Tải bản đầy đủ (.docx) (2 trang)

DHTHBK5Chiu Thi MuiKTGHP

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (80.82 KB, 2 trang )

BÀI KIỂM TRA GIỮA HỌC PHẦN
MÔN : PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT 1
Bài làm
1. Xem xét – đánh giá việc thực hiện ba nguyên tắc dạy hojv Tiếng Việt ở
trường tiểu học.
Việc thực hiện ba nguyên tắc dạy học Tiếng Việt ở trường tiểu học hiện nay đã được
thực hiện trong các tiết dạy của môn Tiếng Việt. Giáo viên chỉ định hướng cho học sinh ,
còn học sinh mới là người hoạt động trong giờ học.
Về nguyên tắc phát triển tư duy: Trong giờ dạy Tiếng Việt ở trường tiểu học , đa số
giáo viên đã thực hiện được nguyên tắc này.
Ví dụ:
+ Tiết tập đọc bài Mùa thảo quả giáo viên cho học sinh tự chia đoạn , xác định giọng đọc
phù hợp của bài và thảo luận nhóm trả lời các câu hỏi trong SGK , qua đó yêu cầu học
sinh tự rút ra nội dung bài học.
+ Tiết Luyện từ và câu bài Quan hệ từ giáo viên cho học sinh hoạt động nhóm làm các
bài tập trong SGK và qua đó HS rút ra Quan hệ từ là gì. Sau đó giáo viên đặt các câu hỏi
mở , có vấn đề để học sinh tự trả lời , qua đó học sinh rút ra được phần ghi nhớ.
+ Tiết kể chuyện Người đi săn và con nai HS được nghe giáo viên kể mẫu ( GV vừa kể
vừa đặt câu hỏi để HS dự đoán sự việc xảy ra tiếp theo). Sau khi GV kể mẫu học sinh
được hoạt động nhóm kể lại câu chuyện và rút ra ý nghĩa câu chuyện , bài học cho bản
thân mình.
Về nguyên tắc giao tiếp : GV cũng thực hiện được nguyên tắc này.
Ví dụ:
+ Trong tiết tập đọc Mùa thảo quả học sinh được nghe các bạn và giáo viên đọc bài , trả
lời các câu hỏi. Học sinh được đọc nội dung bài và các câu hỏi. Học sinh được thảo luận
nhóm trả lời các câu hỏi và các nhóm được trình bày kết quả của mình. Ngồi ra học
sinh cịn được đặt câu hỏi cho nhóm bạn, qua đó học sinh hình thành kỹ năng nói và viết.
+ Trong tiết Luyện từ và câu bài Quan hệ từ giáo viên cho học sinh thảo luận nhóm sau
đó học sinh được trình bày kết quả của mình , học sinh được đặt câu với các quan hệ từ
và đọc kết quả trước lớp.



+ Trong tiết kể chuyện Người đi săn và con nai học sinh được hoạt động nhóm kể lại câu
chuyện cho nhau nghe sau đó đại diện nhóm trình bày phần kể chuyện của nhóm mình
đồng thời đặt câu hỏi cho các nhóm cịn lại trả lời .
Về ngun tắc chú ý đến tâm lí và trình độ Tiếng Việt vốn có của học sinh: GV cũng
thực hiện được nguyên tắc này.
Ví dụ:
+ Trong tiết tập đọc giáo viên đều có thao tác dẫn vào bài học tạo hứng thú cho học sinh.
+ Trong tiết luyện từ và câu giáo viên xem xét và tổ chức các trò chơi để học sinh hồn
thành bài tập với tâm lí thoải mái , vừa học vừa chơi như là khi đặt câu với cặp quan hệ
từ giáo viên chia lớp làm 2 dãy thi nhau đặt câu có cặp quan hệ từ.
+ Trong tiết chính tả giáo viên dựa trên sự hiểu biết chắc chắn về trình độ tiếng mẹ đẻ
vốn có của học sinh để lựa chọn bài tập phù hợp. Giáo viên tổ chức làm các bài tập
chính tả lựa chọn. Khi làm bài tập tìm các từ ngữ có chứ tiếng Sương – Xương , Sao –
Xao ,... học sinh vận dụng vốn từ đã có của mình để tìm ra các từ ngữ đó.
2. Các thắc mắc , băn khoăn của bản thân khi tiếp cận thực tế với các tiết dạy
học Tiếng Việt ở trường tiểu học và đề xuất các ý tưởng về giải pháp khắc
phục.
Các thắc mắc băn khoăn
Trong tiết chính tả phần bài tập HS chưa
được tham gia đầy đủ.
Trong tiết kể chuyện chỉ có học sinh khá ,
giỏi tham gia kể chuyện.

Đề xuất các ý tưởng về giải pháp khắc
phục.
- Tất cả học sinh phải tham gia tìm
các từ ngữ chứa tiếng có sẵn theo
yêu câu để bài.
- Tổ chức chơi trò chơi tiếp sức để

học hứng thú tham gia.
- Giáo viên sẽ gọi bất kì các học sinh
trong nhóm đại diện kể chứ khơng
để nhóm tự cử đại diện.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×