TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ & KINH DOANH QUỐC TẾ
————
BÀI THẢO LUẬN
MÔN: KINH TẾ LAO ĐỘNG
Đề tài:
Đưa ra quan điểm về nhận định: “Gia tăng phúc
lợi xã hội luôn là mục tiêu của bất cứ quốc gia nào trong quá trình
tăng trưởng bền vững. Để gia tăng phúc lợi xã hội, Việt Nam cần
dành cho người lao động khơng có việc làm (do thất nghiệp, tai nạn
lao động, mất sức lao động…) những khoản trợ cấp hoặc tiền bồi
thường ngày càng lớn.”
Giảng viên hướng dẫn
: Phan Thị Thu Giang
Nhóm thực hiện
: 12
Lớp HP
: 2161FECO1611
Hà Nội, 2021
1
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, chúng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ nhiệt tình
của ThS. Phan Thị Thu Giang, giảng viên bộ môn Kinh tế Lao Động – Đại học
Thương mại đã dành nhiều thời gian quý báu tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp
đỡ. Đồng thời trang bị những kiến thức cơ bản, hữu ích phục vụ cho việc học tập,
nghiên cứu của chúng em.
Bài thảo luận chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót. Chúng em rất
mong nhận được sự đóng góp chỉ bảo của các thầy, cơ và các bạn để bài thảo luận
được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2021
2
BÀI THẢO LUẬN KINH TẾ LAO ĐỘNG
Đề tài: Đưa ra quan điểm về nhận định: “Gia tăng phúc lợi xã hội
luôn là mục tiêu của bất cứ quốc gia nào trong quá trình tăng trưởng bền
vững. Để gia tăng phúc lợi xã hội, Việt Nam cần dành cho người lao động
khơng có việc làm (do thất nghiệp, tai nạn lao động, mất sức lao động…)
những khoản trợ cấp hoặc tiền bồi thường ngày càng lớn.”
Giáo viên hướng dẫn: Phan Thị Thu Giang
Môn: Kinh tế lao động
Mã lớp học phần: 2161FECO1611
Sinh viên thực hiện: Nhóm 12
Các thành viên trong nhóm:
STT
Họ và tên
Vị Trí
Lớp
Nhiệm vụ
68
Nguyễn Thành Ln
Thành viên
K56EK1
Chương 1
69
Nhữ Thị Khánh Ly
Nhóm trưởng
K56EK2
Thuyết trình
70
Nguyễn Thị Lý
Thành viên
K56EK1
Chương 2, Chương 3
71
Nguyễn Thị Lý
Thành viên
K56EK2
Chương 1
72
Lê Nguyệt Minh
Thành viên
K56EK1
PowerPoint
73
Vũ Thị Trà My
Thành viên
K56EK2
Chương 2
74
Đỗ Hải Nam
Thành viên
K56EK1
Chương 2
75
Nguyễn Hoàng Nam
Thành viên
K56EK2
Word, mở đầu, kết luận
76
Nguyễn Thị Nga
Thành viên
K56EK1
PowerPoint
3
MỤC LỤC
PHẦN I. LỜI MỞ ĐẦU ......................... ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED.
PHẦN II. NỘI DUNG .............................................................................................. 5
CHƯƠNG I. CÁC HÌNH THỨC TRỢ CẤP DÀNH CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM .................................................................5
1. Các hình thức trợ cấp dành cho người lao động trên thế giới. ................. 5
1.1. Nước phát triển : Mỹ ................................................................................. 5
1.2. Nước đang phát triển: Thái Lan ................................................................ 8
2. Các hình thức trợ cấp dành cho người lao động tại Việt Nam. ................ 8
3. So sánh hình thức trợ cấp của Việt Nam với các nước trên thế giới ...... 10
CHƯƠNG II. QUAN ĐIỂM VỀ NHẬN ĐỊNH ................................................... 12
• Quan điểm về nhận định ....................................................................... 12
1. Đồng ý với quan điểm................................................................................... 12
2. Phủ nhận quan điểm ................................................................................... 16
CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP GIA TĂNG PHÚC LỢI XÃ HỘI Ở VIỆT NAM. ................ 20
1. Nhà nước dành cho người lao động ................................................................... 20
2. Doanh nghiệp dành cho người lao động ............................................................ 20
PHẦN III. KẾT LUẬN .......................................................................................... 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 21
4
LỜI MỞ ĐẦU
Một quốc gia ngày càng lớn mạnh sẽ làm cho nhu cầu sống của người dân
được tăng cao, cùng với đó là sự xuất hiện những vấn đề nịng cốt trong q trình
phát triển lâu dài mang tên “Phúc lợi xã hội”. Phúc lơi xã hội là một bộ phận thu
nhập quốc dân được sử dụng nhằm thoả mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần
của các thành viên trong xã hội, chủ yếu được phân phối lại, ngoài phân phối theo
lao động. Phúc lợi xã hội được chia thành 2 phần chi phí xã hội là: trả tiền hưu trí và
các loại trợ cấp bảo hiểm xã hội. Sự cân bằng trong xã hội được tạo ra từ sự hiệu quả
trong công cuộc xây dựng một hệ thống phúc lợi xã hội nên nó ln là thứ mà mọi
quốc gia – đặc biệt là những quốc gia đang phát triển nhắm đến và khơng ngừng
hồn thiện hơn các phúc lợi xã hội. Việt Nam – một đất nước đang trên đà phát triển
nhưng luôn xây dựng và hoàn thiện các phúc lợi xã hội nhằm mang lại những hỗ trợ
tốt nhất của chính phủ dành cho người dân. Tuy nhiên nó khơng chỉ là mối nan giải
ở các đất nước khác mà ở Việt Nam cũng có vơ số ý kiến trái chiều về vấn đề này.
Có nhận định cho rằng "Gia tăng phúc lợi xã hội luôn là mục tiêu của bất cứ quốc
gia nào trong quá trình tăng trưởng bền vững. Để gia tăng phúc lợi xã hội, Việt Nam
cần dành cho người lao động khơng có việc làm (do thất nghiệp, tai nạn lao động,
mất sức lao động…) những khoản trợ cấp hoặc tiền bồi thường ngày càng lớn".
Với vốn kiến thức thu nhận được từ học phần Kinh tế lao động, kết hợp với
các nguồn tài liệu thực tế khác; nhóm 12 xin được phép đưa ra một số quan điểm về
nhận định trên.
CHƯƠNG I: CÁC HÌNH THỨC TRỢ CẤP DÀNH CHO NGƯỜI
LAO ĐỘNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM.
1. Các hình thức trợ cấp dành cho người lao động trên thế giới.
1.1 Nước phát triển : Mỹ
Theo truyền thống, hầu hết các phúc lợi thường thuộc:
• Bảo hiểm thất nghiệp
- Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), còn được gọi là trợ cấp thất nghiệp, do nhà
nước cung cấp, trả tiền hàng tuần cho các cá nhân khi họ bị mất việc làm và đáp ứng
các yêu cầu về điều kiện nhất định. Những người nghỉ việc hoặc bị sa thải vì lý do
chính đáng thì khơng được hưởng BHTN. Nói cách khác, một người nào đó bị tách
khỏi cơng việc của họ do khơng có việc làm sẵn có và khơng do lỗi của họ thường
đủ điều kiện nhận trợ cấp thất nghiệp.
5
- Bảo hiểm thất nghiệp theo chương trình cơ bản (UI) ở hầu hết các bang cung
cấp tối đa 26 tuần trợ cấp cho người lao động thất nghiệp, thay thế cho khoảng một
nửa mức lương trước đó của họ, lên đến số tiền trợ cấp tối đa. Những người đã hưởng
hết khoản trợ cấp thất nghiệp theo chương trình cơ bản có thể được hưởng tiếp tối
đa 20 tuần nữa theo chương trình gia hạn trợ cấp (EB). Chương trình gia hạn trợ cấp
chỉ được áp dụng trong thời kỳ có tỷ lệ thất nghiệp cao. Chi phí cho chương trình
EB được chia đều giữa chính quyền Liên bang và Tiểu bang.
- Mặc dù các bang phải tuân theo một số yêu cầu của liên bang, nhưng nhìn
chung, họ có thể đặt ra các tiêu chí về tính đủ điều kiện và mức phúc lợi của riêng
mình. Ví dụ sau cuộc Đại suy thoái 09/2007, một số tiểu bang đã giảm số tuần tối đa
của quyền lợi BHTN cơ bản xuống dưới 26 tuần (thậm chí ở nhiều tiểu bang có tối
đa là 26 tuần, nhiều người nhận chỉ đủ điều kiện hưởng tối đa thấp hơn), và trong
khi nền kinh tế vẫn đang phục hồi sau cuộc suy thoái COVID-19, nhiều bang đã
ngừng cung cấp các khoản trợ cấp thất nghiệp khẩn cấp do liên bang tài trợ đầy đủ
trước khi các biện pháp đó hết hạn. .
• Bảo hiểm y tế
- Bảo hiểm y tế ở Hoa Kỳ là bất kỳ chương trình nào giúp thanh tốn các chi
phí y tế, cho dù thơng qua bảo hiểm do tư nhân mua , bảo hiểm xã hội hoặc chương
trình phúc lợi xã hội do chính phủ tài trợ.
- Người sử dụng lao động thường trả toàn bộ hoặc một phần phí bảo hiểm y tế
cho nhân viên. Thường thì nhân viên trả theo phần trăm chi phí hàng tháng. Chi phí
bảo hiểm thơng qua người sử dụng lao động
❖ Bảo hiểm xã hội (Social Security):
Bảo hiểm xã hội là chương trình lương hưu cho người về hưu, ngồi ra nó cịn
chi trả một số các khoản trợ cấp khác như: trợ cấp cho người tàn tật, trợ cấp tử tuất,
trợ cấp tai nạn lao động….
• Chế độ hưu trí:
- Theo quy định của chính quyền liên bang thì một người đã tham gia bảo hiểm
tối thiểu 10 năm thì được phép xin hưởng lương hưu khi đạt 62 tuổi nhưng lương
hưu sẽ bị cắt bớt, còn để được hưởng đầy đủ lương hưu thì họ phải làm việc tới
năm 65-67 tuổi, tùy vào năm sinh của người đó. Bảng sau đây sẽ cho bạn thấy rõ
hơn:
6
- Người già ở Mỹ được hưởng tiền trợ cấp tuổi già từ quỹ Social Security. Đối
với người đã từng đi làm, mức tiền trợ cấp tuổi già được tính từ số năm đi làm và
mức lương trong những năm đó. Người lãnh lương sẽ trích lại 6,2% lương và
người trả lương góp thêm 6,2% lương nữa để nộp vào quỹ Social Security.
- Nhiều người Mỹ tự lập kế hoạch hưu trí cho mình qua kế hoạch 401(k) vì
khơng thể hoàn toàn dựa vào quỹ Social Security. Theo kế hoạch 401(k), mỗi
người tự quyết định sẽ trích bao nhiêu phần trăm lương của mình để gửi vào tài
khoản hưu trí. Tài khoản hưu trí đó sẽ được giao cho các công ty quản lý quỹ hoặc
công ty bảo hiểm nhân thọ quản lý, sinh lợi. Công ty quản lý quỹ thường tạo ra
vài quỹ đầu tư khác nhau về mức lợi nhuận và rủi ro để người chủ tài khoản chọn
theo ý riêng.
❖ Bảo hiểm cho người tàn tật:
Bảo hiểm cho người tàn tật có thể thay thế một phần thu nhập bị mất của nhân
viên khi họ không thể làm việc. Mặc dù nó khơng bao gồm tồn bộ số tiền lương
của họ, nhưng nó trả từ 60-80% thu nhập hàng tháng của nhân viên, tùy thuộc vào
các điều khoản của chính sách. Lợi tức khơng bị đánh thuế dưới dạng thu nhập,
vì vậy tỷ lệ phần trăm có thể tương đương với tiền lương mang về nhà thông
thường của nhân viên.
Bảo hiểm tàn tật sẽ bảo hiểm cho họ khi họ khơng thể làm việc.
- Có hai loại bảo hiểm cho người tàn tật:
• Thu nhập thay thế ngắn hạn lên đến sáu tháng
• Dài hạn có thể kéo dài hơn sáu tháng và thậm chí bao trả cho một nhân viên
cho đến khi họ đủ điều kiện nhận trợ cấp An sinh xã hội khi nghỉ hưu.
1.2 Nước đang phát triển: Thái Lan
• Bảo hiểm thất nghiệp
7
•
•
2.
- Thái Lan đã triển khai chương trình bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) vào
năm 2004. Chương trình này nhằm mục đích giảm thiểu cú sốc thất nghiệp và
giảm tính dễ bị tổn thương của người lao động. Người được bảo hiểm là nhân
viên đã bị chấm dứt hợp đồng mà khơng có tội hoặc người sử dụng lao động
đóng cửa doanh nghiệp và được bồi thường theo Đạo luật Bảo hộ Lao động
- Người được bảo hiểm có nghĩa là người lao động đồng ý làm việc cho
người sử dụng lao động, nhận một mức lương cơ bản được chỉ định trong hợp
đồng và là nhân viên chính thức của người sử dụng lao động khơng ít hơn 180
ngày liên tục
- Tiền bồi thường có nghĩa là người sử dụng lao động trả cho người được
bảo hiểm khi chấm dứt công việc không phải là Các loại tiền khác mà người
sử dụng lao động đồng ý trả cho người lao động.
- Tính theo mức lương hiện tại tính đến ngày đóng bảo hiểm, khơng q
50.000 baht, số tiền bảo hiểm = 1/2 mức lương hiện tại x 3
Bảo hiểm y tế
Hiện nay, hệ thống BHYT toàn dân tại Thái Lan gồm 03 chương trình
khác nhau đã bao phủ tới 99,87% dân số:
- Chương trình BHYT dành cho cơng chức, viên chức (CSMBS)
- Chương trình BHYT dành cho khối doanh nghiệp (SSS)
- Chương trình BHYT tồn dân (UCS)
Trong đó chương trình BHYT dành cho khối doanh nghiệp (SSS) bao phủ
11 triệu người lao động (17% dân số) với nguồn quỹ là đóng góp 4,5% từ
lương, chia đều cho chủ sử dụng lao động, người lao động và Chính phủ.
Người tham gia chương trình thanh tốn theo khốn định suất đối với khám,
chữa bệnh ngoại trú và DRG đối với nội trú.
Bảo hiểm xã hội:
- Chế độ hưu trí:
Theo Đạo luật Bảo vệ Lao động của Thái Lan, người sử dụng lao động có
thể buộc nhân viên của họ nghỉ hưu ở độ tuổi được quy định trong quy chế làm
việc, chính sách nội bộ hoặc thỏa thuận lao động. Tuy nhiên, nếu tuổi nghỉ hưu
không được quy định ở bất kỳ đâu thì tuổi nghỉ hưu theo luật định là 60 và
người lao động phải thông báo cho người sử dụng lao động về ý định nghỉ hưu
của mình. Việc nghỉ hưu của người lao động sẽ có hiệu lực sau 30 ngày kể từ
ngày người lao động thông báo cho người sử dụng lao động của mình.
Các hình thức trợ cấp dành cho người lao động tại Việt Nam.
❖ Bảo hiểm thất nghiệp
- Quyền lợi khi tham gia:
• Trợ cấp thất nghiệp.
8
Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm.
• Hỗ trợ Học nghề.
• Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì
việc làm cho người lao động.
- Mức hưởng:
•
Mức hưởng hằng tháng = 60% mức bình qn tiền lương tháng đóng BHTN
của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp.
Với NLĐ thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, mức
hưởng hằng tháng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở tại thời
điểm chấm dứt hợp đồng.
• Với NLĐ thực hiện chế độ tiền lương do NSDLĐ quy định (ngoài nhà
nước) thì mức hưởng hằng tháng tối đa khơng qua 05 lần mức lương tối
thiểu vùng tại thời điểm chấm dứt HĐLĐ.
- Số tháng được hưởng trợ cấp thất nghiệp:
• Đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng BHTN: Được hưởng 03 tháng trợ
cấp thất nghiệp.
• Cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất
nghiệp nhưng tối đa khơng q 12 tháng.
•
❖ Bảo hiểm y tế
• Quyền lợi tham gia:
- 100% chi phí khám chữa bệnh BHYT đối với:
• Mã đối tượng CC: Bà mẹ Việt Nam anh hùng, lão thành
cách mạng, thương bệnh binh>81%.
• Mã đối tượng CK: những người có cơng khác.
• Mã đối tượng CA: Lực lượng Cơng an nhân dân.
• Mã đối tượng TE: Trẻ em dưới 6 tuổi.
• Chi Phí cho một lần KCB thấp hơn 15% mức lương tối
thiểu.
- 95% chi phí khám chữa bệnh BHYT đối với:
• Mã đối tượng HT: Hưu trí, trợ cấp mất sức.
• Mã đối tượng HN: Hộ nghèo, dân tộc thiểu số.
- 80% chi phí khám chữa bệnh BHYT đối với các đối tượng còn lại.
❖ Bảo hiểm xã hội
- Bảo hiểm xã hội bao gồm 2 loại là:
• Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ
chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia.
•
Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước
tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng
9
phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền
đóng bảo hiểm xã hội để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử
tuất.
- Các chế độ bảo hiểm xã hội
Theo Điều 4 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 thì chế độ bảo hiểm bao gồm:
•
•
•
Bảo hiểm xã hội bắt buộc có các chế độ sau đây: Ốm đau; Thai sản; Tai
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Hưu trí; Tử Tuất.
NLĐ tham gia BHXH bắt buộc được giải quyết các chế độ ốm đau, thai
sản, hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp khi đáp ứng đủ
các điều kiện tương ứng theo quy định của pháp luật
Bảo hiểm xã hội tự nguyện có các chế độ sau đây: Hưu trí; Tử tuất
- Quyền lợi khi tham gia BHXH:
• Được tham gia và hưởng các chế độ theo Luật BHXH.
• Được cấp và quản lý sổ BHXH và nhận lại sổ khi khơng cịn làm việc.
• Nhận lương hưu và trợ cấp đầy đủ, kịp thời theo các hình thức sau: nhận
trực tiếp tại cơ quan BHXH hoặc tổ chức dịch vụ được ủy quyền; nhận
thông qua tài khoản tiền gửi của người lao động mở tại ngân hàng; nhận
thông qua công ty, tổ chức nơi làm việc hay người sử dụng lao động
• Hưởng bảo hiểm y tế trong các trường hợp: đang hưởng lương hưu,
nghỉ việc hưởng trợ cấp thai sản, nhận con nuôi, tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp hay trợ cấp ốm đau.
• Chủ động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động và được
thanh tốn chi phí giám định y khoa nếu đủ điều kiện hưởng BHXH.
• Ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp BHXH cho người khác.
• Được cung cấp thơng tin về đóng BHXH theo định kỳ; yêu cầu người
sử dụng lao động cung cấp thơng tin về việc đóng và quyền được hưởng
các chế độ của BHXH.
• Người tham gia được khiếu nại, tố cáo và khởi kiện BHXH theo quy
định pháp luật.
3. So sánh hình thức trợ cấp của Việt Nam với các nước trên thế giới.
Tiêu chí
so sánh
Trên thế giới
Việt Nam
Thời
- Mỹ: 1935
điểm xuất - Thái Lan: 2004
hiện
2009
10
Bảo
hiểm
thất
nghiệp
Mức
hưởng trợ
cấp thất
nghiệp
- Mỹ: Một người trung bình nhận được
378 đô la một tuần trợ cấp thất nghiệp.
- Thái Lan: 50% mức lương trung bình
hàng ngày của người được bảo hiểm
đối với người thất nghiệp không tự
nguyện, 30% mức lương trung bình
hàng ngày của người được bảo hiểm
đối với người thất nghiệp tự nguyện.
Lợi ích hàng ngày tối đa là 250 baht
Thời gian
hưởng
bảo hiểm
thất
nghiệp
- Mỹ: Đối với hầu hết các tiểu bang, 3-12 tháng
thời hạn tối đa để nhận trợ cấp là 26
tuần.
- Thái Lan: 6 tháng trong 1 năm bất kỳ
đối với người thất nghiệp không tự
nguyện, 3 tháng trong 1 năm bất kỳ đối
với người thất nghiệp tự nguyện.
Thời
điểm ban
hành luật
BHYT
- Mỹ: Đạo luật về trách nhiệm giải 14/11/2008
trình và cung cấp bảo hiểm y tế
(HIPAA) được ký vào ngày 21/8/1996
và đến 2010 Luật cải cách chăm sóc
sức khỏe đã trở thành luật - được chính
thức gọi là Đạo luật Chăm sóc Giá cả
phải chăng.
- Thái Lan: BHYT ở Thái Lan hình
thành từ những năm 70 của thế kỷ XX
với đối tượng ban đầu là người nghèo,
cận nghèo. Năm 2002, Thái Lan đã đạt
được bao phủ y tế tồn dân thơng qua
việc giới thiệu Chương trình Bảo hiểm
Tồn dân (UCS).
Mức
đóng
- Mỹ: Chi phí bảo hiểm y tế trung
bình là 495 đơ la mỗi tháng (2020)
• Chủ lao động: 1,45%
• Người lao động: 1,45%
- Thái Lan: = 5% lương của người lao
động. Mức đóng góp chia đều cho
chủ lao động và người lao động.
Bảo
hiểm
y tế
11
60% thu nhập trung
bình hàng tháng
của người được bảo
hiểm.
= 4,5% mức tiền
lương tháng
• Chủ lao động:
3%
• Người lao động:
1,5%
Chế độ
hưu trí
Tuổi để
nhận
lương
hưu
- Mỹ: Tuổi về hưu sớm nhất của
người Mỹ là 65 tuổi và muộn nhất là
67 tuổi và có ít nhất 10 năm tham gia
bảo hiểm.
- Thái lan: Tuổi về hưu là 60 tuổi và
có ít nhất 20 năm đóng BHXH.
Lương hưu trí
được thanh tốn
cho nam giới và nữ
giới ở độ tuổi
tương ứng là 60
và 55 với ít nhất 20
năm đóng góp.
Mức
hưởng
- Mỹ: Mức hưởng sẽ giảm nếu người
lao động yêu cầu nhận tiền hưu sớm
hơn – mọi NLĐ đều có thể bắt đầu
nhận tiền hưu ở tuổi 62. Mức hưởng
trợ cấp hàng tháng có thể tăng nếu
NLĐ đủ tuổi nghỉ hưu nhưng kéo dài
thời gian làm việc hoặc đợi đến 70 tuổi
mới nhận tiền hưu.
- Thái Lan: Nếu tuổi nghỉ hưu khơng
được 60 thì người lao động phải thông
báo cho người sử dụng lao động về ý
định nghỉ hưu của mình.
Cứ mỗi một năm
nghỉ hưu trước tuổi
bạn sẽ mất khoảng
3% so với mức
lương hưu tối đa.
CHƯƠNG II: QUAN ĐIỂM VỀ NHẬN ĐỊNH
Quan điểm về nhận định
Với nhận định được đưa ra, nhóm 12 xin được phân tách thành hai ý, đồng thời
trình bày quan điểm của mình về hai ý trên một cách độc lập tương đối với nhau.
1. Đồng ý với quan điểm
❖ Trước tiên là quan điểm đồng ý với ý kiến cho rằng: “Gia tăng phúc lợi xã hội
là mục tiêu của bất cứ quốc gia nào trong quá trình tăng trưởng bền vững.”
❖ Xét về mặt lý thuyết
• Tăng trưởng bền vững đi liền với phát triển bền vững; tăng trưởng không chỉ
hiểu đơn thuần là tăng thu nhập bình quân đầu người, mà phải gắn với phát
triển bền vững, chú trọng tới cả ba nhân tố: kinh tế, xã hội và mơi trường.
• Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần nhưng chưa thể là điều kiện đủ cho sự
phát triển, nếu không gắn với thực hiện công bằng xã hội. Chính sách phúc
lợi xã hội của các quốc gia chính là điều kiện cần để cùng với tăng trưởng,
tạo ra sự phát triển.
• Dưới giác độ kinh tế học, PLXH là những biện pháp của nhà nước và xã hội
nhằm khắc phục những “thất bại”, khiếm khuyết của thị trường. Bản chất của
•
12
PLXH là giảm thiểu sự bất công bằng trong xã hội, đảm bảo cho các thành
viên trong xã hội đều có thể thụ hưởng những cái “chung” của xã hội. Phúc
lợi xã hội bao gồm những chi phí xã hội như: trả tiền hưu trí, các loại trợ cấp
bảo hiểm xã hội, học bổng cho học sinh, những chi phí cho học tập không
mất tiền, những dịch vụ y tế, nghỉ ngơi, an dưỡng, nhà trẻ, mẫu giáo,... Với
nội dung như vậy, phúc lợi xã hội có mục tiêu làm giảm thiểu sự bất công
bằng trong xã hội, đảm bảo cho các thành viên trong xã hội đều có thể thụ
hưởng những thành quả của phát triển.
• Trong nền kinh tế thị trường, với việc tối đa hoá lợi nhuận, các doanh nghiệp
phải tính đến hiệu quả kinh tế với việc giảm thiểu các chi phí, trong đó có
các chi phí cho PLXH. Ngược lại, Chính phủ muốn xã hội ổn định, phải có
các giải pháp, chính sách để giảm bớt sự bất công trong xã hội. Hai mục tiêu
này dường như là mâu thuẫn khó dung hồ. Tuy nhiên, trên thực tế, kinh tế
học phúc lợi đã chỉ ra rằng xã hội sẽ phát triển bền vững nếu như dung hồ
được hiệu quả và cơng bằng, có thể coi đây là hai mặt của sự phát triển và
tiến bộ xã hội. Như vậy, về bản chất, PLXH không phải là sự cho khơng mà
đó là chính sách và các giải pháp của Chính phủ, với nguồn lực cịn hạn chế,
phải đảm bảo đem lại lợi ích cho số đơng, nhưng khơng vì thế mà làm tổn
hại đến lợi ích của số ít; đồng thời phải tiệm cận được hai yếu tố hiệu quả và
công bằng.
- Thực tiễn về phúc lợi xã hội của các nước
❖ Muốn đất nước phát triển, xã hội ổn định, Chính phủ phải có các chính sách
nhằm đảm bảo những nhu cầu tối thiểu cho người dân (khơng bị đói nghèo,
được chữa bệnh, được học hành, có nhà ở và những dịch vụ xã hội cơ bản
khác…). Đồng thời phải có chính sách khuyến khích người dân làm giàu, để
xã hội ngày càng có nhiều người giàu, kinh tế tăng trưởng. Điều này cho thấy,
mục tiêu của chính sách PLXH là một mặt, khuyến khích mọi người làm giàu
để tạo mục tiêu tăng trưởng ngày càng lớn; mặt khác, phải chia như thế nào
để người dân để bình đẳng, cơng bằng.Tăng trưởng kinh tế là cần thiết nhưng
tăng trưởng không đồng nghĩa với “phát triển”.
❖ Trên thế giới, trong chính sách PLXH có hai loại chương trình phúc lợi chủ
yếu. Loại thứ nhất là trợ cấp dưới dạng tiền mặt cho đối tượng thụ hưởng được
trực tiếp sử dụng cho các mục tiêu cá nhân. Chương trình phúc lợi thơng qua
trợ cấp tiền mặt được thực hiện cho những đối tượng/nhóm đối tượng khác
nhau và có sự khác biệt giữa các nước. Chẳng hạn, ở Hoa Kỳ, chương trình
trợ cấp bằng tiền mặt gồm có trợ giúp gia đình có đơng con phải ni (trợ cấp
toàn phần hoặc bán phần) và hỗ trợ thu nhập. Trợ giúp gia đình nhằm đảm
bảo cho các gia đình đơng con nhưng thu nhập thấp hoặc khơng có thu nhập,
có một ngân quỹ gia đình đảm bảo những chăm sóc tối thiểu cho trẻ em.
Ngược lại, chương trình hỗ trợ thu nhập nhằm đảm bảo chăm sóc cho người
13
cao tuổi và người tàn tật có thu nhập thấp (đây là loại trợ cấp hỗ trợ thêm cho
các trợ cấp bảo trợ xã hội chứ không phải là trợ cấp bảo trợ xã hội). Các
chương trình này là những chương trình xã hội do Chính phủ tổ chức thực
hiện và thông qua ngân sách Liên bang hoặc các Bang. Hoặc ta có thể thấy rõ
hơn ở chương trình trợ cấp theo mức độ thương tật. Trợ cấp theo mức độ
thương tật giúp chính phủ tiết kiệm được ngân sách trong khi vẫn duy trì được
động cơ làm việc của người lao động. Ta sẽ phân tích mơ hình trợ cấp này để
thấy rõ hơn điều đó.
➢ Trợ cấp theo mức độ thương tật
- AD là đường giới hạn ngân sách khi chưa có trợ cấp, người lao động chưa
bị tai nạn lao động sẽ quyết định lao động ở điểm C và có thu nhập là Eo. Nếu người
lao động mất hồn tồn sức lao động thì CP trợ cấp một khoản tiền bằng Eo cho cá
nhân này.
- Khoản trợ cấp này khiến đường giới hạn ngân sách dịch chuyển ra ngồi tới
BJ nhưng khơng thay đổi độ dốc. Người cơng nhân bị thương sẽ tối đa hóa độ thỏa
dụng tại điểm G hơn là tại điểm B (trừ những người có đường bàng quan rất dốc).
- Khi khoản trợ cấp giảm dần theo mức độ thương tật (nhỏ hơn Eo), đường
giới hạn ngân sách BJ dịch chuyển gần hơn tới AD. Điểm tối đa hóa độ thỏa dụng
sẽ di chuyển ra xa G và gần tới C.
Kết luận: không nên trợ cấp theo mức thu nhập bị mất của người lao động,
trợ cấp theo mức độ thương tật tạo ra động lực làm việc lớn hơn so với việc bù đắp
hoàn toàn thu nhập bị mất. Trợ cấp theo mức độ thương tật giúp chính phủ tiết kiệm
được ngân sách trong khi vẫn duy trì được động cơ làm việc của người lao động.
14
•
Loại chương trình thứ hai là những trợ cấp cho những mục đích đặc biệt, như
các trợ giúp về chăm sóc y tế, nhằm đảm bảo các dịch vụ chăm sóc y tế miễn
phí đối với những nhóm dân cư có thu nhập thấp, hoặc trợ giúp về nhà ở cho
người dân khơng có nhà ở; những vật dụng cần thiết cho những đối tượng đặc
biệt (như dụng cụ hỗ trợ đi lại cho người tàn tật)... Những loại trợ cấp này
được gọi là trợ cấp hiện vật. Những chương trình PLXH này được xây dựng
nhằm phân phối lại một phần thu nhập cho những người có thu nhập thấp,
thơng qua cung cấp hiện vật, để không làm tăng chi phí gia đình của các nhóm
đối tượng này. Hiện nay, nhiều người cho rằng, xét về khía cạnh hiệu quả,
chương trình PLXH thơng qua phân phối bằng hiện vật nhiều khi không hiệu
quả bằng phân phối bằng tiền mặt.
- Như vậy có thể thấy: gia tăng phúc lợi xã hội là một trong những mục tiêu
của quá trình tăng trưởng bền vững. Phúc lợi xã hội tất yếu phải dựa trên tăng trưởng
kinh tế. Tăng trưởng kinh tế tạo ra cơ sở vật chất để giải quyết các vấn đề phúc lợi,
là tiền đề để tổ chức các hoạt động phúc lợi. Phúc lợi xã hội giúp cho những người
đang ở trong những điều kiện bất lợi, thiệt thịi có cơ hội vươn lên và đóng góp vào
q trình tăng trưởng. Thực tế đã chứng minh rằng con người là nhân tố quyết định
của phát triển bền vững.
- Trong 17 Mục tiêu Phát triển Bền vững mà Liên Hợp Quốc đặt ra cho các
nước, thì có ít nhất 5 mục tiêu có liên quan trực tiếp đến phúc lợi xã hội: xóa nghèo;
khơng cịn nạn đói; sức khỏe và cuộc sống tốt; giáo dục có chất lượng; giảm bất bình
đẳng.
❖ Xét về mặt thực tiễn
- Ở Việt Nam
• Dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII khẳng định: “Đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Giảm nghèo
nhanh, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. An sinh xã hội, phúc lợi xã hội
từng bước được nâng cao”.
• Trong chín tháng đầu năm 2020 đã có 31,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị
ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19 do bị mất việc, bị giảm giờ làm, giảm
thu nhập…, trong số đó có 68,9% số người bị giảm thu nhập. Trong bối cảnh
dịch bệnh, kinh tế gặp rất nhiều khó khăn, Chính phủ đã triển khai nhiều biện
pháp bảo đảm an sinh xã hội, như triển khai gói hỗ trợ người dân gặp khó khăn
do đại dịch Covid-19, gần 800 nghìn người được hưởng chế độ bảo hiểm thất
nghiệp. Tính đến ngày 16-9-2020, nước ta đã tổ chức hơn 130 chuyến bay đưa
15
hơn 35 nghìn cơng dân Việt Nam có hồn cảnh khó khăn từ hơn 50 quốc gia
và vùng lãnh thổ về nước an tồn.
- Ở các nước Bắc Âu
• Mơ hình nghiệp hội bảo thủ (conservateur - corporatiste) là mơ hình áp dụng
điển hình ở Đức, Pháp, Áo, đặt nền tảng trên lao động làm công ăn lương,
mang mục tiêu bảo vệ người lao động và gia đình của họ trước những nguy
cơ, như tai nạn, bệnh tật, giá cả, thất nghiệp,... bằng cách bảo đảm cho họ một
mức thu nhập tối thiểu.
• Ở các nước Bắc Âu, cơ hội việc làm là cơng bằng và bình đẳng. Tỷ lệ thất
nghiệp ở Bắc Âu thấp. Số liệu Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD)
cho thấy: năm 2017, ở các nước khu vực Bắc Âu 77,4% số những người trong
độ tuổi lao động có việc làm, trong khi ở các nước nói tiếng Anh là 72,4% và
của châu Âu nói chung là 68,9%. Tỷ lệ phụ nữ tham gia lao động và chính trị
ở khu vực này ln cao nhất thế giới. Nam giới cũng được nghỉ khi vợ sinh
con với thời gian dài nhất thế giới. Mặc dù không quy định trong pháp luật
quốc gia về tiền lương tối thiểu, nhưng các thỏa ước tập thể ngành đều quy
định về tiền lương tối thiểu ngành. Điều này cho thấy sự linh hoạt của thị
trường lao động khi chính sách lao động được điều chỉnh thơng qua thỏa ước
tập thể thay vì trong pháp luật quốc gia.
=> Chế độ phúc lợi xã hội ở các nước Bắc Âu có được là nhờ nền kinh tế phát
triển tốt, hệ thống thuế cao và thực thi nghiêm. Do trình độ phát triển kinh tế
của Việt Nam chưa thể ngang bằng với các nước Bắc Âu, các chế độ phúc lợi
cụ thể đối với người lao động Việt Nam chỉ có thể xác lập ở mức có thể chấp
nhận được và phù hợp với điều kiện Việt Nam. Song, điều quan trọng là cần
bảo đảm các quyền hưởng và quyền tham gia của người lao động ở cả cấp vĩ
mô và vi mô trong xây dựng hệ thống phúc lợi xã hội phù hợp, hướng tới hệ
thống phúc lợi xã hội dựa trên nguyên tắc phổ quát.
➢ Xuất phát từ kinh nghiệm thực tiễn của các quốc gia trên thế giới, cũng như
hoàn cảnh của Việt Nam; chúng ta rút ra được bài học, đó là: “Gia tăng phúc
lợi xã hội là mục tiêu của Việt Nam trong quá trình tăng trưởng bền vững.”
2.
Phủ nhận quan điểm
- Tuy nhiên, nhận định“ Để gia tăng phúc lợi xã hội, Việt Nam nên dành cho
người lao động khơng có việc làm những khoản trợ cấp hoặc bồi thường ngày càng
lớn ” là không chính xác tại Việt Nam.
❖ Xét về mặt lý thuyết:
16
Chương trình phúc lợi cơ bản và trợ cấp hoặc bồi thường ngày càng lớn khiến
phần lớn người thụ hưởng khơng muốn đi làm hoặc trì hỗn việc đi làm của
mình.
• Hệ thống phúc lợi cơ bản.
- Nhân viên cơng tác xã hội sẽ xác định thu nhập “cần thiết” của một người
hay một gia đình thuộc đối tượng của chương trình, dựa vào quy mơ hộ gia đình, chi
phí sinh hoạt trong khu vực và các quy định về phúc lợi ở địa phương. Thu nhập
thực tế thường được trừ đi từ mức thu nhập “cần thiết” này, và người thụ hưởng sẽ
được nhận khoản còn thiếu hàng tháng. Nếu thu nhập thực tế của người thụ hưởng
gia tăng, phúc lợi xã hội sẽ giảm xuống.
•
- Giả sử thu nhập cần thiết là Yn. Người lao động quyết định làm việc tại E
và chính phủ khơng có chương trình phúc lợi.
- Đường giới hạn ngân sách mới là đường BCD nếu chính phủ triển khai
chương trình phúc lợi cơ bản. Những người được hưởng trợ cấp sẽ khơng có động
cơ làm việc vì phần lớn thời gian làm việc họ sẽ nhận được “tiền lương bằng 0”
(đoạn BC). Việc này đã gây ra một hiệu ứng thay thế khổng lồ có thể khiến cho
người thụ hưởng khơng muốn lao động và lựa chọn điểm B.
=> Chính phủ đạt được duy nhất 1 mục tiêu là giúp cho người lao động thốt
nghèo nhưng khơng đảm bảo được 2 mục tiêu cịn lại là lãng phí ngân sách và
triệt tiêu hồn tồn động cơ làm việc của người lao động.
•
Chương trình thay thế hồn tồn thu nhập bị mất:
- Có thể dẫn tới việc bù đắp quá mức do đã tạo ra mức thỏa dụng cao hơn
trước khi bị mất thu nhập và sẽ khiến người được trợ cấp quyết định trì hỗn
việc đi làm lại của họ càng lâu càng tốt. Lý do việc khơng nên bù đắp hồn
17
toàn cho thu nhập bị mất là do việc khuyến khích lao động. Cả những cơng
nhân gặp tai nạn lao động lẫn những người bị mất thu nhập (do thất nghiệp
hoặc do mất sức) sẽ xuy xét xem họ sẽ không làm việc trong bao lâu. Một
người bị thương ở tay có thể sẽ tiến hành cơng việc thơng thường của anh ta
chỉ với một chút bất tiện sau một vài ngày chữa trị hoặc quyết định nghỉ ngơi
cho đến khi lành hẳn vết thương mới quay trở lại làm việc. Một người thất
nghiệp cũng có thể lựa chọn chấp nhận công việc được đề nghị đầu tiên hoặc
đợi cho đến khi có cơ hội tốt hơn. Trong cả hai trường hợp, người lao động
có quyền hợp pháp rộng rãi khi nào quay trở lại làm việc. Quyết định này rõ
ràng bị tác động bởi động cơ làm việc gắn liền với chương trình thay thế thu
nhập.
- Do ngân sách nhà nước vẫn còn hạn chế nên nếu những khoản trợ cấp hoặc
bồi thường ngày càng lớn thì sẽ gây tốn kém thậm chí ảnh hưởng đến nền
kinh tế, chính trị-xã hội của nước ta.
❖ Xét về mặt thực tiễn
• Về phía Nhà nước:
- Chúng ta đang sống trong thời kỳ thanh đổi nhanh chóng khác thường do sự
chi phối của nhiều yếu tố như tiến bộ công nghệ và các xu hướng tồn cầu hóa
mà tồn cầu đều cơng nhận. Những yếu tố này sẽ ngày càng gia tăng ảnh
hưởng tới các nền kinh tế và thị trường lao động trên toàn thế giới, bao gồm
cả Việt Nam và đòi hỏi các thị trường lao động và các thiết chế thị trường lao
động cần được nâng cấp. Nhưng trên thực tế thì Việt Nam vẫn mang những
đặc trưng của nền kinh tế nông nghiệp năng suất thấp khiến thất nghiệp ở nước
ta khá nghiêm trọng. Thể hiện dưới các hình thức đa dạng, phức tạp bao gồm:
thiếu việc làm, thu nhập thấp, làm trái ngành trái nghề đào tạo, người học cao
làm công việc giản đơn của lao động phổ thơng.
- Nước ta có lực lượng lao động đơng đảo
• Năm 2018: 55,4 triệu người
• Năm 2019: 55,7 triệu người
- Nhưng tỉ lệ người lao động khơng có trình độ hay trình độ thấp lại chiếm
khá cao. Chúng ta có một lực lượng lao động dồi dào và đang phát triển: mỗi
năm, có khoảng một triệu người mới gia nhập lực lượng lao động nhưng trình
độ kỹ năng trung bình lại thấp và tăng một cách chậm chạp. Gần một nửa lực
lượng lao động của Việt Nam khơng có tay nghề; Tỷ lệ lao động nghèo, tỷ lệ
việc làm dễ bị tổn thương, tỷ lệ nền kinh tế phi chính thức, tỷ lệ ngành nơng
nghiệp trong số việc làm vẫn ở mức cao.
- Các trợ giúp về chăm sóc y tế, nhằm đảm bảo các dịch vụ chăm sóc y tế miễn
phí đối với những nhóm dân cư có thu nhập thấp, hoặc trợ giúp về nhà ở cho
người dân khơng có nhà ở. Trong nhiều trường hợp, nhà nước có thể trả tiền
cho các nhà cung cấp tư nhân để họ cung cấp cho các đối tượng thụ hưởng.
18
Những chương trình PLXH này được xây dựng nhằm phân phối lại một phần
thu nhập cho những người có thu nhập thấp, thông qua cung cấp hiện vật, để
không làm tăng chi phí gia đình của các nhóm đối tượng này. Hiện nay, nhiều
người cho rằng, xét về khía cạnh hiệu quả, chương trình PLXH thơng qua
phân phối bằng hiện vật nhiều khi không hiệu quả bằng phân phối bằng tiền
mặt.
- Đặc biệt trong thời đại công nghệ phát triển như hiện nay, việc các trang
thiết bị máy móc hiện đại đang dần thay thế con người trong các công đoạn
sản xuất ngày càng phổ biến. Điều này đồng nghĩa với việc đại bộ phận người
lao động Việt Nam (lao động chân tay, trình độ thấp, khơng địi hỏi các u
cầu kỹ năng mà máy móc khơng thể thay thế…) sẽ dễ dàng bị đào thải khỏi
thị trường lao động; trở thành người thất nghiệp. Mặc dù chế độ Bảo hiểm thất
nghiệp của Việt Nam có chính sách trợ cấp ngắn hạn - giới hạn từ 3-12 tháng
tùy thuộc đối tượng; Tuy nhiên, với số lượng lớn người lao động trong tình
trạng thất nghiệp như vậy, số tiền mà ngân sách Nhà nước phải chi trả sẽ
không hề nhỏ. Nếu khoản chi đó mà “ngày càng lớn” theo như nội dung nhận
định đưa ra, thì sẽ có khả năng dẫn tới nợ công, gánh nặng ngân sách Nhà
nước sẽ bị đội lên gấp nhiều lần. Và điều này thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng
khơng nhỏ đến tình hình phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội tại nước
ta.
❖ Về phía người lao động
• Bản chất của con người vốn dĩ là thích chơi hơn thích làm, yêu thích nghỉ ngơi
hơn lao động; và suy cho cùng, mục đích cơ bản nhất của lao động chính là
để nâng cao điều kiện sống, thỏa mãn nhu cầu bản thân ở một mức cao hơn
khi khơng lao động.
•
Phúc lợi xã hội là khoản tiền được phân phối lại, phân phối ngoài lao động
nhằm hỗ trợ nâng cao chất lượng cuộc sống của tồn bộ người dân. Tuy nhiên,
vì là phân phối ngoài lao động, nên nếu khoản tiền mà Nhà nước trợ cấp thay
đổi theo chiều hướng gia tăng ngày càng lớn thì sẽ gây ra hiệu ứng thay thế
thu nhập. Những người được lợi từ chính sách này sẽ có xu hướng khơng
muốn làm việc; vì rõ ràng, với người lao động có trình độ thấp, nếu trong khả
năng của họ mà họ lao động hay không lao động, mức thu nhập họ có được
cũng chỉ duy trì tại một mức cố định, thì họ sẽ quyết định khơng lao động:
vừa có tiền để sống, vừa khơng phải làm việc vất vả; xét trong hồn cảnh cụ
thể, đây chính là lựa chọn tối ưu của họ.
•
Xét trong tình hình phát triển kinh tế của Việt Nam, mức sống của người dân
vẫn duy trì ở mức thu nhập trung bình thấp, nguồn thu ngân sách từ thuế thu
nhập…không đủ bù vào các khoản chi cho các loại hình phúc lợi xã hội; khi
19
mà phần trăm dân số nằm trong các đối tượng được hưởng trợ cấp vẫn duy trì
ở mức cao. Người dân khơng đủ nguồn lực kinh tế để đóng góp những khoản
lớn vào ngân sách phúc lợi xã hội, khi mà đại bộ phận vẫn đang phải chật vật
để duy trì cuộc sống hàng ngày.
•
Xuất phát từ kinh nghiệm thực tiễn của các quốc gia trên thế giới, cũng như
hoàn cảnh của Việt Nam; chúng ta rút ra được bài học, đó là: Việt Nam khơng
nên dành cho những người lao động khơng có việc làm những khoản trợ cấp
hoặc bồi thường ngày càng lớn, mà hãy dành những khoản tiền đó để hỗ trợ
tìm việc làm nâng cao tay nghề cho họ để tránh tình trạng mất việc vẫn đảm
bảo được thu nhập mà vẫn khuyến khích được người lao động tích cực làm
việc.
CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP GIA TĂNG PHÚC LỢI XÃ
HỘI Ở VIỆT NAM
1. Nhà nước dành cho người lao động
• Các cấp Cơng đồn ln coi trọng và dành nhiều sự quan tâm cho công tác nữ
công, đề xuất chính sách cán bộ nữ, thúc đẩy bình đẳng giới, chăm lo lợi ích
chính đáng của lao động nữ.
• Hệ thống Cơng đồn Việt Nam tập trung đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn
với đổi mới mơ hình tăng trưởng; triển khai các chương trình phát triển kinh
tế - xã hội gắn với giải quyết việc làm; đổi mới cách tiếp cận trong giảm nghèo
bằng các chính sách hỗ trợ có điều kiện, giảm hỗ trợ dạng cho không, chú
trọng các giải pháp tạo điều kiện và khuyến khích hộ nghèo, cận nghèo phấn
đấu tự vươn lên thốt nghèo bền vững.
• Các cấp Cơng đồn đã có nhiều đổi mới cả về nội dung và phương thức hoạt
động; tìm tịi, sáng tạo, đề xuất và tổ chức được nhiều chương trình hoạt động
mới như: Chăm lo phúc lợi và triển khai Chương trình phúc lợi cho đồn viên
cơng đồn; tổ chức “Tết Sum vầy”, “Tháng Cơng nhân”, “Mái ấm Cơng
đồn”, “Quỹ trợ vốn” cho người lao động; chương trình sử dụng Thẻ đồn
viên hưởng các ưu đãi giảm giá, nâng cao chất lượng bữa ăn giữa ca, đề xuất
xây dựng các thiết chế cơng đồn… góp phần tháo gỡ những khó khăn, vấn
đề bức xúc cho công nhân các khu công nghiệp.
2. Doanh nghiệp dành cho người lao động
• Doanh nghiệp thực hiện tốt phúc lợi cho người lao động là một trong những
nền tảng giúp phát huy hết thái độ, trách nhiệm, sáng kiến và sự tận tâm của
người lao động trong sản xuất, góp phần nâng cao năng suất lao động, nâng
cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Do vậy, cần khuyến khích để
20
•
•
doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội, vì một cộng đồng gắn kết và thịnh
vượng.
Doanh nghiệp cần xây dựng quỹ phúc lợi cho nhân viên để giúp người lao
động cải thiện tài chính bên cạnh mức lương cơ bản, củng cố sức khỏe tinh
thần, cải thiện sức khỏe thể chất và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp.
Một số giải pháp doanh nghiệp có thể dành cho người lao động trong thời
buổi hiện nay như: Tạo điều kiện để nhân viên có thể làm việc từ xa; Xây
dựng các chương trình về chăm sóc sức khỏe cho người lao động; Phụ cấp
đồ ăn trưa, phòng nghỉ ngơi và khu vực giải trí; Xây dựng chính sách khen
thưởng cho người lao động xuất sắc; Hoạt động du lịch hàng năm; Chế độ
tăng thời gian và phụ cấp có lương trong thời gian nghỉ sinh; Thưởng tiền
vào ngày lễ, tết; Tạo cơ hội thăng tiến cho người lao động.
KẾT LUẬN
Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, các vấn đề xã hội
mới nảy sinh ảnh hưởng đến xu hướng phát triển chung của cả đất nước. Quy luật
của Thị trường và sự vận động không ngừng của xã hội đòi hỏi bất kỳ một Quốc gia
nào cũng cần có một chính sách cụ thể để điều tiết cho phù hợp. Chúng ta có thể
đánh giá một nước phát triển dựa vào trình độ văn hóa nhưng cũng khơng thể phủ
nhận vai trị của xã hội mà trọng tâm là vấn đề con người phải đặt lên hằng đầu. Một
đất nước có “Phúc lợi xã hội” tốt sẽ giúp cho người dân ở đất nước đó hịa thuận làm
nâng cao sự phát triển, biến đất nước đó trở nên to lớn để có thể sánh ngang với các
cường quốc trên thế giới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. />2. />3. />4. />5. />E0%B8%9B%E0%B8%A3%E0%B8%B0%E0%B8%81%E0%B8%B1%E0%B8
%99%E0%B8%A0%E0%B8%B1%E0%B8%A2%E0%B8%81%E0%B8%B2%E
0%B8%A3%E0%B8%A7%E0%B9%88%E0%B8%B2%E0%B8%87%E0%B8%8
7%E0%B8%B2%E0%B8%99-0
6. />
21
7. /> />8. /> />
22