Tải bản đầy đủ (.docx) (20 trang)

Tiểu luận triết học triết học nho giáo, những ưu điểm và liên hệ thực tiễn với quá trình công tác

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (96.39 KB, 20 trang )

Tiểu luận Triết học
Triết học Nho Giáo, những ưu điểm và liên hệ thực
tiễn với q trình cơng tác.

Học viên thực hiện: Nguyễn Tiến Đạt
Lớp: DPEA 19
Trường : Đại Học Kiến Trúc Hà Nội


I/ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC NHO GIÁO :

1. Vấn đề con người và đào tạo con người

1.1

Quan niệm về con người

- Khổng Tử cho rằng trong xã hội có hai hạng người. Đó là người quân tử và kẻ
tiểu nhân. Nho gia luôn đề cao mẫu người quân tử và coi thường kẻ tiểu nhân.
- Khổng Tử quan niệm: Sinh ra là người quân tử thì mãi mãi là người qn tử, cịn
sinh ra là kẻ tiểu nhân thì mãi mãi là kẻ tiểu nhân, là người quân tử có thể làm
những điều bất nhân, nhưng sinh ra là kẻ tiểu nhân thì đừng mong ở họ có được
những hành động có nhân.

1.2

Bản tính con người.

- Về vấn đề bản tính con người thì các nhà Nho có nhiều ý kiến khác nhau, không
thống nhất với nhau.
- Là một nhà triết học, nhà giáo dục lớn, lúc sinh thời Khổng Tử cho rằng Thiên


mệnh chi vị tính, suất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo. Mạnh Tử cho rằng Nhân
chi sơ tính bản thiện. Con người ta sinh ra ai cũng có cái mầm thiện, bởi vì ai cũng


có cái tâm. Tn Tử cho rằng bản tính con người là ác, nguyên nhân của cái ác là
do ái dục - ham muốn dục vọng, đi tìm sự thoả mãn dục vọng, sinh lý. Cho nên
nếu con người hoạt động theo bản tính tự nhiên thì sẽ dẫn đến tước đoạt, vơ ln.
Vì vậy cần phải có lễ nghĩa, khn phép, hình phạt để giáo dục ngăn ngừa.

1.3 Quan niệm của Nho giáo về các mối quan hệ con người trong xã hội

- Các nhà Nho đã rất quan tâm xây dựng năm mối quan hệ chủ yếu của con người
trong xã hội như: Quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, trưởng - ấu, bằng hữu.

a. Mối quan hệ vua - tôi.

- Thời Khổng - Mạnh, quan hệ vua - tôi là quan hệ hai chiều, có đi có lại vì sự
nghiệp chung là trị nước an dân. Khổng Tử đặt ra vấn đề vua ra vua, tôi ra tôi.
- Theo Mạnh Tử: Quan hệ vua - tôi phải lấy cái nghĩa (Quân thần hữu nghĩa).

b. Mối quan hệ cha - con.


- Đây là mối quan hệ máu mủ, ruột thịt gần gũi nhất trong gia đình. Mối quan hệ
này ln luôn được các nhà Nho khẳng định: Cha từ, con hiếu.
- Theo Mạnh Tử: trong quan hệ cha - con phải lấy tình thân (Phụ tử hữu thân).

c. Quan hệ vợ - chồng

- Theo Mạnh Tử thì vợ - chồng phải tôn trọng nhau (Phu - phụ hữu biệt) .

- Nhưng Nho gia lại rất đề cao vai trò vị trí của người chồng, là người giữ vai trị
chủ yếu trong gia đình, cịn người vợ là thứ yếu., ln ở địa vị phụ thuộc. Cho
nên Phu xướng phụ tuỳ.
- Càng về sau, nhất là từ Đổng Trọng Thư (thời nhà Hán) trở đi, mối quan hệ bất
bình đẳng giữa vợ và chồng càng tăng, người vợ còn phải chịu ràng buộc bởi: Tam
tòng: Tại gia tòng phụ, xuất giá tịng phu, phu tử tịng tử.Tứ đức:
Cơng, dung, ngơn, hạnh.

d. Quan hệ anh – em

- Mạnh Tử cho rằng: Anh em trong gia đình phải có trên, có dưới, trước sau thuận
hồ và phải tơn trọng quyền huynh thế phụ-tơn trọng quyền anh trưởng trong gia


đình. Anh, chị thay cha, mẹ ni dạy các em trong gia đình, điều hành mọi cơng
việc trong gia đình khi cha, mẹ mất.
- Trưởng ấu hữu tự - anh nói em nghe, em phải ln vâng lời anh, chị, nghe theo
lời chỉ bảo của anh, chị thì gia đình anh em mới hoà thuận và vui vẻ.

e. Quan hệ bạn bè

- Chuẩn mực của các mối quan hệ bạn bè là chữ tín: bằng hữu hữu tín. Nhờ có chữ
tín mà làm cho bạn bè vượt qua khó khăn, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, làm cho
tình bạn mãi mãi bền vững.
- Tình bạn theo quan niệm của Nho giáo được xây dựng không dựa trên tiền
tài, danh vọng, giàu sang, phú quý, mà là nghĩa tình. Họ kết bạn với nhau để học
tập lẫn nhau, động viên, giúp đỡ lẫn nhau để vượt qua mọi khó khăn, hoạn nạn
của cuộc sống.
- Khổng Tử cho rằng: Quân tử học đạo thì u người, tiểu nhân thì dễ khiến.
Nhưng ơng cũng có quan niệm: Đề cử người ngay thẳng lên trên hạng người cong

queo thì dân phục tịng và theo Khổng Tử muốn cho dân cung kính, trung thành và
khuyên nhau làm điều thiện thì : xử với dân nghiêm trang thì dân cung kính.Hiếu
thuận (với cha mẹ, người trên ), từ ái (với người dưới )thì dân trung thành.Cất nhắc
người tốt, dạy dỗ người khơng tốt thì dân khun nhau làm điều thiện.


1.4 - Quan niệm của Nho giáo về nhân, lễ, nghĩa, trí, tín

a. Nhân:

Nhân là chuẩn mực để đánh giá mối quan hệ giữa người với người, nên nhân là
chỉ đức hạnh của con người, là điểm khởi đầu và là trung tâm của triết học Nho
giáo.Khổng Tử rất trọng Lễ, nhưng ơng cịn trọng Nhân hơn nữa vì ơng cho là Lễ
chỉ là ngọn, Nhân mới là gốc, Lễ là chính sách, Nhân mới là tinh thần.Khổng Tử
bảo : “ Người khơng có đức nhân thì lễ mà làm gì?” ( Nhân nhi bất nhân, như lễ
hà?Nhân nhi bất nhân, như nhạc hà?) Nhân gồm chữ nhị là hai và chữ nhân là
người, là tình người này đối với người khác.Khơng có tình người thì làm sao hịa
hợp với người khác được, người này người khác, giai cấp này giai cấp khác chỉ coi
nhau như kẻ thù, người trên ức hiếp người dưới, người dưới chống đối người trên,
cho nên Khổng Tử bảo :” Nhân gỉa tất hữu dũng”, nhưng “dũng gỉa bất tất hữu
nhân”

b. Lễ:


Thời đại của Khổng Tử các nước tranh giành vương bá, kỷ cương, phép
nước, trật tự xã hội, lễ - nhạc hư hỏng.
- Khổng Tử thấy cần phải khôi phục lại lễ, bởi đó là đạo đức của con người từ vua
cho đến bề tôi: vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con, để cho thiên hạ hữu
đạo, xã hội yên ổn...

- Như vậy là sau nhân, các nhà nho đã đề cao vai trò của lễ, dùng lễ để giáo dục
con người cho có đức nhân.

c. Nghĩa:

Là hành động theo đúng đạo lý làm người, là gốc của đạo lý làm người. Khổng Tử
luôn nhấn mạnh vai trị của nghĩa, nghĩa khơng thể thiếu đối với con người.
- Thấy việc nghĩa mà chẳng làm ấy là người chẳng có khí dũng, thấy việc đáng
làm để giúp người thế mà không chịu ra tay, người như vậy là nhát gan không
xứng đáng mặt người quân tử. Người quân tử là người thấy việc nghĩa là làm. Thấy
món lợi mà nghĩ tới điều nghĩa mà chẳng phạm.

d. Trí:


Là sự hiểu biết sâu rộng, người có trí sẽ không bị lầm lạc, không bị nghi
hoặc, không bị nghi lầm. Người có trí mới phân biệt được đúng sai, điều hay lẽ
phải, mới có sự cư xử và hành động đúng theo đạo làm người.
- Khổng Tử nói: Những lời dèm pha của kẻ độc hiểm thấm thía về lâu, những lời
vu cáo của kẻ ác làm cho đau đớn dường như banh da xẻ thịt, trước những lời ấy
mình đừng cảm động mà nghe theo, đó gọi là có trí minh bạch sáng suốt...và phải
đích thân thơng suốt các viên hữu ti ( dưới quyền mình ), tha tội nhỏ cho họ, đề bạt
những người hiền tài. Trí (sáng suốt) là biết người.Đề bạt người chính trực lên trên
người cong queo thì có thể khiến cho người cong queo hóa ra chính trực.

e. Tín:

Đức tín là một phẩm hạnh của con người mà Nho giáo luôn chú ý giáo dục. Trong
mối quan hệ giữa con người với con người, đức tín thể hiện sự giữ lời hứa, lời
giao ước trước sau như một. Lời nói với việc làm thống nhất với nhau, từ đấy gây

được niềm tin cho con người.
- Khổng Tử rất đề cao vai trò chữ tín, nhất là đối với người cầm quyền rất quan
trọng. Ông cho rằng: dân tin, dân yêu, dân ghét, dân ủng hộ hay khơng ủng hộ
cũng từ chỗ chữ tín mà ra. Khổng Tử cho rằng đối với người cầm quyền thì phải
làm được ba điều: Túc thực, túc binh, thành tín.


- Như vậy học thuyết Nho giáo luôn chú ý giáo dục con người trong xã hội về nhân
- lễ - nghĩa - trí - tín, và tất cả đều xuất phát từ nhân, hướng về nhân và để làm
điều nhân.

2. - Về đào tạo con người

2.1.- Đối tượng đào tạo

- Học thuyết Nho giáo là học thuyết chính trị - xã hội, chỉ tập trung giáo dục con
người về đức nhân, song đối tượng lại rất rộng. Đối tượng chung mà Nho giáo đào
tạo là: ai muốn học đều được dạy. Khổng Tử khẳng định: Hữu giáo vô loại, và ông
cũng là người đầu tiên mở trường tư dạy học cho mọi hạng người để đào tạo những
con người lương thiện, có lễ nghĩa, nhất là đào tạo một hạng sĩ qn tử có nhân,
trí, dũng để làm quan giúp nước . Ông dạy đủ lục nghệ
:lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số như chương trình các trường cơng.
Chúng ta nên nhớ chữ học của Khổng Tử có nghĩa là học đạo học cách cư xử, cách
làm người trước hết, rồi mới tới văn, tới những kiến thức cần thiết:
“ Đệ tử nhập tắc hiếu, xuất tắc để, cẩn nhi tín, phiếm ái chúng nhi thân nhân; hành
hữu dư lực, tắc dĩ học văn”. ( Con em trong nhà thì hiếu thảo với cha mẹ, ra ngồi
thì kính nhượng bậc huynh trưởng, thận trọng lời nói mà thành thực, yêu khắp


mọi người mà gần gũi người nhân đức; làm như vậy rồi mà cịn dư sức thì học văn)

( tức thi – mơn ăn nói ; thư – sử đời trước; lễ –các thể chế, nghi lễ ; nhạc ; dịch…).
Khổng tử biết là trong xã hội có nhiều người xấu, nhưng cách xử sự của ơng vừa
nhân vừa trí. Ông bảo : “ Không tiên liệu rằng người ta gạt mình, đừng ức đóan
rằng người ta khơng tin mình, nhưng gặp những người như vậy là mình biết được
ngay, như vậy là hiền đấy ! “Ông ghét một số người như bọn bẻm mép lợi khẩu,
bọn gỉa đạo đức làm bộ cao thượng, “ ghét người nói điều xấu của kẻ khác, ghét
kẻ dưới mà hủy bang người trên, ghét kẻ dũng cảm mà vô lễ, ghét người qủa cảm
mà cố chấp, ghét kẻ bốc lột người khác để làm giàu “.Nhưng ông cũng khuyên
không nên ghét bỏ ai thái q, nhất là kẻ bất nhân, vì khơng cho họ cơ hội để ăn
năn, gạt bỏ hẳn ra thì họ sẽ nổi lọan.Và ông khuyên người ta phải khoan hồng, nhất
là những kẻ ở địa vị cao.
Trong hơn ba mươi năm ông đã đào tạo một số môn sinh có ít nhiều tài đức, có thể
ra làm quan được, và đã có năm sáu ngưịi lãnh chức vụ ở triều đình. Ơng nhận
định khả năng đặc biệt của mỗi người để gặp cơ hội thì dùng :
Đức hạnh có : Nhan Uyên, Mẫn Tử Khiêm, Nhiễm Bá Ngưu, Trọng Cung.
Biện luận : Tể Ngả, Tử Cống.
Chính sự : Nhiễm Hữu, Qúy Lộ.
Văn học : Tử Du, Tử Hạ.
Võ bị : Tử Lộ.


Ngoại giao : Tử Hoa, Tử Cống.
Như vậy môn sinh của ơng có thể thành lập một nội các, gần thành một đảng
chính trị có chính sách rõ ràng.Trong lịch sử nhân lồi, có lẽ Khổng Tử là người
đầu tiên làm được việc này.

2.2- Mục tiêu đào tạo con người của Nho giáo

Mục tiêu đào tạo con người của Nho giáo là xây dựng những mẫu người lý tưởng
của xã hội. Đó là kẻ sĩ, đại trượng phu và người quân tử.


a - Kẻ sĩ:

Người đi học nho là kẻ sĩ, con đường vào đời của kẻ sĩ là phải học, học giỏi thì đi
thi, thi đậu thì ra làm quan để giúp nước cứu đời, chứ không phải học chỉ để biết.
Khổng tử sáng lập tư học dạy mọi hạng người về sự tu thân, tề gia ;những người
nào có tư cách, bất kỳ trong giới quý tộc hay bình dân, ơng dạy thêm cho lục nghệ
để sau này có thể lãnh những trách nhiệm lớn nhỏ trong việc trị nước.Hạng người
đó dù làm quan hay khơng làm quan cũng gọi là kẻ sĩ; nếu có tài đức cao thì ơng
gọi là qn tử.Giai cấp sĩ đó chính là do ơng tạo nên.Khổng Tử nói : “ Người đời
xưa học vì mình, người đời nay học vì người”, và “ rất ít người học ba năm rồi mà


khơng có ý cầu bổng lộc ”.Học vì mình nghĩa là học để tu thân, có ích lợi cho
mình;học vì người là học để có danh, nhiều người biết tới mình, chẳng cần mình có
thực tài thực đức.Ơng khun : “ đừng lo người khơng biết mình, chỉ lo mình
khơng biết người.”, “ đừng lo khơng ai biết mình chỉ mong sao mình có tài đức để
cho người ta biết đến ”, Không nên cầu danh mà cũng không được cầu lợi cầu lộc:
“ đừng lo khơng có chức vị, chỉ lo không đủ tài đức để nhận chức vị”, “ kẻ sĩ nào
để chí vào đạo mà cịn thẹn vì cái ăn cái mặc thì chưa thể đem đạo ra bàn với
được.”

Kẻ sĩ đã ra làm quan, nho giáo phân làm bốn hạng:

1/Hạng trên cả :biết hổ thẹn về hành vi xấu của mình;đi sứ bốn phương thì khơng
làm nhục mệnh của vua.

2/Hạng thấp hơn:họ hàng khen là người hiếu, hàng xóm khen là người để.

3/Hạng thấp hơn nữa : lời nói nhất định phải tín thực, hành vi nhất định phải quả

quyết.

4/Hạng cuối : khí độ nhỏ nhen.


Nhiều nhà Nho cho rằng đã là kẻ sĩ thì phải luôn trau dồi đức hạnh, phải bỏ lợi mà
làm điều nghĩa, phải khơng tiếc tính mạng, trọng nghĩa lý, thành kính trong việc
tế lễ ;về việc tu thân giữ đức phải kiên cường, dốc lòng tin đạo.Thời phong kiến sĩ
được xã hội thời bấy giờ tôn làm giai cấp đứng đầu trong xã hội : Sĩ, công, nông,
thương.Tử Tư nói:” người xưa có nói:nên thờ bậc hiền sĩ như thầy chứ đâu có nói
nên làm bạn với kẻ sĩ”, cịn Mạnh Tử thì nói: “Thiên hạ đều tơn trọng ba cái này :
tước vị, tuổi tác, và đạo đức.Tại triều đình tước vị được qúy nhất; ở làng xóm tuổi
tác được trọng nhất; còn xét về việc giúp đời, giáo hóa dân thì đạo đức được kính
nể hơn cả”.
Như vậy thì khắp thế giới, khơng đâu có bọn áo vải nào được tôn trọng như kẻ sĩ ở
Trung Hoa. Đó là một niềm vinh dự cho dân tộc Trung Hoa và công đầu là của
Khổng Tử.

b - Đại trượng phu

- Đây là những con người bất khuất, cứng rắn, là một trong những mục tiêu đào
tạo con người của Nho giáo để phục vụ cho giai cấp thống trị. Khổng Tử nhấn
mạnh ý chí bất khuất của người trượng phu trước phong ba bão táp vẫn vững


vàng, khơng bị nghiêng ngả, và có ý chí kiên định đầu đội trời, chân đạp đất, nói
năng và hành động một là một hai là hai.
- Còn Mạnh Tử thì cho rằng: Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ
bất năng khuất. Có nghĩa là người trượng phu thì giàu sang khơng bị mua
chuộc, nghèo khó khơng hề nản lịng và uy lực khơng bị khuất phục. Chỉ có như

vậy thì mới xứng đáng là đại trượng phu.

c - Người quân tử

Quân tử của Nho giáo thuần chỉ tư cách, khơng có ý nghĩa về địa vị:
“Người quân tử mưu cầu đạt đạo, chứ không mưu cầu chuyện ăn.người quân tử lo
không đạt đạo chứ khơng lo nghèo.”
“ Người qn tử khi khốn cùng thì cố giữ tư cách của mình;kẻ tiểu nhân khốn cùng
thì phóng túng làm càn”.
Tư cách và thái độ người quân tử:
-Chỉ cầu ở mình khơng cầu ở người.
-Giữ vững chính nghĩa, khơng cố chấp điều tín nhỏ nhặt.
-Giữ vững tư cách khi gặp họan nạn.
-Lo không đạt được đạo chớ không lo nghèo.ăn gạo xấu, uống nước lã mà thấy
vui;chứ không chịu làm điều bất nghĩa để được giàu sang.


-Thư thái mà khơng kiêu căng.
-Khơng lo khơng sợ, vì tự xét mình khơng có điều gì đáng xấu hổ, nghĩ vậy mà lúc
nào cũng thản nhiên vui vẻ.
-Nếu có hận thì chỉ hận điều này; chết mà khơng làm điều gì để người khác biết tới
mình, khen mình.
-Thân với mọi người mà khơng kết đảng, hịa hợp với mọi người mà không a dua.
-Nghiêm trang giữ lập trường mà khơng tranh với ai.
-Có lỗi thì khơng ngại sửa.
Đức của người quân tử:
-Có đức nhân, giúp người làm việc thiện.
-Trọng nghĩa: cứ hợp nghĩa thì làm.Lấy nghĩa làm gốc, theo lễ mà làm, nói năng
khiêm tốn, nhờ thành tín mà nên việc.
-Sửa mình thành người kính cẩn.

-Chất phác mà văn nhã, hai phần đều nhau, nếu chất phác thì quê mùa, văn nhã q
thì khơng thành thực, trọng hình thức quá.
-Hướng lên cao mà mong đạt tới.
Tài năng và kiến thức của người quân tử:
-Hiểu rộng, biết nhiều, làm được nhiều việc, chứ không phải như một đồ vật chỉ
dung được vào một việc.
-Có thể khơng biết những việc nhỏ nhặt, nhưng có thể đương được việc lớn.


-Tài trí đủ để trị dân, biết dùng đức để giữ dân, biết trang nghiêm đối đãi với dân,
biết dùng lễ cổ vũ dân.
Hành vi ngôn ngữ của người quân tử:
-Thận trọng về lời nói, mau mắn về việc làm.
-Làm trước điều mình muốn nói rồi hãy nói sau.
-Thẹn rằng nói nhiều mà làm ít.
-Sai khiến người thì khơng trách bị cầu tịan.
-Xét người thì khơng vì lời nói của một người mà để cử người đó ( vì cịn xét đức
hạnh ra sao nữa), khơng vì phẩm hạnh xấu của người mà khơng nghe lời nói phải
của người ta.
-Khi trơng thì để ý để thấy cho minh bạch;khi nghe thì lắng tai nghe cho rõ;sắc mặt
thì giữ cho ơn hịa;diện mạo thì giữ cho đoan trang ;nói thì giữ cho trung thực;làm
thì giữ cho kính cẩn;có điều nghi hoặc thì hỏi han ;khi giận thì nghĩ đến hậu qủa tai
hại sẽ xảy ra;thấy mối lợi thì nhớ đến điều nghĩa.

Khổng tử nói : “ Người quân tử có điều gì khơng biết thì khơng nói bậy.Nếu danh
khơng chính thì lời nói khơng thuận lý, lời nói khơng thuận lý thì sự việc khơng
thành; sự việc khơng thành thì lễ nhạc, chế độ không kiến lập được; lễ nhạc, chế độ
khơng kiến lập được thì hình phạt khơng trúng;hình phạt khơng trúng thì dân
khơng biết đặt tay chân vào đâu ( không biết làm thế nào cho phải ).Cho nên người



qn tử đã cùng cái danh thì tất phải nói ra được (tất phải thuận lý); đã nói điều gì
tất phải làm được.Đối với lời nói người qn tử khơng thể ẩu tả được”.

Có thể nói đạo của Khổng Tử là đạo của người quân tử. Cho nên mục tiêu đào tạo
con người của Nho giáo là đào tạo người có đức nhân. Theo Nho gia thì người
qn tử là mẫu người lý tưởng nhất, cao quý nhất của xã hội phong kiến.
Nho giáo cho là đức hạnh của người quân tử như gío, mà đức hạnh của người dân
như cỏ. Gió thổi thì cỏ tất rạp xuống.

II/ ƯU ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ CỦA NHO GIÁO:

- Nho giáo với hệ thống tư tưởng chính trị của mình đã góp phần xây dựng các nhà
nước phong kiến trung ương, tập quyền vững mạnh, góp phần xây dựng một hệ
thống quản lý thống trị xã hội chặt chẽ, nâng cao sức mạnh quân sự và kinh tế quốc
gia.

- Nho giáo rất coi trọng trí thức, coi trọng học hành. Khổng Tử là người “học nhi
bất yếm, hối nhân bất nguyện”. Hàng nghìn năm qua, nhà nước Việt Nam đều lấy
Nho học - Nho giáo làm nền tảng lý luận để tổ chức nhà nước, pháp luật và đặc
biệt là giáo dục. Nội dung giáo dục của Nho giáo là dạy đức và dạy tài vẫn cịn có


ý nghĩa. Nho giáo coi trọng đức là coi trọng cách làm người, coi trọng con người là
yếu tố quyết định. Giáo dục Nho giáo góp phần nâng cao văn hóa con người đặc
biệt về văn hóa, sử học, triết học. Với phương châm “học nhi ưu tắc sĩ”, học để có
thể tìm ra một nghề nghiệp mới và nâng cao vị trí xã hội của bản thân là động lực
hiếu học trong nhân dân. Hiếu học là đặc điểm của Nho giáo. Hiếu học đã trở thành
truyền thống văn hóa Á Đơng trong đó có Việt Nam.


- Nho giáo hướng quản đạo quần chúng nhân dân vào việc học hành, tu dưỡng đạo
đức theo Ngũ Thường “Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín” làm cho xã hội ngày càng phát
triển văn minh hơn.

- Nho giáo góp phần xây dựng mối quan hệ xã hội rộng rãi hơn, bền chặt hơn, có
tơn tri trật tư… vượt quá phạm vi cục bộ là các làng xã, thôn, ấp hướng tới tầm
mức quốc gia, ngồi ra nó góp phần xây dựng mối quan hệ gia đình bền chặt hơn,
có tơn ty hơn… nhờ tn theo Ngũ Luân “Vua-tôi, cha-con, chồng-vợ, anh-em,
bạn-bè”.

- Nho giáo vốn đặt mối quan hệ vua tơi ở vị trí cao nhất trong năm quan hệ giữa
người với người. Các Nho sĩ Việt Nam cũng nhấn mạnh mối quan hệ này, xây
dựng tinh thần trung quân, ái quốc nhưng không mù quáng trung quân mà vẫn đặt


ái quốc lên hàng đầu. Họ đòi hỏi nhà vua trước hết phải trung thành với tổ quốc và
trung hậu với nhân dân.

- Nhân nghĩa trong Khổng giáo là tình cảm sâu sắc, nghĩa vụ thiêng liêng của bề tôi
đối với nhà vua, của con đối với cha, của vợ đối với chồng, nhưng đối với Nguyễn
Trãi và các trí thức Việt Nam thì điều cốt yếu của nhân nghĩa là phải đem lại cho
nhân dân cuộc sống thanh bình, và đội quân chính nghĩa phải nhằm tiêu diệt những
quân tàn bạo.

II/ LIÊN HỆ THỰC TIỄN VỚI CÔNG VIỆC:

- Trong học tập và công việc, việc học hành để bổ sung kiến thức là rất quan trọng.
Nghề kiến trúc sư cũng khổng phải là ngoại lệ. Kiến thức, phần mềm thiết kế, kỹ
thuật xây dựng đổi mới từng ngày đòi hỏi người kiến trúc sư phải liên tục cập nhập
để tránh bị tụt hậu. Hơn nữa, hằng năm có thêm hàng ngàn kiến trúc sư mới ra

trường, sự cạnh tranh về nghề là ngày càng khốc liệt. Chính vì lẽ đó, các kiến trúc
sư phải ln bồi dưỡng tri thức của mình để tránh bị đào thải. Điều này phù hợp
với hệ tư tưởng của Nho Giáo đã có từ lâu đời đó là đề cao giáo dục và sự hiếu
học.


- Ngũ Thường Nho giáo: “Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín” vẫn còn rất đúng cho đến tận
ngày nay. Việc hiểu và áp dụng Ngũ Thường Nho giáo vào trong công việc nói
chung và nghề kiến trúc sư nói riêng sẽ đem lại nhiều lợi ích.



×