch
Khách du lịch đến Pháp chủ yếu tới Paris, các khu du lịch biển bên bờ Địa
Trung Hải và Đại Tây Dương, các khu du lịch nghỉ núi và nghỉ đơng, các suối
nước khống,...
Có khoảng 50 % khách du lịch quốc tế của Pháp đi qua hoặc đến Pari.
Pari là thành phố được tham quan nhiều nhất trên thế giới. Đây không chỉ là đầu
mối giao thông của châu Âu, trung tâm kinh tế, khoa học mà cịn là thủ đơ của
nghệ thuật, của mốt, của kiến trúc tuyệt diệu.
Khách du lịch đến Pháp chủ yếu từ các nước láng giềng Tây và Bắc Âu
như, Đức, Bỉ, Anh, Hà Lan, Italia và Mĩ. Chất lượng phục vụ du lịch của Pháp
rất cao, đặc biệt trong khách sạn, nhà hàng, cơng viên giải trí, thể thao. Ngày
nay, Pháp xây dựng nhiều cơng viên giải trí, tiêu biểu cơng viên giải trí
Disneyland.
Pháp khơng chỉ nổi tiếng là nước du lịch nhận nhiều khách mà còn là
nước gửi nhiều khách đi tham quan, du lịch nước ngoài. Về số lượng này, Pháp
là nước đứng thứ 3 ở Châu Âu, chỉ sau Đức và Anh. Tuy nhiên, trên thị trường
du lịch quốc tế, Pháp trở thành nước xuất khẩu khách du lịch rất muộn, mãi đến
tận năm 1952. Mức sống ngày nay của người dân Pháp ngày một nâng cao và
quỹ ngoại tệ quốc gia ngày một lớn, đây chính là điều kiện thúc đẩy số lượng
khách du lịch Pháp ra nước ngồi tăng vọt. Năm 1977 có 14,6 triệu lượt người
Pháp đi du lịch quốc tế với số ngày nghỉ trung bình là 9 ngày/người, năm 1998
là 16,7 triệu lượt. Tây Ban nha, Italia, Đức, Thụy Sĩ, Anh, Áo, Nam Tư là những
nước được nhiều khách Pháp đến nhất. Đặc biệt, Tây Ban Nha chiếm tới 1/4 số
lượng khách nói trên. Về số lượng khách đi du lịch ra ngoài Châu Âu, Pháp và
Anh ln đứng hàng đầu. Điều đó cũng dễ hiểu vì cả hai nước này đều có nhiều
mối quan hệ chặt chẽ về kinh tế và văn hoá với các nước thuộc địa cũ của họ
trên thế giới. Quỹ tiêu dùng khơng ngừng tăng và những thói quen du lịch đang
phổ biến rộng rãi trong dân chúng Pháp là những điều kiện đảm bảo để nói rằng:
trong tương lai, số lượng khách Pháp đi du lịch nước ngồi sẽ cịn tăng nhiều
hơn nữa. Sự chênh lệch lớn giữa giá cả quá cao ở Pháp và giá trung bình hoặc
thấp ở các nước cũng tác động nhiều lên hiện tượng nói trên. Năm 2000 người
Pháp đi du lịch nước ngoài đã chi tiêu hết khoảng 17.166 triệu USD.
7.2.4.2. Du lịch nội địa
Pháp có nhiều truyền thống về phát triển du lịch nội địa. Hơn 10% dân
Pháp có biệt thự riêng ngồi nhà ở chính. Ngồi các khách sạn, camping và các
biệt thự riêng người Pháp còn thuê phòng trong các nhà ở khu vực nông thôn
172
Địa lý du lịch
hoặc ở nhờ nhà họ hàng, bạn bè. Năm 1937 đã có hơn 2 triệu lượt khách du lịch
nội địa.
Khoảng 75% số gia đình người Pháp đi nghỉ dài hạn chủ yếu vào mùa hè,
song trên thực tế, số ngày đi nghỉ đơng có xu hướng tăng lên. Đa số khách du
lịch nội địa nghỉ tại các khu du lịch biển. Phần còn lại là nghỉ núi và du lịch
đồng quê. Nước Pháp có hàng trăm làng du lịch. Vấn đề phức tạp hiện nay của
du lịch nội địa là mức độ tập trung quá cao số khách đi nghỉ vào tháng 7 và 8.
Các kì nghỉ ngắn được phân bố tương đối điều hoà theo mùa.
7.2.5. Những trung tâm và điểm du lịch quan trọng
7.2.5.1. Thủ đô Paris
Là thành phố lớn nhất châu Âu và được coi là thành phố văn hoá của thế
giới. Paris là trung tâm văn hố, nghệ thuật của Pháp. Sơng Seine đã chia thủ đô
Paris thành hai nửa, được nối với nhau bởi hàng chục cây cầu xinh đẹp. Trung
tâm thành phố là phố Elysess.
Paris tập trung hàng nghìn những điểm tham quan hấp dẫn:
* Bảo tàng Louvre trước kia là cung điện, nay là một trong ba bảo tàng
lớn của thế giới, được xây dựng vào cuối thế kỉ XII. Trong bảo tàng trưng bày
khoảng 40 vạn tác phẩm nghệ thuật về mọi thể loại và mọi thời đại văn hố nghệ
thuật thế giới. Trong đó có 2 tuyệt tác là bức tranh Mona Lida và Bức tượng
Thần Vệ nữ. Cổng vào của bảo tàng có hình Kim tự tháp bằng kính.
* Phố Champs Elysees rộng 100 m, ở giữa quảng trường Concorde và
cổng De Triomple. Đây là đường phố trung tâm của thủ đô Paris, nơi tập trung
nhiều cung điện và các tịa nhà của chính phủ.
* Quảng trường Concorde là quảng trường lớn nhất thủ đô Pari, được xây
dựng năm 1743. Trung tâm quảng trường có tấm bia nhọn Ai Cập nặng 220 tấn,
với hơn 3000 năm lịch sử.
* Cổng De Triomple hay Khải Hồn Mơn được xây dựng năm 1863, cao
50 m, rộng 45 m để ghi nhớ công lao vĩ đại của Napoleon. Tượng đài được trang
trí với những phù điêu rất đẹp.
* Notre Dame de Paris hay Nhà thờ Đức Bà Pari là trái tim của Pari,
được xây dựng từ năm 1163 đến năm 1245 mới hoàn thành. Đây là một tuyệt
tác của nghệ thuật Gothique, là nhà thờ Thiên chúa giáo cổ kính nhất và độc đáo
nhất Paris. Nhà thờ nổi với các bức phù điêu và những ơ cửa kính màu, đứng
173