1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KHÁCH SẠN – DU LỊCH
BÁO CÁO HỌC PHẦN VĂN HÓA DU LỊCH
ĐỀ TÀI VĂN HĨA KHÁCH DU LỊCH NHẬT BẢN
Nhóm thực hiện:
Nhóm 5
Lớp học phần:
2171TMKT4011
GVHD:
TS. Nguyễn Thị Quỳnh Hương
Hà Nội, năm 2021
2
MỤC LỤC
3
LỜI MỞ ĐẦU
Từ xưa du lịch đã được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi của con
người. Ngày nay, du lịch là nhu cầu quan trọng trong đời sống văn hóa xã hội. Về mặt kinh
tế, du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế đóng vai trị quan trọng của nhiều
nước cơng nghiệp phát triển. Đối với nhiều nước đang phát triển trong đó có Việt Nam thì
du lịch được coi như là cứu cánh để vực dậy kinh tế quốc gia.
Phát triển du lịch quốc tế và nội địa đã trở thành chính sách quan trọng của Đảng và
Nhà nước ta vì ngành du lịch khơng chỉ đem lại lợi ích về kinh tế mà cịn góp phần tăng
cường mối quab hệ quốc tế, củng cố hịa bình, thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa các nước,
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Trong những năm gần đây, lượng khách quốc tế đến Việt Nam có xu hướng tăng.
Năm 2019, Việt Nam đón trên 18 triệu lượt khách quốc tế và lượng du khách Nhật Bản
chiếm 951.962 lượt và năm trong top 3 lượng khách du lịch đến Việt Nam đơng nhất.
Chính vì thế mà nhóm 5 chúng em đã tìm hiểu đề tài “Văn hóa khách du lịch Nhật
Bản” để biết thêm về văn hóa của khách du lịch Nhật Bản nhằm thu hút và làm hài lòng
khách du lịch Nhật Bản khi đến với Việt Nam. Bài thảo luận của nhóm cịn nhiều thiếu xót
mong cơ có thể bỏ qua và đưa ra những nhận xét, góp ý để cho bài thảo luận của nhóm
hồn thiện hơn.
4
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VĂN HĨA DU LỊCH
I.1.
Khái niệm văn hóa du lịch
Văn hóa du lịch được hiểu là sự thể hiện nội dung văn hóa trong lĩnh vực du lịch,
được tích lũy và sáng tạo trong hoạt động du lịch bởi bốn chủ thể tham gia vào hoạt động
du lịch là khách du lịch, doanh nghiệp du lịch, cộng đồng dân cư nơi diễn ra hoạt động du
lịch và chính quyền các cấp.
Bên cạnh đó, văn hóa du lịch cịn được hình thành và phát triển cùng với hoạt động
du lịch và là một phạm trù lớn, vừa thể hiện những giá trị văn hóa của hoạt động quản lý,
nghiên cứu, kinh doanh, trải nghiệm du lịch, vừa góp phần tuyên truyền, quảng bá các giá
trị tốt đẹp của văn hóa và nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo tồn và phát huy những giá trị
văn hóa truyền thống tốt đẹp ấy.
Tóm lại, văn hóa du lịch là khái niệm nói về dân trí và quan sát về thế ứng xử của
người trong một quốc gia nói chung và ứng xử của các cán bộ cơng nhân viên trong ngành
du lịch nói riêng.
I.2. Khái niệm khách du lịch
Khách du lịch là những người đi ra khỏi mơi trường sống thường xun của mình để
đến một nơi khác trong thời gian ít hơn 12 tháng liên tục với mục đích chính của chuyến đi
là thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngồi việc tiến hành các
hoạt động để đem lại thu nhập và kiếm sống ở nơi đến. Khái niệm khách du lịch này được
áp dụng cho cả khách du lịch quốc tế và khách du lịch trong nước và áp dụng cho cả khách
đi du lịch trong ngày và đi du lịch dài ngày có nghỉ qua đêm.
Theo một số nhà nghiên cứu, khái niệm khách du lịch lần đầu tiên xuất hiện vào cuối
thế kỉ XVIII tại Pháp và được hiểu là: "Khách du lịch là những người thực hiện một cuộc
hành trình lớn''
Vào đầu thế kỉ XX, nhà kinh tế học người Áo, Josef Stander định nghĩa: "Khách du
lịch là những hành khách đi lại, ở lại theo ý thích ngồi nơi cư trú thường xun để thỏa
mãn các nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà khơng theo đ̉i các mục đích kinh tế''.
Tại Điều 3, chương 1, Luật du lịch Việt Nam (2017) quy định: “Khách du lịch là
người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập
ở nơi đến”.
5
I.3. Khái niệm khách du lịch quốc tế
Theo định nghĩa của Hội nghị tại Rooma (Ý) do liên hợp quốc tổ chức về các vấn đề
du lịch quốc tế và đi lại quốc tế (năm 1963), khách viếng thăm quốc tế (vistor) được hiểu
là người đến một nước, khác nước cư trú thường xuyên của họ, bởi mọi nguyên nhân trừ
nguyên nhân đến lao động để kiếm sống. Khách du lịch quốc tế là người lưu lại tạm thời ở
nước ngoài và sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian ít nhất là 24h.
Mục đích chuyến đi của họ là tham quan, thăm thân, tham dự hội nghị, khảo sát thị trường,
công tác, chữa bệnh, thể thao, hành hương, nghỉ ngơi,...
Hội nghị du lịch quốc tế về du lịch ở Hà Lan 1989 định nghĩa: “Khách du lịch quốc
tế là những người đi hoặc sẽ đi tham quan một nước khác, với các mục đích khác nhau
trong khoảng thời gian nhiều nhất là ba tháng, phải được cấp giấy phép gia hạn. Sau khi
kết thúc thời gian tham quan, lưu trú, du khách bắt buộc phải rời khỏi đất nước đó trở về
hoặc đến nước khác”.
Ở Việt Nam, tại Điều 10, chương 2, Luật du lịch Việt Nam (2017) quy định: “Khách
du lịch quốc tế đến Việt Nam là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
vào Việt Nam du lịch”.
I.4. Ý nghĩa việc nghiên cứu văn hóa khách du lịch
Trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người nói chung và trong hoạt động du lịch
nói riêng việc vận dụng các thành tựu của tâm lý học có một ý nghĩa vơ cùng quan trọng.
Do những đặc trưng riêng của hoạt động du lịch, đứng trên góc độ của những người
phục vụ du lịch việc nghiên cứu tâm lý khách du lịch có vai trị rất quan trọng, nó giúp cho
q trình kinh doanh phục vụ đạt kết quả cao hơn:
Việc nghiên cứu được văn hóa của khách du lịch có ý nghĩa rất lớn tới các công ty du
lịch giúp cho cơng ty có được những đường lối, chính sách phát triển đúng đắn để phục vụ
khách du lịch một cách tốt nhất. Điều này chứng tỏ, khách du lịch đóng một vai trò quan
trọng trong việc phát triển du lịch của các công ty du lịch. “Khách hàng là thượng đế” - các
doanh nghiệp du lịch đặc khách du lịch lên vị trí cao hơn bởi vì các doanh nghiệp chỉ có
phát triển và lớn mạnh khi chiếm được cảm tình, sự tin yêu của khách du lịch. Do vậy
muốn phát triển thì các cơng ty du lịch phải chú trọng hơn nữa đến khách du lịch, xác định
6
được vị trí của khách trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, trong các phục vụ sao
cho phù hợp với khách du lịch nhất.
Muốn khách hàng chú ý đến mình thì điều cốt lõi là phải làm sao gợi thị hiếu ham
muốn của khách du lịch, làm thỏa mãn khách du lịch vì sản phẩm của du lịch là sản phẩm
mang tính đặc thù và có cái chất rất riêng khơng như những hàng hóa tiêu dung thơng
thường. Khách du lịch sử dụng sản phẩm du lịch của mình khơng phải do sự thiếu thốn mà
khách du lịch có rất nhiều sự lựa chọn nên không thể bắt khách du lịch chấp nhận dịch vụ
của mình, bất chấp chất lượng như thế nào, giá đắt hay rẻ. Để thu hút được khách hàng thì
các cơng ty du lịch phải có các sản phẩm, dịch vụ có chất lượng đảm bảo, giá cả hợp lý với
số tiền mà khách du lịch đã bỏ ra, coi khách hàng là nhân tố quyết định đến sự thành bại
của mình.
Thơng qua việc nghiên cứu và vận dụng các thành tựu của tâm lý du lịch sẽ cho nhà
cung ứng du lịch nắm được giúp các đặc điểm tâm lý xã hội của cư dân và chính quyền nơi
diễn ra hoạt động du lịch, điều chỉnh các mối quan hệ với các nhóm người này nhằm mang
lại sự hài hoà và hợp lý nhất cho quá trình kinh doanh du lịch.
Giúp cho các nhà kinh doanh du lịch, nhân viên phục vụ du lịch,... hiểu biết được các
đặc điểm tâm lý của mình, biểu hiện và diễn biến trong quá trình phục vụ,… Từ đó có
những biện pháp thích hợp, khắc phục và hồn thiện năng lực chuyên môn, năng lực giao
tiếp và rèn luyện các phẩm chất tâm lý xã hội cần thiết để tự điều chỉnh tâm lý và hành vi
xã hội của mình trong quá trình phục vụ khách.
Xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý của khách du lịch, sẽ giúp cho những
người kinh doanh du lịch, nhân viên phục vụ trong du lịch nhận biết sâu hơn về tâm lý của
khách, vận dụng được những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực đến
tâm lý của khách du lịch trong quá trình kinh doanh phục vụ.
Vậy ta phải hiểu được vai trò quan trọng của khách du lịch cũng như việc nghiên cứu
khách du lịch đối với du lịch như thế nào? Chúng tôi hiểu được tầm quan trọng của việc
nghiên cứu khách du lịch. Để từ đó hiểu được những nhu cầu của khách, những yêu cầu
của khách, tránh gây phiền hà cho khách, đưa ra sản phẩm dịch vụ phù hợp với nhu cầu và
yêu cầu của khách.
I.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới văn hóa khách du lịch
7
I.5.1.Mơi trường tự nhiên
Mơi trường tự nhiên đó là điều kiện đầu tiên và cần thiết nhất cho cuộc sống và sự
phát triển của xã hội lồi người. Mơi trường bao gồm các yếu tố như: vị trí địa lý, thời tiết,
khí hậu, điều kiện, thuỷ văn, tài nguyên tự nhiên,... nó ảnh hưởng đến vóc dáng con người,
màu da, màu tóc, khả năng thích nghi và chịu đựng của cơ thể… Chính những điều này
qua q trình sống sẽ tác động trực tiếp đến tâm lý con người. Có thể nhận thấy rằng khách
du lịch ở những vùng hàn đới thường trầm lặng, ít nói hơn khách ở những vùng ơn đới,
trong khi đó khách du lịch ở những vùng nhiệt đới thường cởi mở, sôi nổi, cuồng nhiệt
hơn.
Những vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi, con người ở đó thường cởi mở, khống
đạt hơn trong cuộc sống, ngược lại ở những vùng có điều kiện tự nhiên khó khăn con
người thường chăm chỉ, cần cù tiết kiệm hơn. Hay ở những vùng thuận lợi cho việc giao
lưu cư dân thường cởi mở, giao tiếp tốt, văn hoá pha tạp, những vùng có điều kiện tự nhiên
khó khăn cho việc giao lưu cư dân thường thật thà, thuần khiết, văn hố bó hẹp, tuy nhiên
lại giữ được nét truyền thống lâu đời.
Việc xem xét môi trường tự nhiên thực chất cũng là xem xét những ảnh hưởng gián
tiếp của môi trường tự nhiên đến con người thông qua mơi trường xã hội. Do đó chúng ta
sẽ xem xét một cách chi tiết hơn thông qua những ảnh hưởng của môi trường xã hội đến du
khách.
I.5.2.Môi trường xã hội
Tâm lý mỗi người hình thành, phát triển và biến đởi cùng với sự phát triển của lịch sử
cá nhân, lịch sử dân tộc - cộng đồng xã hội. Tâm lý mỗi người chịu sự chế ước của lịch sử
cá nhân và lịch sử cộng đồng xã hội.
Tóm lại, tâm lý người có nguồn gốc xã hội - lịch sử, vì thế mơi trường xã hội, nền
văn hố xã hội, các mối quan hệ xã hội trong đó con người sống và hoạt động có ảnh
hưởng rất lớn đến tâm lý của mỗi người.
Trong môi trường xã hội các yếu tố chủ yếu tác động đến tâm lý của khách mà chúng
ta cần nghiên cứu như:
−
−
−
−
Môi trường dân tộc
Môi trường giai cấp
Môi trường nghề nghiệp
Sự tác động của mặt xã hội đối với tâm lý
8
I.5.2.1. Môi trường dân tộc
Để nắm bắt được những đặc điểm tâm lý của khách cần phải có những hiểu biết về
môi trường dân tộc của khách. Nghiên cứu đặc điểm tâm lí của một dân tộc ta có thể xem
xét ở ba khía cạnh cơ bản sau:
− Đặc điểm chung của toàn dân tộc.
− Đặc điểm của các tầng lớp trong dân tộc.
− Đặc điểm sinh hoạt trong cuộc sống thường nhật của con người trong cộng đồng
dân tộc đó.
Trong q trình hình thành phát triển cùng với việc tổ chức sản xuất, giao lưu, chiến
tranh, sinh hoạt, tổ chức xã hội, cải tạo thiên nhiên… mà các dân tộc đã dần dần hình
thành nên những đặc điểm riêng biệt cho dân tộc mình. Ví dụ: Tinh thần độc lập, tự chủ,
cần cù, chịu khó của người Việt Nam, tính cẩn thận, gia giáo, nề nếp của người Nhật, tính
bốc đồng cuồng nhiệt của người gốc Phi, tính thực dụng của người Mỹ…
Trong thực tế vận dụng việc tìm hiểu về môi trường dân tộc trong việc đánh giá tâm
lý khách du lịch đòi hỏi người phục vụ du lịch cần có những hiểu biết nhất định về mơi
trường dân tộc của khách, cụ thể là phải có những hiểu biết về phong tục tập quán, tính
cách dân tộc, truyền thống, tơn giáo, tín ngưỡng của các dân tộc…
I.5.2.2. Mơi trường giai cấp
Mơi trường giai cấp có tác động không nhỏ đến con người, con người ở những giai
cấp khác nhau sẽ có những đặc điểm, nhân cách, tình cảm, nhận thức khác nhau do đó việc
nghiên cứu những tác động của môi trường giai cấp tác động đến tâm lý của khách du lịch
cũng hết sức cần thiết.
Do sự phân hoá xã hội, sở hữu về tư liệu sản xuất trong xã hội đã hình thành nên các
giai cấp khác nhau cùng với những đặc điểm khác nhau về vị trí trong xã hội, quyền lợi xã
hội, cách kiếm sống nhu cầu, thị hiếu riêng…
I.5.2.3. Môi trường nghề nghiệp
Trong thực tế khi tìm hiểu khách du lịch nếu nắm bắt được nghề nghiệp của khách
sẽ giúp nhân việc phục vụ chủ động hơn, nhận biết được một số đặc điểm do ảnh hưởng
nghề nghiệp của khách tác động tới. Ví dụ: đối với du khách là những người kinh doanh
thì họ là những người năng động, thích những nơi đơng người để có thể giao lưu, mở
rộng mối quan hệ.
9
Người kinh doanh thích sự nhanh gọn, tiện lợi và yêu cầu cao về chất lượng dịch
vụ. Những người kinh doanh thường tin vào sự may rủi, thích những con số đẹp, số may
mắn. Đây chính là đặc điểm để khách sạn có thể sắp xếp số phịng, loại phịng và cung
cấp các dịch vụ bổ sung cho họ. Đối với du khách là tầng lớp tri thức thì đây là những
khách hàng có trình độ, có hiểu biết và có văn hóa. Do đó họ rất lịch thiệp và cư xử một
cách đúng mực. Nhóm khách du lịch này không cần cầu kỳ nhưng cần phải lịch sự, họ ưu
tiên dùng những món có lợi cho sức khỏe hơn.
Đối với du khách là cơng nhân thì những người này thường năng nở, hoạt bát, dễ
hịa đồng. Họ có lối sống giản dị nên không yêu cầu cao chỉ cần thoải mái là được. Tuy
nhiên khách sạn cũng không thể xem nhẹ những dịch vụ cho nhóm đối tượng này, bởi nếu
có sai sót thì cũng sẽ khiến họ mất lịng và có ấn tượng khơng tốt về khách sạn của bạn.
Đối với du khách là nghệ sĩ thì giới nghệ sĩ là những người thích bay bởng, giàu
cảm xúc. Họ thường là ca sĩ, nhà thơ, nhà văn, họa sĩ… Mục đích đi du lịch của nhóm đối
tượng này là để nghỉ ngơi, giải trí và tìm nguồn cảm hứng để sáng tạo. Hành vi của họ
thường theo cảm hứng, thích sự tự do, thoải mái vì thế khi phục vụ nhóm khách hàng này
nên để họ ở những phịng có view đẹp, nội thất sang trọng, bắt mắt và phục vụ một cách
chu đáo, nhiệt tình.
10
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VĂN HÓA KHÁCH DU LỊCH NHẬT BẢN
2.1. Một số khái quát về đất nước Nhật Bản
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên
Nhật Bản là đất nước có diện tích: 377835 km²; theo số liệu mới nhất từ Liên Hợp
Quốc năm 2021, số dân của Nhật là 125.925.282 người.
a) Vị trí địa lý
Nước Nhật là một quần đảo nằm trên Thái Bình Dương, nằm ở phía đơng bắc lục địa
Châu Á, có chiều dài bắc nam là 3.500km. Lãnh thở Nhật Bản gồm 4 hịn đảo lớn:
Hơkaiđơ, Hơnsu, Kiuxiu, Xikơkư và khoảng 1000 hịn đảo nhỏ. Phía đơng Nhật Bản giáp
với Thái Bình Dương, phía tây giáp với biển Nhật Bản, phía bắc giáp biển Ơkhốt. Tuy là
một quần đảo nhưng Nhật Bản nằm gần các nước trong lục địa (Liên Bang Nga, Trung
Quốc, Hàn Quốc, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên).
b) Điều kiện tự nhiên
Nhật Bản có đường biển dài 29.750 km, bờ biển bị chia cắt tạo thành nhiều vịnh,
thuận lợi cho việc xây dựng hải cảng, tàu bè trú ngụ. Nhật Bản nằm trên đường giao thông
quốc tế cách Hoa Kỳ 9.000 km, các nước Tây Âu 20.000km (theo đường bờ biển).
Địa hình đồi núi chiếm hơn 80% diện tích của Nhật Bản. Đồng bằng nhỏ hẹp và phân
bố ven biển chiếm 13% diện tích. Trong đó đồng bằng Kantơ là lớn nhất, nằm trên đảo
Hơnsu. Núi ở Nhật Bản có độ cao trung bình, núi Phú Sỹ cao nhất (3.766 m). Nhật Bản
nằm trên vùng không ổn định của vỏ trái đất, thường xun chịu ảnh hưởng của sóng thần,
động đất, núi lửa.
Sơng của Nhật Bản là các sông nhỏ, ngắn, dốc, chủ yếu ở miền núi có giá trị thủy
điện và tưới tiêu. Trữ lượng thủy điện khoảng 20 triệu KW. Các sông dài nhất là Sina
(369km), Isikaro (365km)…
Do nằm ở vĩ độ 31- 45oB, biển Nhật Bản có hai dịng nước nóng lạnh (Kơrơsivơ và
Oiasiơ) đi sát bờ biển, nên khí hậu của Nhật Bản mang tính gió mùa ẩm, gồm các loại khí
hậu nhiệt đới và ơn đới. Lượng mưa cao, từ 1000 - 3000mm, nhiệt độ trung bình mùa
Đơng là -100C ở miền bắc và 180C ở miền nam, cịn mùa hè là 17-27 0C. Nhật Bản có nhiều
bão vào tháng 8 và tháng 9, gây nhiều tổn thất cho đời sống và kinh tế.
11
c) Tài nguyên thiên nhiên
Nhật Bản là nước nghèo tài nguyên khoáng sản, nhiều nhất là than song chất lượng
thấp, có trữ lượng 21 tỉ tấn tập trung nhiều nhất trên đảo Hơkaiđơ. Dầu lửa có trữ lượng
nhỏ, nằm trên bờ biển tây bắc đảo Hônsu và Hôkaiđô. Các mỏ quặng sắt, phi kim loại có
trữ lượng nhỏ. Nghành cơng nghiệp của Nhật phát triển chủ yếu dựa vào nguyên liệu nhập
ngoại.
Do địa hình núi cao và sớm quan tâm đến bảo vệ rừng, nên hiện nay Nhật Bản là
nước có diện tích rừng bao phủ lớn nhất các nước Châu Á. Hiện nay 64% diện tích tự
nhiên của Nhật được bao phủ bởi rừng.
2.1.2. Đặc điểm kinh tế
Tuy có mật độ dân số lớn nhất là ở các thành phố nhưng Nhật Bản vẫn có mức sống
cao. Cơng nghiệp Nhật Bản đứng thứ 2 trên thế giới, mặc dù nghèo tài nguyên, sản xuất
của Nhật chủ yếu phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu (khoảng 90% nhu cầu năng lượng
của Nhật Bản phải nhập từ nước ngoài, đặc biệt là dầu mỏ). Thành tựu kinh tế Nhật bản
chủ yếu tập trung trong ngành chế tạo. Những tiến bộ nhanh chóng trong nghiên cứu và
cơng nghệ đã giúp Nhật Bản mở rộng nền kinh tế hướng xuất khẩu. Ngành tài chính cũng
như ngân hàng phát triển mạnh và Tokyo là một trong những trung tâm thương mại và thị
trường chứng khốn chủ yếu trên thế giới. Nơng nghiệp được đầu tư nhiều sức lao động.
Nghề cá chiếm vị trí quan trọng cho xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. Nhật Bản là một
trong những nước có thu nhập cao trên thế giới.
Từ nửa sau của năm 1997 đến năm 1998, Nhật Bản cùng nằm trong vịng cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ Châu Á. Tuy nhiên bước sang năm 1999, Nhật Bản cũng như vùng
Đơng Nam Á đã thốt khỏi khủng hoảng tài chính tiền tệ và đang đi vào thế ổn định và
phát triển. Mức tăng trưởng năm 1999 đã đạt 1,9%, năm 2000 đạt trên 3%. Ngày
19/9/2000 chính phủ nhật bản chính thức cơng bố kích thích kinh tế cả gói giá trị 102,2 tỷ
USD để đưa nền kinh tế tới tăng trưởng ổn định.
2.1.3. Đặc điểm văn hóa xã hội
a) Dân cư - xã hội
Trước năm 1950 dân số của Nhật Bản tăng nhanh, đặc biệt trong thời kì 1930 -1950
tỷ lệ tăng dân số có lúc 3-4%. Bước vào thập kỉ 50 chính phủ Nhật Bản áp dụng nhiều biện
pháp giảm tỷ lệ tăng dân số. Cùng với phát triển kinh tế, mức tăng dân số giảm dần vào
12
những thập kỉ gần đây. Năm 1996 là 0,2%, năm 2004 là 0,08%. Dân số của Nhật Bản năm
2005 là 127.417.244 người, đứng thứ 9 trên thế giới.....
Nhật bản là nước có mật độ dân số cao, năm 2004 mật độ trung bình tới 342,2
người/km2. Sự phân bố dân cư của Nhật không đều, tập trung tới 90% ở các thành phố và
đồng bằng ven biển, trên đảo Hôkaiđô chỉ có 64 người/km 2. Do tỷ lệ tăng dân số thấp, mức
sổng của người dân cao, thực hiện tốt chăm sóc sức khỏe nên t̉i thọ của người Nhật hiện
nay cao nhất thế giới tới 83 t̉i (năm 2004).
Q trình đơ thị hóa nhanh, hiện nay hơn ¾ số hộ gia đình ở nước này có xe hơi.
Năm 1964 Nhật bản đã có hệ thống bảo hiểm xã hội tồn diện trợ cấp hưu trí được thiết lập
và hoạt động có hiệu quả trên tồn đất nước. Chi phí cho chăm sóc sức khỏe người già
năm 1998 tăng 5,8 lần so với năm 1975. Năm 1999 có tới 126 triệu người có bảo hiểm y
tế....
Người Nhật rất chú trọng đầu tư cho giáo dục và nghiên cứu khoa học. Nguồn gốc
của chế độ giáo dục hiện nay có từ năm 1872. Đầu tiên luật pháp quy định thời hạn giáo
dục bắt buộc là 7 năm. Năm 1947 Nhật Bản ban hành luật mới về giáo dục, tạo nền tảng
cho giáo dục hiện nay. Cấp 1 là 3 năm, cấp 2 là 3 năm, cấp 3 là 4 năm, đại học khơng bắt
buộc.
Dân tộc có tính thuần nhất cao, 99,3% dân số là người Nhật. Chính vì vậy người
Nhật có lịng tự hào dân tộc và tinh thần dân tộc cao. Người Nhật được ca ngợi với nhiều
đức tính tốt đẹp: tính kỉ luật, trung thực, cần cù, chịu khó, tiết kiệm, cường độ làm việc
cao, hiếu học....
b) Chế độ chính trị
Chế độ quân chủ lập hiến được thành lập từ sau cuộc cách mạng tư sản Nhật (18671868). Đứng đầu đất nước Nhật Bản là hồng đế, được lên ngơi theo chế độ cha truyền con
nối. Thực tế quyền hành của Nhật Hoàng so với thời kỳ phong kiến hạn chế nhiều.
Cơ quan lập pháp cao nhất của Nhật là quốc hội, gồm hai viện: thượng nghị viện và
hạ nghị viện.
Chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Theo hiến pháp của Nhật, đảng nào chiếm đa số
trong Hạ nghi viện thì chủ tịch đảng đó sẽ giữ chức thủ tướng.
Tại Nhật Bản có nhiều đảng phái chính trị, trong đó đảng lớn nhất là Đảng Dân Chủ
Tự Do. Đảng này liên tục cầm quyền ở nhật trong nhiều năm nay.
13
14
2.1.4. Tài nguyên du lịch và sự phát triển của du lịch Nhật Bản
2.1.4.1. Tài nguyên du lịch của Nhật Bản
a) Tài ngun du lịch tự nhiên
− Địa hình:
Có 5 hịn đảo chính Honshu, Shikoku, Kyushu, Hokkaido, Okinawa. Có nhiều hòn đảo đẹp
như đảo Yakushima, đảo Rishiri, đảo Rebun, Sado, Taketomi,... Các núi có phong cảnh đẹp
như núi Phú Sỹ, núi Nipesotsu, Kyushu. Hang động ở Nhật Bản có Ryusendo, Ryugado,
Abukumado,… và nhiều bãi biển đẹp là bãi biển Emerald, biển Ozuna, Kujukuri,…
− Khí hậu:
Khí hậu Nhật Bản phần lớn là kiểu khí hậu ơn đới đều có tuyết rơi vào mùa đông, nhưng
biến đổi rõ rệt từ Bắc vào Nam thích hợp phát triển nhiều loại hình du lịch. Mùa xuân với
hoa anh đào nở dần từ nam lên bắc, mùa hè cây cối xanh mướt, mùa thu lá phong đỏ thắm
từ bắc xuống nam, mùa đông tuyết trắng tinh khôi.
− Thủy văn:
Nhật Bản sở hữu nhiều suối nước nóng tự nhiên nhất thế giới. Một số suối nước nóng đáng
đến như Yufuin Onsen, Hakone Onsen, Kusatsu Onsen, Beppu, Arima Onsen,…
− Hệ sinh thái và cảnh quan thiên nhiên:
Một số vườn quốc gia: Vườn quốc gia Aso Kuju, vườn quốc gia Kerama Shoto,… một số
công viên quốc gia như Nikko, Shiretoko, Akan Mashu,… một số di sản thiên nhiên thế
giới được UNESCO công nhận: Đảo Yakushima, vùng núi Shirakami, mỏ bạc Iwami
Ginzan, quẩn đảo Ogasawara,…
b) Tài nguyên du lịch văn hóa
Một số di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận: Quần thể kiến trúc phật
giáo khu vực Horyuji (1993), lâu đài Himeji (1993), di tích lịch sử của cố đô Kyoto
(1994), đền Itsukushima (1996), đền chùa Nikko (1999), ẩm thực Nhật Bản Washoku,
Kịch Kabuki,… và còn nhiều các di sản khác.
Một số lễ hội truyền thống thu hút khách du lịch: Lễ hội hoa anh đào Hanami, lễ hội
Gion Matsuri, lễ hội nhảy múa Awa Odori, lễ hội tuyết Yuki Matsuri, lễ hội Owari
Tsushima, lễ hội đèn lồng Obon,…
Nghề và làng nghề thủ công truyền thống ở Nhật Bản: Làng nghề làm sứ Arita, làm
giấy Washi, nghề làm dệt thủ công Bashofu, nghề rèn kiếm và dao (Seki), nghề làm bút vẽ
truyền thống (Kumano), nghề làm vải Denim (Osaka),…
Các bảo tàng và trung tâm và trung tâm nghệ thuật văn hóa như: Bảo tàng Yayoi
Kusama Tokyo nơi trưng bày các tác phẩm của nữ hoàng chấm bi Yayoi Kusama, bảo tàng
15
Ghibli, bảo tàng nghệ thuật Mori, bảo tàng nghệ thuật Tokyo Metropolitan, bảo tàng
Bunkamura, trung tâm nghệ thuật quốc gia Tokyo,…
2.1.4.2. Sự phát triển của du lịch Nhật Bản
Từ một quốc gia không mấy nổi bật về du lịch, Nhật Bản trở thành một điểm đến hấp
dẫn hàng đầu châu Á. Qua mỗi năm lượng khách quốc tế đến Nhật Bản càng nhiều hơn.
Trên thế giới, Nhật Bản trước đây vốn nởi tiếng là thị trường gửi khách mà ít chú
trọng tới việc thu hút khách du lịch quốc tế đến do những nguyên nhân như: sự ưu tiên của
Chính phủ cho phát triển các ngành công nghiệp - điện tử, giá cả các sản phẩm dịch vụ du
lịch rất cao làm hạn chế lượng khách quốc tế đến Nhật Bản. Trong những năm gần đây,
nhờ có chính sách quản lý, vận hành, phát triển du lịch hợp lý nên ngành du lịch của nước
này đạt mức độ phát triển cao và ổn định, được du khách cũng như các chuyên gia du lịch
thế giới đánh giá cao. Ngành Du lịch Nhật Bản đã xây dựng kế hoạch phát triển ưu tiên
cho phát triển du lịch có trọng điểm, với những mốc thời gian - giai đoạn cụ thể; đồng thời,
rất coi trọng và đẩy mạnh hoạt động quảng bá du lịch, mạnh dạn đầu tư cho công tác phát
triển thị trường của ngành du lịch ra nước ngồi nói chung và ở một số thị trường trọng
điểm.
Hiện nay, Nhật Bản chỉ đứng sau Trung Quốc về số lượng khách đi du lịch nước
ngoài ở châu Á. Qua số liệu thống kê của ngành du lịch Nhật Bản, số lượng khách Nhật
Bản đi du lịch nước ngoài thường dao động ở con số 14 triệu đến hơn 18 triệu khách/năm.
Trong những năm gần đây, lượng khách nước ngoài đến Nhật Bản đã gia tăng nhanh
chóng khi chính phủ Nhật Bản nới lỏng các điều kiện cấp thị thực nhập cảnh. Theo số liệu
thống kê của Cục du lịch Nhật Bản, năm 2019 là năm thứ 7 liên tiếp số lượng du khách
đến Nhật Bản đạt kỷ lục, với gần 32 triệu người. Quy mô tiêu dùng du lịch từ khách nước
ngoài đã tăng trưởng mạnh mẽ và đạt 4.800 tỷ yên năm 2019, chiếm 1/5 thị trường du lịch
nội địa Nhật Bản.
2.2. Văn hóa khách du lịch Nhật Bản
2.2.1. Xu hướng và nhu cầu của khách du lịch Nhật bản
2.2.1.1. Xu hướng du lịch của người Nhật Bản
16
a) Phương diện đối tượng du lịch (độ tuổi, giới tính)
Dựa vào độ t̉i, giới tính mà ta chia đối tượng khách du lịch Nhật Bản ra là các
nhóm đối tượng sau:
Giới học sinh - sinh viên và khách du lịch ba lơ: Quan tâm tìm hiểu văn hóa, mức tiêu
dùng không cao, rất quan tâm đến yếu tố giá cả, song lại là những du khách có khả năng
phát tán thơng tin nhanh chóng và mạnh mẽ về điểm đến du lịch
Giới nữ trẻ có độ tuổi trung bình từ 20-30: Chưa lập gia đình, có nghề nghiệp và thu
nhập khá ổn định. Đối tượng khách này rất sành điệu trong tiêu dùng nhưng cũng rất quan
tâm đến tính kinh tế của dịch vụ, thích mua sắm, thời trang, đồ trang sức, sản phẩm lưu
niệm của địa phương.
Gia đình: Thường quan tâm tới thực đơn riêng cho trẻ em, ưa thích các hoạt động
nghỉ ngơi, thư giãn, vui chơi giải trí, thể thao...
Người cao tuổi: Thường đi du lịch nhờ vào quỹ lương sau khi về hưu. Đối tượng này
có mức tiêu dùng tương đối cao, thích thư giãn nghỉ ngơi, rất hứng thú trong việc tìm hiểu
về lịch sử, văn hoá và tự nhiên của điểm du lịch. Đối tượng này cũng chi rất nhiều tiền cho
việc mua sắm, quả cấp.
Khách thương gia: Đối tượng này luôn thiếu thời gian và thường đi du lịch với mục
đích kết hợp cơng việc, thời gian tham quan ít, nhưng mức tiêu dùng rất cao
b) Phương diện địa điểm du lịch
Dựa vào nhu cầu du lịch (nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng, mua
sắm.v.v.) mà khách du lịch lại chọn những địa điểm du lịch cho riêng mình. Tuy nhiên
những lựa chọn này cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội,
tỉnh hình dịch bệnh và xu hướng chung của thế giới. Cụ thể như sau:
Từ 1975 đến 1997: Các nước phương Tây được nhiều người Nhật lựa chọn.
Từ năm 1997 cho đến nay: Quốc nội, các nước lân cận, châu Á lại trở thành điểm đến
hấp dẫn, và chiếm phần lớn số lượng khách du lịch Nhật Bản. Đây là các địa điểm nhiều
tiềm năng du lịch, chất lượng dịch vụ tốt, giá cả hợp lý, và nơi có nhiều vốn đầu tư của
Nhật.
c) Phương diện loại hình du lịch
17
Trong xu hướng du lịch của người Nhật Bản những năm gần đây, bên cạnh các loại
hình du lịch truyền thống như: Du lịch nghỉ dưỡng, du lịch giải trí, du lịch văn hóa, lịch
sử, du lịch sinh thái. Lại có thêm các xu hướng du lịch mới như: du lịch tình nguyện; du
lịch MICE (loại hình du lịch kết hợp hội thảo và du lịch) - đây là loại hình mang lại một
lượng khách du lịch và lợi nhuận lớn; du lịch thực tế. Cùng với thể loại du lịch này thì
du khách có thể tìm hiểu khơng chỉ nền văn hóa truyền thống của bản địa, mà cịn có thể
trải nhiệm những nét đẹp văn hóa hiện đại thông qua nếp sinh hoạt hằng ngày của người
dân nơi đây.
2.2.1.2. Nhu cầu của khách du lịch Nhật Bản
Nhu cầu về phương tiện vận chuyển: Khách Nhật thường có khả năng chi trả cao.
Đối với những chuyến du lịch ra nước ngoài cho dù là dài ngày hay ngắn ngày họ đều đi
máy bay vì đây là phương tiện nhanh, tiết kiệm thời gian và dễ chịu.
Nhu cầu lưu trú: Người Nhật chi tiêu nhiều cho dịch vụ lưu trú. Họ thường ở khách
sạn từ 3 – 5 sao, đòi hỏi phịng phải có các trang thiết bị cao cấp: bồn tắm nóng lạnh, các
trang thiết bị tự động, những vật dụng cá nhân phải có đầy đủ và phải đảm bảo vệ sinh
tuyệt đối. Tầng 1 và 2 ở trên cùng của các loại khách sạn cao tầng thường khơng thích hợp
với người Nhật vì lý do an tồn.
Nhu cầu về ăn uống: Người Nhật thích ăn các món ăn chế biến từ hải sản, món ăn
đặc sản của người Nhật là món sushi. Trước khi ăn dùng khăn mặt bông quấn chặt cứng
dài 15 - 20 cm hấp nóng để cho khách lau mặt. Người Nhật thích các món ăn nhanh kiểu
Mỹ (fast food), các loại bánh kẹo Mỹ của các hãng Hragen, Das, famous Amos. Thích loại
rượu vang vùng Califonia và nước giải khát Coca Cola. Người Nhật khơng có thói quen ăn
uống cùng bàn với người lạ (thói quen chia sẻ bàn ăn).
Nhu cầu về vui chơi giải trí: Người Nhật thường chọn nơi du lịch có nắng, cảnh sắc
hấp dẫn, nước biển trong xanh, cát trắng, có thể tắm được quanh năm với phương tiện sinh
hoạt thuận tiện và hiện đại.
Các nhu cầu khác: Khách Nhật thường là khá kĩ tính về tất cả các mặt do đó trong
q trình tở chức, phục vụ cho khách du lịch Nhật Bản chúng ta phải thực sự chu đáo. Lịch
trình tour phải được thơng báo cặn kẽ trước một chuyến tour. Và trong quá trình thực hiện
phải đảm bảo đúng giờ quy định vì người Nhật có tính kỉ luật khá cao về giờ giấc. Hướng
dẫn viên địi hỏi phải là người có trình độ, thơng thạo tiếng Nhật, nhiệt tình trong cơng
việc, đặc biệt khách Nhật có u cầu cao về sự an tồn trong mỗi chuyến đi.
18
19
2.2.2. Đặc điểm về văn hóa khách du lịch Nhật Bản
a) Khẩu vị và ăn uống của khách du lịch Nhật Bản
Ẩm thực Nhật Bản có rất nhiều điều khác biệt so với nền văn hóa khác trên thế giới.
Bí quyết của nó nằm trong sự lựa chọn nguyên liệu kỹ lưỡng, thẩm mỹ của món ăn và sự
trân trọng đối với nguyên liệu nói chung. Chỉ có món quà tuyệt hảo nhất của đất và nước là
xứng đáng có mặt trên bàn ăn và mục tiêu chính của người đầu bếp chính là làm cách nào
để giữ được những tính chất ban đầu của nguyên liệu. Nguyên tắc lớn nhất trong văn hóa
ẩm thực Nhật Bản bản là: “Đừng tự tạo ra, hãy tìm kiếm và khám phá”. Bởi một lẽ đơn
giản là chẳng có một ai có thể cạnh tranh với sự sáng tạo của tự nhiên.
Một phần thiết yếu của ẩm thực Nhật Bản là nghệ thuật sắp xếp bàn ăn. Người Nhật
ăn bằng mắt, bởi đối với họ cách trình bày các đĩa thức ăn rất quan trọng. Hầu như khơng
có nơi nào trên thế giới mà nhãn quang lại tham gia vào bữa ăn với mức độ giống như ở
Nhật Bản.
Một nét độc đáo trong ẩm thực Nhật Bản hơn cả vẻ đẹp, sự hòa hợp của các loại
hình, màu sắc món ăn mà cịn thể hiện trong từng mùa. Mỗi một mùa lại ban tặng một sự
thanh nhã rất riêng biệt. Sự tương thích với từng mùa cùng với sự tươi ngon của nguyên
liệu được đánh giá cao hơn cả quá trình chuẩn bị.
Người ta cũng dành nhiều sự chú ý cho chất lượng của món ăn được phục vụ. Khơng
giống như ẩm thực Nga với khẩu phần lớn, tất cả các món ăn của người Nhật có số lượng
khơng lớn để người ăn khơng bị q no. Người Nhật thích những bữa ăn bao gồm nhiều
món nhỏ, mang những hương vị khác nhau. Bữa ăn nhật cở điển thường có 15- 20 món
nhỏ được phục vụ lần lượt.
Gạo mang một vị trí quan trọng trong bữa cơm của người Nhật, bởi một trong những
cái tên cổ đại của Nhật Bản là “vùng đất quê hương của lúa gạo”. Người Nhật ăn cơm 2- 3
lần một ngày. Họ tin rằng cơm gạo có thể bảo vệ sức khỏe. Thực vậy, thống kê cho thấy
người Nhật Bản mắc bệnh tim mạch ít hơn người châu Âu.
Là một quốc đảo thuộc vùng biển, người Nhật cũng có thói quen ăn cá và hải sản. Từ
lâu cá và hải sản đã trở thành thành phần quan trọng bậc nhất, nhì trong khẩu phần dinh
dưỡng cho người dân nơi đây, ngồi ra cịn có rong và tảo biển. Người Nhật biết hơn
10.000 loài động vật biển mà hầu hết có thể ăn được. Họ có phong tục nướng cá và những
loại hải sản khác có thể nướng qua, hầm hấp hoặc phục vụ tươi sống.
20
Hầu như món ăn được ưa thích nhất ở Nhật Bản là Sashimi cá tươi sống thái lát. Để
làm nổi bật hương vị tự nhiên của cá, Sashimi thường được ngâm trong xì dầu với mù tạt.
Một món ăn khác đã nởi tiếng khơng chỉ ở Nhật Bản đó là sushi. Đơn giản nó rất dễ ăn và
tương đối rẻ.
Thật sai lầm khi có ý kiến cho rằng người Nhật ăn chay khó tính. Những món ăn chế
biến từ thịt bò và thịt lợn xuất hiện trên bàn ăn của người Nhật dưới sự ảnh hưởng của ẩm
thực Trung Hoa. Tuy nhiên nó một cách cơng bằng chúng cũng khơng phở biến lắm. Nếu
những tài liệu cịn sót lại đến ngày nay nói đúng sự thật thì ngửi mùi thịt bị và thịt lợn
thậm chí có thể làm người Nhật bất tỉnh. Trường hợp với những sản phẩm từ sữa đặc biệt
là pho mát chỉ khá hơn một chút. Số lượng món ăn có thịt bị và thịt lợn gia tăng chỉ trong
thế kỷ XIX khi mà càng nhiều người châu Âu bắt đầu đếm Nhật. Tuy nhiên, những món ăn
này được dùng nhiều như những món cao lương mỹ vị hơn là trong bữa ăn hàng ngày.
b) Phương tiện và lưu trú
Người Nhật là một trong những đối tượng khách du lịch có khả năng thanh tốn cao.
Họ khơng ngại phải chi trả số tiền lớn cho việc đi lại hay lưu trú. Họ thường chọn những
hãng hàng không uy tín và những khách sạn có tiếng.
Người Nhật rất quan tâm đến vấn đề sức khỏe, đặc biệt vấn đề an toàn cá nhân được
họ đặt lên hàng đầu. Những khách sạn hay nhà nghỉ mà họ lựa chọn bắt buộc phải có vệ
sinh sạch sẽ, an ninh tốt.
Người Nhật cũng rất biết hưởng thụ. Họ đánh giá cao những cơ sở lưu trú nào gần
gũi với thiên nhiên và mang đậm màu sắc truyền thống để họ có cơ hội học hỏi và thưởng
thức những giá trị văn hóa hóa thuần túy.
c) Hành vi và tiêu dùng
Nhật Bản là một quốc gia coi trọng tính truyền thống của cộng đồng hơn là của cá
nhân. Đặc điểm của người tiêu dùng Nhật Bản là tính đồng nhất, 90% dân số Nhật Bản là
thuộc tầng lớp trung lưu và đặc trưng này cũng góp phần tạo ra tính đồng nhất của xã hội
Nhật Bản. Người tiêu dùng Nhật Bản cũng có những đặc điểm chung trong hành vi tiêu
dùng của mình.
Khơng mặc cả: Khi mua đồ tại Nhật thì tuyệt nhiên bạn khơng bao giờ cần phải mặc
cả làm gì cho mất công, tất cả các mặt hàng được bày bán đều đã có giá niêm yết và người
Nhật khơng bao giờ mặc cả, vậy nên khi mua đồ họ hồn tồn khơng có khái niệm về mặc
21
cả. Họ cũng không biết mặc cả nên khi họ đi du lịch, chúng ta khơng nên nói thách. Điều
này sẽ làm người Nhật cảm thấy vơ cùng khó chịu.
Địi hỏi cao về chất lượng: Sống trong mơi trường có mức sống cao nên người tiêu
dùng Nhật Bản đặt ra những tiêu chuẩn đặc biệt chính xác về chất lượng, độ bền, độ tin
cậy và sự tiện dụng của sản phẩm. Đối với người tiêu dùng Nhật, giá cả là một tín hiệu của
chất lượng. Họ sẵn sàng trả giá cao hơn một chút cho những sản phẩm có chất lượng tốt ví
dụ như những sản phẩm có hương vị hấp dẫn và tươi mới còn những sản phẩm chất lượng
thấp thì dù rẻ người Nhật cũng khơng mua. u cầu về chất lượng còn bao gồm các dịch
vụ hậu mãi như bảo hành, thời gian khắc phục lỗi của sản phẩm. Một đặc điểm của người
Nhật Bản là coi trọng các tiêu chuẩn Nhật Bản, tiêu biểu là tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật
Bản (JAS) và tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản (JIS). Chúng được coi trọng hơn cả các
tiêu chuẩn quốc tế.
Người Nhật đặc biệt ưa thích những hàng thủ công mỹ nghệ tinh xảo và thực sự được
làm bằng phương pháp thủ công và chuộng các loại quà tặng và các sản phẩm trang trí nội
thất được sản xuất bằng thủ công với các loại nguyên liệu tự nhiên, phản ánh truyền thống
và văn hóa đặc thù của các nước châu Á.
Quan tâm đến môi trường sinh thái: Gần đây, người Nhật có ý thức cao về mơi
trường sống và ngày càng thiên về các sản phẩm thân thiện với môi trường. Do vậy sản
phẩm “ xanh” đang là một xu thế được ưa chuộng, họ sẽ tránh phải sử dụng những sản
phẩm chỉ dùng một lần mà có xu hướng dùng những sản phẩm có thể tái sử dụng được
hoặc dễ phân hủy.
Người Nhật có thói quen tự phục vụ, tức là sẽ khơng có ai phục vụ bạn cả mà bạn sẽ
tự tìm kiếm những thứ mà mình cần. Họ sẽ tự đi lấy hàng hóa mà mình mong muốn sau đó
đặt vào giỏ có sẵn trong cửa hàng. Vì vậy, họ khơng thích sự tiếp thị quá nhiều, điều đó
làm họ cảm thấy bị làm phiền. Hãy để họ thoải mái ngắm nhìn và lựa chọn những gì họ
muốn.
2.3. Đánh giá văn hóa khách du lịch Nhật Bản tại thị trường Việt Nam
Theo báo cáo thường niên năm 2019 của Tổng cục Du lịch Việt Nam năm 2019, Việt
Nam đón trên 18 triệu lượt khách quốc tế, vượt qua In-đô-nê-xi-a (16,1 triệu lượt), vươn
lên vị trí thứ 4 khu vực Đơng Nam Á, sau TháiLan, Ma-lai-xi-a và đã tiến rất sát với Xinga-po (19,1 triệu lượt). Tăng trưởng khách quốc tế đến Việt Nam (+16,2%) cao hơn đáng
22
kể so với các nước trong khu vực như Thái Lan (+4,2%), In-đô-nê-xi-a (+1,9%), Xin-gapo (+3,2%).
Cũng căn cứ vào bảng báo cao thị trường nguồn khách du lịch quốc tế đến của một số
nước ASEAN năm 2019. Thị trường nguồn khách du lịch đến Việt nam đông nhất là ba
quốc gia Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Thị trường nguồn khách du lịch Nhật Bản
có tới 951.962 lượt và đến Việt Nam đứng thứ 2 trên các nước ASEAN chỉ sau Thái Lan
(1.806.340 lượt). Năm 2019, khách Nhật Bản đến Việt Nam tăng ổn định đầu năm, tăng
đột biến (+33,6%) vào tháng 5 và duy trì tăng trưởng cao trong thời gian cịn lại. Thị
trường Nhật Bản có xu hướng tăng đều ở tốc độ trung bình 5 - 10%/năm. Năm 2019 là
năm tăng cao nhất trong 5 năm qua. Đồng thời, cũng qua việc tìm hiểu xu hướng và nhu
cầu của người Nhật Bản khi đi du lịch, có thể thấy rằng Việt Nam là một thị trường cùng
những điểm đến, những dịch vụ, những hoạt động rất hấp dẫn, có sức hút đối với khách du
lịch Nhật Bản. Chính vì thế, Tởng cục Du lịch nhận định: Nhật Bản là một trong những thị
trường khách quốc tế quan trọng nhất của du lịch Việt Nam.
Các dòng sản phẩm được khách Nhật Bản ưa chuộng là du lịch trải nghiệm văn hóa,
di sản thế giới và nghỉ dưỡng biển, du lịch sinh thái, làm đẹp, tiếp xúc và trải nghiệm cuộc
sống tại cộng đồng dân cư. Với những yêu cầu cao về điểm đến du lịch, chú trọng an ninh
tại điểm đến, không gian trong lành, dịch vụ chất lượng cao, điểm đến mang đậm tính lịch
sử, ta có thể kể đến một số điểm du lịch của Việt Nam thu hút khách Nhật Bản là Thành
phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Quảng Ninh, Ninh Bình, cụm các điểm Huế - Đà Nẵng - Hội
An, Nha Trang, Đồng bằng sông Cửu Long và cả những làng nghề truyền thống,…
Ðược thưởng thức những món ăn ngon tại các điểm đến cũng là một trong những yếu
tố hấp dẫn các vị khách đến từ Nhật Bản. Khá nhiều món ăn Việt có đặc trưng giống với
khẩu vị của khách Nhật nên dễ được chấp nhận và được yêu thích như phở, nem cuốn,…
Trong một chuyến đi du lịch, đôi khi người Nhật cũng có nhu cầu được ăn các món truyền
thống của Nhật tại nơi đến. Một số du khách tỏ ra rất thích thú khi có một bình nhỏ nước
tương Nhật đặt sẵn trên bàn ở các nhà hàng Việt Nam. Bên cạnh đó, người Nhật thường
dùng canh trực tiếp từ bát chứ ít khi sử dụng muỗng hay thìa như người Việt Nam. Ðũa
được dùng hàng ngày nên họ khơng có gì lạ với phong cách ăn uống của người Việt Nam.
Người Nhật với khả năng thanh toán cao, đòi hỏi chất lượng dịch vụ tốt, tại Việt Nam
có rất nhiều khách sạn sang trọng, đáp ứng đầy đủ tiêu chí của khách du lịch Nhật, khơng
gian thống đãng, sạch sẽ, an ninh đảm bảo ví dụ như khách sạn Sofitel Metropole,
Vinpearl Luxury, Khách sạn Hà Nội Daewoo, Boulevard Hotel Phu Quoc,…
23
Việt Nam là một đất nước đang phát triển với nét văn hóa đặc sắc, những vẻ đẹp
truyền thống, giá của những sản phẩm, dịch vụ rẻ so với người Nhật, những điều này cũng
đã góp phần trong việc hấp dẫn khách du lịch Nhật Bản. Theo Báo cáo tổng hợp đề án đẩy
mạnh thu hút khách du lịch Nhật Bản đến Việt Nam giai đoạn 2012-2015, người Nhật rất
có ấn tượng với áo dài và những di sản văn hóa tại Việt Nam.
Đi song song với những mặt tích cực làm hài lòng khách du lịch Nhật Bản. Bên cạnh
đó, vẫn cịn những hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu cũng như chưa làm hài lòng khách
du lịch Nhật Bản. Về thị trường, đầu tư marketing còn hạn chế. Sản phẩm du lịch theo định
hướng thị trường ở các điểm đến phụ cịn thiếu tính đa dạng để có thể giữ khách lưu lại lâu
hơn. Quản lý điểm đến bất cập, thiếu sự cam kết thực sự đối với du lịch có trách nhiệm.
Vấn đề ơ nhiễm ở Việt Nam.
Theo báo cáo thường niên năm 2019, nguồn nhân lực đã qua đào tạo tăng 15% so với
năm 2018, đội ngũ hướng dẫn viên tăng trình độ từ đại học trở lên chiếm 71,3%, tốt nghiệp
cao đẳng chiếm 18%, trình độ khác chiếm 10,7%. Tuy vậy xét tình hình chung, các doanh
nghiệp du lịch tại Việt nam vẫn bị hiếu hụt nhân lực cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt
là nhân lực chất lượng cao. Hơn nữa, trình độ ngơn ngữ và văn hóa của hướng dẫn viên
còn hạn chế đối với khách du lịch Nhật Bản nói riêng và nhiều đối tượng khách khác. Tỉ lệ
hướng dẫn viên du lịch thơng thạo tiếng Nhật Bản cịn thấp (3.7%). Chưa đáp ứng đủ nhân
lực phục vụ khách du lịch Nhật Bản.
Khí hậu, thời tiết diễn biến khó lường là một yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa khách du
lịch khi đến Việt Nam, đặc biệt là vấn đề tâm lý của họ. Việt Nam là một trong số các quốc
gia chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đởi khí hậu (bão lũ, ngập úng, nước biển dâng, ngập
mặn...), có nguy cơ gây thiệt hại đến cơ sở hạ tầng du lịch, tài ngun du lịch, các cơng
trình du lịch.
Khách du lịch Nhật Bản họ rất ưa chuộng và quan tâm nội thất, không gian khách
sạn, cũng như phong cách và chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên phần lớn các doanh nghiệp du
lịch Việt Nam có quy mơ vừa và nhỏ, nguồn lực hạn chế, đặc biệt do đại dịch Covid-19
kéo dài gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động của doanh nghiệp du lịch, dẫn
đến nhiều doanh nghiệp phải ngừng hoạt động, làm suy giảm năng lực của ngành du lịch
Việt Nam. Năng lực cạnh tranh du lịch Việt Nam còn hạn chế đối với một số chỉ số quan
trọng như hạ tầng dịch vụ du lịch, y tế và vệ sinh, hạ tầng mặt đất và cảng, tính bền vững
về mơi trường. Ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài lòng của khách du lịch và lịng trung thành
của khách du lịch Nhật Bản nói riêng và khách quốc tế nói chung.
24
25
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP LÀM HÀI LÒNG VÀ THU HÚT
KHÁCH DU LỊCH NHẬT KHI ĐẾN VIỆT NAM
3.1. Về thị trường đầu tư marketing
Các đơn vị du lịch lữ hành nói riêng và ngành du lịch Việt Nam nói chung nên nghiên
cứu sâu thêm về sở thích cũng như những nét văn hóa của người Nhật để tập trung đưa ra
thêm những chiến lược quảng bá hình ảnh marketing nhằm thu hút những du khách Nhật
Bản tới Việt Nam. Có thể xây dựng website giới thiệu du lịch Việt Nam bằng tiếng Nhật;
thành lập nhóm cơng tác du lịch Việt Nam – Nhật Bản; xây dựng tổ chức bộ máy và cơ chế
duy trì hoạt động xúc tiến thường xuyên tại Nhật Bản; tham gia chương trình, hội chợ, sự
kiện du lịch thường niên tại Nhật Bản; xây dựng kế hoạch mời và đón tiếp các đồn
famtrip của Nhật Bản vào Việt Nam khảo sát, đưa tin, viết bài quảng bá cho du lịch Việt
Nam; tổ chức điều tra, thu thập thông tin về thị trường để hỗ trợ cho công tác lập kế hoạch
xúc tiến tại Nhật Bản; tở chức các sự kiện văn hóa du lịch thường niên, các sự kiện giao
lưu văn hóa, du lịch Việt - Nhật; tổ chức các hoạt động tuyên truyền và giáo dục cộng đồng
nhằm tạo ấn tượng tốt đẹp cho du khách Nhật khi đến thăm Việt Nam; xuất bản các ấn
phẩm xúc tiến du lịch; xây dựng hệ thống chỉ dẫn và biển báo du lịch bằng tiếng Nhật tại
các trung tâm du lịch lớn và các điểm đến khách du lịch Nhật Bản ưa thích. Bên cạnh đó,
cũng cần phải chú trọng đầu tư về kỹ thuật để thúc đẩy du lịch trực tuyến. Là quốc gia
thuộc khu vực các nền kinh tế năng động ở châu Á, có dân số trẻ, cơng nghệ internet phát
triển nhanh nên Việt Nam chính là mơi trường lý tưởng để phát triển du lịch trực tuyến và
internet marketing du lịch là công cụ hữu hiệu để phát triển du lịch Việt Nam.
3.2. Đa dạng hóa sản phẩm du lịch
Nhìn chung những sản phẩm du lịch để thu hút du khách Nhật Bản cịn ít và chưa có
sự đởi mới. Ngành du lịch Việt Nam có thể triển khai thêm nhiều sản phẩm du lịch nghỉ
dưỡng tập trung vào những nơi có vẻ đẹp tự nhiên trong lành, nghệ thuật văn hóa bởi
người Nhật là những người rất tỉ mỉ và đối với họ du lịch là một cơ hội để ngắm nhìn thiên
nhiên, tham gia vào các hoạt động thể thao và giải trí mà khơng thể thường xun làm ở
q nhà. Ngồi ra có thể phát triển thêm những loại hình du lịch chữa lành, chăm sóc sức
khỏe (tắm bùn, trị liệu, bấm huyệt...), ẩm thực là một chủ đề quan trọng khác - đây là một
trong những yếu tố người Nhật quan tâm khi có cơ hội du lịch ở nước ngoài. Xây dựng các
sản phẩm, dịch vụ du lịch theo nhóm các sản phẩm dịch vụ cho khách Nhật Bản nói chung
và nhóm các sản phẩm du lịch đặc thù theo từng phân đoạn thị trường; tập trung quảng bá