Tải bản đầy đủ (.doc) (17 trang)

THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ HIỆN NAY Ở THỊ XÃ GIA RAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (141.5 KB, 17 trang )

MBTH
Phụ lục 1: Bìa chính

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC II

BÀI THU HOẠCH
LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HỆ TẬP TRUNG

TÊN MƠN HỌC:
GIỚI TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
TÊN BÀI THU HOẠCH:

“THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN
LÝ VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG
LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ HIỆN NAY Ở THỊ XÃ GIA RAY”

ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG
Bằng số
Bằng chữ

TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021


2

MỤC LỤC
- PHẦN MỞ ĐẦU .........................................................................................2
- PHẦN NỘI DUNG .........................................................................………3
1. Một số vấn đề lý luận chung về bình đẳng giới trong lãnh đạo,


quản lý …………………………………………………………………………3
1.1. Khái niệm bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ……………………….3
1.2. Đường lối, chủ trương của Đảng về việc thực hiện bình đẳng giới trong
lãnh đạo, quản lý …………………………………………………………………...4
1.3. Tầm quan trọng của việc thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản
lý ở Việt Nam hiện nay …………………………………………………………….7
1.4. Những vấn đề đặt ra đối với sự nghiệp thúc đẩy bình đẳng giới trong
lãnh đạo, quản lý ………………………………………………………………….8
1.5. Giải pháp tiếp tục thực hiện bình đẳng giới trong lãnh đạo và quản lý...9
2. Thực trạng thực hiện bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý hiện nay ở
thị xã GIA RAY ……………………………………………………………… …..9
2.1. Công tác triển khai thực hiện …………………………………………..9
2.2. Công tác tuyên truyền ………………………………………………...10
2.3. Cơng tác quản lý nhà nước về Bình đẳng giới ......................................11
2.4. Nhận xét, đánh giá..................................................................................12
3. Giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở địa phương
trong thời gian tới ………………………………………………………………..13
- PHẦN KẾT LUẬN ..................................................................................15
- TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................16


3

PHẦN MỞ ĐẦU
Bình đẳng giới chính là bình đẳng nam nữ và là một trong những vấn đề cơ
bản của quyền con người. Xã hội ngày càng phát triển và văn minh thì bình đẳng
giới càng được chú trọng và thể hiện ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó
có lĩnh vực quản lý. Bình đẳng giới trong hoạt động quản lý khơng đơn giản là
nam-nữ có số lượng ngang nhau tham gia vào quản lý; cũng khơng có nghĩa coi
nam, nữ là giống nhau, khơng tính đến yếu tố tâm sinh lý, yếu tố xã hội của từng

giới trong hoạt động quản lý mà thể hiện ở chỗ nam và nữ cùng có vị thế xã hội
như nhau khi tham gia và thực hiện hoạt động quản lý; cả cán bộ nam và cán bộ nữ
đều có cơ hội, nghĩa vụ và quyền lợi như nhau trong quá trình thực hiện quản lý,
được hưởng các lợi ích bình đẳng như nhau theo các nguyên tắc nhất định.
Nắm vững những nội dung về bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý giúp
hình thành kỹ năng nhận diện những thuận lợi và khó khăn để xây dựng những
biện pháp cụ thể thúc đẩy bình đẳng giới trong từng lĩnh vực, hoàn cảnh xã hội.
Hiện nay Việt Nam là một trong những nước được Liên Hợp quốc đánh giá cao
trong việc nỗ lực rút ngắn khoảng khách bình đẳng giới trong giáo dục, việc làm,
kinh tế, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hố gia đình; một trong những lĩnh
vực đáng chú ý hơn đó là vấn đề giới trong lãnh đạo quản lý.


4

PHẦN NỘI DUNG
1. Một số vấn đề lý luận chung về bình đẳng giới trong lãnh đạo,
quản lý:
1.1. Khái niệm bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý:
Bình đẳng giới trong các vị trí lãnh đạo, quản lý chính thức trong hệ thống
chính trị được quan tâm là vì ba lý do cơ bản sau:
Thứ nhất, theo cách tiếp cận lãnh đạo là sự đại diện cho những người mà
người lãnh đạo được bầu lên (người lãnh đạo là người đại diện cho những người có
chung những đặc điểm, lợi ích, nhu cầu và thay mặt họ nói lên nhu cầu, lợi ích, các
mối quan tâm của họ trong quá trình chính sách cơng) thì người lãnh đạo nữ được
coi là người đại diện cho nữ giới vì họ mang nhiều đặc điểm về sinh học - xã hội,
có những nhu cầu, lợi ích, kinh nghiệm tương đối tương đồng với những người phụ
nữ khác và sẽ thay mặt những người phụ nữ trong xã hội nói lên tiếng nói, nhu cầu,
lợi ích của nữ giới trong q trình hoạch định chính sách cơng. Cách tiếp cận đại
diện này đã đạt được những thành tựu quan trọng trong quá trình thúc đẩy bình

đẳng giới trong lĩnh vực chính trị trên toàn thế giới.
Thứ hai, hiện nay những hệ thống đánh giá cơng tác thực hiện bình đẳng
giới trong lĩnh vực chính trị trên tồn thế giới hàng năm vẫn lấy tỷ lệ phần trăm nữ
giới và nam giới giữ các vị trí lãnh đạo, quản lý chính thức trong hệ thống chính trị
là tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện bình đẳng giới của từng quốc gia. Ở Việt
Nam, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra các chỉ tiêu về tỷ lệ cán bộ nữ trong các cấp
ủy đảng, Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, tỷ lệ cán bộ nữ chủ chốt trong các
tổ chức của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội làm mục tiêu phấn
đấu và để đo tình hình thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị ở Việt
Nam.
Thứ ba, trong hệ thống chính trị Việt Nam, việc được bổ nhiệm vào các vị
trí lãnh đạo, quản lý chính thức là một q trình phấn đấu lâu dài và bền bỉ của các
công chức, viên chức. Q trình phấn đấu đó bắt đầu từ khi mỗi công chức, viên


5

chức được tuyển dụng vào làm việc trong hệ thống chính trị Việt Nam. Q trình
phấn đấu cũng được thể hiện qua việc công chức, viên chức được cơ quan đưa vào
quy hoạch ở các vị trí lãnh đạo, quản lý. Dựa trên vị trí lãnh đạo, quản lý được quy
hoạch, tổ chức cử công chức, viên chức đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực
phù hợp với vị trí lãnh đạo, quản lý được quy hoạch. Luân chuyển, đi biệt phái và
thực tế dài hạn cũng là một cách thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được quy hoạch.
Hàng năm, cán bộ, công chức, viên chức được đánh giá dựa trên các tiêu chí cụ
thể. Bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý là khâu quan trọng của quy trình cơng tác
cán bộ. Như vậy, việc trở thành một người lãnh đạo, quản lý chính thức trong hệ
thống chính trị Việt Nam là một q trình gồm nhiều khâu.
Như vậy, bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý có nghĩa là nam gỉới, nữ
giới có vị trí, vai trị ngang nhau trong cơng tác lãnh đạo, quản lý, được tạo điều
kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình ngang nhau ở tất cả các khâu của quy

trình cơng tác cán bộ và được thụ hưởng kết quả bổ nhiệm vào những vị trí lãnh
đạo, quản lý chính thức trong hệ thống chính trị cơng bằng.
1.2. Đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước về việc thực hiện bình
đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý:
Đảng ta ln coi thúc đẩy bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong
lãnh đạo, quản lý là một nhiệm vụ và mục tiêu của cách mạng Việt Nam trong mọi
giai đoạn phát triển đất nước. Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27-4-2007 của Bộ
Chính trị đã nêu rõ:
“Phát huy vai trị, tiềm năng to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp cơng nghiệp
hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện
bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội là một trong
những nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ
mới”.
“Xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò
to lớn của phụ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược


6

công tác cán bộ của Đảng”.
“Công tác phụ nữ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của tồn xã hội
và từng gia đình. Trong đó, hạt nhân lãnh đạo là các cấp ủy đảng, trách nhiệm trực
tiếp và chủ yếu là cơ quan quản lý nhà nước các cấp, vai trò chủ thể là phụ nữ mà
nòng cốt là các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam”.
Năm 2015, Đảng tiếp tục khẳng định nhiệm vụ thúc đẩy bình đẳng giới nói
chung và bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống
chính trị Việt Nam trong Thơng báo số 196-TB/TW ngày 16-3-2015 của Ban Bí
thư: “Cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đồn thể nhân dân phải xác
định cơng tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ là nhiệm vụ chiến lược,
lâu dài và thường xuyên ở từng cấp, từng ngành”.

Gần đây nhất, trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng
ta tiếp tục khẳng định giảm khoảng cách giới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội, trong đó có việc giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị vừa là một
nhiệm vụ đồng thời cũng là một trong các giải pháp để phát triển kinh tế - xã hội,
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần của nhân dân như sau: “Thực hiện đồng bộ và toàn diện các giải pháp
phát triển thanh niên, bình đẳng giới vì sự tiến bộ của phụ nữ. Giảm dần khoảng
cách giới trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình”.
Cam kết chính trị của Đảng về thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính
trị được thể hiện ở việc Đảng đã đưa ra các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới tiến
bộ. Hệ thống chỉ tiêu về tỷ lệ nữ trong các cấp ủy đảng, Quốc hội và Hội đồng
nhân dân các cấp là một trong các biện pháp tích cực trong việc thúc đẩy bình đẳng
giới trong lĩnh vực chính trị đã được Đảng đưa ra trong nhiều văn bản. Điều này
thể hiện cam kết chính trị rất mạnh mẽ của Đảng ta trong việc giảm khoảng cách
giới trong lĩnh vực chính trị.
Hệ thống chỉ tiêu tỷ lệ nữ trong lĩnh vực chính trị có thay đổi qua thời gian.
Cụ thể, Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27-4-2007 của Bộ Chính trị đã đặt ra


7

những chỉ tiêu cụ thể về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị: “Phấn đấu đến
năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu
Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp từ 35% đến 40%. Các cơ quan, đơn vị có
tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ. Cơ quan lãnh
đạo cấp cao của Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ có tỷ lệ nữ phù hợp với
mục tiêu bình đẳng giới”. Nghị quyết lưu ý: “Cần bảo đảm tỷ lệ nữ tham gia các
khóa đào tạo tại các trường lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước từ 30%
trở lên”.
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018 về tập trung xây dụng đội ngũ

cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang
tầm nhiệm vụ nêu rõ đến năm 2030: “Phải có cán bộ nữ trong cơ cấu ban thường
vụ câp ủy và tổ chức đảng các cấp. Tỷ lệ nữ cấp ủy viên các cấp đạt từ 20-25%; tỷ
lệ nữ đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đạt trên 35%. Ở những địa bàn
có đồng bào dân tộc thiểu số, phải có cán bộ lãnh đạo là người dân tộc thiểu số phù
hợp với cơ cấu dân cư”.
Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ
các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc làn thứ XIII của Đảng đã nêu rõ cơ cấu
và tỷ lệ cấp ủy viên nữ và trách nhiệm của người đứng đầu và các cấp ủy các cấp
như sau: “Phấn đấu đạt tỷ lệ cấp ủy viên nữ từ 15% trở lên và có cán bộ nữ trong
Ban thường vụ; tỷ lệ cán bộ trẻ (dưới 40 tuổi đổi với cấp tỉnh, cấp huyện) từ 10%
trở lên; tỷ lệ cấp ủy viên là người dân tộc thiểu số phù hợp với đặc điểm, cơ cấu
dân tộc và điều kiện cụ thể của từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Cấp ủy các cấp,
nhất là người đứng đầu phải chủ động và có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo việc rà
soát, đánh giá để đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ
người dân tộc thiểu số vào các chức danh có cơ cấu tham gia cấp ủy khóa mới;
đồng thời, có giải pháp hiệu quả chuẩn bị nguồn cán bộ cả trước mắt và lâu dài”.
Nhà nước đã ban hành nhiều luật và chính sách trực tiếp hoặc gián tiếp có
lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị. Cam kết chính trị mạnh


8

mẽ của Nhà nước về thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý được thể hiện
trong các văn bản pháp luật cao nhất như Hiến pháp nước Cộng hịa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam năm 2013, Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật Bầu cử đại biểu
Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015. Gần đây nhất, Nghị quyết số
28/NQ-CP ngày 3-3-2021 của Chính phủ Ban hành Chiến lược quốc gia về bình
đẳng giới giai đoạn 2021-2030. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ
đạo thực hiện bình đẳng giới và cơng tác phụ nữ.

Các chỉ tiêu về tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản lý trong Chiến lược quốc gia về bình
đẳng giới giai đoạn 2011-2020 có nhiều thay đổi so với chỉ tiêu về tỷ lệ nữ lãnh
đạo, quản lý trong Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày 3-3-2021 của Chính phủ ban
hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030. Nếu Mục tiêu 1
trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 bao gồm ba chỉ
tiêu thành phần như trên, thì Mục tiêu 1 trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng
giới giai đoạn 2021-2030 chỉ còn một chỉ tiêu thành phần duy nhất là: “Mục tiêu 1:
Trong lĩnh vực chính trị. Chỉ tiêu: đến năm 2025 đạt 60% và đển năm 2030 đạt
75% các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương các cấp có lãnh đạo
chủ chốt là nữ.
1.3. Tầm quan trọng của việc thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo,
quản lý ở Việt Nam hiện nay:
Tầm quan trọng của thực hiện bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở nước
ta hiện nay được thể hiện qua những nội dung sau:
- Bình đẳng giới trong lãnh đạo và quản lý ở Việt Nam trực tiếp quy định
thành bại của công cuộc xây dựng xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, cơng
bằng và văn minh”. Việc giải phóng phụ nữ là một trong những mục tiêu đấu tranh
cơ bản của sự nghiệp cách mạng và quyền lợi của phụ nữ chính là quyền được
hưởng tự do, dân chủ, được bình đẳng với nam giới, được tôn trọng, được hạnh
phúc, được học hành, được phát huy tài năng và sức lực của mình đóng góp vào sự


9

phát triển của đất nước; quyền lợi của phụ nữ gắn với quyền lợi của dân tộc, giai
cấp công nhân và nhân dân lao động.
- Thực hiện bình đẳng giới trong lãnh đạo và quản lý chính là sự huy động và
sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao được lựa chọn từ cả nam và nữ tài giỏi
trong nước; đảm bảo được nhu cầu và lợi ích của tồn dân và của giới nữ, được
quán triệt và thực hiện tốt hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Xem trong lịch

sử cách mệnh chẳng có lần nào là khơng có đàn bà con gái tham gia”, “Non sơng
gấm vóc Việt Nam do phụ nữ trẻ cũng như già ra sức thêu dệt mà thêm tốt đẹp, rực
rỡ”.
Thực hiện quyền bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý khơng chỉ phản ánh,
phát huy tâm tư, tình cảm, ý chí, tài năng sáng tạo,... của nam giới mà còn của cả
nữ giới trong quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối,
chính sách, hiến pháp, pháp luật,... của Đảng và Nhà nước. Qua đó, từng bước đẩy
lùi, khắc phục tình trạng định kiến về giới trong xã hội, tạo ra nguồn động lực
mạnh mẽ thúc đẩy nữ giới vươn lên trong lãnh đạo, quản lý; đồng thời, phản ánh
bản chất nhân văn, văn minh tiến bộ của chế độ ta.
1.4. Những vấn đề đặt ra đối với sự nghiệp thúc đẩy bình đẳng giới trong
lãnh đạo, quản lý:
Từ thực trạng trên, vấn đề bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý đã đặt ra
nhiều thách thức, khó khăn, đó là:
- Thực hiện quyền bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý với thực trạng phụ
nữ bị hạn chế hơn nam giới về cơ hội phát triển việc làm, thu nhập...
- Thực hiện quyền bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý với thực trạng một
bộ phận phụ nữ tự ti, an phận, chưa chủ động vượt lên khó khăn; thậm chí cịn níu
kéo nhau, chưa ủng hộ nhau cùng phát triển.
- Thực hiện quyền bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý với thực trạng người
phụ nữ khi vừa thực hiện thiên chức người mẹ, người thầy đầu tiên của con người,
vừa phải hoàn thành tốt nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị trong điều kiện xã hội và gia


10

đình Việt Nam có nhiều thay đổi, nhất là trước những tác động mặt trái của cơ chế
thị trường, hội nhập quốc tế,... và sự xuống cấp về đạo đức của một bộ phận các
tầng lớp nhân dân, trong đó, có sự băng hoại của đạo đức truyền thống, sự lên ngôi
của lối sống thực dụng ở một bộ phận phụ nữ đang có chiều hướng gia tăng.

- Thực hiện quyền bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý với những bất cập,
hạn chế trong việc hoạch định, ban hành, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước về thúc đẩy bình đẳng giới.
- Thực hiện quyền bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý với hạn chế, bất cập
của các cơ quan tham mưu bình đẳng giới, nhất là Hội Liên hiệp Phụ nữ trong việc
tham mưu, đề xuất với Đảng và Nhà nước về công tác phụ nữ ở từng thời kỳ, từng
lĩnh vực, khu vực trong việc giải quyết những vấn đề bức xúc liên quan đến phụ
nữ.
1.5. Giải pháp tiếp tục thực hiện bình đẳng giới trong lãnh đạo và quản
lý:
- Một là, xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý và chính sách về bình đẳng
giới trong lãnh đạo và quản lý.
- Hai là, nâng cao năng lực của các bên liên quan trong thực hiện bình đẳng
giới trong lãnh đạo, quản lý
- Ba là, tăng cường giám sát thực hiện bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản
lý.
- Bốn là, nâng cao văn hóa, nhận thức về bình đẳng giới trong chính trị.
- Năm là, tăng cường tiếp cận các nguồn lực trong thực hiện bình đẳng giới
trong lãnh đạo, quản lý.
2. Thực trạng thực hiện bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý hiện nay
ở thị xã GIA RAY:
2.1. Công tác triển khai thực hiện:
GIA RAY là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Tây
Ninh. Hiện nay trên địa bàn thị xã GIA RAY hiện có 70.215 nữ/138.017 số dân đạt


11

tỷ lệ 50,87%, trong đó có 28.570 hội viên Hội Liên hiệp Phụ nữ đạt 40,68%. Đội
ngũ cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn thị xã GIA RAY là 317/359 , trong

đó nữ: 129/317,cụ thể:
- Cán bộ, cơng chức thị xã GIA RAY: 87/95, trong đó nữ: 38/87, chiếm tỷ lệ:
43,67%
- Viên chức thị xã GIA RAY: 46/64, trong đó nữ: 19/46, chiếm tỷ lệ 41,30%
- Cán bộ cơng chức xã, phường: 184/200, trong đó nữ: 72/184, chiếm tỷ lệ:
39,13%.
Cơng tác Bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ được Thị ủy, Ủy ban
nhân dân thị xã quan tâm chỉ đạo, coi đó là một trong những nhiệm vụ trọng tâm,
lâu dài của thị xã; công tác phối hợp triển khai các nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu về
bình đẳng giới và tiến bộ phụ nữ của các cơ quan, ban, ngành được thực hiện
nghiêm túc. Nhận thức của người dân về bình đẳng giới cơ bản đã có chuyển biến
tích cực, đi vào thực chất hơn.
2.2. Cơng tác tun truyền:
Nhiều mơ hình, truyền thơng về Bình đẳng giới và Vì sự tiến bộ phụ nữ
được duy trì hoạt động với đặc điểm thế mạnh của mỗi ngành, đồn thể và phù hợp
với từng nhóm đối tượng cụ thể nhằm tạo các hoạt động hỗ trợ phụ nữ xây dựng
gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thu hút ngày càng nhiều hội viên
tham gia, triển khai hoạt động Dự án 3 “Hỗ trợ xây dựng gia đình hạnh phúc, bền
vững”.
Một số cơ quan, ban, ngành tuyên truyền Luật Bình đẳng giới, Luật phịng,
chống bạo lực gia đình; phương pháp tun truyền vận động phịng chống bạo lực
gia đình, ngăn ngừa xâm hại tình dục trẻ em, đối thoại tại diễn đàn trẻ em....
Hội Liên hiệp phụ nữ thị xã GIA RAY tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục pháp luật liên quan đến phụ nữ, trẻ em và bình đẳng giới, tuyên truyền Luật
Bình đẳng giới, Luật Phịng, chống bạo lực gia đình, Chỉ thị số 21-CT/TW, ngày
20/01/2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XII) về tiếp tục đẩy mạnh


12


cơng tác phụ nữ trong tình hình mới, Kế hoạch hành động về Bình đẳng giới, các
mơ hình, gương người tốt việc tốt vì sự tiến bộ của phụ nữ, Nghị quyết số 11NQ/TW, Kết luận số 55-KL/TW, Chiến lược quốc gia, Kế hoạch hành động về
Bình đẳng giới, các mơ hình, gương người tốt việc tốt về bình đẳng giới, vì sự tiến
bộ của phụ nữ…Hình thức tuyên truyền thơng qua các buổi sinh hoạt chi, tổ Hội, tổ,
nhóm, câu lạc bộ… Kết quả tuyên truyền được 526 cuộc/ 21.233 chị dự. Cấp phát
500 tài liệu về pháp luật bình đẳng giới.
Hằng năm trong tháng hành động Bình đẳng giới tổ chức treo 200 băng ron
theo các trục lộ chính, đồng thời tổ chức 6 buổi nói chuyện chun đề về cơng tác
Bình đẳng giới “Chung tay chấm dứt bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái”
Hội Liên hiệp Phụ nữ thị xã tổ chức 08 cuộc truyền thơng phịng chống xâm
hại tình dục trẻ em cho các bà mẹ có con trong độ tuổi vị thành niên tại các xã,
phường có 390 chị dự. 100% cơ sở Hội nâng chất 08 mơ hình về an tồn cho phụ
nữ trẻ em (mơ hình về an tồn thực phẩm). 100% cơ sở Hội tổ chức 11 cuộc tuyên
truyền phịng chống bạo lực gia đình có 489 chị dự và 13 cuộc tuyên truyền phòng
chống xâm hại trẻ em có 885 chị dự. Tun truyền phịng, chống đuối nước và
phịng, chống xâm hại tình dục ở trẻ em tại Trường tiểu học Long Hoa có trên 500
em học sinh dự.
2.3. Cơng tác quản lý nhà nước về Bình đẳng giới:
Uỷ ban nhân dân thị xã GIA RAY triển khai một số văn bản liên quan đến
bình đẳng giới và hoạt động Ban vì sự tiến bộ phụ nữ thị xã GIA RAY như sau:
- Hằng năm UBND thị xã GIA RAY ban hành Kế hoạch thực hiện Chương
trình Bình đẳng giới, triển khai tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, chống
bạo lực trên cơ sở giới năm.
- Ban hành Quyết định số 06/QĐ-BVSTBPN ngày 01/10/2019 của Ban vì sự
tiến bộ phụ nữ thị xã GIA RAY về việc ban hành quy chế hoạt động của Ban vì sự
tiến bộ phụ nữ.


13


- Ban hành Quyết định số 06/QĐ-UBND ngày 03/01/2020 của Ủy ban nhân
dân thị xã GIA RAY về việc kiện tồn Ban điều hành Chương trình bảo vệ trẻ em
và nhóm cơng tác liên ngành thị xã GIA RAY.
Số lượng cán bộ làm cơng tác bình đẳng giới cấp thị xã và xã là 18 người
chủ yếu là kiêm nhiệm, ngoài ra cấp thị xã cũng kiện toàn lại Ban Vì sự tiến bộ phụ
nữ thị xã GIA RAY, các xã, phường kiện tồn lại Ban vì sự tiến bộ phụ nữ địa
phương.
Thị xã luôn quan tâm đến công tác đào tạo cán bộ nữ trẻ vào các vị trí nhằm
từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị. Trong quy hoạch
cán bộ lãnh đạo đến năm 2020 và những năm tiếp theo chú trọng đến cán bộ nữ.
Để nâng cao năng lực thực hiện công tác bình đẳng giới, hàng năm Ủy ban
nhân dân thị xã phối hợp Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh tổ chức tập
huấn nâng cao năng lực cho Ban vì sự tiến bộ phụ nữ thị xã GIA RAY và xã với
100 đại biểu tham dự, tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cơng tác bình đẳng giới
cho 39 cộng tác viên các xã, thị trấn.
Trong thời gian qua Ban vì sự tiến bộ phụ nữ thị xã kiểm tra được 2 cuộc (6
tháng và năm) về tình hình thực hiện cơng tác Bình đẳng giới các xã, phường trên
địa bàn thị xã GIA RAY. Hầu hết các xã, phường đều quan tâm thực hiện tốt công
tác Bình đẳng giới, Vì sự tiến bộ phụ nữ của địa phương.
2.4. Nhận xét, đánh giá:
* Thuận lợi
- Thị ủy, Ủy ban nhân dân thị xã luôn quan tâm đến cơng tác bình đẳng giới
và vì sự tiến bộ phụ nữ xem đây là nhiệm vụ quan trọng trong phát triển mọi mặt
của thị xã GIA RAY. Từ đó, đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ ngày càng
được nâng cao, vị thế của phụ nữ trong gia đình và xã hội ngày càng được khẳng
định, tạo điều kiện thuận lợi cho mục tiêu bình đẳng giới.


14


- Sự phối hợp chặc chẽ trong việc tổ chức triển khai thực hiện cơng tác Bình
đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ của các cơ quan, ban, ngành, thành viên Ban
chỉ đạo góp phần quan trọng thực hiện các mục tiêu của cơng tác bình đẳng giới.
* Tồn tại, hạn chế
- Hoạt động của Ban chưa thường xun, cịn mang tính chất phối hợp giữa
các ngành, bên cạnh thành viên Ban vì sự tiến bộ phụ nữ thường xuyên thay đổi.
- Các hoạt động triển khai, phổ biến kiến thức bình đẳng giới cịn mang tính
hình thức, chưa phong phú về nội dung. Một số cán bộ làm cơng tác bình đẳng giới
ở cơ sở cịn lúng túng trong việc tham mưu, triển khai thực hiện các mục tiêu kế
hoạch về lĩnh vực bình đẳng giới.
- Ban hành kế hoạch thực hiện trong năm còn chậm khó khăn trong việc
triển khai chỉ đạo các ngành có liên quan.
3. Giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở địa
phương trong thời gian tới:
- Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền các văn bản của Đảng và trong
luật pháp và chính sách của Nhà nước như: Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ
Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018 về tập trung xây dựng đội ngũ
cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang
tầm nhiệm vụ, Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị về đại hội
đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Hướng
dẫn số 26-HD/BTCTW ngày 18-10-2019 của Ban Tổ chức Trung ương về một số
nội dung Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Chiến lược quốc gia về bình
đẳng giới giai đoạn 2011-2020 và giai đoạn 2021-2030. Bổ sung những chỉ tiêu cụ
thể về tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản lý như đưa chỉ tiêu cụ thể về tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản
lý trong các cơ quan của Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội, bổ sung các chỉ
tiêu cho nữ giới trong tồn bộ các khâu của quy trình công tác cán bộ, đảm bảo các



15

chỉ tiêu cán bộ được cập nhật hàng năm.
- Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, nhất là phát
huy vai trò của người đứng đầu cơ quan, địa phương trong thực hiện các mục tiêu
quốc gia về bình đẳng giới; bố trí, phân cơng cơng tác đối với nữ cán bộ, công
chức, viên chức đảm bảo đúng quy định về bình đẳng giới.
- Triển khai thực hiện Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, chống
bạo lực trên cơ sở giới với chủ đề “Chủ động phòng, chống bạo lực, xâm hại phụ
nữ và trẻ em” nhằm tạo nên đợt cao điểm về tuyên truyền và thu hút sự quan tâm
của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong việc phịng, chống bạo
lực và xâm hại phụ nữ và trẻ em gái.
- Tiếp tục phát động phong trào thi đua cán bộ nữ “Giỏi việc nước, đảm việc
nhà”;
- Tiếp tục vận động nữ cán bộ, hội viên, nông dân tiếp tục phát huy vai trị, vị
thế của mình trong phát triển kinh tế gia đình, phát triển sản xuất kinh doanh, xây
dựng nơng thơn mới; tham gia tích cực trong phong trào nông dân sản xuất kinh
doanh giỏi, cùng giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững...
- Thực hiện nghiêm các hình thức kiểm tra, giám sát thực hiện bình đẳng giới
trong lĩnh vực chính trị mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.


16

PHẦN KẾT LUẬN
Bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý có ý nghĩa quan trọng, trực tiếp quy
định thành bại của công cuộc xây dựng xã hội, huy động và sử dụng được nguồn
nhân lực chất lượng cao làm lãnh đạo hiệu quả, đẩy lùi và khắc phục tình trạng
định kiến về giới, thúc đẩy nữ giới vươn lên trong lãnh đạo, quản lý.
Việc đẩy sự tham gia lãnh đạo, quản lý của nữ giới trong hệ thống chính trị ở

Việt Nam phù hợp với đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện cam kết chính trị mạnh mẽ đối với cơng tác thúc
đẩy bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua việc phê
duyệt các Cơng ước quốc tế liên quan đến bình đẳng giới như Cơng ước về xóa bỏ
mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ. Thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh
đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay góp phần hiện thực hóa chủ trương, đường lối
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong tình hình mới.


17

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chính phủ nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), Nghị định
số 70/2008/NĐ-CP ngày 04/6/2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
bình đẳng giới.
2. Chính phủ nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009), Nghị định
số 48/2009/NĐ-CP ngày 19/5/2009 quy định các biện pháp bảo đảm bình đẳng
giới.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu tồn quốc lần
thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
4. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình Giới trong
lãnh đạo quản lý (Dùng cho hệ đào tạo Cao cấp lý luận chính trị), Nxb. Lý luận
chính trị, Hà Nội.
5. Hồ Chí Minh (2011): Tồn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Luật Bình
đẳng giới.
7. Uỷ ban nhân dân thị xã GIA RAY (2020), Báo cáo số 78/BC-UBND ngày
08/5/2020 tổng kết Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020.




×