BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC NỘI
ĐỖ THỊ HỒNG KHÁNH
PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN
SỬ DỤNG THUỐC TRÊN BỆNH NHÂN RỐI
LOẠN LƯỠNG CỰC TẠI BỆNH VIỆN TÂM
THẦN TRUNG ƯƠNG 1
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
HÀ NỘI 2021
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
ĐỖ THỊ HỒNG KHÁNH
PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN
SỬ DỤNG THUỐC TRÊN BỆNH NHÂN RỐI
LOẠN LƯỠNG CỰC TẠI BỆNH VIỆN TÂM
THẦN TRUNG ƯƠNG 1
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
CHUYÊN NGÀNH: DƯỢC LÝ – DƯỢC LÂM SÀNG
MÃ SỐ: 8720205
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thành Hải
Nơi thực hiện đề tài: Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1
Thời gian thực hiện đề tài: từ 9/2020 đến 31/03/2021
HÀ NỘI 2021
LỜI CÁM ƠN
Trong quá trình xây dựng đề cương, nghiên cứu và hồn thành luận văn
này, tơi đã nhận được rất nhiều sự trợ giúp đến từ các thầy cô trong bộ mơn
Dược lí- Dược lâm sàng, phịng sau đại học, bệnh viện và các khoa phòng liên
quan.
Đặc biệt cho tôi được bày tỏ sự trân quý và biết ơn PGS.TS. Nguyễn
Thành Hải giảng viên Bộ môn Dược Lâm Sàng, trường Đại học Dược Hà Nội,
người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình, tâm huyết giúp đỡ và định hướng cho tơi
trong suốt q trình nghiên cứu.
Tơi xin chân thành cám ơn ban lãnh đạo bệnh viện; TS.BS. Nguyễn
Mạnh Phát -Phó giám đốc Bệnh viện Tâm Thần Trung Ương 1; DSCK1.
Nguyễn Thị Thanh Tuyền, cùng các bác sĩ, các khoa phòng liên quan đã ủng
hộ, tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tơi trong suốt q trình học tập và nghiên cứu
tại bệnh viện.
Tơi xin bày tỏ lịng kính trọng, biết ơn chân thành đến các thầy cô trong
bộ môn Dược Lí- Dược Lâm Sàng, phịng sau đại học đã nhiệt tình giúp đỡ,
đóng góp những ý kiên q báu, hỗ trợ tơi trong q trình học tập cũng như
trong q trình nghiên cứu hồn thành đề tài luận văn thạc sĩ.
Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến gia đình, bạn bè và anh chị em
trong lớp cao học 24 đã động viên, chia sẻ với tôi trong suốt quá trình học tập và
cuộc sống.
Hà nội, ngày 12 tháng 04 năm 2021.
Học viên
Đỗ Thị Hồng Khánh
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ĐẶT VẤN ĐỀ ....................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN ................................................................................. 3
1.1. Tổng quan các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc ................................. 3
1.1.1. Khái niệm và phân loại về vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc ................ 3
1.1.2. Hệ thống phân loại những vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc ................ 6
1.1.3. Các yếu tố làm tăng nguy cơ xảy ra DRPs………………………………..9
1.1.4. Các phương pháp Phát hiện DRPs………………………………………10
1.1.4.1. Bộ công cụ làm căn cứ phát hiện DRPs……………………………….10
1.1.4.2. Cách thức phát hiện DRPs……………………………………………..14
1.2. Tổng quan về điều trị rối loạn lưỡng cực................................................. 15
1.2.1. Định nghĩa rối loạn lưỡng cực. ................................................................. 15
1.2.2. Điều trị rối loạn lưỡng cực ........................................................................ 16
1.2.2.1. Nguyên tắc điều trị………………………….........................................16
1.2.2.2. Liệu pháp hóa dược trong điều trị RLLC……………………………...17
1.3. Các nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc trong điều
trị rối loạn tâm thần………………………………...………………………...20
1.3.1. Các nghiên cứu trên thế giới……………………………………………..20
1.3.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam…………...……………………………….23
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................. 25
2.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................. 25
2.2. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 25
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu ................................................................................... 25
2.2.2. Các bước thực hiện nghiên cứu……………………………………….....26
2.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu……………………………………………………29
2.3.1. Chỉ tiêu nghiên cứu của mục tiêu 1……………………………………...29
2.3.2. Chỉ tiêu nghiên cứu của mục tiêu 2…………………………………… ..29
2.4. Các công cụ, tiêu chuẩn và quy ước trong nghiên cứu………………...30
2.4.1. Công cụ trong nghiên cứu………………………………………….........30
2.4.2. Quy ước………………………………………………………………….31
2.4.3. Phương pháp xử lý số liệu……………………………………….....……32
CHUONG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU……………………………………...33
3.1. Khảo sát các vấn đề liên quan đến thuốc trong quá trình kê đơn trên
bệnh nhân RLLC tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương I………………….33
3.1.1.Đặc điểm chung của bệnh nhân nghiên cứu……………………………...34
3.1.2. Đặc điểm thuốc được sử dụng trong bệnh nhân nghiên cứu…………….35
3.1.2.1. Đặc điểm về số đơn thuốc được sử dụng ……………………………...35
3.1.2.2. Đặc điểm về các nhóm thuốc và tần suất sử dụng……………………..35
3.1.3. Đặc điểm DRPs trong quá trình kê đơn…...…………………………......37
3.1.3.1. Tỷ lệ đơn thuốc theo số lượng DRPs trong đơn……………………….37
3.1.3.2. Số lượng DRPs theo nhóm thuốc được kê đơn………………………..38
3.1.3.3. Số lượng DRPs theo hệ thống phân loại đã xây dựng…………………39
3.1.4. Đặc điểm chi tiết các DRPs đã phát hiện và tỷ lệ mỗi loại DRPs……….40
3.1.4.1. Đặc điểm DRPs về lựa chọn thuốc…………………………………….40
3.1.4.2. Đặc điểm DRPs liều dùng………………………………………….….41
3.1.4.3. DRPs tương tác thuốc………………………………………………….42
3.1.4.4. DRPs cách dùng……………………………………………………….45
3.1.4.5. DRPs khác……………………………………………………………..46
3.2. Phân tích quan điểm đồng thuận của các bác sỹ điều trị RLLC về các
DRPs trong quá trình kê đơn đã được phát hiện ở mục tiêu 1 tại Bện viện
Tâm thần trung ương I……………………………………………………….47
3.2.1. Số loại DRPs được phát hiện trong quá trình kê đơn……………………47
3.2.2. Phân loại theo mức điểm đồng thuận của các bác sỹ điều trị RLLC với các
loại DRPs tại các khoa theo thang điểm Likert………………………………...49
3.2.3. Mức độ đồng thuận của các bác sỹ điều trị với từng loại DRPs……...…50
3.2.4. Tổng hợp và phân tích ý kiến của bác sỹ về nguyên nhân đồng thuận và
không đồng thuận của một số DRPs……………………………………………51
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN……………………………………………………..55
4.1. Bàn luận về phương pháp nghiên cứu và phương pháp phát hiện các vấn đề
liên quan đến thuốc trong kê đơn……………………………………………....55
4.1.1. Bàn luận về phương pháp nghiên cứu…………………………………...55
4.1.2. Phương pháp phát hiện DRPs trong kê đơn……………………………..55
4.2. Bàn luận về vấn đề liên quan đến thuốc trong quá trình kê đơn trên bệnh
nhân rối loạn lưỡng cực tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương I………………..56
4.2.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu……………………………………………….56
4.2.2. Tỷ lệ DRPs chung trong kê đơn…………………………………………57
4.2.3. Tỷ lệ mỗi loại DRPs cụ thể trong kê đơn………………………………..58
4.3. Đánh giá mức độ đồng thuận của bác sỹ…………………………………..61
4.3.1. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………...61
4.3.2. Kết quả đánh giá mức độ đồng thuận của bác sỹ………………………..62
4.4. Những hạn ché của nghiên cứu……………………………………………63
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT……………………………………………………64
1. Kết luận……………………………………………………………………...64
2. Đề xuất……………………………………………………………………….65
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Kí
hiệu/Chữ
viết tắt
ADR
Thuật ngữ tiếng Việt
Phản ứng có hại của thuốc
AMCP
Viện quản lý dược phẩm
ASHP
Hiệp hội Dược sĩ bệnh viện Hoa Kỳ
BNF
DRPs
EMA
eMC
FDA
ME
NCC
MERP
ICD 10
PCNE
WHO
RLLC
NT
SSRI
ECT
MAOI
TCA
ATK
British National Formulary
Thuật ngữ tiếng Anh
Adverse Drug Reaction.
The Academy of Managed
Care Pharmacy’s
American Society of Hospital
Pharmacists
Dược thư Quốc gia Vương
quốc Anh
Các vấn đề liên quan đến sử dụng
Drug related problems.
thuốc
Cơ quan quản lý dược phẩm châu Âu European medicines agency
Electronic Medicines
Tra cứu thuốc điện tử
Compendium.
Quản lý thuốc và thực phẩm
Food and drugAdministration
Sai sót liên quan tới thuốc
Medication error
Hội đồng điều phối Quốc gia
National Coordinating
Hoa Kỳ về Báo cáo và Phòng
Council for Medication Error
tránh sai sót liên quan tới thuốc
Reporting and Prevention
International
Mã quốc tế về bệnh.
Classification of Disease
Pharmaceutical
Care
Mạng lưới chăm sóc dược Châu âu
Network Europe
Tổ chức Y tế Thế giới
World Health Organization
Rối loạn lưỡng cực
Nghiêm trọng
Nhóm thuốc ức chế tái hấp thu chọn
lọc serotonin.
Liệu pháp sốc điện
Thuốc ức chế enzym monoamin
oxidase
Thuốc chống trầm cảm 3 vòng
An thần kinh
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Các hệ thống phân loại DRPs.
Bảng 1.2. Khuyến cáo điều trị giai đoạn hưng cảm cấp (CANMAT).
Bảng 1.3. Khuyến cáo điều trị giai đoạn trầm cảm cấp (CANMAT).
Bảng 1.4. Khuyến cáo điều trị giai đoạn duy trì (CANMAT).
Bảng 1.5. Tỷ lệ các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc hướng thần.
Bảng 2.1. Bộ tài liệu tham chiếu.
Bảng 2.2. Phân loại DRPs được sử dụng trong nghiên cứu.
Bảng 3.1. Đặc điểm tuổi, giưới tính, thời gian nằm viện.
Bảng 3.2. Số đơn thuốc trong một bệnh án; số thc trung bình/ đơn.
Bảng 3.3. Các nhóm thuốc và tần suất sử dụng.
Bảng 3.4. Số lượng DRPs theo đơn thuốc.
Bảng 3.5. Số lượng DRPs theo nhóm thuốc được kê đơn.
Bảng 3.6. Tỷ lệ DRPs theo hệ thống phân loại đã xây dựng.
Bảng 3.7. Tỷ lệ từng loại DRPs trong nhóm DRPs lựa chọn thuốc.
Bảng 3.8. Tỷ lệ từng loại DRPs trong nhóm DRPs về liều dùng.
Bảng 3.9. Tỷ lệ từng loại DRPs trong nhóm DRPs tương tác thuốc.
Bảng 3.10. Tỷ lệ từng loại DRP về cách dùng.
Bảng 3.11. Tỷ lệ từng loại DRPs khác.
Bảng 3.12. Đặc điểm các loại DRPs được phát hiện trong quá trình kê đơn điều
trị RLLC tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương I.
Bảng 3.13. Mức độ đồng thuận với các DRPs của các bác sỹ theo thang điểm
Likert 5 điểm.
Bảng 3.14. Mức độ đồng thuận của các bác sỹ với từng loại DRPs.
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Phân loại DRPs theo PCNE.
Hình 2.1. Sơ đồ tóm tắt q trình thu thập thơng tin xác định DRPs trong kê đơn
thuốc.
Hình 3.1. Các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc được xác định trong nghiên
cứu.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Các đề liên quan đến sử dụng thuốc (Drug Related Problems – DRPs) là
những tình huống liên quan đến điều trị bằng thuốc có thể gây hại hoặc tiềm ẩn
mối nguy hại cho sức khỏe người bệnh [62]. DRPs là nguyên nhân quan trọng
gây ra tình trạng bệnh lý, tử vong ở bệnh nhân cũng như tăng tỷ lệ nhập viện,
kéo dài thời gian điều trị, tăng chi phí điều trị, từ đó giảm sự hài lịng của bệnh
nhân và sự thiếu tin tưởng ngày càng tăng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe.
Một nghiên cứu thuần tập được tiến hành tại Mỹ cho thấy tỉ lệ gây ra các DRPs
quan trọng trên lâm sàng chiếm 79,7% bệnh nhân nghiên cứu. Trong đó DRPs
trùng thuốc chiếm 54,6%, DRPs liều dùng chiếm 29,7%, DRPs tương tác thuốc
chiếm 25,3% [46]. Một nghiên cứu khác được tiến hành tại khoa tâm thần kinh
của bệnh viện đại học Zurich, Thụy Sĩ (năm 2012) cho thấy tỷ lệ mắc DRPs là
70,2% bệnh nhân nghiên cứu. Trong đó 17 trường hợp phản ứng có hại của
thuốc (ADR) được đánh giá là đã xảy ra chiếm 1,3% các trường hợp được
nghiên cứu, 38 trường hợp được chỉ định điều trị bằng thuốc chống chỉ định, các
DRPs phổ biến liên quan đến liều dùng (13,9%), tác dụng phụ tiềm ẩn của thuốc
(64,6%), tương tác thuốc-thuốc (36,8%) [28]. Nghiên cứu mô tả cắt ngang khác
được thực hiện tại Thụy Điển (năm 2017) về các vấn đề liên quan đến sử dụng
thuốc chống loạn thần trên người cao tuổi cho thấy trong 206 bệnh nhân đã sử
dụng thuốc chống loạn thần có 15% bệnh nhân khơng có chỉ định, các DRPs phổ
biến nhất là sai thuốc (60%), điều trị bằng thuốc không cần thiết (18%) và tác
dụng phụ (16%) [25]. Như vậy DRPs có thể xảy ra tại bất kỳ thời điểm nào
trong quá trình sử dụng thuốc, từ kê đơn thuốc của bác sỹ, cấp phát thuốc của
dược sỹ đến thực hiện thuốc của điều dưỡng và sử dụng thuốc, tuân thủ điều trị
của người bệnh.
Trong thực hành lâm sàng trên bệnh nhân rối loạn lưỡng cực (RLLC) là
một trong các bệnh tâm thần mạn tính, đặc trưng bởi các giai đoạn hưng và trầm
cảm xen kẽ dẫn tới quá trình điều trị rất phức tạp, cần phải sử dụng kết hợp
1
nhiều nhóm thuốc hoặc nhiều thuốc hướng thần khác nhau [12][18]. Tuy nhiên
việc phối hợp nhiều thuốc có thể dẫn đến nhiều vấn đề liên quan đến thuốc
thường gặp trong thực hành lâm sàng bao gồm: kê đơn không hợp lý; tương tác
thuốc-thuốc; chống chỉ định thuốc - bệnh; không tuân thủ điều trị và những tác
dụng không mong muốn của thuốc. Đó là một trong những yếu tố nguy cơ làm
gia tăng các DRPs trong sử dụng thuốc nói chung và trong quá trình kê đơn
thuốc và điều trị trên bệnh nhân rối loạn lưỡng cực nói riêng. Bên cạnh đó, năm
2020 Bộ y tế đã ra quyết định về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn
chẩn đoán và điều trị một số rối loạn tâm thần thường gặp” trong đó có hướng
dẫn chẩn đốn và điều trị rối loạn lưỡng cực [12]. Đây là cơ sở để giúp các bác
sĩ điều trị bệnh tâm thần nói chung và bệnh rối loạn lưỡng cực nói riêng có căn
cứ sử dụng thuốc hợp lý hơn.
Bệnh viện Tâm thần Trung Ương 1 là một trong những cơ sở hàng đầu
trong điều trị các bệnh rối loạn tâm thần trong cả nước. Những năm gần đây,
Ban giám đốc bệnh viện rất quan tâm đẩy mạnh công tác dược lâm sàng tại bệnh
viện nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và phòng tránh các vấn đề liên quan đến
thuốc đảm bảo điều trị hiệu quả và an toàn trên các bệnh nhân tâm thần. Hơn
nữa cho đến thời điểm hiện tại, bệnh viện chưa có một nghiên cứu về DRPs nào
được thực hiện.
Xuất phát từ thực tế trên nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài “Phân tích
các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc trên bệnh nhân rối loạn lưỡng cực tại
bệnh viện tâm thần trung ương 1” với 2 mục tiêu:
1. Khảo sát các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc trong quá trình kê
đơn trên bệnh nhân rối loạn lưỡng cực tại bệnh viện tâm thần trung ương 1
2. Phân tích quan điểm đồng thuận của các bác sỹ về các vấn đề liên
quan đến sử dụng thuốc trong quá trình kê đơn đã được phát hiện ở mục tiêu 1.
Từ đó đề xuất các biện pháp nhằm giảm thiểu các vấn đề liên quan đến sử
dụng thuốc trong quá trình kê đơn trên bệnh nhân rối loạn lưỡng cực tại bệnh
viện tâm thần trung ương 1.
2
3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc
1.1.1. Khái niệm và phân loại về vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc
Có nhiều định nghĩa về các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc, mỗi một
định nghĩa đề cập đến một khía cạnh khác nhau của các vấn đề liên quan đến sử
dụng thuốc
Khái niệm các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc (Drug Related
Problems - DRPs) lần đầu tiên được Linda Strand đề cập đến năm 1990: “Vấn
đề liên quan đến sử dụng thuốc tồn tại khi bệnh nhân xuất hiện hoặc có khả năng
xuất hiện một bệnh hoặc một triệu chứng bệnh có liên quan thực sự hoặc nghi
ngờ có mối liên quan với thuốc điều trị”[28]. Khái niệm này đề cập đến dấu hiệu
để nhận biết các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc thông qua việc xem các
triệu chứng hoặc khả năng xuất hiện các triệu chứng bệnh có mối liên quan hoặc
nghi ngờ liên quan đến thuốc điều trị.
Tại Mỹ, hiệp hội dược sĩ bệnh viện của Mỹ (American Society of
Hospital Pharmacists- ASHP) đã định nghĩa DRPs “là một tình huống liên quan
đến điều trị bằng thuốc, thực sự hoặc có khả năng gây trở ngại việc đạt hiệu quả
điều trị tối ưu trên một bệnh nhân cụ thể” [35]. Định nghĩa này nhấn mạnh đến
việc ảnh hưởng của các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc đến hiệu quả điều trị
trên bệnh nhân. Tuy nhiên trên thực tế các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc
không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị trên bệnh nhân mà cịn có nguy cơ
gây ảnh hưởng đến sức khỏe, thậm trí gây tử ra tử vong. Vì vậy Hiệp hội chăm
sóc dược Châu Âu (Pharmaceutical Care Network Europe -PCNE), định
nghĩa DRPs là “những tình huống liên quan đến điều trị bằng thuốc có thể
gây hại hoặc tiềm ẩn mối nguy hại cho sức khỏe người bệnh” [57].
Hiện tại ở Việt Nam vẫn chưa có khái niệm riêng về DRPs do vậy trong
nghiên cứu này chúng tôi sử dụng định nghĩa DRPs của PCNE. Như vậy, DRPs
là một khái niệm rộng, bao gồm trong đó cả sai sót liên quan đến thuốc
(Medication Error - ME), biến cố bất lợi của thuốc (Adverse Drug Event– ADE,
3
hay Adverse Event –AE) và Phản ứng có hại của thuốc (adverse drug reactions ADR). ME “là bất kì biến cố có thể phịng tránh nào có khả năng gây ra hoặc
dẫn đến việc sử dụng thuốc không hợp lý, hoặc gây hại cho bệnh nhân trong khi
thuốc được kiểm soát bởi nhân viên y tế, bệnh nhân, hoặc người tiêu dùng. Các
biến cố như vậy có thể liên quan tới thực hành chun mơn, các sản phẩm chăm
sóc sức khỏe, quy trình và hệ thống bao gồm: Kê đơn và q trình chuyển giao
đơn thuốc; ghi nhãn, đóng gói và danh pháp; pha chế, cấp phát và phân phối;
quản lý, giám sát và sử dụng thuốc trên người bệnh” [59]. ADE là những tổn
thương xảy ra trên bệnh nhân mà nguyên nhân có thể do thuốc gây ra hoặc thiếu
thuốc cần thiết cho bệnh nhân [53]. ADR được định nghĩa theo WHO là những
phản ứng độc hại, không định trước xuất hiện khi dùng thuốc ở liều thường dùng
cho người để dự phịng, chẩn đốn, điều trị hoặc thay đổi chức năng sinh lý của
cơ thể [8].
Một ADE hay một ADR sẽ được xem xét như một DRPs, nhưng một
DRPs tiềm ẩn, chưa gây thương tổn trên bệnh nhân thì khơng được xem là một
ADE hay ADR.
DRPs có thể xảy ra tại bất kỳ thời điểm nào trong quá trình sử dụng thuốc,
từ kê đơn thuốc của bác sỹ, cấp phát thuốc của dược sỹ đến thực hiện thuốc của
điều dưỡng và sử dụng thuốc, tuân thủ điều trị của người bệnh. Trong mỗi giai
đoạn, DRPs lại được chia thành nhiều loại khác nhau [64]. Phân loại DRPs có
thể được thể hiện theo hình 1.1.
4
DRPs
Bệnh nhân
(DRPS thông
tin cho người
bệnh, DRPs
tuân thủ điều
trị)
Bác sĩ
Điều dưỡng,
dược sĩ
(DRPs kê đơn)
(DRPs cấp phát,
sử dụng)
DRPs tiềm ẩn
DRPs thực sự
DRPs khơng thể phịng
tránh được
DRPs có thể phịng
tránh được
Hình 1.1. Phân loại DRPs theo PCNE [57]
DRPs trong kê đơn được tính từ khi bác sỹ kê đơn thuốc đến khi đơn
thuốc được chuyển tới khoa Dược, bao gồm DRPs về thiếu thông tin trong đơn
thuốc, lựa chọn thuốc, liều dùng, cách dùng thuốc, tương tác- tương kỵ thuốc và
thiếu điều trị [59], [62].
DRPs trong cấp phát thuốc: tính từ khi đơn thuốc tới khoa Dược đến khi
thuốc được phát đến khoa phòng để điều dưỡng thực hiện thuốc cho người bệnh
hoặc phát cho người bệnh ngoại trú, bao gồm DRPs do sai thuốc (sai loại thuốc,
sai hàm lượng, sai dạng bào chế), sai nhãn, thiếu hoặc thừa thuốc, thuốc quá hạn
sử dụng [44].
5
DRPs trong chuẩn bị và thực hiện thuốc: bao gồm giai đoạn dược sỹ pha
chế một số loại thuốc đặc biệt tại khoa Dược (thuốc độc tế bào, dịch nuôi dưỡng
đường tĩnh mạch) và điều dưỡng chuẩn bị thuốc (hoàn nguyên, pha loãng thuốc,
nghiền thuốc…), thực hiện thuốc cho bệnh nhân. Bao gồm DRPs về loại thuốc,
dung môi pha thuốc, đường dùng, thời điểm dùng, nồng độ, tốc độ tiêm truyền,
tương kỵ thuốc, kỹ thuật dùng thuốc, bỏ thuốc [38].
DRPs liên quan đến hành vi dùng thuốc của người bệnh sau ra viện:
DRPs về tuân thủ thuốc của người bệnh.
Trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung vào các DRPs trong kê đơn
thuốc trên các bệnh nhân có RLLC được điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Trung
ương I.
1.1.2. Hệ thống phân loại những vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc
Hệ thống phân loại DRPs có ý nghĩa quan trọng trong các nghiên cứu sử
dụng thuốc, một hệ thống phân loại rõ ràng, chi tiết sẽ giúp xác định chính xác
và đầy đủ DRPs gặp phải trong q trình chăm sóc sức khỏe. Mỗi một hệ thống
phân loại DRPs khác nhau đều gắn với đối tượng nghiên cứu và loại hình nghiên
cứu riêng.
Hệ thống phân loại DRPs đầu tiên được xây dựng bởi tác giả Linda Strand
và hệ thống này đã từng được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới đặc biệt là
trong giới dược sĩ. Hệ thống này phân loại DRPs thành 8 nhóm, bao gồm: (1)
vấn đề thuốc không được kê đơn; (2) kê thuốc sai; (3) liều thuốc quá thấp; (4)
liều thuốc quá cao; (5) tác dụng không mong muốn của thuốc; (6) vấn đề về
tương tác thuốc – thuốc, thuốc – thức ăn hoặc thuốc – thiết bị y tế; (7) người
bệnh không nhận được thuốc đã được kê đơn - người bệnh không chấp thuận
đơn thuốc, người bệnh không đủ kinh tế, người bệnh không tuân thủ điều trị; (8)
chỉ định dùng thuốc vơ căn cứ [66].
Tiếp sau hình thức phân loại của Linda Strand, có nhiều cách phân nhóm
DRPs đã được xây dựng và phát triển bởi các dược sỹ dựa trên kết quả nghiên
cứu thực tế. Theo kết quả của hai nghiên cứu tổng quan thực hiện năm 2014,
6
hiện nay trong thực hành lâm sàng có khoảng 20 hệ thống phân loại DRPs khác
nhau [32], [37]. Bảng 1.1. liệt kê một số hệ thống phân loại DRPs.
Bảng 1.1. Các hệ thống phân loại DRPs
STT Tên hệ thống phân loại DPRs
Cách phân loại DRPs
Năm
xuất
bản
1
Hepler–Strand (Mỹ) [66]
8 nhóm vấn đề
1990
2
Hanlon (Mỹ) [41]
10 nhóm vấn đề
1992
3
PI-doc [63]
6 nhóm vấn đề
1995
4
Phân loại của ASHP [35]
13 nhóm vấn đề
1996
5
10 nhóm chính và 48 nhóm
33 nhóm nguyên nhân và 7
nhóm vấn đề
1997
6
PAS (Hà Lan) [53]
Cipolle/Morley/Strand (Mỹ)
[39]
7
ABC (Hà Lan) [52]
3 nhóm vấn đề
2000
8
Krska (Anh) [46]
18 nhóm vấn đề
2002
9
Granada (Tây Ban Nha) [58]
6 nhóm vấn đề
2002
10
Mackie (Anh)
13 nhóm vấn đề
2002
11
Westerlund (Thụy Điển) [68]
14 nhóm vấn đề
2002
12
NCC-MERP (Mỹ) [54]
15 nhóm vấn đề
2003
13
10 nhóm vấn đề
10 nhóm vấn đề và 27 nhóm
SFPC (Pháp) [33]
nguyên nhân
Phân loại của PCNE (Châu Âu) 9 nhóm vấn đề và 44 nhóm
version 9 [57]
nguyên nhân
14
15
SHB-SEP (Hà Lan)
1999
2003
2006
2019
Mặc dù có rất nhiều hệ thống phân loại như đã nêu ở trên nhưng khơng ít
các nghiên cứu DRPs đã sử dụng hệ thống phân loại tự thiết kế. Vì mỗi nghiên
7
cứu khác nhau có mục tiêu, đối tượng, phương pháp, địa điểm nghiên cứu khác
nhau. Do vậy khơng có một hệ thống phân loại nào là đáp ứng được yêu cầu của
tất cả các nghiên cứu. Một nghiên cứu tổng quan đã tiến hành phân tích 268
nghiên cứu liên quan đến DRPs cho thấy có đến 46% nghiên cứu sử dụng hệ
thống phân loại tự thiết kế dựa trên sự thay đổi, bổ sung từ các hệ thống phân
loại phổ biến để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, địa điểm nghiên cứu và loại
hình nghiên cứu [37]. Do các nghiên cứu khác nhau sử dụng hệ thống phân loại
khác nhau nên việc so sánh kết quả giữa các nghiên cứu liên quan đến phát hiện
và đánh giá DRPs của các tác giả và các đơn vị khác nhau thường gặp nhiều khó
khăn.
Tại Việt Nam, trong luật dược 2016 đã đề cập tới khái niệm dược lâm
sàng “là hoạt động nghiên cứu khoa học và thực hành dược về tư vấn sử dụng
hợp lý, an toàn, hiệu quả nhằm tối ưu hóa việc sử dụng thuốc” [21]. Ngày
2/11/2020, nghị định 131/2020 quy định về tổ chức hoạt động dược lâm sàng
của cơ sở khám chữa bệnh đã quy định cụ thể các nội dung về tư vấn giám sát kê
đơn thuốc, sử dụng thuốc và thông tin, hướng dẫn sử dụng thuốc cho người hành
nghề khám chữa bệnh và người sử dụng thuốc đã đề cập đến DRPs và phân loại
16 vấn đề (lý do can thiệp) gồm có: chỉ định không phù hợp, bệnh không được
chỉ định, thuốc chống chỉ định, thuốc không phải lựa chọn ưu tiên, thuốc đắt tiền
và có thể thay thế bằng thuốc khác, thời gian điều trị quá dài hoặc quá ngắn, liều
dùng một lần hoặc hàng ngày quá cao hoặc quá thấp, đường dùng/ dạng bào chế
không phù hợp, kĩ thuật dùng thuốc không hợp lý, thời điểm dùng thuốc không
hợp lý, theo dõi điều trị chưa hợp lý, tác dụng không mong muốn, tương tác
thuốc, tuân thủ điều trị kém, vấn đề dược chính, vấn đề khác.
Tuy có sự khác biệt lớn về số lượng nhóm DRPs giữa các hệ thống phân
loại nhưng nhìn chung DRPs được chia thành các nhóm lớn như: lựa chọn
thuốc, liều dùng, cách dùng, tuân thủ điều trị, điều trị không đầy đủ, theo dõi
điều trị, tương tác thuốc, ADR, dị ứng, ngộ độc.
8
1.1.3. Các yếu tố làm tăng nguy cơ xảy ra DRPs
Nhóm tác giả người Thụy Sỹ gồm Kaufman và cộng sự đã tổng quan các
yếu tố nguy cơ xuất hiện DRPs dựa trên tổng hợp các nghiên cứu trong y văn
đồng thời kết hợp ý kiến thảo luận và đánh giá của một hội đồng các chuyên gia
trong lĩnh vực tế từ bác sỹ, dược sỹ lâm sàng, dược sỹ nhà thuốc cộng đồng,
điều dưỡng – những người có hoạt động lâm sàng thực tế trong suốt chu trình sử
dụng thuốc của người bệnh [56]. Đó có thể là các yếu tố thuộc về người bệnh
hoặc các yếu tố thuộc về thuốc. Nhóm tác giả đã đưa ra 26 yếu tố gồm 10 yếu tố
quan trọng và 16 yếu tố tương đối quan trọng làm xuất hiện DRPs được mô tả
như sau:
10 yếu tố quan trọng có thể làm tăng nguy cơ xảy ra DRPs:
Nhóm các yếu tố thuộc về bệnh hoặc người bệnh:
1) Người bệnh giảm trí nhớ, IQ thấp, lo lắng bồn chồn.
2) Thông tin về người bệnh không được cung cấp đầy đủ, hoặc người
bệnh không hiểu mục đích của điều trị.
3) Người bệnh có nhiều bệnh lý mắc kèm.
4) Người bệnh khơng tn thủ điều trị.
Nhóm các yếu tố thuộc về thuốc
5) Sử dụng nhiều thuốc (>5 thuốc).
6) Sử dụng thuốc chống động kinh.
7) Sử dụng thuốc chống đông.
8) Sử dụng kết hợp thuốc chống viêm không steroid và thuốc chống đông
đường uống.
9) Sử dụng insulin.
10) Sử dụng thuốc có khoảng điều trị hẹp.
16 yếu tố nguy cơ tương đối quan trọng
Nhóm các yếu tố thuộc về bệnh hoặc người bệnh
1) Bệnh nhân có nhiều bệnh mắc kèm.
2) Bệnh nhân có vấn đề giao tiếp.
9
3) Bệnh nhân thao tác kém (impaired manual skills).
4) Bệnh nhân có thị lực kém.
5) Bệnh nhân suy giảm chức năng thận.
6) Bệnh nhân suy giảm chức năng gan.
7) Bệnh nhân đã gặp phản ứng bất lợi của thuốc.
Nhóm các yếu tố thuộc về thuốc
8) Thuốc khó sử dụng (difficult to handle).
9) Thuốc người bệnh tự dùng mà không được kê đơn.
10) Sử dụng thuốc chống viêm không steroid.
11) Sử dụng thuốc lợi tiểu.
12) Sử dụng thuốc chống trầm cảm 3 vịng.
13) Sử dụng thuốc kháng cholinergic.
14) Sử dụng nhóm thuốc benzodiazepin.
15) Sử dụng corticoid.
16) Sử dụng thuốc đái tháo đường đường uống.
1.1.4. Các phương pháp phát hiện DRPs
Phương pháp phát hiện DRPs bao gồm bộ công cụ làm căn cứ xác định và
cách thức phát hiện là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng lớn đến số lượng DRPs
cũng như tỷ lệ chấp nhận của bác sỹ khi dược sỹ tiến hành can thiệp dược lâm
sàng.
1.1.4.1. Bộ công cụ làm căn cứ phát hiện DRPs
Việc lựa chọn, xây dựng bộ công cụ làm căn cứ phát hiện DRPs là một
trong những bước đầu tiên được nhắc đến trong các nghiên cứu xác định DRPs.
Mặc dù các bộ cơng cụ có sự khác biệt lớn về cấu trúc và nội dung, tuy nhiên
chúng có thể được chia thành 3 loại chính: cơng cụ đóng (explicit), cơng cụ mở
(implicit), cơng cụ kết hợp [55]. Tổng quan hệ thống từ 716 bài báo của
Kaufmann năm 2015 đã chỉ ra 46 công cụ sử dụng để phát hiện các vấn đề liên
quan đến kê đơn thuốc [56], [55]. Trong đó có 28 cơng cụ đóng, 8 cơng cụ mở
và 10 cơng cụ kết hợp. Mỗi cơng cụ tập trung vào một nhóm đối tượng bệnh
10
nhân khác nhau. Trong số 46 bộ cơng cụ thì có đến 36 cơng cụ tập trung vào đối
tượng bệnh nhân cao tuổi, 10 cơng cụ cịn lại sử dụng cho bệnh nhân ở mọi lứa
tuổi, 4 công cụ thiết kế để phát hiện DRPs kê đơn cho bệnh nhân điều trị nội trú,
9 công cụ tập trung vào đối tượng bệnh nhân tại khoa cấp cứu, 6 công cụ tập
trung vào đối tượng bệnh nhân nằm điều trị dài ngày, 27 cơng cụ khơng chỉ định
nhóm bệnh nhân.
Cơng cụ đóng thường được xây dựng dựa trên việc tổng quan tài liệu,
quan điểm chuyên gia, hoặc sử dụng phương pháp đồng thuận. Ưu điểm của bộ
cơng cụ đóng là dựa trên nhiều căn cứ khoa học đáng tin cậy, có hệ thống các
tiêu chuẩn rõ ràng giúp thống nhất trong cách phát hiện DRPs. Tuy nhiên, bộ
công cụ này áp dụng những tiêu chí cứng nhắc, chủ yếu tập trung vào thuốc cụ
thể hoặc bệnh, rất ít hoặc khơng chú trọng đến khía cạnh lâm sàng của bệnh
nhân, ví dụ như tình trạng bệnh mắc kèm hay tiền sử đáp ứng trước đó với thuốc
điều trị [55][65]. Một bộ cơng cụ đóng cũng thường khơng đánh giá được sự
phù hợp của một đơn thuốc, một liệu pháp điều trị tổng thể, và thường khu trú
theo nhóm đối tượng, nhóm thuốc [56]. Có nhiều cách xây dựng bộ cơng cụ
đóng: dựa vào tổng quan tài liệu, nghiên cứu khoa học; quan điểm chuyên gia,
hoặc phương pháp đồng thuận hoặc kết hợp các phương pháp. Việc xây dựng và
thẩm định bộ công cụ đánh giá sự phù hợp trong sử dụng thuốc cần những bằng
chứng khoa học tin cậy. Tuy nhiên, một số trường hợp thiếu những bằng chứng
ở mức ý nghĩa cao (ví dụ như các bằng chứng từ nghiên cứu đối chứng). Do đó,
phương pháp đồng thuận kết hợp với bằng chứng khoa học trở thành một tiếp
cận hữu ích để xây dựng một bộ công cụ hiệu quả. Các phương pháp đồng thuận
hay được sử dụng là RAND, Delphi, NGT.
Cơng cụ mở hướng đến các tiêu chí định tính, có thể áp dụng cho mọi loại
đơn thuốc, mọi đối tượng bệnh nhân. Nhóm cơng cụ này khắc phục được nhược
điểm của cơng cụ đóng là hướng trọng tâm vào sự cá thể hóa bệnh nhân. Cơng
cụ mở phụ thuộc nhiều vào kiến thức, quan điểm, thái độ của người đánh giá
hơn là cơng cụ đóng, do đó xét về độ tin cậy là thấp hơn. Ngoài ra, sử dụng công
11
cụ mở mất nhiều thời gian (cứu sử dụng công nghiên cụ MAI - Medication
appropriateness index mất tới 10 phút cho việc đánh giá sự phù hợp của một
thuốc) nên chủ yếu dùng trong nghiên cứu, hơn là thực hành thường quy [55].
Bộ công cụ kết hợp (sử dụng cả hai bộ công cụ để phát hiện DRPs): sử
dụng bộ công cụ kết hợp nhằm liên kết ưu điểm của cả hai bộ công cụ. Các
hướng dẫn điều trị, hướng dẫn sử dụng thuốc trong bộ cơng cụ đóng cung cấp cơ
sở lý luận để nhóm chuyên gia lâm sàng đánh giá một cách tổng thể đơn thuốc
của bệnh nhân. Các câu hỏi trong bộ công cụ mở nhằm đánh giá đơn thuốc có
đảm bảo tính cá thể hóa trong điều trị hay không (phù hợp với đặc điểm lâm
sàng của bệnh nhân cụ thể) [56].
Một số bộ công cụ hay được sử dụng [51],[55],[56],[67].
Bộ cơng cụ đóng: đa số bộ cơng cụ đóng được cơng bố áp dụng cho bệnh
nhân cao tuổi. Những bộ công cụ dưới đây đều được thẩm định bằng phương
pháp đồng thuận Delphi.
-
Tiêu chuẩn Beer (Mỹ): công bố lần đầu tiên vào 1991, phiên bản mới
nhất 2015 bao gồm 36 thuốc hoặc nhóm thuốc khơng nên dùng trên người cao
tuổi, thuốc không được sử dụng trong 14 bệnh, tình trạng bệnh ở người cao tuổi.
-
Tiêu chuẩn Laroche (Pháp - 2007): bao gồm 34 thuốc không nên dùng
trên người cao tuổi, có gợi ý phương pháp điều trị thay thế an toàn hơn cho hầu
hết các tiêu chuẩn.
-
START/STOPP: START (Ireland - 2007 và cập nhật 2014): gồm 35
tiêu chí kê đơn để phát hiện tình trạng thiếu điều trị, thường đi kèm bộ tiêu
chuẩn STOPP (Ireland - 2008 và cập nhật 2014) gồm 87 tiêu chuẩn kê đơn
không phù hợp.
-
Tiêu chuẩn Áo (Austria, 2012): Danh sách 73 thuốc cần phải tránh khi
kê đơn trên bệnh nhân cao tuổi, vì lợi ích khơng vượt trội so với nguy cơ
và/hoặc khơng có bằng chứng về hiệu quả điều trị. Đưa ra những điểm cần phải
tránh khi kê đơn một số thuốc cụ thể hay nhóm thuốc và đề xuất những thuốc
hay nhóm thuốc an tồn hơn.
12
-
Tiêu chuẩn McLeod (Canada 1997): Bao gồm 38 vấn đề thường gặp
trong kê đơn trên bệnh nhân cao tuổi, chủ yếu tập trung vào 4 nhóm thuốc: 1)
thuốc điều trị bệnh tim mạch, 2) nhóm thuốc NSAID, 3) nhóm thuốc gây nghiện
hướng thần, 4) thuốc điều trị rối loạn tâm thần. Đối với mỗi nhóm thuốc sẽ đưa
ra những nguy cơ có thể xảy ra trên bệnh nhân và gợi ý biện pháp thay thế phù
hợp.
Bộ công cụ mở.
- MAI - Medication Appropriateness Index (Mỹ - 1992): gồm 10 câu hỏi
được sử dụng để đánh giá sự phù hợp của đơn thuốc (ví dụ: thuốc có được kê
với liều đúng khơng? thuốc có hiệu quả hay khơng?), trả lời theo thang Likert 3
điểm, đánh giá phù hợp, phù hợp một phần, khơng phù hợp.
- Lipton (Mỹ -1992): đánh giá tính phù hợp trong sử dụng thuốc theo 7
nhóm: 1) dị ứng; 2) liều dùng; 3) cách dùng; 4) phác đồ; 5) tương tác thuốc; 6)
trùng lặp liều thiếu điều trị, trả lời theo thang điểm từ 0-9.
- Tiêu chí kê đơn hợp lý trên bệnh nhân điều trị bệnh mạn tính của Cantrill
(Anh, 1998): bao gồm 9 tiêu chí để đánh giá tính phù hợp của đơn thuốc điều trị
bệnh mãn tính.
Bộ cơng cụ kết hợp.
- Bộ Tiêu chí quản lý chất lượng kê đơn của Úc (2008): gồm 41 tiêu chuẩn
kê đơn liên quan đến những thuốc hay được kê đơn tại Úc và những trường hợp
bệnh hay gặp ở người cao tuổi. Các tiêu chuẩn được đưa ra dưới dạng câu hỏi từ
q trình kê đơn, ví dụ “có tiếp cận những tài liệu thơng tin thuốc cập nhật
không?” hay những tiêu chuẩn tổng hợp như “tỷ lệ kê đơn bệnh nhân suy tim
tâm thu không được kê nhóm thuốc ức chế men chuyển hoặc chẹn thụ thể
AT2”[49].
- POM (Hà Lan - 2009): bộ công cụ giúp quản lý việc sử dụng nhiều
thuốc trên người cao tuổi, gồm 6 câu hỏi mở, mỗi câu hỏi được đính kèm một
tổng quan về các vấn đề hay gặp liên quan cùng với những gợi ý cụ thể để nâng
cao chất lượng đơn kê. Ví dụ, câu hỏi “bệnh nhân có tình trạng nào chưa được
13
điều trị không?” sẽ kèm thêm 1 bảng hướng dẫn các trường hợp thiếu điều trị
hay gặp được tổng kết từ các hướng dẫn điều trị.
1.1.4.2. Cách thức phát hiện DRPs
- Đánh giá toàn diện về việc sử dụng thuốc bởi một nhóm đa ngành gồm
bác sỹ, dược sỹ, điều dưỡng và những chuyên gia khác tùy tình trạng bệnh. Hiệu
quả của cách tiếp cận này đã được chứng minh trong nghiên cứu của Crotty và
công sự năm 2004 tại Úc, khi giảm được 55% đơn thuốc chưa phù hợp so với
nhóm chứng chỉ giảm được 10% [55]. Tuy nhiên, phương pháp này mất thời
gian và nhân sự để tiến hành.
- Đánh giá sử dụng thuốc thông qua xem xét đơn thuốc, tư vấn bệnh nhân
bởi dược sỹ lâm sàng. Cách thức tiến hành chi tiết của phương pháp này cũng
khác nhau giữa các nghiên cứu, phụ thuộc cách thức triển khai cơng tác dược
lâm sàng. Có nghiên cứu tiến hành phát hiện DRPs trên cả quá trình từ khi bệnh
nhân nhập viện đến khi xuất viện hoặc chỉ tiến hành một trong các giai đoạn:
nhập viện, điều trị nội trú hoặc chỉ xem xét đơn ra viện; dược sỹ phát hiện DRPs
tham gia hoạt động đi buồng (ward round) cùng nhóm chun gia hoặc khơng.
Tác giả Crotty cũng chỉ ra hiệu quả giảm có ý nghĩa sự khơng phù hợp trong kê
đơn theo thang điểm MAI trong nhóm có dược sỹ lâm sàng đánh giá với nhóm
đối chứng. Tuy nhiên hiệu quả can thiệp trong phương pháp này phụ thuộc
nhiều vào mối liên kết, giao tiếp của dược sỹ và bác sỹ kê đơn cũng như yêu cầu
dược sỹ phải tiếp cận được đầy đủ thông tin lâm sàng của bệnh nhân [65].
- Sử dụng hệ thống hỗ trợ ra quyết định tích hợp với hệ thống kê đơn điện
tử trong bệnh viện, phát hiện ra vấn đề liên quan đến thuốc ngay khi bác sỹ tiến
hành kê đơn. Để phương pháp này có thể tiến hành, hệ thống hỗ trợ cần liên kết
được với bệnh án điện tử của bệnh nhân, với các thông tin lâm sàng đầy đủ.
Đồng thời, dữ liệu thông tin thuốc trong hệ thống cần được cập nhật thường
xuyên. Hạn chế của phương pháp này là việc đánh giá chưa mang tính lâm sàng,
khó cá thể hóa bệnh nhân. Cảnh báo tự động với tần suất lớn, kể cả những cảnh
14
báo không quan trọng sẽ ảnh hưởng đến sự tin cậy đối với hệ thống của bác sỹ
kê đơn [65].
- Như vây, phương pháp phát hiện DRPs lý tưởng nhất là đánh giá toàn
diện việc sử dụng thuốc bởi một nhóm đa ngành gồm bác sỹ, dược sỹ, điều
dưỡng và những chuyên gia khác, phương pháp này giúp cho việc xem xét sử
dụng thuốc một cách toàn diện, dưới nhiều góc nhìn khác nhau. Tuy nhiên trong
nghiên cứu khơng phải lúc nào cũng áp dụng được phương pháp này vì để thực
hiện được đòi hỏi cơ sở y tế nơi tiến hành nghiên cứu phải có mơ hình hoạt động
dược lâm sàng phù hợp và có đủ nguồn nhân lực tham gia nghiên cứu. Hiện nay,
các nghiên cứu DRPs tại Việt Nam thường đánh giá sử dụng thuốc bằng cách
xem xét đơn thuốc độc lập bởi dược sĩ trên cơ sở bộ công cụ tự xây dựng (bộ
công cụ được tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, sau khi xây dựng có
lấy ý kiến đồng thuận của nhóm đa nghành). Phương pháp này tuy không hiệu
quả bằng phương pháp đánh giá sử dụng thuốc tồn diện bởi nhóm đa nghành
nhưng dễ áp dụng và phù hợp với điều kiện của nhiều cơ sở y tế.
1.2. Tổng quan về điều trị rối loạn lưỡng cực
1.2.1. Định nghĩa rối loạn lưỡng cực.
Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số rối loạn tâm thần thường
gặp ngày 14 tháng 5 năm 2020 của Bộ Y Tế [12]: “Rối loạn lưỡng cực là mợt
rối loạn khí sắc mạn tính, đặc trưng bởi các giai đoạn hung cảm nhẹ xen kẽ hay
đi kèm với các giái đoạn trầm cảm. Rối loạn lưỡng cực còn được gọi là rối loạn
hung trầm cảm, rối loạn cảm xúc lưỡng cực, rối loạn phổ lưỡng cực”.
Theo ICD-10: Rối loạn lưỡng cực đặc trưng bởi ít nhất từ hai giai đoạn
bệnh với khí sắc và mức độ hoạt động của bệnh nhân bị rối loạn rõ rệt, rối loạn
này bao gồm từng lúc có sự tăng khí sắc, sinh lực và hoạt động (hung cảm nhẹ
hoặc hung cảm) và những lúc khác có sự giảm khí sắc, sinh lực hoạt động (trầm
cảm). Các giai đoạn bệnh lặp lại chỉ có hung cảm hoặc hung cảm nhẹ cũng được
phân loại là rối loạn lưỡng cực
15