TRƯỜNG TH VINH HƯNG 1
BỘ MƠN MĨ THUẬT
CỘNG HỊA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Vinh Hưng, ngày 25 tháng 6 năm 2020
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
- Họ và tên: Hồng Bảo Quốc
Nam
- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Đại học sư phạm Mĩ thuật.
- Chức vụ: Tổ trưởng tổ Đặc thù
- Đơn vị công tác: Trường TH Vinh Hưng 1
- Tên đề tài sáng kiến: Kinh nghiệm giáo dục kỹ năng sống trong môn Mĩ
thuật theo định hướng phát triển năng lực tại trường tiểu học Vinh Hưng 1.
Phần I. Lí do chọn đề tài
Kĩ năng sống là một trong những khái niệm được nhắc đến nhiều trong giai
đoạn hiện nay. Kĩ năng sống được hình thành theo một quá trình, hình thành một
cách tự nhiên qua những va chạm, những trải nghiệm trong cuộc sống và qua
giáo dục mà có. Có nhiều nhóm kĩ năng sống như: nhóm kĩ năng nhận thức,
nhóm kĩ năng xã hội và nhóm kĩ năng quản lí bản thân.... Dù là kĩ năng nào cũng
đều rất quan trọng và cần thiết với mỗi con người. Vì vậy, việc giáo dục kĩ năng
sống cho học sinh là rất quan trọng bởi đây là một chương trình giáo dục hết sức
cần thiết đối với học sinh và phù hợp với mục tiêu giáo dục hiện nay, nhằm đào
tạo con người với đầy đủ các mặt (đức, trí, thể, mỹ) để đáp ứng yêu cầu của xã
hội.
Môn mĩ thuật trong nhà trường tiểu học là giáo dục thẩm mĩ cho học sinh, tạo
điều kiện cho các em tiếp xúc, làm quen và thưởng thức cái đẹp của tự nhiên,
của các tác phẩm mĩ thuật; biết cảm nhận và tạo ra cái đẹp qua đó vận dụng
những hiểu biết về cái đẹp vào cuộc sống sinh hoạt và học tập hàng ngày.
Cung cấp cho các em những kiến thức cơ bản, giúp các em hiểu được cái đẹp
của đường nét, hình mảng, màu sắc, đậm nhạt, bố cục…để các em hoàn thành
được bài tập lí thuyết và thực hành.
Phát triển khả năng quan sát, nhận xét, tư duy, sáng tạo hình thành kỹ năng
sống cho học sinh.
Góp phần phát hiện học sinh có năng khiếu mĩ thuật, tạo điều kiện cho các em
phát triển tài năng của mình.
1
Trên cơ sở lý thuyết giáo dục và giảng dạy Mĩ thuật theo định hướng phát
triển năng lực, giáo viên sẽ lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho học sinh giúp
học sinh tự giải quyết được một số vấn đề thiết thực trong cuộc sống hằng ngày
như: tự chăm sóc sức khỏe, bảo vệ mơi trường và phịng chống các tệ nạn xã
hội, để các em chủ động, tự tin khơng phụ thuộc hồn tồn vào người lớn mà
vẫn có thể tự bảo vệ mình.
Là một giáo viên giảng dạy nhiều năm, bản thân tơi ln suy nghĩ, tìm tòi các
biện pháp để lồng ghép giáo dục Kĩ năng sống cho HS trong quá trình học tập.
Cái gì đổi mới, thời gian đầu cũng sẽ khơng tránh khỏi khó khăn, điều quan
trọng chính là ở chỗ, người giáo viên phải biết lấy học sinh làm trung tâm của
quá trình giaos dục, hiểu trình độ từng em, từ đó có những hành động thiết thực
để cải thiện điều kiện học tập và kết quả học tập của các em. Với những nỗ lực
của bản thân, tôi đã đi sâu vào tìm hiểu và đề ra một số kinh nghiệm giáo dục kỹ
năng sống trong môn Mĩ thuật theo định hướng phát triển năng lực tại trường
tiểu học Vinh Hưng 1
Phần II. Giải quyết vấn đề
I. Cơ sở lý luận
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh có thể quan niệm là việc tổ chức các
hoạt động giáo dục đa dạng, phong phú nhằm kích thích học sinh tham gia một
cách tích cực chủ động vào các q trình hoạt động, qua đó hình thành hoặc thay
đổi hành vi của trẻ theo hướng tích cực nhằm góp phần phát triển nhân cách tồn
diện; giúp học sinh có thể sống an tồn, khỏe mạnh và tích cực, chủ động trong
cuộc sống hằng ngày.
Mục đích, vai trị của việc lồng ghép giáo dục kỹ năng sống trong môn Mĩ
thuật theo định hướng phát triển năng lục. Giúp học sinh thay đổi suy nghĩ, thói
quen, hành vi khơng tốt, chọn thói quen hành vi tốt, hình thành ở các em phẩm
chất của con người lao động mới, đáp ứng được đòi hỏi của một xã hội phát
triển ngày càng cao.
Thông qua hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong mơn Mĩ thuật, học sinh
có được các kỹ năng cơ bản sau:
- Kỹ năng trải nghiệm: Cho các em được làm việc với những chủ đề liên
quan đến kinh nghiệm đã có của bản thân.
- Kỹ năng sáng tạo thông qua các hoạt động : Vẽ cùng nhau, chân dung biểu
đạt, vẽ theo nhạc, tạo hình từ vật tìm được, nặn hoặc uốn tạo dáng, xây dựng cốt
truyện (xây dựng bối cảnh câu chuyện).
- Kỹ năng biểu đạt: Có nghĩa là học sinh ứng dụng ngôn ngữ mĩ thuật để diễn
đạt sự trải nghiệm và thái độ của bản thân.
- Kỹ năng phân tích và trình bày: Thơng qua các hoạt động trình bày về tác
phẩm của mình, tham gia giải thích, phân tích, nhận xét về nghệ thuật, kỹ thuật
thể hiện tác phẩm.
2
- Kỹ năng giao tiếp và đánh giá: Học sinh tham gia giao tiếp, thảo luận và
đánh giá tất cả các hoạt động trong tiết Mĩ thuật, đánh giá những gì đã làm được,
có như mong muốn hay khơng?...
Tóm lại: Tổ chức lồng ghép dạy học, giáo dục kỹ năng sống trong môn Mĩ
thuật cho học sinh là giáo dục cho các em có cách sống tích cực trong xã hội
hiện đại, là xây dựng hoặc thay đổi ở các em các hành vi theo hướng tích cực
phù hợp với mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách người học trên cơ sở giúp
học sinh có tri thức, giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp.
II. Thực trạng việc tổ chức lồng ghép giáo dục kỹ năng sống trong môn
Mĩ thuật theo định hướng phát triển năng lực tại trường Tiểu học Vinh
Hưng I.
1. Thuận lợi:
Thứ nhất là: Giáo viên luôn được sự quan tâm của Ngành cấp trên, đặc biệt là
của ban Giám hiệu nhà trường, thường xuyên động viên, khuyến khích giáo viên
áp dụng phương pháp mới vào giảng dạy. Ban Giám hiệu luôn cố gắng tạo điều
kiện để giáo viên an tâm công tác và thực hiện nhiệm vụ được giao.
Thứ hai là: Cơ sở vật chất của nhà trường khang trang, sạch đẹp. Điều này
giúp cho giáo viên linh động tổ chức lồng ghép dạy học, giáo dục kỹ năng sống
trong môn Mĩ thuật.
Thứ ba là: Nội dung dạy học Mĩ thuật Tiểu học củ có một số bài khơng phù
hợp vì mang yếu tố đặc thù vùng miền, do đó theo chương trình mới thì giáo
viên có thể xây dựng kế hoạch dạy học cho phù hợp với tình hình thực tế địa
phương, mà khơng q phụ thuộc vào khn khổ của chương trình hiện hành.
Các hoạt động của mỗi chủ đề nối tiếp liền mạch nhau, làm cho học sinh luôn
cảm thấy hào hứng khi được khám phá, sáng tạo với nhiều trải nghiệm đầy thú
vị.
Thứ tư là: Một điểm thuận lợi nữa khi chức lồng ghép dạy học, giáo dục kỹ
năng sống trong mơn Mĩ thuật học sinh cảm thấy thích thú hơn, có thái độ, hành
vi tốt hơn, hình thành được các kỹ năng phù hợp với lứa tuổi thông qua các hoạt
động vẽ tranh theo chủ đề như: An toàn giáo thơng, Mơi trường quanh em, Gia
đình em....
2. Khó khăn:
- Về phía giáo viên
+ Chưa được thường xuyên tập huấn các Phương pháp Giáo dục kĩ năng sống
trong các môn học cho học sinh.
+ Mất nhiều thời gian, kinh phí để sưu tầm tranh ảnh và chuẩn bị đồ dùng dạy
học về các đề tài phải đảm bảo các yêu cầu về tính thẩm mĩ, tính khoa học để
trong quá trình gợi ý, hướng dẫn cho học sinh lựa chọn được nội dung vẽ làm
sao cho thật phù hợp với khả năng và không bị lạc nội dung đề tài của bài học.
3
+ Dự kiến các tình huống xử lí nội dung liên quan trong tiết học, hoặc tình
huống đột ngột xảy ra trong quá trình giảng dạy của giáo viên chưa chu đáo,
thiếu khoa học nên gây nhàm chán cho học sinh và hiệu quả tiết học chưa cao.
- Về phía học sinh
+ Xu thế hiện nay, phần lớn các em ít phải tham gia các hoạt động tập thể,
công việc nhỏ trong gia đình, các hoạt động trãi nghiệm ngồi nhà trường vì thế
việc tái hiện lại những việc làm có thật trong cuộc sống hàng ngày chưa thật cụ
thể, chưa sinh động, nên nội dung trong một bài vẽ cịn ở mức sơ sài, khơng đầu
tư về nội dung và cả hình thức, chỉ có một số học sinh tham gia học tập, chú ý
về hình tượng, bố cục, màu sắc, đường nét.
+ Vốn về các hình ảnh, màu sắc còn nghèo nên chất lượng bài vẽ chưa cao:
nội dung sơ sài, bố cục lỏng lẻo, thiếu tính sáng tạo, thiếu sự hồn nhiên ngây thơ
hoặc sao chép một cách máy móc, rập khn theo các bài vẽ mẫu và chưa có
cảm xúc khi vẽ tranh.
Tóm lại: Bất cứ một phương pháp, hình thức tổ chức dạy học nào cũng có hai
mặt: tích cực và hạn chế. Cái chính là cách chúng ta làm thế nào để phát huy
được thế mạnh của nó và loại bỏ dần những hạn chế nảy sinh trong quá trình
thực hiện.
III. Giải pháp tổ chức lồng ghép giáo dục kỹ năng sống trong môn Mĩ
thuật theo định hướng phát triển năng lực
Để giúp học sinh tham gia một cách tích cực vào q trình hình thành kỹ
năng sống nói chung và góp phần nâng cao chất lượng giờ học ở Mĩ thuật tiểu
học, tôi thực hiện một số giải pháp sau:
1. Hình thành cho học sinh kỹ năng nhận thức
Tự nhận thức là một kĩ năng sống rất cơ bản của con người, là nền tảng để
con người giao tiếp, ứng xử phù hợp và hiệu quả với người khác cũng như để có
thể cảm thơng được với người khác. Ngồi ra, có hiểu đúng về mình, con người
mới có thể có những quyết định, những sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với khả
năng của bản thân, với điều kiện thực tế và yêu cầu xã hội. Ngược lại, đánh giá
không đúng về bản thân có thể dẫn con người đến những hạn chế, sai lầm, thất
bại trong cuộc sống và trong giao tiếp với người khác. Để tự nhận thức đúng về
bản thân, cần phải được trải nghiệm qua thực tế, đặc biệt là giao tiếp với mọi
người.
Như chúng ta đã biết trong cuộc sống hàng ngày luôn diễn ra nhiều hoạt động,
những hoạt động này được lặp đi lặp lại thường xun, đi vào trí nhớ của con
người một cách vơ thức nếu ta khơng để ý đến nó như các hoạt động vui chơi,
học tập, lao động, giải trí... Đề tài vẽ tranh cũng rất phong phú và đa dạng, xảy
ra thường ngày trong cuộc sống, ta quy nó về thành một đề tài lớn để vẽ thành
tranh như “Đề tài An tồn giao thơng; đề tài Ngày Tết, lễ hội và mùa xuân; đề
tài gần gũi với học sinh là đề tài Trường em; đề tài Sinh hoạt (học tập, lao
4
động)... những đề tài này bắt buộc học sinh phải quan sát, ghi nhớ hình ảnh xung
quanh một cách chọn lọc để thể hiện thành một bức tranh, phản ánh lại thực tế
xung quanh, thể hiện được cảm xúc của cá nhân về cái nhìn thu nhỏ riêng trong
cuộc sống.
Mỗi một đề tài chứa đựng nhiều nội dung riêng, thông qua cái nhìn của mỗi
học sinh, khi quan sát nội dung tranh ta kiểm tra được khả năng, cảm xúc của
từng em rõ rệt, thể hiện phản ứng đồng tình hay khơng đồng tình với nội dung
của tranh, với việc làm hay hành động không phù hợp vớ sự phát triển của quy
luật. Qua đó, các em hiểu được nội dung cần thiết khi vẽ tranh như thế nào,
khiến người xem tranh sẽ nhận được một thông điệp cụ thể nào đó, có được
thiện cảm thực sự. Vì thế, cần phải có các yếu tố sau:
- Nội dung có hình tượng mang tính tích cực và tiêu cực.
- Tạo được tính giáo dục và sự mới mẻ về hình ảnh, bố cục, màu sắc, đường
nét.., trong từng bài vẽ, lí thú hấp dẫn, gây ấn tượng mạnh và hứng thú của
người xem.
Tôi xác định giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở phần quan sát chọn nội
dung này, muốn có được sự lựa chọn đúng đắn thì cần phải làm gì? Bắt buộc tơi
phải đặt học sinh vào tình huống có vấn đề để kích thích tính tích cực của các
em, độc lập sáng tạo khi giải quyết tình huống có vấn đề.
Dùng hệ thống câu hỏi phù hợp với từng nội dung để học sinh cùng tham gia
nhận biết về những việc làm đúng, chưa đúng của mọi người trên ảnh, đâu là
môi trường trong sạch, đâu là mơi trường bị ơ nhiễm... Từ đó các em đưa ra
đánh giá nhận xét riêng của bản thân và nêu được những việc làm thiết thực để
bảo vệ mơi trường.
Ví dụ: Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh về An tồn giao thơng.
Giới thiệu tranh để học sinh nhận biết về việc tham gia giao thông hiện nay
của mọi người như thế nào.
Em hãy nêu nhận xét của mình về việc thực hiện đúng luật An tồn giao thơng
đường bộ của mọi người trong các tranh trên. Học sinh sẽ nhận biết được tranh
nào vẽ mọi người tham gia đúng luật An tồn giao thơng.
Giáo viên giới thiệu thêm bảng nội dung một số hành vi được coi là hành vi
“có văn hóa” để học sinh cùng lựa chọn và điền từ thích hợp với từng ý dưới
đậy:
Các từ: Chạy; dừng; sự cố; hiệu; trật tự; vệ sinh; người già; đội nón;
nhường nhịn.
STT
1
NỘI DUNG
...........đúng tốc độ quy định.
5
2
Đi đúng đường,........ đúng vạch.
3
....................... người khác.
4
Giúp đỡ.................., trẻ em qua đường.
5
Ý thức giữ.................... đường phố.
6
Giúp đỡ người gặp................., bị nạn.
7
Tơn trọng tín........ giao thơng.
8
Tham gia giữ................... an tồn giao thông.
9
...................bảo hiểm khi tham gia giao thông.
Sau khi học sinh điền hoàn chỉnh, giáo viên cùng học sinh tham gia nhận xét,
chỉnh sửa để nội dung hoàn chỉnh như sau:
STT
NỘI DUNG
1
Chạy đúng tốc độ quy định.
2
Đi đúng đường, dừng đúng vạch.
3
Nhường nhịn người khác.
4
Giúp đỡ người già, trẻ em qua đường.
5
Ý thức giữ vệ sinh đường phố.
6
Giúp đỡ người gặp sự cố, bị nạn.
7
Tơn trọng tín hiệu giao thơng.
8
Tham gia giữ trật tự an tồn giao thơng.
9
Đội nón bảo hiểm khi tham gia giao thông.
Kết luận: Những hành vi trên thể hiện văn hóa của người tham gia giao thơng,
vì vậy mỗi học sinh cần tuân thủ, thực hiện tốt những hành vi đúng này.
2. Hình thành cho học sinh kỹ năng đảm nhận trách nhiệm
6
Để hình thành cho các em kĩ năng này chúng ta phải tổ chức cho các em được
làm việc theo nhóm, giao nhiệm vụ cụ thể và trách nhiệm cụ thể cho nhóm
trưởng và các thành viên làm việc thơng qua phiếu câu hỏi cụ thể, mục đích để
phát hiện ra ai là người điều hành, quản lí nhóm của mình thực hiện tốt hoạt
động học này.
Ví dụ: Thường thức mĩ thuật: Xem tranh Bác Hồ đi công tác. Qua thời gian
thảo luận làm việc theo nhóm nhỏ, chúng ta sẽ nhận thấy nhóm nào làm việc
hiệu quả như (nhóm trưởng phân công các câu hỏi cho từng thành viên, sau đó
mỗi thành viên cùng tham gia trao đổi ý kiến với nhóm về nội dung của bức
tranh, nếu các thành viên thấy phù hợp thì tiếp tục chuyển lần lượt từng câu hỏi
cho đến hết. Nhóm trưởng vừa điều hành, vừa theo dõi, nhận xét các thành viên
có tham gia thảo luận tích cực, có hồn thành nhiệm vụ mà nhóm giao cho hay
khơng). Trong q trình làm việc theo nhóm sẽ thấy hết được ý thức tự giác
tham gia học tập của từng em và nhận thấy được trách nhiệm lớn của nhóm
trưởng, từ đó dần hình thành cho học sinh được kĩ năng đảm nhận trách nhiệm
và chịu trách nhiệm của cá nhân trước tập thể.
Khi hết một thời gian thảo luận và trình bày kết quả thảo luận trước lớp, lúc
này các nhóm sẽ nhận xét được sự hợp tác và tập trung cùng nhau làm việc của
nhóm nào cao nhất, từ đó nhóm làm việc hiệu quả chia sẽ cách làm việc cho cả
lớp cùng tham khảo. Nhóm làm việc hiệu quả vì có sự điều hành tốt của trưởng
nhóm, có sự tin tưởng lẫn nhau, cùng nhau hồn thành nhiệm vụ được giao.
Nhóm hồn thành nhanh nhất chia sẻ việc thực hiện thảo luận của nhóm trước
lớp, có như vậy các nhóm tự rút kinh nghiệm và thực hiện tốt cho lần sau, chỉ
việc làm nhỏ này thơi nhưng nó đã thúc đẩy các em nhiều trong quá trình tham
gia hợp tác cùng làm việc và nhận thức được trách nhiệm của cá nhân trước tập
thể “Một người vì mọi người”. Giúp các em sẻ thấy được sức mạnh của sự đoàn
kết, hợp tác cùng nhau làm việc, như câu nói của Bác Hồ “Đồn kết, đồn kết,
đại đồn kết; Thành cơng, thành cơng, đại thành cơng”. Khơng chỉ có trách
nhiệm trong học tập mà ở mọi công việc, mọi hành động của bản thân.
Kết luận: Đảm nhận trách nhiệm là khả năng con người thể hiện sự tự tin, chủ
động và ý thức cùng chia sẻ công việc với các thành viên khác trong nhóm. Khi
các thành viên trong nhóm có kỹ năng đảm nhận trách nhiệm sẽ tạo được một
khơng khí hợp tác tích cực và xây dựng trong nhóm, giúp giải quyết vấn đề, đạt
được mục tiêu chung của cả nhóm.
3. Hình thành cho học sinh kỹ năng thể hiện sự tự tin
Khi tiến hành một bài vẽ nào đó đa số các em rất e ngại với nét vẽ để tạo hình
của mình, lo lắng với nội dung đề tài, nên khi vẽ các em hay đồ nét, làm cho nét
vẽ không đẹp, không tạo được lúc dày lúc mỏng của nét, tẩy xóa bài và vẽ đi vẽ
lại, có khi rách cả giấy. Lúc này các em cần có sự hỗ trợ kịp thời của giáo viên.
7
Tự tin là có niềm tin vào bản thân; tự hài lịng với bản thân; tin rằng mình có
thể trở thành một người có ích và tích cực, có niềm tin về tương lai, cảm thấy có
nghị lực để hồn thành các nhiệm vụ.
Kĩ năng thể hiện sự tự tin giúp cá nhân giao tiếp hiệu quả hơn, mạnh dạn bày
tỏ suy nghĩ và ý kiến của mình, quyết đốn trong việc ra quyết định và giải
quyết vấn đề, thể hiện sự kiên định, đồng thời cũng giúp người đó có suy nghĩ
tích cực và lạc quan trong cuộc sống.
Thơng qua bài vẽ tranh Đề tài Ước mơ hình thành cho các em ln có niềm
tin vào ước mơ và biến ước mơ trở thành hiện thực.
Giới thiệu tranh để học sinh nhận biết về các ước mơ tốt đẹp trong tương lai.
Mỗi người đều ít nhiều có những ước mơ, có bạn ước mơ trở thành một phi
hành gia, có bạn ước muốn trở thành ca sĩ, nhưng cũng có bạn chỉ có ước mơ
nho nhỏ và đơn giản thành cô giáo trường làng. Mỗi ước mơ đều đáng quý, đáng
trân trọng. Nó là nguồn động lực để ta phấn đấu, học tập rèn luyện. Tuy nhiên,
sẽ là tuyệt vời hơn nếu những ước mơ được hành động để biến thành hiện thực
trong cuộc sống.
Cho học sinh nêu ước mơ trước lớp và thể hiện nội dung qua tranh, sau đó
cùng nhận xét về ước mơ, cách thể hiện nội dung trong tranh của cả lớp.
Kết luận: Mỗi người đều có những ước mơ khát vọng trong đời. Ước mơ là
động lực để ta vươn tới, nó rất quan trọng với mọi người. Tuy nhiên ước mơ chỉ
có thực hiện được nếu nó có tính thực tiễn, khơng viễn vơng. Vì vậy mỗi người
cần xác định cho mình ước mơ thực tế.
4. Cho học sinh nắm vững kiến thức về các bước vẽ tranh.
Bước 1: Lựa chọn nội dung
Nhằm phát triển trí nhớ, phát huy trí tưởng tượng sáng tạo, làm giàu cảm xúc
thẩm mĩ cho học sinh, có khả năng thể hiện nhận thức và cảm xúc của mình về
thế giới xung quanh, lựa chọn nội dung điển hình thể hiện nội dung đề tài.
Bước 2: Phác mảng chính, mảng phụ
Người vẽ tự do sáng tạo theo tâm tư, tình cảm của mình trên cơ sở hình tượng
thế giới xung quanh đã được ghi nhận và hình thành trong quá trình quan sát
thực tế. Phác hình dựa trên một số bố cục như: bố cục hình tam giác hay cịn gọi
là hình tháp, bố cục hình trịn, hình vng, hình chữ nhật. Mỗi dạng bố cục có ý
nghĩa khác nhau.
- Bố cục hình tháp tạo cảm giác vững chắc, khỏe khoắn.
- Bố cục hình trịn tạo cảm giác tuần hồn, chuyển động, mềm mại.
- Bố cục hình vng, chữ nhật tạo cảm giác vững vàng, chặt chẽ…
Bước 3: Vẽ hình ảnh chính, hình ảnh phụ vào trong mảng chính, mảng phụ.
8
Vẽ tranh khơng phải là vẽ tất cả những gì sẵn có, những gì nhìn thấy mà cần
biết vẽ những gì trọng tâm để có một bức tranh đẹp, tạo cho người xem cảm
nhận được cảm xúc. Đối với các em kiến thức tích lũy về thế giới xung quanh
cịn hạn chế, việc lựa chọn và thể hiện hình tượng chỉ ở mức khái qt hóa, các
em vẽ những gì mình chứng kiến, tưởng tượng ra…Khi hướng dẫn học sinh lựa
chọn hình tượng, tơi vẽ ra khung cảnh bằng lời trước mắt để các em xác định
hình tượng cho bài vẽ của mình.
5. Hướng dẫn học sinh làm bài tập
Để kiểm tra học sinh nắm bắt kiến thức qua quá trình nhận biết cách vẽ tranh,
phải tiến hành trải nghiệm, để biết học sinh thể hiện khả năng đến đâu, như thế
nào, bởi lẽ “Học đi đôi với hành”, học phải thực hành, nếu học mà không thực
hành cũng chỉ là lí thuyết sng, khơng có tác dụng giáo dục toàn diện cho học
sinh.
Khi làm bài tập, học sinh vận dụng kiến thức đã học để thực hiện một nhiệm
vụ nào đó theo yêu cầu đặt ra. Trong lúc làm bài, học sinh phải suy nghĩ, nhớ lại,
đồng thời có những sáng kiến của riêng mình trong cách giải quyết vấn đề cần
thiết. Đối với môn Mĩ thuật, lúc làm bài là lúc đòi hỏi học sinh phải nhớ lại kiến
thức. Vì kiến thức ở mơn này thường lặp đi lặp lại, cách làm bài cũng chung
chung. Bài vẽ đẹp là bài có cái mới lạ ở bố cục, ở hình tượng, hay ở màu sắc. Do
vậy, tơi nhận thấy khi học sinh làm bài thì vai trị và sự quan tâm của giáo viên
là rất quan trọng. Động viên, khích lệ và giúp đỡ học sinh làm bài. Giúp đỡ học
sinh cá biệt: Với từng bài, từng đối tượng học sinh để có cách hướng dẫn riêng,
có trọng tâm riêng cho phù hợp, ví dụ: sắp xếp hình vẽ; cách vẽ hình; cách vẽ
màu, về đậm nhạt; ý tưởng sáng tạo.
Đối với một số học sinh còn lúng túng trong q trình thể hiện nội dung, tơi
gợi ý để các em tìm ra cách giải quyết, có đối tượng tôi vừa nêu yêu cầu, vừa
động viên để các em suy nghĩ, tìm tịi thêm, đơi khi cho các em vẽ lại để có bài
vẽ đẹp hơn. Những câu hỏi gợi ý có tính chất “nghi vấn” có tác dụng tích cực
đến sự suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, ví dụ: những hình này đã đúng, đã đẹp
chưa, dùng màu nào sẽ đẹp hơn, em có thích tranh của mình đẹp hơn khơng, em
có thể vẽ khác được không?...
6. Đánh giá nhận xét kết quả học tập của học sinh
Đánh giá kết quả học tập của học sinh qua các hình thức sau:
- Đặt câu hỏi để kiểm tra: Các câu hỏi thường được đưa ra trong giờ học lí
thuyết, vào lúc học sinh làm bài thực hành. Các câu hỏi có tính chất gợi ý để học
sinh suy nghĩ, trả lời.
- Các bài tập ở lớp: Các bài tập phản ánh sự nhận thức của học sinh về lí
thuyết một cách rỏ ràng nhất, nhanh nhất. Qua đó đánh giá được khả năng suy
nghĩ và sáng tạo của học sinh.
9
- Cho học sinh nhận xét theo nhóm, tổ, bình chọn bài vẽ đẹp lên trình bày trên
bảng lớp.
Tóm lại: Việc giáo dục kỹ năng sống trong môn Mĩ thuật theo định hướng
phát triển năng lực đòi hỏi giáo viên cần phải linh động, chọn nội dung giáo dục
phù hợp cho từng chủ đề. Bất cứ hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng sống nào
cũng đều có quy trình thực hiện của nó. Việc đảm bảo quy trình giúp giáo viên
tránh được những lúng túng trong khi hướng dẫn học sinh. Nó cịn thể hiện được
tính khoa học trong tổ chức dạy học, đồng thời giúp học sinh hình thành các kỹ
năng sống phù hợp với lứa tuổi, tham gia thảo luận, chọn vấn đề và thực hiện tốt
hơn. Tuy nhiên trong quá trình tổ chức cũng nên tránh máy móc mất thời gian
khi học sinh đã có được các kỹ năng cơ bản. Giáo viên phải biết căn cứ vào tình
hình thực tế của từng chủ đề trong chương trình Mĩ thuật để có kế hoạch tổ chức
giáo dục cho phù hợp. Không phải bất cứ chủ đề nào cũng áp dụng giáo dục kỹ
năng sống vì như thế dễ gây nhàm chán cho học sinh.
IV. Kết quả sáng kiến kinh nghiệm
Đối với học sinh: Hình thành được một số kĩ năng cơ bản, chất lượng giờ học
đã được nâng cao hơn: Học sinh hứng thú tham gia hoạt động học tập, nhiều em
đã bộc lộ sự đam mê vẽ tranh qua bài thực hành, khả năng quan sát linh hoạt,
nắm được cách vẽ tranh, biết cách sắp xếp bố cục trên khung tranh một cách hợp
lí, thể hiện được “ngôn ngữ” của hội họa vào trong vẽ tranh một cách phù hợp,
tạo cho bức tranh chặt chẽ, logic, hình vẽ đẹp. Nội dung các tranh vẽ thể hiện
đúng đề tài, sinh động, phong phú, đa dạng về hình ảnh, màu sắc, khuyến khích
được học sinh khá – giỏi vẽ tranh có nội dung, hình ảnh đẹp, tham gia vào các
các cuộc thi vẽ tranh như: Chiếc ô tô mơ ước, Bác hồ với thiếu nhi.
Đối với bản thân: Được trang bị vốn kiến thức giáo dục kỹ năng sống khá
vững vàng để lồng ghép vào các đề tài, tự tin và làm chủ được tiết dạy.
Phần III. Kết luận
I. Bài học kinh nghiệm
Giáo dục kĩ năng sống trong mơn Mĩ thuật chiếm một vị trí quan trọng vì nó
rèn luyện cho các em các kĩ năng sống, xây dựng những thói quen và những
hành vi lành mạnh, tích cực, tích hợp nhiều mảng kiến thức một cách toàn diện
nội dung, về xã hội về vốn sống, vốn hiểu biết của người học, địi hỏi người dạy
phải hình thành cho người học các kĩ năng vận dụng vào bài học, phải biết vận
dụng biến tấu kiến thức đó thành những kĩ năng, kĩ xảo vào quá trình thực hành
sao cho phù hợp giúp các em hiểu, nhận biết về cái đẹp, từ đó tạo ra cái đẹp và
giữ gìn cái đẹp, hướng các em phát triển tồn diện về nhân cách.
- Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong các mơn học nói chung và
mơn Mĩ thuật nói riêng là việc làm cần thiết và quan trọng. Thơng qua đó sẽ là
điều kiện thuận lợi để học sinh biết cảm thông, chia sẻ, yêu thương, quý trọng ...,
với mọi người, sử dụng ngôn ngữ của hội họa là bố cục, đường nét, hình khối,
10
ánh sáng màu sắc, có khả năng thể hiện cảm xúc của mình về thế giới xung
quanh.
Phạm vi phổ biến đề tài:
- Đề tài này có thể áp dụng phổ biến cho giáo viên chuyên trách Mĩ thuật
trong toàn huyện và làm tài liệu tham khảo để trao đổi kinh nghiệm giữa các
đồng nghiệp có nhu cầu.
Hướng nghiên cứu tiếp.
- Hướng tới tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu về tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ
năng sống trong nhà trường, tìm ra những giải pháp hữu hiệu hơn để nâng cao
hơn nữa tính khả thi của đề tài.
II. Kiến nghị
Để hoạt động giáo dục kỹ năng sống trở thành hoạt động dạy học thường
xuyên, có chất lượng, mang lại hiệu quả cao cho công tác dạy học và nâng cao
chất lượng giáo dục. Cụm chuyên môn và các trường thường xuyên tổ chức các
chuyên đề giáo dục ký năng sống trong môn mĩ thuật cho giáo viên trong cụm
học hỏi, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau.
Nhà trường tạo điều kiện, đầu tư về cơ sở vật chất, về phòng học đủ tiêu
chuẩn và các trang thiết bị như: Giá vẽ, mẫu vẽ, máy chiếu…
Những vấn đề mà tôi đã nêu ở trên chắc chắn không tránh khỏi hạn chế. Bởi
mỗi cá nhân, mỗi điều kiện môi trường học tập đều có những giải pháp riêng.
Tuy nhiên, đó là những kinh nghiệm của bản thân đã đúc rút được trong quá
trình giảng dạy để từng bước khắc phục hạn chế, nâng cao hiệu quả giảng dạy
mà bản thân đảm nhiệm. Tơi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các
cấp lãnh đạo,của các bạn đồng nghiệp để giải pháp này được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn.
HỘI ĐỒNG XÉT SÁNG KIẾN CỦA
ĐƠN VỊ CƠ SỞ XÁC NHẬN, XẾP LOẠI
...................................................................
...................................................................
...................................................................
...................................................................
..................................................................
Người viết báo cáo
Hoàng Bảo Quốc
HỘI ĐỒNG SKKN NGÀNH GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO HUYỆN
ĐÁNH GIÁ, CHẤM ĐIỂM
11
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH SKKN HUYỆN
ĐÁNH GIÁ, CHẤM ĐIỂM
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
12