BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI
Ths. Mai Quốc Tuấn, Ths. Nguyễn Lan Anh
BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI
ThS. Mai Quốc Tuấn
TS. Nguyễn Lan Anh
GIÁO TRÌNH
MƠN HỌC: ĐỊA LÝ DU LỊCH
NGÀNH: QUẢN TRỊ LỮ HÀNH, HƯỚNG DẪN DU LỊCH
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG, TRUNG CẤP
(Lưu hành nội bộ)
Ban hành kèm theo Quyết định số: ……. /QĐ-CĐDLHN ngày … tháng …
năm ……… của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
Hà Nội - 2018
Địa lý du lịch
LỜI GIỚI THIỆU
Giáo trình Địa lý du lịch này được chỉnh lý và tái bản từ Giáo trình Địa lý
và tài nguyên du lịch xuất bản năm 2008, nhằm đáp ứng yêu cầu giảng dạy, học
tập và nghiên cứu của giảng viên và sinh viên Trường cao đẳng Du lịch Hà Nội
trong tình hình mới. Với gần một thập kỷ qua, sự phát triển du lịch nói chung và
lượng thông tin về du lịch, về địa lý du lịch đã có nhiều thay đổi, phong phú về
nội dung, đa dạng về hình thức, địi hỏi chúng ta luôn phải cập nhật trong học
tập, giảng dạy và nghiên cứu.
Phương châm biên soạn của Giáo trình là trên cơ sở kế thừa những tài
liệu giảng dạy trước đó và các nguồn tài liệu khác về du lịch được chọn lọc,
tổng hợp những kiến thức, thông tin và hệ thống hoá theo lãnh thổ của địa lý du
lịch, bổ sung những kiến thức, thông tin, tư liệu mới đảm bảo tính thực tiễn, phù
hợp với chương trình đào tạo của nhà trường và chương trình của mơn học.
Giáo trình Địa lý du lịch phục vụ trực tiếp cho việc dạy và học chuyên
ngành Quản trị Lữ hành, Hướng dẫn du lịch của các hệ đào tạo và được coi là
môn cơ sở chuyên ngành. Do vậy, việc biên soạn nội dung kiến thức của giáo
trình được xem xét để phù hợp với sinh viên và kết hợp tốt với các mơn học khác
trong hệ thống chương trình đào tạo và hệ thống kiến thức được học của sinh
viên. Do đặc thù của môn học nên các tư liệu được tham khảo, thu thập từ nhiều
nguồn khác nhau và là những nguồn tin cậy. Giáo trình cố gắng trình bày kiến
thức lí luận ngắn gọn, trọng tâm phản ánh được rõ nét nhất bức tranh địa lý du
lịch của Việt Nam và thế giới trong thời kỳ hiện đại.
Nội dung của Giáo trình khá phong phú, được kết cấu thành 3 phần với 7
chương. Phần một, trình bày quan niệm về tài nguyên du lịch, đặc điểm của tài
nguyên du lịch nói chung và liên hệ với Việt Nam. Mục đích chính của chương
là trang bị những kiến thức lí luận cơ bản về tài nguyên du lịch, đặc điểm và ý
nghĩa của các loại tài nguyên du lịch; Phần hai, trình bày về địa lý du lịch Việt
Nam, khái quát tình hình, thực trạng phát triển du lịch nước ta, tập trung nghiên
cứu, phản ánh các yếu tố của các vùng du lịch; Phần ba, giới thiệu khái quát
tình hình phát triển, phân bố của du lịch thế giới và địa lý du lịch của một số
nước tiêu biểu của các khu vực du lịch trên thế giới. Nhờ đó, sinh viên sẽ thấy
được bức tranh chung về du lịch thế giới và qua đó, nhìn nhận về du lịch nước
ta được đầy đủ và khách quan.
i
Địa lý du lịch
Những trang cuối là 9 phụ lục, gồm các bảng tư liệu và các đối tượng là
tài nguyên du lịch Việt Nam được hệ thống theo lãnh thổ để minh hoạ cho các
bài giảng.
Mở đầu và kết thúc mỗi chương đều có phần mục đích, nội dung chính và
câu hỏi ơn tập, thảo luận định hướng cho việc dạy và học của giảng viên và sinh
viên.
Chịu trách nhiệm biên soạn: Mai Quốc Tuấn viết các chương 1,3,4,5,7;
Nguyễn Lan Anh viết các chương 1,2,3,5,6.
Đây cũng mới chỉ là những kiến thức cơ sở cho sinh viên và giúp sinh
viên học tiếp các môn học chuyên ngành. Mặt khác, mơn học này giúp người
học đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu tài nguyên, địa lý du lịch nước ta, các địa
phương và các nước khác trong khu vực và trên thế giới. Cùng với việc dùng
giáo trình, người học kết hợp tham khảo nhiều nguồn tài liệu khác liên quan như
sách ,báo chí, internet, băng đĩa tư liệu… để củng cố, cập nhật và làm phong
phú tri thức.
Để sử dụng có hiệu quả giáo trình này, ln cần phải có Atlat địa lý Việt
Nam, Atlat địa lý thế giới. Bởi kiến thức địa lý và bản đồ địa lý luôn song hành
với nhau, kiến thức gắn với thực địa, giúp ta củng cố kiến thức vững chắc hơn.
Thực địa luôn là phương pháp học tập hiệu quả nhất đối với học Địa lí. Do vậy,
trong q trình dạy và học cần tận dụng tối đa cơ hội đi tham quan, khảo sát
thực tế cho HSSV..
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong biên soạn song Giáo trình sẽ cịn có những
khiếm khuyết, chúng tơi rất mong nhận được sự góp ý bổ sung của bạn đọc và đồng
nghiệp.
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2018
Tham gia biên soạn
Đồng chủ biên
1. ThS. Mai Quốc Tuấn
2. TS. Nguyễn Lan Anh
ii
Địa lý du lịch
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ....................................................................................................... i
MỤC LỤC ............................................................................................................ iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ................................................................................ v
DANH MỤC BẢNG ............................................................................................ vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ....................................................................................... vi
BÀI MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỊA
LÝ VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH ........................................................................ 1
0.1 Đối tượng nghiên cứu của địa lý du lịch ..................................................... 1
0.2 Nhiệm vụ của địa lý và tài nguyên du lịch .................................................. 2
0.3 Các phương pháp nghiên cứu...................................................................... 2
PHẦN MỘT: TÀI NGUYÊN DU LỊCH .............................................................. 5
CHƯƠNG 1. TÀI NGUYÊN DU LỊCH ............................................................... 5
1.1 Quan niệm về Tài nguyên du lịch ............................................................... 5
1.2 Ý nghĩa, vai trò của Tài nguyên du lịch ...................................................... 8
1.3 Đặc điểm của Tài nguyên du lịch............................................................... 9
1.4 Phát triển du lịch bền vững trong mối quan hệ với tài nguyên và
môi trường. ...................................................................................................... 13
CHƯƠNG 2. TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỰ NHIÊN......................................... 15
2.1 Quan niệm về Tài nguyên du lịch tự nhiên ............................................... 15
2.2 Các loại hình tài nguyên du lịch tự nhiên ................................................. 16
CHƯƠNG 3. TÀI NGUYÊN DU LỊCH VĂN HÓA ........................................ 31
3.1 Quan niệm về tài nguyên du lịch văn hóa ................................................. 31
3.2 Các loại tài nguyên du lịch văn hóa ......................................................... 32
PHẦN HAI: ĐỊA LÝ DU LỊCH VIỆT NAM .................................................. 47
CHƯƠNG 4. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM
............................................................................................................................. 47
4.1 Đặc điểm phát triển của ngành du lịch ...................................................... 47
4.2 Quy hoạch không gian du lịch .................................................................. 52
iii
Địa lý du lịch
4.3 Khách du lịch ........................................................................................... 53
4.4 Cơ sở lưu trú du lịch .................................................................................. 57
4.5 Thu nhập du lịch ........................................................................................ 59
CHƯƠNG 5. CÁC VÙNG DU LỊCH ................................................................ 60
5.1 Một số khái niệm liên quan với tổ chức lãnh thổ du lịch ............................. 60
5.2 Vùng du lịch Trung du miền núi Bắc bộ................................................... 61
5.3 Vùng du lịch Đồng bằng Sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc ................ 74
5.4 Vùng du lịch Bắc Trung Bộ. ..................................................................... 92
5.5 Vùng du lịch duyên hải Nam Trung Bộ .................................................. 110
5.6 Vùng du lịch Tây Nguyên ................................................................... 12727
5.7 Vùng du lịch Đông Nam Bộ.................................................................... 133
5.8 Vùng du lịch Tây Nam Bộ ................................................................. 14040
PHẦN BA: ĐỊA LÍ DU LỊCH THẾ GIỚI ................................................... 1499
CHƯƠNG 6. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ ĐỊA LÍ CỦA DU
LỊCH THẾ GIỚI TRONG THỜI KÌ HIỆN ĐẠI .............................................. 149
6.1 Tình hình phát triển du lịch thế giới...................................................... 1499
6.2 Sự phân bố địa lí du lịch của các khu vực thế giới ............................... 1522
6.3 Du lịch khu vực Đông Nam Á .............................................................. 1555
6.4 Một số vấn đề của du lịch thế giới ........................................................ 1566
CHƯƠNG 7. ĐỊA LÍ DU LỊCH MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI ........... 1599
7.1 Vương quốc Liên hiệp Anh ................................................................... 1599
7.2 Cộng hoà Pháp ........................................................................................ 168
7.3 Cộng hoà Italia ..................................................................................... 1755
7.4 Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ........................................................................ 185
7.5 Liên bang Australia ............................................................................... 1933
7.6 Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ............................................................. 1977
7.7 Vương quốc Thái Lan ........................................................................... 2099
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 2144
PHỤ LỤC
iv
Địa lý du lịch
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Diễn giải
ATK
An tồn khu
ĐBSH
Đồng bằng sơng Hồng
ĐBSCL
Đồng bằng sơng Cửu Long
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
SCN
Sau công nguyên
TP
Thành phố
v
Địa lý du lịch
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1.
Hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam
28
Bảng 3.1.
Danh mục các di sản thế giới của Việt Nam
33
Bảng 3.2.
Năm du lịch quốc gia Việt Nam
45
Bảng 4.1.
Khách du lịch từ năm 1991 đến 2015
54
Bảng 4.2.
10 thị trường khách du lịch quốc tế hàng đầu của Việt Nam
56
Bảng 4.3.
Cơ cấu khách du lịch theo phương tiện và mục đích du lịch
57
Bảng 4.4.
Cơ sở lưu trú du lịch giai đoạn 2000 - 2015
58
Bảng 4.5.
Số lượng cơ sở lưu trú du lịch từ 3-5 sao
58
Bảng 4.6.
Tổng thu từ khách du lịch giai đoạn 2000 - 2015
59
Bảng 6.1.
Khách du lịch và thu nhập du lịch của thế giới
149
Bảng 6.2.
Các quốc gia hàng đầu về đón khách du lịch quốc tế
149
Bảng 6.3.
Các quốc gia hàng đầu về doanh thu du lịch
150
Bảng 6.4.
Khách du lịch quốc tế của các khu vực
153
Bảng 6.5.
Thị trường gửi kháchdu lịch quốc tế của các khu vực
153
Bảng 6.6.
Thu nhập du lịch của các khu vực
153
Bảng 6.7.
Chi tiêu du lịch của thế giới và các khu vực năm 2000
153
Bảng 6.8.
Các quốc gia hàng đầu về chi tiêu du lịch năm 2000
154
Bảng 6.9.
Các quốc gia hàng đầu về chi tiêu du lịch năm 2014
154
Bảng 6.10. Khách du lịch quốc tế và thu nhập du lịch của các nước 155
Đông Nam Á
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1:
Khách du lịch quốc tế và nội địa
55
Biểu đồ 4.2:
Cơ cấu số khách theo mục đích du lịch
57
vi
Địa lý du lịch
GIÁO TRÌNH MƠN HỌC
Tên mơn học:
ĐỊA LÝ DU LỊCH
Vị trí, tính chất của mơn học:
- Vị trí: Là mơn học bắt buộc thuộc nhóm kiến thức cơ sở ngành trong
chương trình đào tạo hệ cao đẳng, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội.
- Tính chất: Là mơn học lý thuyết kết hợp với thực hành, thảo luận, bài
tập, đánh giá kết quả bằng hình thức thi hết môn.
Mục tiêu của môn học:
- Về kiến thức: Người học trình bày được các kiến thức cơ bản về các
khái niệm và kiến thức cơ bản về tài nguyên du lịch; Phân loại và đánh giá tài
nguyên du lịch, phân bố các loại tài nguyên du lịch chủ yếu ở nước ta và thế
giới; Hiểu và đánh giá hiện trạng, xu hướng phát triển của ngành du lịch Việt
Nam trên các lĩnh vực: chiến lược, qui hoạch phát triển, khách và thị trường
khách...Phân tích được đặc điểm chung, tài nguyên và sản phẩm du lịch của các
vùng du lịch Việt Nam; Biết được khái quát tình hình phát triển du lịch thế giới
và địa lí du lịch một số nước trong thời kỳ hiện đại.
- Về kỹ năng: Người học được rèn luyện phương pháp học, tự học và
nghiên cứu; Thành thạo phương pháp sử dụng bản đồ du lịch, vẽ và phân tích
các loại biểu đồ trong nội dung môn học; Rèn kỹ năng liên hệ thực tiễn.
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Người học áp dụng các kiến thức đã
học vào thực tế; Có nhận thức đúng đắn về vấn đề khai thác tài nguyên và phát
triển du lịch.
vii
Địa lý du lịch
BÀI MỞ ĐẦU
ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CỦA ĐỊA LÝ DU LỊCH
0.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỊA LÝ DU LỊCH
Địa lý du lịch là một ngành khoa học tương đối non trẻ. Vào đầu thế kỷ
XX xuất hiện một số cơng trình nghiên cứu về địa lý nghỉ ngơi. Trong các cơng
trình mơ tả địa lý các nước, các vùng có chứa đựng một lượng thơng tin đáng kể
về du lịch. Q trình hình thành Địa lý du lịch như một ngành khoa học bắt đầu
vào nửa sau của thập kỷ 30, thế kỷ XX.
Từ khi ra đời đến nay, đối tượng nghiên cứu của Địa lý du lịch có nhiều
thay đổi với những quan niệm khác nhau và ngày càng rõ nét và cụ thể.
Từ những quan niệm không đầy đủ, cho rằng đối tượng của Địa lý du lịch
là chỉ nghiên cứu mối quan hệ giữa tài nguyên thiên nhiên của môi trường địa lý
với những kiểu nhất định của cảnh quan tự nhiên với tình hình và khả năng sử
dụng tài nguyên ấy trong hiện tại và tương lai (M. Milesca, 1963); hoặc Địa lý
du lịch nghiên cứu những tiền đề tổng hợp cho việc hình thành các luồng du lịch
và những khác biệt của chúng theo lãnh thổ (C. Petrescu, 1973); dần dần đối
tượng nghiên cứu của Địa lý du lịch đã hoàn thiện hơn. Địa lý du lịch tập trung
chủ yếu vào nghiên cứu tài nguyên du lịch và các hoạt động kinh tế gắn với du
lịch (Buchơvarôp, 1975,1979).
Trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật, các quan điểm thấm sâu vào
nhiều ngành khoa học và dĩ nhiên cả địa lý học. Có thể hiểu đối tượng nghiên
cứu của Địa lý du lịch như sau:
Địa lý du lịch nghiên cứu hệ thống lãnh thổ du lịch, phát hiện qui luật
hình thành và phát triển của nó thuộc mọi kiểu, mọi cấp; dự báo và nêu lên các
biện pháp để hệ thống đó hoạt động một cách tối ưu.
Hệ thống lãnh thổ du lịch - đối tượng nghiên cứu của Địa lý du lịch, là
một hệ thống gồm nhiều thành phần có mối quan hệ qua lại với nhau rất chặt
chẽ. Theo I.I. Pirôgiơnic (1985), hệ thống lãnh thổ du lịch là hệ thống địa lý xã
hội gồm 5 thành phần: khách du lịch; tài nguyên du lịch; cơ sở hạ tầng và cơ sở
kỹ thuật phục vụ du lịch; cán bộ, nhân viên phục vụ; và cơ quan điều khiển.
- Phân hệ khách du lịch: là phân hệ trung tâm, quyết định những yêu cầu
đối với các thành phần khác của hệ thống phụ thuộc vào đặc điểm (xã hội, nhân
khẩu, dân tộc…) của khách du lịch. Phân hệ này được đặc trưng bởi cấu trúc,
lượng nhu cầu, tính mùa, tính lựa chọn và tính đa dạng của các luồng khách du
lịch.
1
Địa lý du lịch
- Phân hệ tổng thể tự nhiên, lịch sử - văn hóa tham gia hệ thống này với tư
cách là tài nguyên và điều kiện để thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch. Phân hệ
này được đặc trưng bởi độ tin cậy, sức chứa, tính ổn định và tính hấp dẫn.
- Phân hệ cơ sở vật chất kĩ thuật đảm bảo cuộc sống bình thường của
khách du lịch (ăn, ở, đi lại…) những nhu cầu giải trí đặc biệt (chữa bệnh, nghiên
cứu khoa học…). Tồn bộ cơ sở vật chất kĩ thuật là một trong những tiền đề cho
sự hoạt động của toàn hệ thống.
- Phân hệ cán bộ phục vụ haòn thành chức năng phục vụ khách và đảm
bảo cho toàn hệ thống hoạt động một cách bình thường. Đặc trưng của phân hệ
này là số lượng, trình độ chun mơn - nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ nhân
viên và mức độ đảm bảo lực lượng lao động.
- Phân hệ điều khiển có nhiệm vụ giữ cho toàn hệ thống và từng phân hệ
hoạt động tối ưu.
0.2. NHIỆM VỤ CỦA ĐỊA LÝ VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH
1. Nghiên cứu tổng hợp mọi loại tài nguyên du lịch, sự kết hợp của chúng
theo lãnh thổ và xác định phương hướng cơ bản của việc khai thác các loại tài
nguyên ấy.
2. Nghiên cứu nhu cầu du lịch phụ thuộc vào đặc điểm xã hội của dân cư
và đưa ra các chỉ tiêu phân hoá theo lãnh thổ về cấu trúc cơ sở hạ tầng và cơ sở
vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch. Căn cứ vào nhu cầu du lịch và nguồn tài
nguyên vốn có của lãnh thổ, tính tốn để xây dựng cơ cấu hạ tầng và cơ sở vật
chất kỹ thuật phục vụ du lịch thích hợp.
3. Xác định cơ cấu lãnh thổ tối ưu của vùng du lịch, bao gồm:
- Cấu trúc sản xuất - kỹ thuật của hệ thống lãnh thổ du lịch phù hợp với
nhu cầu du lịch và tài nguyên.
- Các mối liên hệ giữa hệ thống lãnh thổ du lịch với các hệ thống khác.
- Hệ thống tổ chức điều khiển được xây dựng trên cơ sở phân vùng du
lịch, phản ánh những khác biệt theo lãnh thổ về nhu cầu du lịch, tài nguyên và
phân công lao động trong hệ thống lãnh thổ du lịch.
0.3. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống
Hệ thống lãnh thổ du lịch như là một thành tạo tồn vẹn lãnh thổ có sự lựa
chọn các chức năng xã hội nhất định. Một trong những chức năng quan trọng là
phục hồi sức khoẻ, thể lực và tinh thần của con người. Hệ thống lãnh thổ du lịch
2
Địa lý du lịch
được tạo thành bởi nhiều phân hệ khác nhau: khách du lịch; tài nguyên du lịch;
cơ sở hạ tầng và cơ sở kỹ thuật phục vụ du lịch; cán bộ, nhân viên phục vụ; và
cơ quan điều khiển.
Như vậy, hệ thống lãnh thổ du lịch có đặc điểm tổng hợp với tính đa dạng
và phức tạp của các mối quan hệ, của các chức năng xã hội, điều kiện và yếu tố
phát triển, của các hình thức tổ chức theo lãnh thổ. Việc sử dụng phương pháp
tiếp cận hệ thống cho phép tìm kiếm và nêu lên các mơ hình của đối tượng
nghiên cứu, thu thập và phân tích thơng tin ban đầu, đưa ra các chỉ tiêu thích
hợp, xác định cấu trúc tối ưu của hệ thống lãnh thổ du lịch. Phân tích hệ thống
cịn nhằm mục đích nghiên cứu cơ chế hoạt động bên trong của hệ thống lãnh
thổ du lịch trong quá trình tác động qua lại giữa các thành phần, cũng như cả
hoạt động bên ngồi và tác động qua lại của nó với môi trường xung quanh.
2. Phương pháp nghiên cứu thực địa
Là một phương pháp của địa lý học, được sử dụng rộng rãi trong địa lý du
lịch để tích luỹ tài liệu thực tế về sự hình thành, phát triển và đặc điểm của tổ
chức lãnh thổ du lịch. Trong nhiều trường hợp nó là phương pháp duy nhất để
thu được lượng thông tin đáng tin cậy và xây dựng ngân hàng tư liệu cho các
phương pháp phân tích khác.
3. Phương pháp bản đồ
Phương pháp này cũng là phương pháp truyền thống của địa lý học, gắn
liền với nghiên cứu địa lý du lịch. Bản đồ không chỉ phản ánh những đặc điểm
không gian về nguồn tài nguyên, cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch mà còn
là cơ sở để nhận được những thông tin mới và vạch ra tính qui luật hoạt động
của tồn bộ hệ thống. Tính hệ thống của đối tượng mà địa lý du lịch nghiên cứu
địi hỏi phải sử dụng các mơ hình bản đồ, phân tích liên hợp các xêri bản đồ.
4. Phương pháp phân tích tốn học
Phương pháp này đem lại hiệu quả rõ rệt cho việc nghiên cứu hệ thống
lãnh thổ du lịch trong điều kiện hiện nay. Với lượng thơng tin rất lớn nhờ máy
tính điện tử đã rút ngắn thời gian xử lý tư liệu, nhất là với những tư liệu phức
tạp. Phương pháp thống kê mẫu dùng để nghiên cứu khả năng chọn lọc trong du
lịch. Phương pháp phân tích tương quan nhằm xác định tổng hợp các nhân tố và
ảnh hưởng của chúng đến việc hình thành hệ thống lãnh thổ du lịch.
5. Phương pháp xã hội học
3
Địa lý du lịch
Có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu địa lý du lịch vì tính chất xã hội của
đối tượng nghiên cứu. Phổ biến nhất là phương pháp hỏi ý kiến trực tiếp hoặc gián
tiếp qua phiếu điều tra, phương pháp quan sát cá nhân, nghiên cứu tài liệu.
6. Phương pháp so sánh
Là tập hợp các phương pháp tính tốn nhằm phân tích, lập kế hoạch, dự
báo sự phát triển của hệ thống lãnh thổ du lịch có chú ý tới khối lượng, cơ cấu
nhu cầu, tài nguyên và sức chứa của cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch.
Phương pháp này cũng có thể dùng để tính tốn mức thu nhập của dân cư và chi
phí của họ cho hoạt động du lịch, đảm bảo nguồn lao động, xác định qui mô cần
thiết của các lãnh thổ du lịch, tối ưu hoá các luồng du lịch giữa các vùng du lịch.
4
Địa lý du lịch
PHẦN MỘT: TÀI NGUYÊN DU LỊCH
CHƯƠNG 1
TÀI NGUYÊN DU LỊCH
Mục tiêu:
Sau khi học xong chương này, người học có khả năng:
Nêu được các khái niệm cơ bản về Tài nguyên du lịch.
Nêu được ý nghĩa, vai trò của tài nguyên du lịch.
Xác định và phân tích được đặc điểm của tài nguyên du lịch.
Trình bày được các nội dung về quan niệm và nguyên tắc phát triển
du lịch bền vững.
- Liên hệ thực tiễn đặc điểm tài nguyên du lịch của Việt Nam
-
Nội dung:
Chương này đề cập đến những vấn đề sau:
- Khái niệm tài nguyên du lịch.
- Ý nghĩa, vai trò và đặc điểm của tài nguyên du lịch.
- Đặc điểm tài nguyên du lịch
- Phát triển du lịch bền vững.
1.1 Quan niệm về Tài nguyên du lịch
1.1.1 Quan niệm về tài nguyên
Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn năng lượng,
nguyên liệu, các thơng tin có trên trái đất và trong khơng gian vũ trụ có liên quan mà
con người có thể sử dụng để phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình.
Từ sự hình thành, tài nguyên được phân thành hai loại: Tài nguyên thiên
nhiên gắn liền với các nhân tố tự nhiên và tài nguyên văn hóa gắn liền với các
nhân tố con người và xã hội.
Dựa vào khả năng tái tạo, tài nguyên được phân thành tài nguyên tái tạo
được và tài nguyên không tái tạo được:
Tài nguyên tái tạo được là những tài nguyên có thể duy trì hoặc tự bổ
sung một cách liên tục nếu được khai thác và quản lý tốt như: năng lượng mặt
trời, gió, nước, sinh vật, đất đai...
5
Địa lý du lịch
Tài nguyên không tái tạo được tồn tại một cách hữu hạn, sẽ bị mất đi hoặc
hoàn tồn bị biến đổi, khơng cịn giữ được tính ban đầu sau quá trình khai thác
và sử dụng. Phần lớn các nhiên liệu, khống sản, các thơng tin di truyền đã bị
biến đổi ... là các tài nguyên không tái tạo được.
1.1.2 Khái niệm tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch
sử - văn hóa, cơng trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân
văn khác có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản
để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch. (Luật
du lịch, 2005)
Như vậy, tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói
chung, bao gồm hai dạng là tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch
nhân văn. Khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn với khái niệm du lịch, tài
nguyên du lịch được xem như tiền đề để phát triển du lịch. Thực tế cho thấy, tài
nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu
quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu.
Tài nguyên du lịch bao gồm các đối tượng, hiện tượng vốn có trong mơi
trường tự nhiên hoặc do con người tạo nên trong quá trình phát triển lịch sử, văn
hố, kinh tế, xã hội. Chúng ln ln tồn tại, gắn liền với môi trường tự nhiên và
môi trường xã hội đặc thù của mỗi địa phương, mỗi quốc gia, tạo nên những nét
đặc sắc cho mỗi địa phương, mỗi quốc gia đó. Khi các yếu tố này được phát
hiện, được khai thác và được sử dụng cho mục đích phát triển du lịch thì chúng
trở thành tài nguyên du lịch. Ví dụ như rừng nguyên sinh Cúc Phương là vườn
quốc gia đầu tiên của nước ta (năm 1966). Cũng từ thời điểm đó, khi tính đa
dạng sinh học của vườn quốc gia được khai thác phục vụ cho mục đích du lịch
thì khu rừng ngun sinh này đã trở thành một điểm tài nguyên du lịch đặc sắc,
một điểm du lịch có sức hấp dẫn cao đối với khách du lịch trong nước và quốc
tế. Năm 1993, động Thiên Cung - một động đá vôi nguyên sơ, kỳ ảo ở vịnh Hạ
Long - đã được phát hiện, khai thác, sử dụng và trở thành một điểm du lịch mới
hấp dẫn, làm tăng thêm giá trị của tài nguyên du lịch của khu du lịch nổi tiếng
này…
Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch đang khai thác và tài nguyên
du lịch chưa khai thác.
Mức độ khai thác tiềm năng tài nguyên du lịch phụ thuộc vào:
6
Địa lý du lịch
- Khả năng nghiên cứu phát hiện và đánh giá các tiềm năng tài nguyên
vốn có và còn tiềm ẩn.
- Yêu cầu phát triển các sản phẩm du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách
du lịch. Các nhu cầu này ngày càng lớn và đa dạng, phụ thuộc vào mức sống và
trình độ dân trí. Ví dụ: vào những năm 60, du lịch biển ở nước ta chủ yếu là tắm và
nghỉ dưỡng thì ngày nay các sản phẩm du lịch biển đã đa dạng hơn, bao gồm cả bơi
lội, lướt ván, chèo thuyền, lặn tham quan các hệ sinh thái biển...
- Trình độ phát triển công nghệ khoa học kỹ thuật đã tạo ra các điều kiện,
phương tiện để khai thác các tiềm năng tài ngun. Ví dụ, nhờ có các tàu ngầm
chun dụng khách du lịch có thể tham quan khám phá những điều kỳ diệu của
đại dương một cách dễ dàng...
Như vậy, cũng giống như các dạng tài nguyên khác, tài nguyên du lịch là
một phạm trù lịch sử với xu hướng ngày càng được mở rộng. Sự mở rộng này
tuỳ thuộc ít nhiều vào yêu cầu phát triển du lịch, vào những tiến bộ khoa học kỹ
thuật, vào sự đầu tư, vào các sáng kiến và sở thích của con người.
Bên cạnh những tài nguyên đã và đang được khai thác, nhiều dạng tài
nguyên còn đang tồn tại dưới dạng tiềm năng do:
- Chưa được nghiên cứu, điều tra và đánh giá đầy đủ.
- Chưa có nhu cầu khai thác.
- Tính đặc sắc của tài nguyên thấp chưa đủ tiêu chuẩn cần thiết để tiến
hành khai thác, hình thành các sản phẩm du lịch.
- Các điều kiện tiếp cận hoặc phương tiện khai thác cịn hạn chế, do đó
chưa có khả năng hoặc gặp nhiều khó khăn trong khai thác.
- Chưa đủ khả năng đầu tư để khai thác.
Trong thực tế, ở nước ta, nhiều di tích lịch sử, văn hố, di tích cách mạng
mặc dù đã được xếp hạng song chưa được khai thác để phục vụ du lịch. Nhiều
khu rừng nguyên sinh với tính đa dạng sinh học cao, nhiều bãi biển đẹp ở miền
Trung, nhiều lễ hội hấp dẫn v.v... vẫn còn tồn tại ở dạng tiềm năng du lịch do
chưa có đủ điều kiện khai thác để đưa vào sử dụng.
Ngược lại, tài nguyên du lịch cũng có thể bị biến dạng hoặc mất đi khơng
cịn có khả năng phục vụ du lịch do nhiều nguyên nhân khác nhau như thiên tai,
chiến tranh hoặc do ý thức khai thác, sử dụng của con người. Đặc biệt, sự ô nhiễm
mơi trường, biến đổi khí hậu và sự khai thác tài nguyên quá mức đang diễn ra rất
phức tạp đã và đang có tác động xấu tới tài nguyên và mơi trường nói chung.
7
Địa lý du lịch
1.2
Ý nghĩa, vai trò của Tài nguyên du lịch
1.2.1 Ý nghĩa
Tài nguyên du lịch là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển
du lịch. Thật khó hình dung, nếu khơng có tài ngun du lịch hoặc tài nguyên du
lịch quá nghèo nàn mà hoạt động du lịch lại có thể phát triển mạnh mẽ.
1.2.2 Vai trò
Vai trò của tài nguyên du lịch đối với các hoạt động du lịch được thể hiện
ở các mặt sau:
- Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để tạo thành các sản phẩm du lịch.
Sản phẩm du lịch được tạo nên bởi nhiều yếu tố, song trước hết phải kể
đến tài nguyên du lịch. Để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của khách du lịch, các sản
phẩm du lịch không thể đơn điệu, nghèo nàn, kém hấp dẫn mà phải phong phú,
đa dạng, đặc sắc và mới mẻ.
Chính sự phong phú của tài nguyên du lịch đã tạo nên sự đa dạng của sản
phẩm du lịch. Tài nguyên du lịch càng đặc sắc độc đáo thì giá trị của sản phẩm
du lịch và sự hấp dẫn khách du lịch càng tăng. Có thể nói chất lượng của tài
nguyên du lịch là yếu tố cơ bản tạo nên chất lượng của sản phẩm du lịch và hiệu
quả của hoạt động du lịch.
- Tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch.
Trong q trình phát triển du lịch để khơng ngừng đáp ứng các yêu cầu và
thoả mãn các mục đích của khách du lịch, các loại hình du lịch mới cũng khơng
ngừng xuất hiện và phát triển.
Các loại hình du lịch ra đời đều phải dựa trên cơ sở của tài nguyên du
lịch. Chính sự xuất hiện của các loại hình du lịch đã làm cho nhiều yếu tố của
điều kiện tự nhiên và xã hội trở thành tài ngun du lịch. Khơng có những hang
động ngầm bí ẩn, những đỉnh núi cao hiểm trở, những cánh rừng nguyên sinh
âm u, hoang vắng thì khơng thể xuất hiện loại hình du lịch thám hiểm. Khơng có
những rạn san hơ và thế giới sinh vật thuỷ sinh muôn màu muôn vẻ ngập chìm
dưới làn nước trong xanh thì khơng thể có loại hình du lịch ngầm dưới biển.
- Tài ngun du lịch là một bộ phận cấu thành quan trọng của tổ chức lãnh
thổ du lịch.
Trong phạm vi một lãnh thổ cụ thể, mọi hoạt động du lịch đều phản ánh
một tổ chức không gian du lịch nhất định.
8
Địa lý du lịch
Hệ thống lãnh thổ du lịch thể hiện mối quan hệ về mặt không gian của các
yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau cấu tạo nên nó. Các yếu tố đó là khách du
lịch, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, đội ngũ
cán bộ công nhân viên và tổ chức điều hành, quản lý du lịch.
Hệ thống lãnh thổ du lịch có nhiều cấp phân vị khác nhau, từ điểm du lịch
tới trung tâm du lịch và vùng du lịch. Dù ở cấp phân vị nào thì tài ngun du
lịch cũng đóng vai trị quan trọng trong việc tổ chức lãnh thổ du lịch, cũng là
yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp
dẫn du lịch, tạo điều kiện để khai thác một cách có hiệu quả nhất các tiềm năng
của nó.
Do đặc điểm phân bố của tài nguyên du lịch, trong tổ chức lãnh thổ du
lịch đã hình thành nên các điểm du lịch, các khu du lịch, các trung tâm du lịch
và các tuyến du lịch. Từ các tuyến điểm du lịch này, trong quá trình khai thác sẽ
lựa chọn, sắp xếp thành các tour du lịch tức là các sản phẩm du lịch cụ thể cung
cấp cho khách du lịch. Tổ chức lãnh thổ du lịch hợp lý sẽ góp phần tạo nên hiệu
quả cao trong việc khai thác các tài nguyên du lịch nói riêng cũng như trong mọi
hoạt động du lịch nói chung.
1.3
Đặc điểm của Tài nguyên du lịch
1.3.1 Tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng
Không giống với các loại tài nguyên khác, tài nguyên du lịch rất phong
phú và đa dạng. Đặc điểm này là cơ sở để tạo nên sự phong phú của sản phẩm
du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu đa dạng của khách du lịch. Ví dụ, đối với loại
hình tham quan, nghiên cứu để phục vụ cho nhu cầu nâng cao nhận thức của
khách du lịch thì tài ngun du lịch có thể là các lễ hội, tập quán sinh hoạt của
vùng quê, các di tích lịch sử - văn hố, các bản làng dân tộc miền núi, các viện
bảo tàng, các thành phố, các hồ nước, thác nước, núi non, hang động hay những
cánh rừng ngun sinh có tính đa dạng sinh học cao. Đối với các loại hình du
lịch nghỉ mát, chữa bệnh nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ thì tài nguyên du
lịch cần khai thác các bãi biển, các vùng núi cao có khí hậu trong lành mát mẻ,
cảnh đẹp, các vùng hồ, các nguồn nước khoáng,...
Tài nguyên du lịch bao gồm các đối tượng, hiện tượng có trong mơi
trường tự nhiên và mơi trường văn hố - xã hội. Sự đa dạng của tài nguyên du
lịch được chia thành hai nhóm là tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du
lịch văn hóa.
9
Địa lý du lịch
1.3.2 Tài ngun du lịch có tính hấp dẫn
Tài nguyên du lịch vừa có giá trị hữu hình và giá trị vơ hình. Chính giá trị
vơ hình tạo nên tính hấp dẫn và là đặc điểm đặc trưng nhất của tài nguyên du
lịch. Trong thực tế, tài nguyên du lịch là yếu tố vật chất tham gia trực tiếp vào
việc hình thành các sản phẩm du lịch. Ví dụ, tắm biển là sản phẩm du lịch điển
hình, mang lại nhiều khoái cảm và phục hồi sức khoẻ cho du khách. Loại hình
du lịch này được hình thành trên cơ sở sự tồn tại hữu hình của các bãi biển, nước
biển với những đặc điểm tự nhiên cụ thể. Tuy nhiên, chỉ hiểu ở khía cạnh vật
chất này của tài ngun du lịch thì chưa đủ, bởi khơng phải bãi biển nào cũng
được khai thác phát triển thành điểm du lịch. Nguyên nhân của thực trạng trên,
ngoài các yếu tố hạn chế của các điều kiện khai thác, quan trọng hơn cả là do sự
hạn chế về “giá trị vơ hình” mà tài ngun có thể mang lại. Giá trị vơ hình của
tài ngun du lịch được khách du lịch cảm nhận thông qua cảm xúc tâm lý, làm
thoả mãn nhu cầu tinh thần (thẩm mỹ, văn hoá) - một nhu cầu đặc biệt của khách
du lịch. Giá trị vơ hình của tài ngun du lịch nhiều khi cịn được thể hiện thơng
qua những thơng tin (nghe kể lại, qua báo chí, truyền hình, quảng cáo,...) qua đó
khách du lịch cảm nhận, ngưỡng mộ và mong muốn đến tận nơi để thưởng thức,
chiêm ngưỡng. Ở Trung Quốc có câu “bất đáo Trường Thành phi hảo hán” để
nói về Vạn Lý Trường Thành hay Ngũ nhạc linh sơn…Ở Việt Nam có câu
“Nam Thiên đệ nhất động” ca ngợi vẻ đẹp động Hương Tích, hay những cái tên
đầy mê hoặc như động Thiên Đường, suối Tiên, đảo Ngọc... Bên cạnh đó, việc
cơng nhận các di sản, kỳ quan thế giới đã làm tăng thêm giá trị vơ hình và hấp
dẫn của tài nguyên du lịch lên nhiều lần.
Giá trị vô hình này dường như khơng hạn chế mà ngày càng tăng do khả
năng cảm thụ, hiểu biết của khách du lịch ngày càng cao hơn, ảnh hưởng rộng
rãi hơn làm tăng thêm giá trị của tài nguyên du lịch.
Đây có thể được xem là một đặc điểm quan trọng nhất của tài nguyên du
lịch, nó tạo ra sự khác biệt với những tài nguyên khác. Nhờ đó mà khách du lịch
thực hiện chuyến đi để được cảm thụ và tận hưởng các giá trị của tài nguyên du
lịch. Nhiều tài nguyên du lịch đặc sắc, độc đáo và nổi tiếng có sức hấp dẫn lớn
đối với khách du lịch như Kim Tự Tháp ở Ai Cập, Cố Cung ở Trung Quốc,
Tháp Eiffel của Paris, dãy núi Alps ở Nam Âu, các khu bảo tồn thiên nhiên ở
Châu Phi, vùng biển Caribe ở Trung Mỹ,... là những địa danh du lịch lý tưởng,
hàng năm thu hút hàng chục triệu khách du lịch tới chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nó.
Ngày nay, những tác phẩm tuyệt tác của thiên nhiên và văn hoá ấy được
UNESCO công nhận là di sản thế giới.
10
Địa lý du lịch
Ở Việt Nam có hàng chục di sản được UNESCO công nhận là di sản thiên
nhiên và di sản văn hoá thế giới. Như vịnh Hạ Long, cố đô Huế, Phong Nha - Kẻ
Bàng,... là những tài nguyên du lịch đặc sắc, tạo nên vẻ đẹp Việt Nam và càng
trở nên hấp dẫn hơn đối với khách du lịch.
1.3.3.Tài ngun du lịch có tính mùa
Trong số các tài nguyên du lịch, có những tài nguyên có khả năng khai
thác quanh năm, lại có tài nguyên mà việc khai thác ít nhiều phụ thuộc vào mùa
vụ. Sự phụ thuộc này chủ yếu dựa theo qui luật diễn biến của khí hậu.
Đối với các tài nguyên du lịch biển, thời gian khai thác thích hợp nhất là
vào thời kỳ có khí hậu nóng bức trong năm. Điều này giải thích vì sao du lịch
biển thường hoạt động vào mùa hè ở phía Bắc nước ta, cịn từ Đà Nẵng trở vào,
nơi khơng có mùa đơng lạnh, hoạt động du lịch biển có thể tổ chức quanh năm.
Các lễ hội cũng được ấn định vào các thời kỳ khác nhau trong năm, vì thế các
hoạt động du lịch lệ thuộc vào thời gian diễn ra các lễ hội đó. Nói chung, mùa
Xuân là mùa của lễ hội với các lễ hội nổi tiếng như hội Đền Hùng, hội Chùa
Hương, hội Gióng, hội Lim...
Về cơ bản, tính mùa của các tài nguyên du lịch tự nhiên chịu tác động trực
tiếp và tuân theo mùa của khí hậu. Cáctài nguyên du lịch nhân văn lại chịu ảnh
hưởng gián tiếp của mùa khí hậu, thời tiết nên cũng có tính mùa nhất định.
Vào mùa khơ, ít mưa, thời tiết mát mẻ là thời kỳ thuận lợi nhất cho nhiều
loại hình du lịch hoạt động.
Tài nguyên du lịch có thời gian khai thác khác nhau đã quyết định tính
mùa vụ của hoạt động du lịch. Tính mùa này đã tạo ra sự mất cân đối về nguồn
khách du lịch trong năm. Vậy nên, các địa phương, các nhà quản lý, điều hành
và tổ chức các hoạt động kinh doanh du lịch cũng như khách du lịch đều phải
quan tâm đến tính chất này để có các biện pháp chủ động điều tiết thích hợp
nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.
1.3.4 Tài nguyên du lịch thường dễ khai thác
Hầu hết các tài nguyên du lịch được khai thác để phục vụ du lịch là các tài
nguyên vốn đã có sẵn trong tự nhiên do tạo hoá sinh ra hoặc do con người tạo
dựng nên và thường dễ khai thác. Trên thực tế, một khu rừng nguyên sinh, một
thác nước, một bãi biển, một hồ nước đều có thể trở thành một điểm du lịch, đây
là tài ngun vơ giá. Con người khó có thể tạo ra các tài ngun du lịch bởi vì
vơ cùng tốn kém, cho dù có mơ phỏng được (cơng viên giải trí) thì cũng khơng
11
Địa lý du lịch
lột tả hết sức sáng tạo phi thường của tạo hố và sự mơ phỏng đó sẽ giảm đi rất
nhiều về giá trị và độ hấp dẫn.
Với tất cả những gì sẵn có của tài ngun du lịch, chỉ cần đầu tư không
lớn để tôn tạo nhằm tôn thêm vẻ đẹp và giá trị của tài nguyên, vừa tạo ra những
điều kiện thuận lợi cho việc khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên này.
Trong khi, khai thác khống sản, đất đai, nguồn nước…ln địi hỏi đầu tư lớn
về vốn, phức tạp về kỹ thuật.
Nếu chỉ đơn thuần dưới góc độ kinh tế thì hiệu quả thu được từ việc khai
thác các tài nguyên du lịch là rất to lớn, có khi trội hơn rất nhiều so với khai thác
các tài nguyên khác.
1.3.5 Tài nguyên du lịch được khai thác và sử dụng tại chỗ
Đối với đa số tài nguyên, sau khi khai thác có thể vận chuyển đến nơi chế
biến thành các sản phẩm rồi lại được đưa đến nơi tiêu thụ. Nhưng tài nguyên du
lịch thì phải khai thác và tạo ra sản phẩm du lịch tại chỗ, khách du lịch phải đến
tận nơi để thưởng thức.
Chính vì khách du lịch phải đến tận điểm du lịch, nơi có các tài nguyên du
lịch để thưởng thức các sản phẩm du lịch, nên muốn khai thác các tài nguyên
này điều đầu tiên cần quan tâm là phải chuẩn bị tất cả các cơ sở hạ tầng, các cơ
sở vật chất kỹ thuật du lịch và vận chuyển khách du lịch. Thực tế cho thấy
những điểm du lịch có vị trí thuận tiện về giao thơng, có cơ sở dịch vụ du lịch
tốt thì sẽ thu hút được nhiều khách du lịch và đạt hiệu quả cao. Ngược lại, có
những điểm du lịch có nguồn tài nguyên du lịch đặc sắc như bãi biển Trà Cổ
(Quảng Ninh), Hồ Ba Bể (Bắc Kạn) nhưng vì khoảng cách xa xôi, cách trở đã
ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng thu hút khách. Nếu được đầu tư tốt hơn về cơ
sở hạ tầng và phương tiện vận chuyển khách, chắc chắn chẳng bao lâu nữa các
điểm du lịch này sẽ trở nên sầm uất.
1.3.6 Tài nguyên du lịch có thể sử dụng được nhiều lần
Các tài nguyên du lịch được xếp vào loại tài nguyên có khả năng tái tạo
và sử dụng lâu dài. Vấn đề chính là phải nắm được quy luật tự nhiên, lường
trước được sự thử thách khắc nghiệt của thời gian và những biến động, đổi thay
do con người gây nên. Từ đó có định hướng lâu dài và biện pháp cụ thể để khai
thác hợp lý các nguồn tài nguyên du lịch; không ngừng bảo vệ, tơn tạo và hồn
thiện tài ngun nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch lâu dài. Cần lưu ý, khi
tác động và khai thác các tài nguyên du lịch tự nhiên nhất thiết phải tuân theo
qui luật của tự nhiên và phải tôn trọng giá trị văn hoá, lịch sử đối với tài nguyên
12
Địa lý du lịch
du lịch nhân văn. Có như vậy mới bảo tồn và phát huy được các giá trị tự nhiên
và văn hố của tài ngun du lịch, góp phần du lịch phát triển bền vững.
Đây cũng là điều sống còn của mỗi điểm du lịch, mỗi khu du lịch nhằm
thực hiện phương hướng chiến lược phát triển du lịch bền vững. Chỉ có phát
triển du lịch bền vững mới đảm bảo nguồn tài nguyên du lịch ít bị tổn hại, làm
cho mỗi điểm du lịch, mỗi khu du lịch ngày càng trở nên hấp dẫn hơn, không
những thoả mãn nhu cầu phát triển du lịch hiện tại mà còn dành để phát triển du
lịch trong tương lai. Các chương trình “Du lịch xanh”, “Du lịch có trách
nhiệm”…là để bảo vệ nguồn tài nguyên du lịch bền vững.
1.4 Phát triển du lịch bền vững trong mối quan hệ với tài nguyên và môi trường.
1.4.1 Quan niệm về phát triển du lịch bền vững
Sự phát triển bền vững về kinh tế - xã hội nói chung và của bất cứ ngành
kinh tế nào cũng cần đạt được 3 mục tiêu ở bản:
- Bền vững về kinh tế
- Bền vững về tài ngun mơi trường
- Bền vững về văn hố xã hội
Đối với kinh tế, sự phát triển bền vững thể hiện ở quá trình tăng trưởng
liên tục theo thời gian hoặc khơng có sự đi xuống xét về chỉ tiêu kinh tế.
Sự phát triền bền vững về tài nguyên môi trường đòi hỏi khai thác, sử
dụng tài nguyên để đáp ứng nhu cầu hiện tại không làm tổn hại đến khả năng
đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Điều này được thể hiện ở việc sử dụng
tài nguyên một cách hợp lý, bảo tồn đa dạng sinh học, khơng có những tác động
tiêu cực đến mơi trường.
Đối với văn hố xã hội thì sự phát triển bền vững cần đảm bảo đem lại
những lợi ích lâu dài cho xã hội như tạo công ăn việc làm cho người lao động,
góp phần nâng cao mức sống của người dân và sự ổn định xã hội, đồng thời bảo
tồn các giá trị văn hoá.
Du lịch là ngành kinh tế đang phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế
giới, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế, bảo tồn và phát huy các giá trị
văn hố có tính tồn cầu cũng như có tác động đến mọi khía cạnh về tài ngun
và mơi trường. Điều này địi hỏi ở du lịch một sự phát triển bền vững.
Là một ngành kinh tế, sự phát triển du lịch bền vững khơng nằm ngồi
khái niệm chung về sự phát triển bền vững về kinh tế - xã hội nói chung. Sự phát
triển du lịch bền vững là sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà
13
Địa lý du lịch
không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng về nhu cầu du lịch của các thế hệ tương
lai. Vì vậy, trong quá trình phát triển du lịch phải đảm bảo được sự bền vững về
kinh tế, về tài ngun mơi trường và về văn hố xã hội.
Bản chất của du lịch là luôn mang lại các lợi ích nhân văn về mọi mặt
kinh tế, xã hội và môi trường. Tuy nhiên việc này không dễ dàng, trong thực tế
có rất nhiều hoạt động kinh tế, xã hội và ngay cả trong hoạt động du lịch đã tác
động xấu tới mơi trường, tài ngun nói chung và làm tổn hại tới tài nguyên và
môi trường du lịch. Để hạn chế những tác động xấu này, cần thiết có sự tăng
cường quản lí của chính phủ các nước, chính quyền địa phương. Mặt khác, cơng
tác tun truyền tới du khách và người dân bản địa có vai trị to lớn.
1.4.2 Các nguyên tắc cơ bản của phát triển du lịch bền vững
- Khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hợp lý
- Hạn chế việc sử dụng quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải
- Phát triển gắn liền với việc bảo tồn tính đa dạng
- Phát triển phải phù hợp với qui hoạch tổng thể kinh tế - xã hội
- Chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương
- Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương
- Thường xuyên trao đổi, tham gia ý kiến với cộng đồng địa phương và
các đối tượng có liên quan
- Chú trọng việc đào tạo nâng cao nhận thức về tài nguyên môi trường
- Tăng cường tiếp thị một cách có trách nhiệm
- Thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu.
Câu hỏi ôn tập và thảo luận
1. Anh (chị) nêu và phân tích khái niệm tài nguyên du lịch.
2. Anh (chị) nêu đặc điểm của tài nguyên du lịch, cho các ví dụ minh
hoạ.
3. Anh (chị) quan niệm như thế nào về phát triển du lịch bền vững.
14
Địa lý du lịch
CHƯƠNG 2
TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỰ NHIÊN
Mục tiêu:
Sau khi học xong chương này, người học có khả năng:
-
Nêu được quan niệm cơ bản về Tài nguyên du lịch tự nhiên.
Nêu được ý nghĩa, vai trò của tài nguyên du lịch tự nhiên
Xác định và phân tích đặc điểmcác loại tài nguyên du lịch tự nhiên.
Liên hệ thực tiễn tài nguyên du lịch tự nhiên của thế giới và Việt Nam
Nội dung:
Chương này đề cập đến những vấn đề sau:
- Quan niệm tài nguyên du lịch.
- Ý nghĩa, vai trò tài nguyên du lịch tự nhiên
- Các loại tài ngun du lịch tự nhiên: địa hình, khí hậu, nước, sinh vật.
2.1 Quan niệm về Tài nguyên du lịch tự nhiên
Thiên nhiên là môi trường sống của con người và mọi sinh vật trên trái
đất. Thiên nhiên bao quanh gồm các yếu tố, các thành phần tự nhiên, các hiện
tượng tự nhiên và các quá trình biến đổi của chúng, tạo nên các điều kiện tự
nhiên thường xuyên tác động đến sự sống và hoạt động của con người.
Chỉ có các thành phần, hiện tượng và các thể tổng hợp tự nhiên trực tiếp
hoặc gián tiếp được khai thác sử dụng để tạo ra các sản phẩm du lịch phục vụ
mục đích phát triển du lịch mới được xem là tài nguyên du lịch tự nhiên.
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005): “Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm
các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan
thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”.
Các tài nguyên du lịch tự nhiên luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên
cũng như gắn liền với các điều kiện lịch sử - văn hoá, kinh tế - xã hội và chúng
thường được khai thác đồng thời với các tài nguyên du lịch nhân văn.
Khi tìm hiểu nghiên cứu về tài nguyên du lịch tự nhiên, người ta thường
nghiên cứu từng thành phần của tự nhiên, các thể tổng hợp tự nhiên và các hiện
tượng đặc sắc của tự nhiên.
15
Địa lý du lịch
Trong số các thành phần của tự nhiên, có một số thành phần chính có tác
động trực tiếp và thường xuyên đối với các hoạt động du lịch, trong số đó cũng
chỉ có một yếu tố nhất định được khai thác như nguồn tài nguyên du lịch. Các
thành phần tự nhiên tạo nên nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên thường là địa
hình, khí hậu, thuỷ văn, sinh vật.
2.2 Các loại hình tài nguyên du lịch tự nhiên
2.2.1 Địa hình
Địa hình là một phần quan trọng của tự nhiên, là hình dạng cấu tạo của bề
mặt trái đất, nơi diễn ra hoạt động chủ yếu của con người. Đối với hoạt động du
lịch, các dạng địa hình tạo nền cho phong cảnh. Một số kiểu địa hình đặc biệt và
các di tích tự nhiên có ý nghĩa lớn đối với hoạt động du lịch.
Sở thích chung của khách du lịch là thích đến những nơi có phong cảnh
thiên nhiên đẹp, có những kiểu địa hình khác lạ so với nơi họ đang sống. Trong
các loại địa hình núi, cao nguyên và đồng bằng thì địa hình miền núi lại có ưu
thế hơn cả về tính hấp dẫn và thích hợp với hoạt động du lịch. Vì miền núi có
địa hình cao và có sự kết hợp của nhiều dạng địa hình, nên vừa thể hiện được vẻ
đẹp hùng vĩ và thơ mộng của thiên nhiên, vừa có khí hậu mát mẻ, khơng khí
trong lành. Miền núi cịn có nhiều đối tượng cho hoạt động du lịch như cảnh đẹp
của những dịng sơng, con suối, những hồ nước, thác nước hoặc những rừng cây,
trong đó có một thế giới sinh vật vơ cùng phong phú. Miền núi cịn là địa bàn cư
trú của các dân tộc ít người với đời sống văn hoá rất đa dạng đặc sắc.
Tuy nhiên, không phải tất cả mà chỉ một số nơi có phong cảnh thiên nhiên
đẹp hoặc các kiểu địa hình đặc biệt là có ý nghĩa du lịch hơn cả. Hay nói cách
khác, có 3 loại địa hình đặc biệt có ý nghĩa du dịch bao gồm:
2.2.1.1 Vùng núi có phong cảnh đẹp
Người xưa có quan niệm về vẻ đẹp thiên nhiên là những nơi có “sơn thuỷ
hữu tình”. Đó là phong cảnh của những vùng núi có sự kết hợp phong phú hài
hoà với các yếu tố thiên nhiên khác như nước, sinh vật, thời tiết,.. Các quốc gia
có nhiều núi hoặc nằm trên vùng núi có phong cảnh đẹp đã sớm khai thác và
phát triển loại hình du lịch nghỉ núi. Nhiều nước châu Âu có thuận lợi trong việc
phát triển du lịch, vì ở đây có những dãy núi có phong cảnh đẹp nổi tiếng như
Alps, Karpat. Trung Quốc với những dãy núi cao lớn đồ sộ nhất thế giới, trong
đó có núi Thái Sơn, Hành Sơn, Tung Sơn, Hằng Sơn và Hoa Sơn đẹp nổi tiếng
được liệt danh là “ngũ nhạc sơn”, là di sản thiên nhiên thế giới. Du lịch núi cũng
16