TRIẾT HỌC VỀ CON NGƯỜI
I. MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG
LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
a) Triết học phương Đông
-Đặc trưng hướng nội nên quan điểm về con người, về XH loài
người được quan tâm hơn cả.
-Tập trung về nguồn gốc, bản tính của con người, đạo làm
người và mẫu hình lý tưởng.
– Về nguồn gốc con người theo quan điểm duy tâm, duy vật
mộc mạc, tôn giáo:.
- Quan điểm về con người của Triết học phương Đông:
– Về bản chất con người trong triết lý Đạo giáo, Phật giáo, Nho
giáo…
1. Khái quát các quan niệm về con người trong TH phương Đông
a.Quan
niệm về
con người
trong triết
học Ấn Độ
cổ đại
1
2
Quan niệm về con người trong triết học
Vêdanta mang tính duy tâm
Quan niệm về con người trong triết
học Phật Giáo: Triết lý tứ diệu đế
Quan điểm về con người trong triết học Phật giáo
Con người: tồn tại: trần tục tính + Phật tính.
+ Trần tục tính: Tham, sân, si, là vơ minh, là ái dục.
+ Phật tính: là giác ngộ về cõi niết bàn, về cõi chân như.
=> sự khác nhau giữa con người và vạn vật. Nên PG
quan niệm bản tính con người vốn tự có cái ác và cái
thiện.
Quan điểm con người trong TH Nho gia
Con người: hơn hợp giữa thanh khí và trọng khí. =>
bản tính con người là thiện.
Con người: chịu sự chi phối của mệnh trời. Nhưng có
thể cải thiện qua tu dưỡng.
Hiểu mệnh trời, sống theo mệnh trời, tự tu dưỡng mình
là đạo làm người.
Đạo làm người: Chính danh. u cầu của chính danh: ngũ
thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
- Sống và giúp người khác chính danh: Quân tử. “Tu thân,
tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”.
b) Triết học phương Tây trước Mác
Thời kỳ tiền triết học: Tư tưởng duy tâm, thần bí; tư
tưởng duy vật về con người.
Thời kỳ cổ đại: Quan điểm duy vật chất phác, mộc mạc
trong triết học tự nhiên, phái nguyên tử luận …Quan điểm
duy tâm về con người trong tư tưởng triết học của Pitago,
Xôcrát, Platôn, Aritxtốt …
b) Triết học phương Tây trước Mác
+ Hi Lạp: coi con người là một bộ phận cấu thành thế giới.
Xuất phát từ quan điểm: Thế giới do một hay một số chat
tạo nên, các nhà duy vật thời kỳ này cũng quan niệm con
người được bắt nguồn từ một hay một số chất đó.
* Empêđơclơ: nguồn gốc thế giới: lửa, khơng khí, đất,
nước. Những yếu tố này hoa hợp, tiến hóa sinh ra sự
sống.
Lơxíp và Đemơcrít: bản ngun của thế giới là nguyên tử.
Xôcrát: thế giới do thần tạo ra và thần đã an bài cho thế giới.
Platon: ý niêmh có trước tất cả, là nguồn gốc của tất cả. Ý
niệm tồn tại vĩnh viễn và bất biến.
Thời trung cổ
Tomát Đacanh: Thế giới do chúa trời tạo ra từ hư vơ và con
người là hình ảnh của Chúa. Con người được tạo ra từ thể xác và
linh hồn bất tử. Con người được chia thành những đẳng cấp nhất
định. Muốn vượt lên đẳng cấp là có tội với Chúa.
Con người thời trung cổ bị tước đoạt hết tính tự nhiên, năng
lực và sức mạnh. Con người nhỏ bé, yếu đuối trước quyền lực vô
biên của Đấng sáng tạo.
- Bóp chết ý chí muốn vươn lên tự khẳng định mình, tự giải
phóng mình.
Thời kỳ Phục hưng – Cận đại: Tư tưởng triết học
duy vật về con người của Bêcơn, Đềcác, Điđrô,
Henvêtyúyt…
TH duy tâm và thần học: bắt nguòn từ ý niệm, tinh
thần tuyệt đối, cái tôi,…. Đối lập với triết học duy
vật.
Italia: tư tưởng: con người hãy thờ phụng chính bản
thân mình, hãy chiêm ngưỡng vẻ đẹp của chính mình.
Anh: Bêcơn coi thể xác con người là sản phẩm của tự
nhiên, là thực thể vật chất, còn tinh thần là thứ vật chất
chỉ tồn tại trong óc người vận động theo thần kinh và
mạch máu, song chính thứ vật chất ấy đã đem lại cho con
người sức mạnh tiềm năng là tri thức.
+Hopxơ: con người là “vật thể tự nhiên” , là xã hội.
Pháp: Rútxơ: bản tính con người là tự do và lịch sử nhân
loại không tuân theo ý muốn của bất lỳ thế lực nào mà là
kết quả hoạt động của con người mang bản tính tự do ấy.
Diđrơ: coi con người là đỉnh cao nhất trong quá trình tiến
hóa lâu dài của giới tự nhiên; coi trí tuệ và đạo đức là sản
phẩm của hoàn cảnh xã hội và coi sức mạng của con
người nằm trong tri thức khoa học.
Hà Lan: Xpinôda: giới tự nhiên là thực thể duy
nhất, tồn tại theo chính mình, con người là sản
phẩm của tự nhiên. TH giúp con người có học thức
nhận thức giới tự nhiên, làm theo giới tự nhiên, và
theo lý tưởng đạo đức cao đẹp.
Triết học cổ điển Đức: Tư tưởng triết học về con
người trong triết học Hêghen, Phoiơbắc.
TH phục Hưng và cận đại: phủ nhận quyền năng
tối cao của Đấng sáng tạo, đề cao sức mạnh con
người.
c) Quan niệm về con người trong một số
trào lưu triết học ngồi mác-xít đương đại
Quan niệm về con người trong Triết học nhân
bản, Triết học hiện sinh, Chủ nghĩa thực chứng
mới, Thuyết nhân bản trong tôn giáo hiện đại,
Chủ nghĩa Phrớt và chủ nghĩa Phrớt mới.
+ Phân tâm học: Bản năng tính dục là cơ sở quan trọng nhất
trong mọi hành động của con người.
+ Chủ nghĩa nhân vị: Nhân vị mới là bản thể chân thực nhất.
+ Chủ nghĩa hiện sinh: Cá nhân con người mới hiểu được
sự tồn tại của mình nên chí có cá nhân mới hiện sinh, con
người cần thốt khỏi sự rang buộc của xã hội, của những cá
nhân khác để thể hiện giá trị hiện sinh của mình.
Các học thuyết thuộc trào lưu TH nhân bản phi lý tính và
các học thuyết các của PT hiện đại: yếu tố tinh thần là bản
năng, vô thức, tri thức, tình cảm,… là bản chất của con
người. Con người thường được tuyệt đối hóa về mặt cá
nhân.
- MQH: cá nhân với cá nhân, cá nhân – cộng đồng, cá nhân
– xã hội: được đề cập góc độ hồi nghi, bế tắc,… thể hiện
sự khủng khoảng về mặt giá trị của con người trong TH
phương Tây hiện đại.
Quan điểm triết học Mác – Lênin về con người
a) Khái niệm con người
– Quan niệm con người là thực thể sinh học xã hội.
+ Là thực thể sinh vật:
* Con người dù phát triển đến đâu cũng là động vật.
* Con người là một bộ phận của giới tự nhiên.
+ Là thực thể xã hội:
* Hoạt động xã hội: hoạt động lao động sản xuất đã làm cho con
người trở thành con người với đúng nghĩa của nó. Trong lao động
con người thoát ra khỏi động vật.
Hai mặt, hai yếu tố cơ bản cấu thành con người.
Con người + con người = xã hội.
=>Con người không phải động vật thuần túy mà là
một động vật xã hội.
Mọi biểu hiện sinh hoạt của con người là biểu hiện và
khẳng định của xã hội.
Về vai trò của con người là chủ thể hoạt động
thực tiễn.
Lịch sử là hoạt động có ý thức của chính bản thân con
người.
Hoạt động của con người làm ra lịch sử nên để có lịch
sử trước hết phải có con người.
Bản thân xã hội sản xuất ra con người như thế nào thì
nó cũng sản xuất ra xã hội như thế.
=> Con người vừa là sản phẩm của lịch sử vừa là chủ
thể của lịch sử.
Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội
Con người vừa là thực thể sinh
vật – xã hội, là chủ thể của lịch sử.
Bản chất của con người hình
thành và thể hiện ở những con người
hiện thực: con người cụ thể, sống
trong những điều kiện cụ thể.
Các quan hệ xã hội tác động lẫn
nhau, thâm nhậm lẫn nhau trong việc
hình thành nên bản chất con người.
Tháp nhu cầu của Maslow về con người
Cách tiếp cận về tổng hòa những mối quan hệ xã hội
+ Xét theo thời gian: quan hệ quá khứ, hiện tại và tương lai.
+ Xét theo các loại quan hệ: quan hệ vật chất, tinh thần.
+ Xét theo tính chất: quan hệ trực tiếp, gián tiếp, tất nhiên, ngẫu
nhiên, ổn định, không ổn định,…
- Cụ thể các quan hệ: qh huyết thống, hơn nhân, kinh tế, chính trị,
tơn giáo, đạo đức,…. => QH kinh tế: sở hữu tư liệu sản xuất là
quan trọng hơn cả.
=> Bản chất con người khơng phải được sinh ra mà được sinh
thành, nó hình thành và thay đổi theo sự hình thành và thay đổi
của các quan hệ xã hội. Trong đó, quan trọng nhất là các quan hệ
thuộc lĩnh vực kinh tế.
b) Các phương diện tiếp cận nguồn gốc, bản chất con người
– Sự hình thành, phát triển con người là một quá trình gắn liền với
lịch sử sản xuất vật chất. Lao động là điều kiện chủ yếu quyết định
sự hình thành, phát triển của con người. Sáng tạo là thuộc tính tối
cao của con người.
– Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt
xã hội. Các yếu tố và mối quan hệ giữa mặt sinh học và mặt xã
hội; cơ chế di truyền và hoạt động xã hội của con người.
– Con người tồn tại, phát triển trong môi trường cư trú xã hộihành tinh- vũ trụ và mang những thuộc tính tự nhiên – sinh học –
xã hội.
Con người là một thực thể cá nhân – xã hội. Con người vừa
là một chỉnh thể đơn nhất, vừa mang những phẩm chất của
hệ thống các quan hệ xã hội.