PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THÀNH PHỐ MỸ THO
TRƯỜNG TIỂU HỌC KIM ĐỒNG
Tổ Năm
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Phường 6, ngày 14 tháng 12 năm 2017
BÀI KIỂM TRA BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN
NĂM HỌC 2017 - 2018
Họ và tên : Nguyễn Sĩ Tuấn
Nhiệm vụ được phân công: Giáo viên dạy lớp Năm.1
NỘI DUNG BỒI DƯỠNG 3
MODULE TH 9: NỘI DUNG TƯ VẤN CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
PHẦN I:
Câu 1: Trình bày một số đặc điểm nhận thức và một số nét nhân cách của học
sinh Tiểu học? Hãy đưa ra những lí do để nêu lên sự cần thiết phải nâng cao
năng lực tư vấn của giáo viên cho học sinh Tiểu học?
* Một số đặc điểm của nhận thức:
Tri giác: Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết
và mang tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học, tri giác thường gắn với hành
động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học, tri giác bất đầu mang tính xúc cảm, các
em thích quan sát các sụ vật, hiện tuợng có màu sấc sặc sỡ, hấp dẫn, tri giác cúa
học sinh đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng - tri giác có chủ định
(các em biết lập kế hoạch học tập, biết sấp xếp công việc nhà, biết làm các bài
tập tù dế đến khó...).
Tư duy. Tính chất trực quan, cụ thể chuyển dần sang tính chất trừu tượng.
Hoạt động trừu tuợng hoá và khái quát hoá. Hoạt động phán đoán, suy luận phát
triển.
Ngơn ngữ:
Ngữ âm: Ngơn ngữ nói đã thành thạo, tuy nhiên vẫn còn một sổ từ phát
âm chưa đúng.
Ngữ pháp: Đã hồn chỉnh hơn mẫu giáo nhưng vẫn cịn viết câu cụt, chưa
biết đặt câu.
Từ ngữ: Trong sáng, giàu hình ảnh, tuy nhiên cách dùng từ chưa hợp lí.
Chú ý. Do yêu cầu hoạt động học tập là phái tập trung nên chú ý có chủ
định phát triển (chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế). Phân phối chú ý còn
hạn chế (tập viết, quên tư thế ngồi). Di chuyển chú ý của học sinh nhanh hơn
người lớn do có khả năng hưng phấn và ức chế rất linh hoạt (dế dàng chuyển
đổi, tuỳ mức độ hấp dẫn mà quên nhiệm vụ học tập).
Trí nhớ. Loại trí nhớ trục quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ lơgic
trừu tượng.
Giai đoạn lớp 1,2, ghi nhớ máy móc phát triển tương đổi tổt và chiếm ưu
thế hơn so vói ghi nhó có ý nghĩa. Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ
có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát
hoá hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu.
Giai đoạn lớp 4, 5, ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ trừu tượng được tăng
cường. Ghi nhớ có chủ định đã phát triển. Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ
có chủ định cịn phụ thuộc vào nhìêu yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí
tuệ của các em, sức hấp dẩn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lí tình cảm hay
hứng thú của các em...
* Một số đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học:
- Tính cách: Tính cách đang dần được hình thành, đặc biệt trong mơi
truởng nhà trường cịn mới lạ, học sinh có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sơi
nổi, mạnh dạn... Sau 5 năm học, "tính cách học đường" mới dần ổn định và bền
vững ở học sinh. Biểu hiện rõ nhất là tính xung động (hành động ngay). Sự điều
chỉnh ý chí với hành vi cịn yếu (do tính hiếu động). Đã có thái độ đối với mọi
người xung quanh và đổi với bản thân, biết đánh giá bản thân nhưng còn phải
dựa vào ý kiến của người khác.
- Hứng thú: Bước đầu hướng đến hứng tú nhận thức và học tập.
- Lí tưởng: Tồn tại dưới dạng ước mơ nhưng chưa bền vững.
- Xúc cảm,tình cảm : Tình cảm là đặc tính cơ bản, các em sống bằng tình
cảm (Các cảm xúc bắt đầu phát triển cao nhưng chưa bền vững.)
Tình cảm đạo đức phát triển mạnh, trong đó tình cảm gia đình giữ vai trị
quan trọng trong đời sống của các em.
* Những lí do để nêu lên sự cần thiết phải nâng cao năng lực tư vấn của
giáo viên cho học sinh Tiểu học:
Ở Việt Nam hiện nay chưa hình thành đuợc một phân ngành tâm lí học
đuởng chính thức, chưa đao tạo đuợc nhìêu các nhà tư vấn học đường chun
nghiệp, mơ hình tư vấn trong nhà truởng chưa đuợc xác định cụ thể, thống nhẩt;
trong khi đó những vấn đề tâm lí học đường vẫn tồn tại khách quan, hiện diện
hàng ngày trong cuộc sống gia đình, nhà trường và xã hội, vì vậy, việc nâng cao
năng lục tư vấn của giáo viên cho học sinh tiểu học nói riêng và học sinh các cấp
nói chung là quan trọng và cần thiết với mong muổn:
Học sinh có thể tìm đến giáo viên để được tư vấn với bất kì khó khăn nào
liên quan đến vấn đề học tập, tâm lí và các vấn đề khác xung quanh cuộc sống
của học sinh.
Giáo viên đuợc tăng cường khả năng giao tiếp và tiếp cận với học sinh,
kịp thời phát hiện những nhu cầu và những vấn đề cần được can thiệp tư vấn.
Giáo viên có khả năng hỗ trợ học sinh giải quyết nhũng khó khăn trong
việc phát triển nhân cách, năng lực và kĩ năng học tập, lối sống khỏe mạnh, định
hướng nghề nghiệp, ... hỗ trợ phụ huynh trong việc chăm sóc và giáo dục con
cái, phát triển mổi quan hệ vói nhà trường một cách tích cực, phát hiện những
khó khăn của con cái và phối hợp với nhà trường trong việc giáo dục.
Câu 2: Tư vấn là gì ? Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung hoạt động tư vấn cho học
sinh Tiểu học. Chọn và trình bày 2 kĩ năng cơ bản cần tư vấn cho học sinh Tiểu
học.
Có nhiều định nghĩa về tư vấn (thuật ngữ “tư vấn” trong tài liệu này được
hiểu như thuật ngữ “tham vấn” trong một số tài liệu khác - được dịch từ thuật
ngữ tiếng Anh là “counseling"), dưới đây là một số định nghĩa được sử dụng
trong tài liệu này.
Thuật ngữ “tư vấn” được hiểu là sự “đóng góp ý kiến về những vấn đề được hỏi
đến, nhưng khơng có quyền quyết định”, Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt, NXB
Đà Nẵng, 2000.
Tư vấn là một quá trình tương tác giũa nhà tư vấn với NĐTV. Thông qua
kĩ năng trao đổi chia sẻ và tâm tình, NĐTV hiểu và chấp nhận thực tế của mình,
tự tìm lấy tiềm năng bản thân để giải quyết vấn đề của chính mình (Trần Thị
Minh Đức, Bản vẽ thuật ngữ tư vấn, Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên
nghiệp, 2000).
Theo Mielke J. (1999), yếu tố tâm lí là động cơ rõ rệt thúc đẩy con người
tìm đến tư vấn. Do đó khái niệm tư vấn nói đến sự trợ giúp tâm lí, chứ khơng
đơn thuần là sự hỏi đáp về thông tin, kiến thức (theo Tài liệu về công tác tham
vấn, Hà Nội, UNICEF Việt Nam, 2002).
P.K. Onner cho rằng tư vấn là quá trình, vì vậy địi hỏi nhà tư vấn phải
dành thời gian nhất định và sử dụng các kĩ năng một cách thuần thục để giúp đỡ
đối tượng tìm hiểu xác định vấn đề và triển khai các giải pháp trong điều kiện
cho phép.
Tư vấn là khoa học thực tiễn nhằm giúp đỡ NĐTV vượt qua khó khăn của
họ, cải thiện tình huống nặng nề mà NĐTV đang gánh chịu, chữa trị những rối
nhiễu tâm lí, phịng ngừa những hành vi sai lệch có thể xảy ra.
Tư vấn là “nghề trợ gịúp"cho người khác để họ tự giúp bản thân.
Mục tiêu tư vấn cho học sinh tiếu học
Mục tiêu tư vấn cho học sinh tiểu học luôn được xác định từ nhu cầu của
các em. Dưới đây là một số mục tiêu tư vấn ở các cấp độ từ thấp đến cao:
+ Giúp học sinh giảm bớt các cảm giác tiêu cực.
+ Giúp học sinh tăng thêm hiểu biết về bản thân và hoàn cảnh của các em.
+ Giúp học sinh đưa ra các quyết định lành mạnh, hiệu quả.
+ Hướng dẫn học sinh thi hành các quyết định mà các em đã lựa chọn.
Nhiệm vụ tư vấn cho học sinh tiếu học
Nhiệm vụ chung nhất của tư vấn là:
+ Xác định vấn đề và nguyên nhân gây ra.
+ Chẩn đoán, đánh giá, phân loại vấn đề.
Nhiệm vụ cụ thể của tư vấn là:
+ Làm thư giãn cảm xúc của người được tư vấn (NĐTV).
+ Giúp NĐTV nhận diện vấn đề, cải thiện những suy nghĩ tiêu cực khơng
hợp lí.
+ Giúp NĐTV đưa ra các quyết định ưu tiên.
+ Giúp NĐTV đưa ra các quyết định thay đổi hành vi.
Nội dung hoạt động tư vấn ở trường tiểu học
Hoạt động tư vấn ở trường tiểu học khác với trường trung học, trong đó,
tư vấn ở trường tiểu học quan tâm đến sức khỏe tâm thần khi phát triển chiến
lược. Các mục đích của nhà tư vấn với học sinh tiểu học là giúp các em phát
triển nhận thức lành mạnh, tin vào chính mình, tin vào năng lực của mình. Nhìn
chung nội dung hoạt động tư vấn trong các trường tiểu học trên thế giới nhấn
mạnh đến hoạt động “phịng, chống các nguy cơ có thể xảy ra với học sinh” và
chú trọng đến việc can thiệp sớm. Dưới đây là tổng hợp thông tin về nội dung
hoạt động tư vấn tại một số trường tiểu học của Mĩ.
Quan sát hoạt động học tập của học sinh trong lớp và trong các hoạt động
khác ờ trường. Thảo luận với giáo viên, cha mẹ học sinh để đánh giá điểm mạnh
cũng như vấn đề khó khăn, nhu cầu đặc biệt của học sinh.
Xác định và can thiệp sớm các nguy cơ, loại bỏ các rào cản đối với việc
học tập, phát triển kiến thức, kĩ năng, thái độ đối vói học sinh để các em có thể
phát triển nhân cách lành mạnh như là nền tảng cho sự thành công tương lai.
Hỗ trợ học tập, bao gồm cả nghiên cứu, tổ chức và kĩ năng làm bài thi.
Giáo dục các kĩ năng sống như các kĩ năng đặt mục tiêu, ra quyết định, tự
nhận thức, giao tiếp, quan hệ với bạn cùng lứa, các chiến lược ứng phó với
những nguy cơ bị xâm hại, lạm dụng và các kĩ năng xã hội khác như giải quyết
vấn đề, giải quyết xung đột.
* 2 kĩ năng cơ bản cần tư vấn cho học sinh Tiểu học:
a) Kĩ năng phản hồi
Phản hồi là gì?
Phản hồi là nói lại bằng từ ngữ cửa mình hoặc nhắc lại lời của NĐTV
một cách cô đọng những sự kiện hay cảm xúc, hoặc làm sáng tỏ điều NĐTV
cảm thấy và đạt được sự tán thành của NĐTV. Trong tư vấn, phản hồi đạt
được một sự khách quan khi NTV chỉ đơn giản nói lại những điều mình
quan sát và nghe thấy liên quan đến sự kiện và cảm xúc của NĐTV mà
không gắn với sự suy luận, đánh giá về vấn đề của NĐTV và con người của
NĐTV.
Cách phản hồi và các loại phản hồi
Để phản hồi đạt hiệu quả, câu phản hồi thường kèm theo các mệnh đề
đầu câu như: Dường n h ư . . c ó vẻ n h ư … H ì nh n h ư … T ơ i cảm thấy.. Có
thể...
Có nhiều loại phản hồi như phản hồi lặp lại, phản hồi cảm xúc, phản
hồi soi sáng.
Phản hồi lặp lại: NTV sử dụng từ ngữ đơn giản để tóm lược lại câu
chuyện với sự sắp xếp những điểm chính trong đó. Cách phản hồi này
thường thiếu sự thấu hiểu. Loại phản hồi này không được đánh giá cao ;
thường được thực hiện khi bắt đầu tiếp cận với NĐTV, khi NTV còn thiếu
hiểu biết về NĐTV.
Phản hồi cảm xúc: Phản hồi cảm xức thể hiện những gì NTV nhìn
thấy, nghe thấy, đưa ra những kết luận hoặc giả thiết từ một cảm xúc, một
tình huống do NĐTV bộc lộ. Qua quan sát và lắng nghe câu chuyện của
NĐTV, NTV phải gọi tên được loại cảm xúc, tình cảm NĐTV vừa bày tỏ
theo cách làm cho NĐTV cảm thấy dễ chịu, phù hợp với sự diễn tả của
NĐTV. Ví dụ:
Để giúp NĐTV nhận thức lại cảm xúc mà họ vừa bộclộ, NTV nói:
Có vẻ như em khơng cảm thấy hài lịng.
Dường như em có vẻ khơng vui.
Để giúp NĐTV làm sáng tỏ nguyên nhân gây ra cảm xúc, NTV nói:
Dường như em cảm thấy lo sợ mỗi khi nhận được điểm kém.
Có vẻ như sắp đến kì thi là em lại bị ốm.
Phản hồi soi sáng: NTV lôi lên bề mặt ý thức những cảm nhận vô
thức của NĐTV và làm sáng tỏ chúng ở dạng “cao cấp” hơn hoặc dựa trên
quan sát những dấu hiệu ngầm ẩn, không lời như: sự lựa chọn từ, một tiếng
thở dài, một sự ngập ngừng, một thống nổi giận trong cái nhìn, một giọng
nói yếu nhưng quyết liệt hơn... các dấu hiệu này chưa đạt lên ngưỡng ý
thức của NĐTV. Ví dụ:
Để giúp NĐTV tập trung vào cảm xúc ngầm ẩn, chưa đạt đến mức
nhận biết, NTV nói:
Em nói sự việc đã qua rồi, điều đó khơng cịn quan trọng với
em nữa, nhưng em đã nói rất nhiều về chủ đề này. Hình như em vẫn đang
giận các bạn gây ra việc đó.
Có vẻ như em đang cảm thấy rất cơ đơn, vì bạn thân nhất của
em đã làm em thất vọng.
Để động viên an ủi, giúp NĐTV nhìn nhận theo chiều hướng tích cực
(mà khơng đưa ra nhận xét mang tính đánh giá), NTV nói:
Em đã cố gắng rất nhiều trong kì thi vừa qua, kết quả như thế
nào đơi khi lại nằm ngồi ý muốn của mình.
Tác dụng của kĩ năng phản hồi:
Phản hồi giúp NTV nhận ra điều mình hiểu là khơng sai, không suy
diễn. Trong trường hợp nếu NTV hiểu chưa đúng, NĐTV sẽ giải thích để
NTV hiểu đúng những gì NĐTV bày tỏ.
Phản hồi của NTV còn giúp NĐTV:
Cảm thấy có người lắng nghe và hiểu mình.
Cảm thấy được khích lệ, được tôn trọng.
Ý thức tốt hơn điều họ vừa nói.
Có trách nhiệm với bản thân mình.
b) Kĩ năng thấu cảm
Thấu cảm là gì?
Thấu cảm (thấu hiểu) là cảm nhận điều mà NĐTV đang cảm nhận.
Đó là khả năng hiểu bằng cảm xúc cũng như bằng tư duy thế giới bên trong
của NĐTV.
Luyện kĩ năng thấu cảm
- Đặt mình vào hoàn cảnh của NĐTV để cảm nhận về điều họ đang
cảm thấy, cảm nhận nó “như thể của mình” - Đây là yêu cầu về sự tôn
trọng, chấp nhận con người của NĐTV.
- Nhắc lại cảm xúc mà NĐTV nói và nguyên nhân dẫn đến cảm xúc
đó.
- Nói rằng điều họ đang cảm thấy là đúng trong hoàn cảnh của họ.
- Làm cho NĐTV thấy họ có giá trị trong hoàn cảnh của họ (đạt mức
độ thấu cảm cao).
* Lưu ý: Tránh sử dụng khi nói lời thấu cảm:
- Khơng đưa ra lời khuyên (hãy, nên) hoặc bảo họ làm gì, làm thế nào
theo kiểu giáo dục chung chung.
- Khơng đưa kinh nghiệm cá nhân của mình vào câu nói thấu cám.
- Khơng đứng về một phía nào đó - NĐTV hay các nhân vật trong câu
chuyện của họ để bênh hoặc chê họ.
- Không giảng đạo đức xã hội, hay bình luận vấn đề, con người
NĐTV,
- Khơng đặt câu hỏi.
Tác dụng của kĩ năng thấu cảm
- Khi NTV bày tỏ lời nói thấu cảm giúp thân chủ vơi đi nỗi lịng, do
cảm thấy có người hiểu mình.
- Sự bày tỏ của NTV đạt được mức độ sâu sắc về những điều NĐTV
nói tới khi chỉ ra những giá trị tích cực của NĐTV và là NĐTV thấy mình
có giá trị. Điều này hướng NĐTV đến thay đổi hành vi và tình trạng thực tế
của họ.
- Khi NTV bày tỏ thấu cảm một cách cơng thức, máy móc, cường
điệu, khơng tự nhiên, không kèm với thái độ tôn trọng NĐTV thì hiệu quả
tác động có thể sẽ bị ngược lại.
Câu 3 : Trình bày nội dung tư vấn cá nhân cho học sinh Tiểu học?
Nội dung tư vấn cá nhân cho học sinh tiểu học là:
a) Đặc điểm tư vấn cá nhân cho học sinh tiếu học
Trong xã hội, khi các cá nhân có nhu cầu được giúp đỡ họ sẽ tìm đến các
trung tâm tư vấn để được trợ giúp. Tuy nhiên, tư vấn học đường lại không phải
như vậy. Đặc biệt với học sinh tiểu học, các em nhiều khi cũng khơng nhận ra
được vấn đề của mình, ví dụ, gần đây trên internet có nêu trường hợp một học
sinh lớp 3 bị mẹ kế đánh bầm tím, chỉ được phát hiện khi mẹ đẻ của em đến
thăm, vì vậy, các giáo viên, trong vai trị của nhà tư vấn cần quan tâm phát hiện
vấn đề của học sinh mình và chủ động đặt kế hoạch tiếp cận, trao đổi trị chuyện
với các em, cùng các em tìm ra phương án tháo gỡ khó khăn.
Lưu ý: Q trình tư vấn cho các em cũng cần được giữ kín, và có thể
khơng được tiết lộ cho cha mẹ,... ngoại trừ tình trạng khẩn cấp.
b) Quy trình tư vấn cá nhân
Thơng thường, tư vấn cá nhân có thể thục hiện theo 5 bước: Tiếp cận ban
đầu; Tập hợp khai thác thơng tín; xác định mục tíêu cần đạt, tìm kiếm các giải
pháp và cuối cùng là Theo dõi, xem xét lại các giải pháp. Dưới đây là phần tóm
tắt các yêu cầu cần đạt ở mỗi bước.
Tiếp cận ban đầu:
- Xây dựng một sự hợp tác giữa NTV và NĐTV, giúp họ có cảm giác
thoải mái, tin cậy ở NTV.
- Giải thích với NĐTV về những gì sẽ xảy ra trong cuộc tư vấn, tạo điều
kiện cho cuộc nói chuyện tập trung và diễn ra theo dự kiến.
- Nói với NĐTV về việc đảm bảo tính riêng tư và nguyên tắc bảo mật giữ
kín chuyện của các bạn.
Tập hợp khai thác thông tin:
- Xác định phạm vi vấn đề để tránh mất thì giờ với những chủ đề khơng
có mục đích.
- Tìm hiểu những nhân tố, sự kiện và ảnh hưởng của nó đối với hành vi,
suy nghĩ, tình cảm của NĐTV.
- Khai thác thơng tin xem đằng sau vấn đề cịn có những mối quan hệ nào
khác dính dáng liên quan đến vấn đề của NĐTV.
Xác định mục tiêu cần đạt:
- Xác định rõ ý đồ của NĐTV muốn cải thiện hoàn cảnh hiện tại của họ
như thế nào?
- Vai trò là người bạn đồng hành với NĐTV của NTV rất cần thiết.
Tìm kiếm giải pháp:
- Giúp NĐTV tìm ra kết quả một kế hoạch khả thi để đạt mục tiêu do họ
đề ra.
- Giúp NĐTV xây dựng, sử dụng các kĩ năng có quan hệ đến việc thay đổi
hành vi và tự lo cho bản thân.
- Giúp NĐTV trong việc đưa ra các quyết định.
- Xác định những khó khăn trong khi thực hiện các quyết định.
Theo dõi, xem xét tại quá trình thực hiện giải pháp:
- NTV không được phép kết thúc mối quan hệ tư vấn khi chưa giúp được
NĐTV vạch ra mục tiêu cụ thể cần đạt được và những công việc cụ thể cần làm.
- Khi gặp bế tắc, NTV có thể “hẹn gặp lại”.
.................................................................................................................................
PHẦN II: Vận dụng vào thực tiễn dạy học
Câu 4: Để đạt được các yêu cầu trong mỗi bước của quy trình tư vấn cá nhân.
Người tư vấn cần áp dụng những kĩ năng cơ bản nào ?
- Để quá trình hướng dẫn và tư vấn đạt được các yêu cầu trong mỗi bước
của quy trình tư vấn cá nhân không thể sử dụng riêng lẻ các kỹ năng hướng dẫn
mà phải có sự kết hợp khéo léo các kỹ năng với nhau, như kỹ năng thấu hiểu kết
hợp với kỹ năng đặt câu hỏi hoặc kỹ năng phản hồi kết hợp với kỹ năng đặt câu
hỏi.
Kỹ năng lắng nghe:
- Lắng nghe tích cực là cách lắng nghe và đáp trả phù hợp, thể hiện sự
lắng nghe, chú ý, quan tâm, thấu hiểu của NTV đến NĐTV. Bao gồm : Nhắc lại,
diễn đạt lại, tóm tắt, phản ánh. Lắng nghe giúp NTV hiểu được các thông điệp,
cảm xúc của NĐTV, quan điểm của NĐTV, tăng khả năng hiểu biết và tin tưởng
lẫn nhau.
- Tầm quan trọng của lắng nghe:
+ Xây dựng sự tin tưởng và tôn trọng.
+ Tạo mơi trường an tồn hỗ trợ cho giải quyết vấn đề.
+ Người nói được giải tỏa cảm xúc.
+ Giảm căng thẳng
+ Khuyến khích khai thác sâu thơng tin.
- Cách thức lắng nghe :
+ Đối diện NĐTV: ngồi thẳng hoặc nghiêng người ra phía trước để thể
hiện sự chú tâm.
+ Duy trì giao tiếp mắt: thể hiện chúng ta quan tâm đến họ và điều họ nói.
- Cố gắng thấu hiểu cảm xúc của thân chủ đằng sau những thông tin hoặc suy
nghĩ mà thân chủ nói ra.
+ Đáp trả phù hợp, có lời (như gật đầu, nhíu lơng mày) và có lời để
khuyến khích NĐTV nói tiếp.
+ Với đáp trả có lời, tập trung vào vấn đề then chốt giúp NTV theo dõi
được dòng câu chuyện.
+ Hạn chế đặt câu hỏi. Nghe nhiều hơn nói.
Kỹ năng đặt câu hỏi:
Nên bắt đầu bằng những câu hỏi chung chung nó giúp NĐTV kích thích
sự bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ của mình, những câu hỏi cần phải rõ ràng, đơn giản
nhưng phải hướng đến mục đích. Thường sử dụng câu hỏi mở, khơng có cấu
trúc, những câu hỏi cần phải chứa đựng cảm xúc của NĐTV, có dạng như “tại
sao”, “như thế nào”, “thế còn”. Tuy nhiên, trong mối quan hệ chưa tốt câu hỏi
“thế còn” sẽ gây ra cảm giác bị tấn công về mặt tinh thần, chỉ sử dụng khi mối
quan hệ đã tốt, khơng cịn sự phồng vệ ban đầu.
Có 2 dạng câu hỏi: câu hỏi đóng và câu hỏi mở.
- Câu hỏi mở: đây là dạng câu hỏi được sử dụng nhiều nhất trong tư vấn
để NĐTV bộc lộ cảm xúc, suy tư của mình.
+ Tác dụng của câu hỏi mở: Cho NĐTV bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc một
cách thoải mái, tự nhiên. Nếu NTV biết đặt câu hỏi đúng cách câu hỏi mở có thể
khai thác đúng mạch thì họ sẵn sàng nói ra hết những vấn đề đang gặp phải với
NTV.
+ Những lưu ý khi đặt câu hỏi: Không đặt câu hỏi dồn dập. Khi đặt câu
hỏi nên để phạm vi trả lời rộng.
- Câu hỏi đóng: Câu hỏi đóng được sử dụng khi: Khẳng định lại những cái
mà ta khai thác được Tìm ra được các hướng giải quyết vấn đề, lựa chọn một
giải pháp.
- Các đặc trưng của câu hỏi: Câu hỏi mở giúp NTV đặt vấn đề khi tư vấn
Làm cho việc thư vần cụ thể phong phú hơn. Khai thác cụ thể dẫn chứng về
cuộc sống của NĐTV. Từ đầu của câu hỏi quyết định hướng trả lời của NĐTV:
“cái gì” khai thác sự kiện, “như thế nào” tranh luận về tiến trình, cảm xúc hay
hậu quả của một vấn đề, “tại sao” tìm hiểu nguyên nhân vấn đề.
- Những lưu ý khi đặt câu hỏi: không nên hỏi dồn dập, hỏi nhiều câu cùng
lúc, dùng quá nhiều câu hỏi “tại sao”. Nên hỏi nhiều câu hỏi mở, hỏi nhiều về
cảm xúc và sử dụng đúng lúc câu hỏi đóng.
Kỹ năng phản hồi:
Phản hồi là việc nói lại bằng từ ngữ của mình, hoặc là nhắc lại lời NĐTV
một cách cơ đọng hoặc làm rõ hơn vấn đề NĐTV đang trình bày và đạt được sự
tán thành của NĐTV.
- Phản hồi có ý nghĩa: NĐTV cảm thấy rằng mình được lắng nghe, có
người hiểu mình, từ đó muốn bộc lộ nhiều hơn, cảm thấy được tôn trọng và
thoải mái hơn để nói lên vấn đề của mình. Nhà tư vấn sẽ chắc chắn được rằng là
mình khơng hiểu sai, suy diễn sai vấn đề.
- Có 3 hình thức phản hồi:
+ Phản hồi cảm xúc tức là đòi hỏi NTV phải xác định được NĐTV đang
thể hiện loại cảm xúc nào và NTV cần mô tả lại cảm xúc đó bằng từ ngữ rõ
ràng, từ đó quan sát những phản ứng của NĐTV và thu thập các thông tin.
+ Phản hồi kinh nghiệm: Các thông tin phản hồi mang tính miêu tả, có
liên quan đến sự quan sát của NTV sau đó nói về cảm xúc của NĐTV.
+ Phản hồi nội dung: Là nhắc lại các ý tưởng bằng ngơn ngữ của người
NTV có thể nhấn mạnh, khơi gợi những điều học sinh vừa nói để làm rõ ý tưởng
đó. Tóm tắt thơng tin phải đầy đủ, khơng bỏ sót sự kiện.
- Các yêu cầu khi đưa ra phản hồi: Phải dựa trên hành vi chứ không phải
nhận định về con người, dùng mơ tả hơn là phán đốn, phản hồi một cách đặc
thù hơn là khái quát, phản hồi mang tính chia sẻ ý tưởng và thơng tin sẽ tốt hơn
nhiều so với khuyên nhủ, phán xét, khuyến nghị. Khi đã phản hồi là cả hai mặt
tích cực lẫn tiêu cực, phản hồi chỉ tốt khi tạo ra được khơng khí quan tâm, nâng
đỡ, phản hồi phải liên hệ với “cái gì”, “như thế nào” chứ khơng nhằm giải thích
“tại sao”
Kỹ năng thấu hiểu:
Thấu hiểu là việc hiểu những điều mà NĐTV đang trải nghiệm bằng cả
khối óc và trái tim. NTV cần biết được rằng sự hiểu biết ở đây là có giới hạn.
Hiểu đơn giản là sự nắm bắt một cách rõ ràng những điều NĐTV đang trải
nghiệm. Và không nhất thiết là NTV là người hiểu biết tất cả mọi chuyện và là
người hiểu biết hơn NĐTV. Nhưng trong quá trình tư vấn NTV và NĐTV phải
thông đạt cho nhau những ý tưởng, cảm xúc cao nhất. Vì vậy sự hiểu biết về
NĐTV là một quá trình chia sẻ. Điều quan trọng nhất là NTV cần hiểu được
những điều NĐTV đang nói liên quan tới ý nghĩa đặc biệt nào đó trong kinh
nghiệm sống của NĐTV để NTV cần nắm bắt được và diễn tả ý nghĩa đó một
cách dễ hiểu nhất để cả hai bên cùng sáng tỏ. Hiểu không đơn thuần là nắm rõ
các sự kiện trong cuộc sống, các mối quan hệ xã hội của NĐTV mà chính tâm
tư, thái độ của NĐTV xuất phát từ sự kiện đó mới là quan trọng. Cái chính là họ
nhận thức như thế nào tới sự kiện đó. NTV chỉ thay đổi cách nhìn thái độ của
NTV chứ không thể thay đổi được sự kiện đó. Việc mà NTV hiểu được đối
tượng của mình thì việc tháo bỏ mặt nạ, tự do, thoải mái trong việc chia sẻ và
giải quyết vấn đề.
Kỹ năng thông đạt:
Là kỹ năng cơ bản NTV cần phát triển để có hiểu biết thơng suốt về đối
tượng NĐTV của mình đang cố gắng bộc lộ cho NTV hiểu về tâm trạng, cảm
xúc, sự kiện của mình. Khi NĐTV đang nói về các vấn đề của mình thường bị
lẫn lộn, khơng có tính logic do vậy khi NĐTV ngừng nói thì NTV phải nhanh
chóng đưa ra quyết định mình sẽ đáp ứng những cái gì sự kiện hay cảm xúc liên
quan tới nhân vật nào. Trong việc thông đạt NTV cần lưu ý tới việc sử dụng từ,
tránh những từ liên quan tới việc đánh giá nhân cách NĐTV. Cách thông đạt có
thể hỏi cảm nhận của học sinh về sự việc đó. Nguồn gốc của sự thơng đạt chính
là kinh nghiệm của NTV, nó giúp NTV biết cần thơng đạt những gì. Tuy nhiên
đối với những NTV mới làm cơng tác tư vấn sẽ không tránh khỏi những sai lầm:
khi NTV nói về những sự kiện của mình thường vơ tình tạo cho NĐTV cảm giác
về sự thất bại của chính NTV nên làm sao có thể giúp đỡ mình, và khi NTV nói
về các vấn đề của mình thì trọng tâm sẽ bị dịch chuyển, nó cũng có thể tạo ra
cho NĐTV thái độ phịng vệ vì nghĩ rằng vấn đề của mình sẽ bị đưa ra cho
người khác bàn tán. Một NTV thành thục thể hiện sự thông đạt ở việc hiểu và
chấp nhận NĐTV của mình. Kỹ năng thông đạt thể hiện ở NTV qua lắng nghe,
suy nghĩ, đáp ứng, đó là phản ứng tự động.
Kỹ năng phản ánh cảm xúc:
Phản ánh cảm xúc khi NĐTV đến với NTV, trong tư vấn thường xuyên
phải có phản ánh cảm xúc để thể hiện sự thông cảm với NĐTV khi gặp những
vấn đề khó xử.
- Những chú ý để có những phản ánh cảm xúc tốt:
+ Xác định tốt những ngôn ngữ bằng lời của NĐTV.
+ Nhớ được ngôn ngữ khi NĐTV trình bày để nắm được cảm xúc của đối
tượng qua ngôn ngữ.
- Tác dụng của phản ánh cảm xúc:
+ Làm cho NĐTV khẳng định lại cảm xúc của mình.
+ Khơi lại những vấn đề cần khai thác.
+ Giúp NTV nắm rõ được cảm giác của NĐTV để công tác tư vấn phát
triển tốt.
Kỹ năng tóm lược:
Giúp NTV cơ đọng lại ý kiến, suy nghĩ của NĐTV. Đây là cơng việc cần
thiết. Giúp NĐTV nhìn lại mình rõ hơn. Hỗ trợ NĐTV sắp đặt thứ tự các vấn đề
cần giải quyết.
Kỹ năng này được sử dụng khi: Bắt đầu cuộc tư vấn. Làm rõ nội dung
đang diễn ra trong q trình tư vấn: tóm lược, sắp xếp thứ tự nhu cầu, vấn đề
giải quyết. Mang lại sự liền mạch trong quá trình tư vấn khi chuyển từ chủ đề
này sang chủ đề khác.
Kỹ năng kể chuyện:
Đôi khi thông qua một câu chuyện của người khác hay do NTV “sáng
tác” NĐTV rút ra được những bài học cho bản thân một cách tự nhiên, khơng
cần gị bó, miễn cưỡng. Nhưng cần lựa chọn chuyện và cách kể chuyện cần hết
sức khéo léo, tránh để NĐTV nghĩ NTV là một người “hay đưa chuyện”.
Câu 5: Trên cơ sở thực tiễn các nhu cầu của học sinh lớp bạn, bạn hãy đề xuất
các nội dung có thể tư vấn cho học sinh.
Các nội dung có thể tư vấn đối với lớp tơi là:
- Phát triển khả năng nhận thức và phẩm chất trí tuệ thơng qua h/đ học tập.
- Rèn luyện tác phong và các thói quen hành vi đạo đức cơ bản của con
người theo chuẩn mực xã hội
- Khắc phục dần các nhược điểm trong đời sống tình cảm (tính hay thay
đổi, cách biểu lộ tình cảm khơng phù hợp…), giúp HS biết cảm nhận và biểu lộ
tình cảm của mình.
- Rèn luyện cho HS các phẩm chất của hành vi ý chí (tính tự chủ, độc lập,
khả năng tự kiềm chế…)
- Giúp HS biết chọn lựa, thu nhận những tác động lành mạnh từ những
phương tiện thông tin.
- Giáo dục các kĩ năng sống như: các kĩ năng đặt mục tiêu, ra quyết định,
tự nhận thức, giao tiếp, quan hệ với bạn cùng lứa, các chiến lược ứng phó với
những nguy cơ bị xâm hại, lạm dụng và các kĩ năng xã hội khác như: giải quyết
vấn đề, giải quyết xung đột.
- Tư vấn về tuổi dậy thì (nhất là đối với nữ sinh).
- Tư vấn về các vấn đề liên quan đến phòng chống bị xâm hại.
- Tư vấn về các biện pháp phòng chống các bệnh nguy hiểm.
- Tư vấn về tác hại của ma túy ; game ; …
Điểm
Cá nhân tự chấm
Phần I
Phần II
Tổng cộng
5đ
3.5 đ
8.5 đ
Xếp loại
Tổ trưởng chấm
HĐGK chấm
Người viết
Nguyễn Sĩ Tuấn
HĐGK TRƯỜNG