ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN 7
Thời gian : 120”
Câu 1. (2,0 điểm)
Đọc đoạn văn sau và trả lời các yêu cầu của đề:
Đứng trước tổ dế, ong xanh khẽ vỗ cánh, uốn mình, gương cặp mắt căng
rộng, và nhọn như đơi gọng kìm, rồi thoắt cái lao nhanh xuống hang sâu. Ba giây…
Bốn giây… Năm giây… Lâu quá!
(Vũ Tú Nam)
Xác định các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn trên. Nêu tác
dụng của chúng?
Câu 2: (8 điểm)
Đây là lời của một người mẹ Việt Nam (trong thời kì kháng chiến chống Mĩ)
nói với con trai mình:
“ Con là lửa ấm quanh đời mẹ mãi
Con là trái xanh mùa gieo vãi
Mẹ nâng niu.Nhưng giặc Mĩ đến nhà
Nắng đã chiều… vẫn muốn hắt tia xa !"
(Trích bài thơ Mẹ của Phạm Ngọc Cảnh)
Phát biểu cảm nghĩ của em về người mẹ Việt Nam trong khổ thơ trên bằng
một bài văn ngắn.
Câu 3 : (10 điểm)
Em hãy phân tích bài thơ “Qua đèo Ngang” của bà Huyện Thanh Quan?
HƯỚNG DẪN CHẤM
I. Hướng dẫn chung
- Giáo viên cần nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát
bài làm của học sinh, tránh trường hợp đếm ý cho điểm.
- Do đặc trưng của bộ môn Ngữ văn nên giáo viên cần chủ động, linh hoạt
trong việc vận dụng đáp án và thang điểm; khuyến khích những bài viết có ý tưởng
riêng và giàu chất văn.
- Giáo viên cần vận dụng đầy đủ các thang điểm. Tránh tâm lí ngại cho điểm
tối đa. Cần quan niệm rằng một bài đạt điểm tối đa vẫn là một bài làm có thể cịn
những sơ suất nhỏ.
- Điểm lẻ tồn bài tính đến 0,25 điểm.
II. Đáp án và thang điểm
ĐÁP ÁN
ĐIỂM
Câu 1 Đọc đoạn văn sau và trả lời các yêu cầu của đề:
. Biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn: liệt kê, so sánh
1.00
Tác dụng : Làm nổi bật , hình ảnh, điệu bộ, củ chỉ của ong
1.00
xanh.
Câu 2
Đáp án
Điểm
Hình thức : một bài văn ngắn.
- Nội dung phát biểu cảm nghĩ về hình ảnh của người mẹ Việt
Nam trong chiến đấu :
- Hình ảnh của người con được nhắc đến trong khổ thơ là lửa (4điểm)
ấm, là trái xanh, là cuộc sống của mẹ, mẹ nâng niu giữ
gìn.Nhưng khi giặc đến nhà, tuy tuổi cao sức yếu, mẹ vẫn
muốn đóng góp một phần sức lực cho cuộc chiến đấu bảo vệ
Tổ quốc : động viên con trai mình lên đường đánh giặc.
-Từ hình ảnh ẩn dụ nắng đã chiều chính là hình ảnh của mẹ
nhưng mẹ vẫn hết lịng vì nước : vẫn muốn hắt tia xa.Càng yêu 4điểm
quý con trai mình bao nhiêu thì ta càng thấy được lòng yêu
nước, sự hi sinh của mẹ bấy nhiêu khi mẹ động viên con trai
mình đi đánh giặc cứu nước
Câu 3
+ Mở bài:
– Giới thiệu qua về tác giả: Bà Huyện Thanh Quan là một trong
những nữ thi sĩ ít ỏi trong văn học thơ ca cổ. Tên của bà là
(1 điểm)
Nguyễn Thị Hinh, sống ở thành Thăng Long.
– Giới thiệu về tác phẩm “Qua đèo ngang” là một bài thơ hay
dịu dàng, trầm lắng. Nó để lại trong lịng mỗi chúng ta nhiều
cảm xúc bâng khng khó tả trước cảnh hồng hơn chiều tà
nhiều ảm đạm.
+ Thân bài:
– Ngay từ câu đầu tiên của bài thơ hình ảnh hồng hơn hiện lên
thể hiện sự buồn man mắc, giọng thơ nhẹ nhàng trầm lắng như
âm thanh của buổi chiều tà, khiến cho lòng người bỗng nhiên (2 điểm)
trùng xuống theo câu thơ của bà.
“Bước tới đèo ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”.
– Trong câu thơ này tác giả đã sử dụng ngôn ngữ rất điêu luyện
tạo ra những vần điều làm cho câu thơ trở nên sinh động, đột
phá khơng cịn trầm buồn, du dương như câu thơ trước.
– Cảnh vật ở nơi đây cũng gợi nên sự hoang sợ đến hưu quạnh,
cô liêu, khiến cho con người khi nhìn thấy chắc cũng chấp chứa
nhiều tâm trạng
“Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sơng chợ mấy nhà”.
– Hình ảnh “lom khom” chỉ dáng người nơi xa xa, tuy người đó
chỉ nhỏ bé và xa xăm trong bức tranh thiên nhiên nhưng qua
đây ta thấy được sức sống, bởi hình ảnh con người đang miệt
mài lao động, tìm kế sinh nhai, đang hịa mình vài thiên nhiên
khiến cho bài thơ có hồn hơn bao giờ hết.
– Hai từ “lác đác” chỉ sự đơn sơ, ít ỏi cảnh vật nơi bà Huyện
Thanh Quan nghỉ chân thật bình yên hưu quạnh, từ lác đác hiện
ra chỉ chỉ sự thưa thớt bóng người.
– Ngịi bút của bà thật tinh tế khi đã miêu tả chân thực chi tiết
( 2 điểm)
từng cảnh vật, qua câu thơ của bà người ta có thể dễ dàng
tưởng tượng hình ảnh chiều hồng hơn lúc đó như thế nào.
“Nhớ nước đau lịng con cuốc cuốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gai”.
– Điệp từ điệp ngữ được tác giả sử dụng thật tài tình “cuốc
cuốc” “gia gia” tạo nên bản nhạc trữ tình sâu lắng trong lòng
người thi sĩ.
( 2 điểm)
– Tác giả đã khéo léo sử dụng cái biến động là tiếng chim để
làm nổi bật lên cái bất động là cảnh vật vắng vẻ, hoang sơ của
đèo Ngang.
– Hình ảnh tiếng chim cuốc cuốc kêu tác giả lại thấy như chim
đang kêu cho chính mình bởi tâm trạng, nhớ nhà đau lịng vì
đất nước đang canh cánh một nỗi niềm trong lòng người thi sĩ.
“Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta”.
– Trong hai câu thơ cuối của bài thơ tác giả thể hiện cảm xúc
nhớ thương, nóng ruột.Tâm trạng buồn đau nhớ nhà trước sự
mênh mang của đất trười, khiến cho tác giả càng cảm thấy
mình thật nhỏ bé, cơ đơn lạc lõng. “
– Một mảnh tình riêng ta với ta” từ ta được sử dụng lặp đi lắp
lại hai lần nhưng nó càng thể hiện sự cơ đơn của tác giả, chỉ có
một mình đối diện với chính nổi buồn trong lịng mình, khơng
có ai để cùng chia sẻ.
( 2 điểm)
Tâm trạng nhớ quê nhà đã lên tới đỉnh điểm trở thành một
mảnh tình riêng ăn sâu bán dễ trong lòng tác giả, khiến cho
người đọc như muốn rưng rưng dòng lệ theo từng câu thơ.
+ Kết bài
1 điểm
– “Qua Đèo Ngang” là một tuyệt phẩm của bà Huyện Thanh
Quan đã để lại cho nền thi ca Việt Nam.
– Phương pháp sử dụng nhiều điệp từ, điệp ngữ, đảo ngữ, từ láy
khiến cho bài thơ như có nhạc trong ở trong thơ.