Tải bản đầy đủ (.docx) (32 trang)

Phát triển hoạt động thương mại đối với phát triển kinh tế nông thôn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (431.55 KB, 32 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
----------

PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
BÁO CÁO: PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ NƠNG THƠN
GVHD

: Huỳnh Viết Thiên Ân

Lớp

: 44K20.2_Nhóm 8

Đà Nẵng, tháng 11/2021


[PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN]

MỤC LỤC

Trường Đại học Kinh tế-Đại học Đà Nẵng | 2


[PHÁT TRIỂN NƠNG THƠN]

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Thu nhập bình quân đầu người một tháng phân theo thành thị và nông
thôn
Bảng 2: Thống kê số lượng chợ nông thôn phân bố theo các vùng năm 2017


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Cơ cấu dân số phân theo thành thị, nông thôn năm 2020
Biểu đồ 2: Thị phần bán lẻ ở khu vực nông thôn
Biểu đồ 3: Phân loại chợ nông thôn

Trường Đại học Kinh tế-Đại học Đà Nẵng | 3


[PHÁT TRIỂN NƠNG THƠN]

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp, mặc dù đã có những chuyển biến tích cực
về cơ cấu kinh tế, song về cơ bản hiện tại dân số nước ta vẫn chủ yếu sống ở nông
thôn với hơn 70%, và nông thôn vẫn là đặc trưng cơ bản của đất nước. Cho đến nay,
nền nông nghiệp ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận: năng suất
lúa cao nhất Đông Nam Á, gần gấp đôi so với Thái Lan và 1,5 lần so với Ấn Độ, trở
thành quốc gia có chỉ số bền vững an ninh lương thực cao hơn phần lớn các quốc
gia đang phát triển ở châu Á,… Bộ mặt nông thôn đã không ngừng đổi mới và phát
triển, song mức độ phát triển so với đơ thị thì càng ngày càng tụt hậu xa, từ đây
khoảng cách về mọi mặt giữa nông thôn và đô thị ngày càng bị nới rộng.
Rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự chậm phát triển của nông thôn và làm mức
chênh lệch giữa nông thôn và đô thị bị nới rộng, trong đó nguyên nhân trực tiếp có
thể kể đến là do thương mại nơng thơn cịn yếu kém, chưa được quan tâm phát triển
trong thời gian qua. Đây chính là điểm yếu của nền kinh tế khi thị trường nông thôn
rộng lớn chưa thực sự phát triển, quá tập trung đầu tư cho đơ thị và nước ngồi mà
bỏ quên mất nông thôn. Điều này khiến cho mục tiêu trong chiến lược phát triển
nơng thơn khó đạt được, gây nên sự không bền vững trong phát triển kinh tế nơng
thơn nói riêng và kinh tế đất nước nói chung.
Nhận thức rõ được điều này, Nhà nước ta đã có những chính sách, những

chương trình hành động cụ thể để phát triển hoạt động thương mại nông thôn,
những hoạch định mang tính chiến lược, định hướng cho sự phát triển của nông
thôn Việt Nam. Là một sinh viên Kinh tế, nhóm chúng em đã cùng tìm hiểu và xin
được trình bày đề tài: “Phát triển hoạt động thương mại đối với phát triển kinh tế
nông thôn” nhằm đánh giá q trình thực hiện hoạt động thương mại nơng thơn
trong thời gian qua, từ đó đưa ra giải pháp để thực hiện, cải cách những hoạt động
này từ giác độ kinh tế.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động thương mại ở nơng thơn.
- Phân tích, đánh giá thực trạng về hoạt động thương mại ở nơng thơn nhằm tìm
Trường Đại học Kinh tế-Đại học Đà Nẵng | 4


[PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN]

ra những nguyên nhân cũng như vấn đề tồn tại trong phát triển hoạt động thương
mại đối với phát triển kinh tế nông thôn.
- Đề xuất các khuyến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao các hoạt
động thương mại ở nông thôn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu cơ sở lý thuyết và tác động của phát triển hoạt động thương
mại đối với phát triển kinh tế nông thôn.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: nghiên cứu đối với khu vực nông thôn Việt Nam
- Về thời gian: phân tích hoạt động thương mại và thực trạng phát triển hoạt
động thương mại đối với phát triển kinh tế nơng thơn trong thời gian qua, qua đó đề
xuất các biện pháp nâng cao hoàn thiện hoạt động thương mại ở nông thôn trong
giai đoạn tiếp theo.
4. Kết cấu của đề tài

Kết cấu đề tài gồm 4 phần.
Mở đầu
Phần 1: Cơ sở lý luận về thương mại và thương mại nông thôn
Phần 2: Hoạt động thương mại đối với phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam.
Phần 3: Kết luận và đề xuất các khuyến nghị

Trường Đại học Kinh tế-Đại học Đà Nẵng | 5


[PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN]

PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Cơ sở lý luận về thương mại
1.1.1. Khái niệm về thương mại
Thương mại được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp, đi liền với đó là các
hoạt động tương ứng được coi là hoạt động thương mại.
Hiểu theo một nghĩa bao qt thì hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lợi,
đồng nghĩa với hoạt động kinh doanh. Theo khoản 2, điều 4 Luật Doanh nghiệp
2005 quy định rằng: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả
các cơng đoạn của q trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung
ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi“. Hoạt động thương mại (kinh
doanh) được thực hiện trên nhiều lĩnh vực trong cuộc sống như sản xuất, lưu thông
hàng hóa và dịch vụ.
Như vậy, hoạt động thương mại khơng chỉ là các hoạt động mua-bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ mà còn là các hoạt động đầu tư cho sản xuất dưới các hình thức
đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
Hiểu theo nghĩa hẹp hơn thì hoạt động thương mại giúp cho các doanh nghiệp
đạt mục đích sinh lời. Các hoạt động trong thương mại bao gồm cung ứng dịch vụ,
mua bán hàng hóa, xúc tiến thương mại, đầu tư và các hoạt động có khả năng sinh
lời khác.

1.1.2. Phân loại thương mại
Thương mại rất đa dạng, được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau, tùy
theo từng tiêu thức khác nhau mà cùng hoạt động thương mại được gắn cho một cái
tên khác nhau. Trên thực tế, thương mại thường được phân loại như sau:
1.1.2.1 Phân loại theo phạm vi hoạt động
Theo tiêu thức phạm vi hoạt động, thương mại được chia thành thương mại nội
địa và thương mại quốc tế
- Thương mại nội địa: phản ánh những quan hệ kinh tế thị trường của các chủ
thể kinh tế của một quốc gia, bao gồm thương mại đô thị, thương mại nông thôn,
thương mại vùng đặc biệt, thương mại biên giới, thương mại vùng sâu vùng xa,…
Trường Đại học Kinh tế-Đại học Đà Nẵng | 6


[PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN]

- Thương mại quốc tế: phản ánh những mối quan hệ kinh tế thương mại giữa các
chủ thể kinh tế của các quốc gia với nhau, bao gồm việc mua bán hàng hóa và dịch
vụ qua biên giới quốc gia, có thể ở phạm vi tồn cầu (WTO), có thể ở phạm vi khu
vực (EU, ASEAN,…) hoặc thương mại song phương giữa 2 quốc gia.
Theo phân loại này, thương mại nông thôn thuộc thương mại nội địa, hoạt động
thương mại diễn ra trên phạm vi địa bàn nông thôn. Tuy nhiên, việc phân biệt khu
vực nông thôn và đơ thị có tính chất tương đối, nên việc phân loại thương mại chỉ
cũng có tính chất tương đối. Nhưng theo cách phân loại này thì thương mại nơng
thơn sẽ không bao gồm trọn vẹn các hoạt động thương mại quốc tế, nếu có thì đó
chỉ là một phần của các hoạt động thương mại quốc tế diễn ra trong khu vực nông
thôn.
1.1.2.2 Phân loại theo đối tượng của hoạt động thương mại
Đối tượng của hoạt động thương mại được chia theo 2 nhóm là hàng hóa và dịch
vụ. Vì vậy phân loại thương mại theo tiêu chí này có 2 loại thương mại chính là
thương mại dịch vụ và thương mại hàng hóa

- Thương mại dịch vụ (cung ứng dịch vụ) là hoạt động thương mại có một bên
chịu trách nhiệm cung ứng dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán. Bên sử
dụng dịch vụ được gọi là khách hàng, có nghĩa vụ thanh tốn đầy đủ các khoản
tương ứng theo khoản 9, điều 3, Luật Thương mại 2005.
- Thương mại hàng hóa (mua bán hàng hóa) là hoạt động thương mại mà bên
bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận
thanh tốn. Bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở
hữu hàng hóa theo thỏa thuận được đưa ra tại khoản 8, điều 3, Luật Thương mại
2005.
Ngoài ra, đối với hoạt động mua bán hàng hóa, có những thương nhân chuyên
kinh doanh mua bán hàng hóa đồng thời đảm nhiệm vị trí là nhà sản xuất, cung ứng
dịch vụ. Do vậy, pháp luật thương mại cũng có một số nội dung liên quan đến sản
xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ, kiểm tra chất lượng sản phẩm và cấp quyền sở
hữu trí tuệ.
1.1.2.3 Phân loại theo các khâu của q trình lưu thông
Trường Đại học Kinh tế-Đại học Đà Nẵng | 7


[PHÁT TRIỂN NƠNG THƠN]

Theo cách phân loại này thì có thương mại bán buôn và thương mại bán lẻ.
- Thương mại bán buôn: Chủ thể của hoạt động thương mại bán buôn là những
nhà sản xuất và thương gia. “Chúng phản ánh mối quan hệ kinh tế thương mại giữa
những nhà sản xuất, nhà sản xuất với thương gia và giữa những thương gia với
nhau. Khi hoàn thành các hoạt động mua bán bn, hàng hóa vẫn chưa kết thúc q
trình lưu thơng, chúng nằm lại trong khâu sản xuất tiếp tục quay trở lại lưu thông
hoặc vẫn nằm trong lưu thông để chờ bán cho người tiêu dùng cuối cùng”.
- Thương mại bán lẻ: “phản ánh mối quan hệ bn bán hàng hóa và các dịch vụ
giữa những nhà sản xuất, nhà cung ứng dịch vụ hoặc các thương gia với bên kia là
người tiêu dùng cuối cùng. Khi hồn thành các hoạt động mua, bán lẻ hàng hóa sẽ

kết thúc q trình lưu thơng để đi vào lĩnh vực tiêu dùng để thỏa mãn nhu cầu khác
nhau của xã hội”.
1.1.2.4 Phân loại theo mức độ cản trở thương mại
Tiêu chí này cịn được gọi là phân loại theo mức độ can thiệp của Nhà nước vào
quá trình thương mại: có thương mại tự do hóa (mậu dịch tự do) và thương mại có
sự bảo hộ.
- Thương mại có sự bảo hộ: thường được các quốc gia áp dụng trong trường hợp
có một số lĩnh vực nhạy cảm liên quan đến lợi ích quốc gia hay trong trường hợp
bảo vệ sản xuất trong nước. Các biện pháp được sử dụng trong bảo hộ thương mại
là thuế quan (thuế nhập khẩu, xuất khẩu,…) và các công cụ phi thuế quan (các biện
pháp hành chính: cấm nhập-xuất khẩu, hàng rào kỹ thuật,…)
- Thương mại tự do hóa: được thể hiện qua việc xóa bỏ và giảm thiểu hàng rào
thuế quan, dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan, bảo đảm quyền tự do kinh doanh cho
các thương nhân, tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa trong nước và quốc tế lưu
thông thông suốt.
1.1.2.5 Phân loại theo kỹ thuật giao dịch
- Thương mại truyền thống: là phương thức mua bán trao đổi thơng thường, ở đó
người mua và người bán tiếp xúc trực tiếp trên thị trường dưới nhiều hình thức, các
địa điểm tiếp xúc và giao dịch mua bán là địa điểm thực như chợ, cửa hàng,…
- Thương mại điện tử: là phương thức trao đổi mua bán bằng phương pháp điện
Trường Đại học Kinh tế-Đại học Đà Nẵng | 8


[PHÁT TRIỂN NƠNG THƠN]

tử trong mơi trường điện tử, sử dụng các phương tiện như điện thoại, máy fax, các
hệ thống thiết bị cơng nghệ thanh tốn điện tử,…
1.1.3. Vai trị của thương mại
Thương mại có các vai trị quan trọng như:
- Thương mại là điều kiện để thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, khơng có

thương mại thì sản xuất hàng hóa khơng thể phát triển được.
- Thương mại có vai trị quan trọng trong việc mở rộng khả năng tiêu dùng, nâng
cao mức độ hưởng thụ của cá nhân và doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy sản xuất và
mở rộng phân công lao động xã hội, thực hiện cách mạng khoa học công nghệ trong
các ngành của nền kinh tế quốc dân.
- Thương mại là cầu nối gắn kết nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới.
- Thương mại thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng thơng qua sự
cạnh tranh trên thi trường đòi hỏi các doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh thương mại
luôn phải sáng tạo, phát huy sáng kiến, thúc đẩy cải tiến… để nâng cao khả năng
cạnh tranh trên thương trường.
1.2 Cơ sở lý luận về thương mại nơng thơn
Như đã đề cập ở trên thì thương mại nông thôn thuộc phân loại của thương mại
nội địa. Thương mại nông thôn là các quan hệ trao đổi, các hoạt động mua bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ diễn ra trên địa bàn, thị trường nông thôn.
1.2.1 Đặc điểm thương mại nông thôn
Chủ thể người bán, người mua trên thị trường nông thôn chủ yếu là nông dân,
các hộ gia đình làm kinh tế tư nhân, kinh tế trang trại hoặc sản xuất nhỏ và các tiểu
thương (gọi chung là kinh tế tư nhân). Ngồi ra cịn có các công ty, chi nhánh công
ty thuộc các chủ sở hữu, các thành phần kinh tế khác tham gia hoạt động cung ứng
hàng hóa, dịch vụ phục vụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của khu vực nông nghiệp,
nông thôn.
Người tiêu dùng trên thị trường nông thôn với đặc điểm thu nhập hạn chế theo
mùa vụ, trình độ học vẫn thấp và cơ hội việc làm không cao nên sức mua ở khu vực
nông thôn luôn thấp hơn so với khu vực thành thị.
Tại thị trường nông thôn, yếu tố về thơng tin thương mại đang cịn hạn chế do đó
tính hàng giả, hàng nhái, hàng nhập lậu phát triển mạnh ở thị trường nông thôn.
Trường Đại học Kinh tế-Đại học Đà Nẵng | 9


[PHÁT TRIỂN NƠNG THƠN]


Thương mại hàng hóa xuất hiện tràn lan các mặt hàng kém chất lượng và khơng có
nguồn gốc xuất xứ.
Thương mại tại thị trường nông thôn hiện nay, phần lớn người tiêu dùng vẫn chủ
yếu gắn bó với các loại hình chợ truyền thống.
Nhưng hiện nay, thị trường nông thôn ngày càng được đánh giá là thị trường tiêu
dùng đầy tiềm năng (đặc biệt là ngành bán lẻ). Mức thu nhập ở nông thôn ngày càng
tăng, do vậy mà nhu cầu mua sắm thực phẩm, yếu phẩm cũng tăng theo. Nhu cầu
tiêu dùng của nhóm người dân ở nông thôn đang dần thay đổi theo hướng tiện ích,
hiện đại, thương mại dịch vụ cũng phát triển mạnh.
1.2.2 Nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động thương mại ở nơng thơn
1.2.2.1 Các nhân tố khách quan
Mơi trường văn hóa xã hội:
Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ giữa người mua và
người bán. Như vậy, ta phải nghiên cứu khách hàng và túi tiền của họ để đưa ra một
cách chính xác về sản phẩm và cách thức phục vụ khách hàng. Ở đây nó bao gồm
các nhân tố như về dân số, thu nhập,.. Từ đó xem xem nó ảnh hưởng đến hoạt động
thương mại như thế nào.
Môi trường kinh tế:
Môi trường kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động thương mại ở nông thôn.
Kinh tế ổn định sẽ làm nhu cầu tăng lên. Cơ sở vật chất nơng thơn cịn yếu kém, dân
trí chưa phát triển kịp với nhu cầu thị trường vì vậy sưc hấp dẫn của nơng thơn đối
với nhà đầu tư trong và ngoài nước thấp, do đó có thể nơng thơn sẽ càng có nguy cơ
tụt hậu so với thành thị.
Cung cầu hàng hóa thị trường:
Đây là yếu tố ảnh hưởng đối với giá cả hàng hóa, nếu cung hàng hóa thị trường
tiêu thụ tăng sẽ ảnh hưởng tiêu cực và ngược lại nếu cung hàng hóa giảm sẽ kích
thích khả năng tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp tăng lên và ngược lại sẽ gây ảnh
hưởng xấu đến doanh nghiệp và hoạt động thương mại nơng thơn.
Đối thủ cạnh tranh:

Đó là đối thủ cạnh tranh có mặt hàng giống như mặt hàng của doanh nghiệp
hoặc các mặt hàng thay thế nhau: đưa ra sản phẩm, dịch vụ cho cùng một khách
Trường Đại học Kinh tế-Đại học Đà Nẵng | 10


[PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN]

hàng ở cùng một mức giá tương tự; cùng kinh doanh một hay một số sản phẩm;
cùng hoạt động trên một lĩnh vực hay cùng cạnh tranh để kiếm lời của một nhóm
hàng nhất định.
1.2.2.2 Các nhân tố chủ quan
Tiềm lực tài chính:
Nền kinh tế của nông thơn cịn yếu kém. Nhưng nguồn vốn lại là sức mạnh của
quá trình trao đổi thương mại. Do vậy, việc huy động nguồn vốn vào kinh doanh,
khả năng phân phối, khả năng quản lý có hiệu quả các nguồn vốn kinh doanhđể ảnh
hưởng đến hoạt động thương mại. Nông thôn muốn mở rộng kinh doanh, tăng khả
năng bán hàng thì phải có tiền để đầu tư vào các khâu, lựa chọn đầu tư vào việc cho
chiến lược phát triển hoạt động thương mại
Tiềm năng con người:
Chính con người với năng lực của họ mới lựa chọn đúng được cơ hội và sử dụng
sức mạnh khác của họ một cách hiệu quả để khai thác và vượt qua cơ hội kinh
doanh. Chiến lược con người và phát triển nguồn nhân lực đó là sự chủ động phát
triển sức mạnh con người của doanh nghiệp nhằm đáp ứng được nhu cầu tăng
trưởng của nền kinh tế, cạnh trạnh và thích nghi được với điều kiện thị trường. Con
người có vai trị quết định đến việc tổ chức và quản lý để quyết định đến sự thành
công của hoạt động thương mại ở nơng thơn.
Tiềm lực vơ hình:
Tiềm lực vơ hình ở đây đó là yếu tố hình ảnh và uy tín của việc trao đổi mua
bán. Một hình ảnh tốt liên quan đến hàng hóa, dịch vụ, chất lượng sản phẩm,… là
cơ sở tạo ra sự quan tâm của khách hàng, kích thích khách hàng đến mua sản phẩm.

Một nhãn hiệu được ưa chuộng thì sẽ thu hút được khách hàng đến mua và trung
thành với nhãn hiệu sản phẩm của doanh nghiệp.
Uy tín là mối quan hệ lãnh đạo của doanh nghiệp. Nó ảnh hưởng đến giao dịch
thương mại, trong các hoạt động lớn, trong doanh nghiệp bán hàng ở các doanh
nghiệp nhỏ.
1.2.3 Phát triển thương mại nông thôn
1.2.3.1

Khái niệm

Phát triển thương mại nông thôn là một trong những nội dung được đề cập đến
Trường Đại học Kinh tế-Đại học Đà Nẵng | 11


[PHÁT TRIỂN NƠNG THƠN]

trong hầu hết các chính sách về phát triển nơng thơn, tuy nhiên đến nay cũng chưa
có một khái niệm cụ thể nào công bố rộng rãi về phát triển thương mại nông thôn.
Theo các quan điểm về phát triển được phổ biến hiện tại, các định nghĩa về
thương mại và thương mại nơng thơn, có thể đưa ra khái niệm về phát triển thương
mại nông thôn như sau: Phát triển thương mại nông thôn là một q trình có chủ
đích để làm cho thương mại nơng thôn vận động thay đổi theo hướng tích cực và
bền vững về mọi mặt, phù hợp với các điều kiện kinh tế, xã hội của nông thôn, đáp
ứng ngày một tốt hơn cho phát triển nông thôn.
1.2.3.2

Đặc điểm

- Phát triển thương mại nông thôn cũng như phát triển thương mại nói chung bao
gồm nhiều hoạt động, các biện pháp liên quan các khâu như mua, bán, vận chuyển

hàng hóa và kho hàng, sản xuất, cung ứng, phân phối, marketing (đối với thương
mại dịch vụ với các hoạt động cụ thể khác nhau trong từng khâu đó.
- Phát triển thương mại nơng thơn là một q trình lâu dài và phải có chủ đích là
đạt được gì sau mỗi giai đoạn, hay mỗi khoảng thời gian. Quá trình phát triển
thương mại nơng thơn mang tính liên tục và thường xun, chủ đích đó phải được
cụ thể hóa bằng các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể.
- Phát triển thương mại nông thôn phải đảm bảo tính bền vững, tức là bền vững
đối với phát triển con người, bền vững đối với phát triển kinh tế, bền vững đối với
phát triển môi trường, bền vững đối với sự phát triển của các tổ chức.
- Phát triển thương mại nông thôn phải đảm bảo tính tồn diện, khơng xem nhẹ
mặt nào. Cũng như trong phát triển nơng thơn, các mặt đó là kinh tế, văn hóa xã hội
mơi trường phải đảm bảo được phát triển trong q trình phát triển thương mại nơng
thơn.
- Phát triển thương mại nông thôn là để phục vụ phát triển nông thôn. Phát triển
thương mại nông thôn không thể nằm ngồi các mục tiêu của phát triển nơng thơn,
là nội dung của phát triển nông thôn.

Trường Đại học Kinh tế-Đại học Đà Nẵng | 12


[PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN]

PHẦN 2: HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN
KINH TẾ NÔNG THÔN VIỆT NAM
2.1 Nội dung phát triển hoạt động thương mại đối với phát triển kinh tế nông
thôn Việt Nam
Trước khi đi vào thực trạng của hoạt động thương mại ở nông thôn Việt Nam,
chúng ta cùng điểm qua các nội dung phát triển hoạt động thương mại mà Nhà nước
ta đang hướng tới để xây dựng một nền kinh tế nông thôn phát triển bền vững. Các
nội dung như sau:

- Phát triển cơ sở hạ tầng để có cơ sở hạ tầng hiện đại, đáp ứng được nhu cầu
phát triển nơng thơn mới. Có những cơ sở hạ tầng chung cho tất cả các ngành kinh
tế, ví dụ như giao thơng, điện, thơng tin liên lạc vv…, nhưng thương mại có những
cơ sở vật chất đặc thù như chợ, hệ thống cửa hàng, kho bãi bảo quản hàng hóa,
trang thiết bị hỗ trợ bán hàng v.v...
- Phát triển các tổ chức, loại hình kinh doanh thương mại để có các thành phần
kinh doanh cân đối hài hồ với các loại hình kinh doanh hiện đại và phù hợp đảm
bảo thương mại nông thôn đồng thời vừa phục vụ tốt nhu cầu tiêu dùng vừa phục vụ
tốt sản xuất. Thực hiện tốt nội dung này sẽ nâng cao được trình độ tiêu dùng nơng
thơn, mở rộng nhu cầu làm cho thị trường phát triển, đồng thời thúc đẩy sản xuất,
nhất là sản xuất nông nghiệp.
- Phát triển nguồn nhân lực để có đội ngũ lao động thương mại trình độ cao,
chuyên nghiệp, năng suất lao động cao. Lao động thương mại rất đa dạng từ các nhà
quản lý cho đến nhân viên bán hàng, tiếp thị v.v… cần được phát triển thơng qua
q trình đào tạo nâng cao trình độ, tay nghề đồng thời thương mại phải thu hút và
sử dụng ngày càng nhiều lao động để chuyển dần một bộ phận lao động nông
nghiệp sang lao động thương mại dịch vụ.
- Phát triển các lĩnh vực thương mại để có cơ cấu hợp lý, đảm bảo tính cân đối,
hỗ trợ lẫn nhau ngay trong nội bộ ngành. Các lĩnh vực có thể kể đến như thương
mại hàng hóa và thương mại dịch vụ, thương mại phục vụ tiêu dùng và thương mại
phục vụ sản xuất, bán buôn và bán lẻ, thương mại truyền thống và thương mại điện
tử v.v…
Trường Đại học Kinh tế-Đại học Đà Nẵng | 13


[PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN]

- Phát triển thị trường và phạm vi hoạt động thương mại của các doanh nghiệp
thương mại; mở rộng thị trường cho khu vực nông thôn cả về thị trường tiêu thụ
hàng hóa lẫn cung ứng hàng hóa dịch vụ cho nơng thơn…

- Phát triển thương mại nơng thơn về mặt kinh tế có rất nhiều nội dung và phức
tạp, đòi hỏi sự kết hợp của tất cả các ngành, các cấp, cùng với các thể chế kinh tế và
hệ thống chính sách kinh tế của cả hệ thống kinh tế từ trung ương đến địa phương
và sự vận động của từng tổ chức, cá nhân hoạt động thương mại trên địa bàn nông
thôn.
Để đảm bảo cho tính bền vững trong phát triển kinh tế cần phải thực hiện các
nội dung trên sao cho đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế thương mại được ổn định lâu
dài, lường trước để đẩy lùi được các nguy cơ cản trở tăng trưởng và làm tổn hại đến
hệ thống thương mại và các hoạt động thương mại trong tương lai. Vậy trong thời
gian qua, các nội dung trên được thực hiện như thế nào sẽ được trình bày ở phần
thực trạng dưới đây.
2.2 Thực trạng hoạt động thương mại ở nơng thơn Việt Nam
2.1.1. Tình hình chung của hoạt động thương mại ở nông thôn Việt Nam trong
thời gian qua
2.1.1.1. Thị trường bán lẻ nông thôn
Theo Bộ Công Thương, trong những năm qua, Việt Nam đã trở thành một trong
những thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất toàn cầu (đứng vị trí thứ 6 trong nhóm 30
quốc gia có tiềm năng và mức độ hấp dẫn đầu tư trong lĩnh vực bán lẻ tồn cầu).
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam duy trì mức tăng đều, cho thấy
sự phát triển liên tục và chắc chắn. Năm 2020, tổng mức là 5.059,8 nghìn tỷ đồng,
tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước.
Trong những năm qua, tuy dân số trung bình tại khu vực thành thị tăng đáng kể,
nhưng dân số trung bình tại khu vực nơng thôn vẫn chiểm tỉ lệ áp đảo trong tổng
dân số. Theo công bố của Tổng cục Thống kê, dân số trung bình năm 2020 của cả
nước là 97,58 triệu người thì dân số nơng thơn là 61,65 triệu người, chiếm 63,2%.

Trường Đại học Kinh tế-Đại học Đà Nẵng | 14


[PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN]


Biểu đồ 1: Cơ cấu dân số phân theo thành thị, nông thôn năm 2020

Nguồn: Tổng cục Thống kê
Với đặc điểm dân cư tập trung phần lớn tại nơng thơn, có thể thấy thị trường bán
lẻ nơng thôn là thị trường lớn và tiềm năng về sức mua đối với các doanh nghiệp
hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ.
Bên cạnh đó, thu nhập của người dân ở nông thôn cũng đều tăng dần qua các
năm. Theo tổng kết của Bộ NN&PTNT, sau hơn 10 năm thực hiện Chương trình
mục tiêu quốc gia về xây dựng nơng thơn mới, thu nhập bình qn khu vực nơng
thơn đã tăng từ 24,5 triệu đồng năm 2014 lên mức 41,7 triệu đồng/ người/năm vào
năm 2020. Khu vực nông thôn đang giữ 62,5% tổng với GDP cả nước, cùng đó nhu
cầu mua sắm hàng tiêu dùng, thực phẩm, nhu yếu phẩm cũng đang tăng với sức
mua hơn 20 tỉ USD/năm.
Bảng 1: Thu nhập bình quân đầu người một tháng phân theo thành thị, nơng thơn
Đơn vị tính: nghìn đồng

Cả nước

2014

2016

2018

2019

Sơ bộ 2020

2636


3098

3874

4295

4249

Phân theo thành thị và nông thôn
Thành thị

3964

4551

5624

6022

5590

Nông thôn

2038

2423

2986


3399

3480

Nguồn: Niên giám thống kê 2020

Khảo sát của nhiều doanh nghiệp bán lẻ cho thấy, trong khi thị trường thành thị
đạt mức tăng trưởng khoảng 1,6%, thị trường nông thôn đã phát triển ở mức 2,7%,
chủ yếu do tăng trưởng khối lượng tiêu thụ. Số lượng khách hàng nông thôn sẵn
sàng tiêu dùng nhiều gấp 3 lần khu vực thành thị, có tới 95% gia đình nơng thơn
Việt Nam sẵn sàng mua tivi, 92% có thể mua bếp điện hoặc bếp gas, 30% muốn
mua tủ lạnh, máy giặt và 9% muốn mua máy vi tính… Điều này cho thấy nhu cầu
Trường Đại học Kinh tế-Đại học Đà Nẵng | 15


[PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN]

ngành hàng tiêu dùng nhanh ở khu vực nông thôn đang tăng cao, tăng trưởng tốt
hơn so với thành thị và hứa hẹn nhiều cơ hội tiêu thụ hàng hóa.
Quy mơ thị trường bán lẻ Việt Nam tăng trưởng rất mạnh và ở nơng thơn thì quy
mơ này cũng dần có những thay đổi đáng kế. Dưới đây là các con số thống kê về thị
phần các loại hình tổ chức bán lẻ ở nơng thơn.
Biểu đồ 2: Thị phần bán lẻ ở khu vực nông thôn

Nguồn: MBS Research
Với khu vực nơng thơn thì sự cạnh tranh chủ yếu đến từ các cửa hàng nhỏ lẻ
truyền thống và chuỗi cửa hàng hiện đại. Các doanh nghiệp nội địa chiếm thị phần
chính ở đây, tuy nhiên doanh nghiệp nước ngoài sẽ cải thiện thị phần trong tương lai
khi mơ hình bán lẻ chuỗi và trực tuyến vươn tới được khu vực nơng thơn.
Như vậy, cùng với q trình hội nhập của đất nước, đời sống kinh tế của nơng

thơn được nâng cao, do đó nhu cầu của người dân cũng ngày càng cao nên tác động
mạnh đến hoạt động thương mại nơi đây. Hàng hố ở nơng thơn bây giờ không chỉ
là những nông sản của địa phương mà cịn có đủ các thứ hàng hố nhu cầu thiết yếu
từ khắp mọi nơi mang đến. Do đó, trong những năm gần đây, nông thôn được xem
là một thị trường tiềm năng lớn và theo thống kế hiện nay cả nước có trên 2 triệu hộ
tham gia phân phối bán lẻ và 18.000 cửa hàng bán nhỏ lẻ.
Tuy nhiên, cho đến hiện tại, nói đến thị trường bán lẻ nơng thơn là nói đến chợ
truyền thống. Chợ q đối với người dân nơng thơn đã gắn bó từ bao đời đến nay,
luôn nhộn nhịp kẻ mua người bán từ sáng tinh mơ đến chiều tà. Ngồi chợ truyền
thống, nơng thơn cịn có nhiều loại hình bán lẻ khác như cửa hàng tạp hóa, siêu thị,
… hoạt động thương mại của các loại hình này sẽ được đề cập rõ hơn ở phần sau.
2.1.1.2.

Mạng lưới kinh doanh thương mại

Trong hoạt động thương mại ở địa bàn nông thôn, việc tổ chức mạng lưới kinh
doanh giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Một mặt, mạng lưới bảo đảm cung ứng các
nguyên liệu, vật tư, các công cụ lao động cần thiết cho nông nghiệp và các hoạt
động sản xuất khác ở khu vực nông thôn, cũng như cung ứng các loại hàng công
nghiệp tiêu dùng. Mặt khác, mạng lưới kinh doanh bảo đảm tiêu thụ các loại nông
Trường Đại học Kinh tế-Đại học Đà Nẵng | 16


[PHÁT TRIỂN NƠNG THƠN]

sản hàng hố và các sản phẩm hàng hố khác của khu vực kinh tế nơng thơn, tạo
tiền đề để khu vực kinh tế này phát triển, góp phần quan trọng đưa nền nơng nghiệp
nước ta trở thành một nền nơng nghiệp sản xuất hàng hố, bảo đảm cung cấp nguồn
nguyên liệu cho công nghiệp chế biến phát triển, có sức cạnh tranh cao, và thơng
qua đó nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn.

Việc tổ chức mạng lưới kinh doanh theo ngành hàng trên địa bàn nông thôn phụ
thuộc chủ yếu vào chủ thể kinh doanh và cơ sở kinh doanh thương mại.
- Về chủ thể kinh doanh: hình thành nên mạng lưới kinh doanh thương mại ở thị
trường nông thôn hiện nay bao gồm sự hiện diện của tất cả các loại hình: các doanh
nghiệp Nhà nước (cả sản xuất và thương mại), các hợp tác xã thương mại, hợp tác
xã nông nghiệp, các công ty cổ phần, công ty TNHH, các doanh nghiệp tư nhân và
các hộ kinh doanh cá thể.
- Về cơ sở kinh doanh: đó là hệ thống chợ và các cửa hàng, các điểm bán lẻ. Chợ
đã trở thành nơi giao dịch trao đổi mua bán quan trọng thường nhật các hàng nông
sản thực phẩm, hàng tiêu dùng và cả một số vật tư, nguyên liệu phục vụ sản xuất
của tuyệt đại đa số hộ gia đình, nhất là vùng nơng thơn miền núi.
Tính đến ngày 01/7/2020, trên địa bàn nơng thơn có 4346 xã có cửa hàng cung
cấp giống cây trồng; 1757 xã có cửa hàng cung cấp giống vật ni; 1025 xã có cửa
hàng cung cấp giống thủy sản; 5590 xã có cửa hàng cung cấp vật tư, nguyên liệu
cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; 4088 xã có cửa hàng thu mua sản phẩm
nơng, lâm, thủy sản. Trên địa bàn nơng thơn cịn có 5347 xã có chợ và 757 xã có
cửa hàng tiện lợi.
Các cửa hàng, các điểm mua bán của doanh nghiệp nhà nước, của doanh nghiệp
tư nhân, của hộ kinh doanh được bố trí ở các thị trấn, thị tứ, trên các trục đường
giao thông của các thôn, xã là những chủ thể nịng cốt trong việc thu gom, tập trung
nơng sản để cung ứng cho công nghiệp chế biến, thị trường thành thị, thị trường
xuất khẩu và các cơ sở này cũng là đầu mối cung ứng vật tư nông nghiệp, hàng tiêu
dùng thiết yếu để bán lẻ đến các hộ nông dân.
2.1.1.3.

Hệ thống hạ tầng thương mại ở nông thôn

Hạ tầng thương mại nơng thơn (tiêu chí số 7) là một trong những tiêu chí quan
trọng nhất trong Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới của
Trường Đại học Kinh tế-Đại học Đà Nẵng | 17



[PHÁT TRIỂN NƠNG THƠN]

ngành Cơng Thương. Hạ tầng hồn thiện đã góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa
phương. Theo báo cáo của Bộ Cơng Thương, tính đến cuối năm 2020 cả nước có
gần 8000 xã đạt tiêu chí số 7, đạt 88,4% (tăng 75,7% so với năm 2010 và tăng
30,45% so với năm 2015).
(1)Hệ thống mạng lưới chợ
Chợ nơng thơn là một trong những tiêu chí quan trọng trong xây dựng nông thôn
mới bởi chợ không đơn thuần chỉ là nơi mua bán hàng hóa, mà cịn là nơi giao lưu
gặp gỡ, giữ gìn nét văn hóa độc đáo của người dân địa phương.
Chợ nông thôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số chợ trên cả nước, chiếm 74,5%.
Số lượng chợ tăng bình qn 1,21%/năm. Trong đó, giai đoạn 2006-2010 tăng
2,13%/năm, giai đoạn 2011-2015 mức tăng chậm hơn với tốc độ 0,31%/năm. Từ
năm 2006-2016, đã xây mới khoảng 2340 chợ và 4107 chợ được cải tạo nâng cấp,
thấp hơn nhiều so với nhu cầu thực tế (87% chợ hạng III, cơ sở vật chất kỹ thuật
hạn chế cần được nâng cấp, cải tạo). Nguồn vốn đầu tư xây dựng chợ chủ yếu từ
nguồn xã hội hóa, huy động từ các doanh nghiệp, hộ kinh doanh và một phần từ
ngân sách địa phương; nguồn từ ngân sách trung ương không đáng kể.
Bảng 2: Thống kê số lượng chợ nông thôn phân bố theo các vùng năm 2017
Vùng

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Đồng bằng sông Hồng

1895


22,19

Đông Bắc

1146

13,42

Tây Bắc

270

3,16

Bắc Trung Bộ

1358

15,9

Duyên hải Nam Trung Bộ

805

9,42

Tây Nguyên

380


4,45

Đông Nam Bộ

995

11,65

Đồng bằng sông Cửu Long

1690

19,79
Nguồn: Bộ Cơng thương

Địa bàn nơng thơn hiện có 8.539 chợ trong quy hoạch, trong đó có 234 chợ hạng
Trường Đại học Kinh tế-Đại học Đà Nẵng | 18


[PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN]

I (chiếm 2,7%), 888 chợ hạng II (chiếm 10,4%) và 7.417 chợ hạng III (chiếm
86,9%).
Biểu đồ 3: Phân loại chợ nông thôn
Nguồn: Bộ Công thương
Đa phần là các chợ thiên về chức năng kinh doanh bán lẻ, chợ đầu mối chiếm
không đáng kể (83 chợ, chiếm 0,97%). Tính chung trên các địa bàn, giá trị hàng hóa
dịch vụ qua hệ thống chợ chiếm trung bình khoảng 35-40%, góp phần vào việc tiêu
thụ nơng sản hàng hóa, đẩy mạnh sản xuất và phục vụ đời sống sinh hoạt của người

dân.
Các chợ đang hoạt động hiệu quả, chiếm 97%, cịn tình trạng chợ hoạt động
khơng hiệu quả khơng đáng kể (chỉ chiếm khoảng 3%) xảy ra ở một số địa phương,
chủ yếu là các chợ được đầu tư lồng ghép với các Chương trình an sinh xã hội và
chợ được xây dựng chưa theo đúng quy hoạch đã phê duyệt.
(2) Cửa hàng bán lẻ hiện đại
Thời gian gần đây, các kênh bán lẻ hiện đại như: siêu thị, chuỗi cửa hàng tiện
lợi... ngày càng được mở rộng ra các huyện trên địa bàn nơng thơn.
Điển hình như thương hiệu Bách Hóa Xanh của Tập đồn Thế giới di động.
Khơng chỉ phát triển ở các thành phố, hiện chuỗi cửa hàng này có mặt ở hầu hết trên
địa bàn các tỉnh, huyện. Chẳng hạn như ở tỉnh Đồng Nai, Bách Hóa Xanh đã phủ
sóng ở tất cả 11 huyện, thành phố của tỉnh với 103 cửa hàng. Các cửa hàng này có
quy mơ nhỏ, diện tích từ 100-300m2 và “len lỏi” trong các khu dân cư.
Một ví dụ khác như ở huyện Yên Định (Thanh Hóa) đã xây dựng các thị trấn với
các chợ lớn trung tâm, kêu gọi đầu tư mở các siêu thị hiện đại quy mô vừa ở tất cả
các thị trấn, kết hợp với các phiên đấu giá, hệ thống bán buôn bán lẻ vật tư nông
nghiệp trực tiếp do các nhà sản xuất trực tiếp phân phối. Vì vậy tại đây việc mua
bán hàng hố rất dễ dàng, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và tiêu thụ nông
sản, tạo sức thu hút cả một vùng rộng lớn gồm nhiều huyện liền kề.
Có thể nhận thấy trên thực tế, các chợ và cửa hàng tạp hóa truyền thống hiện vẫn
là kênh mua bán được phần lớn người dân ở khu vực nông thôn lựa chọn. Tuy
Trường Đại học Kinh tế-Đại học Đà Nẵng | 19


[PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN]

nhiên, sự xuất hiện của các chuỗi cửa hàng tiện lợi, siêu thị mini… nằm trong xu
thế ngày càng mở cửa của thị trường bởi khi đến đây, người tiêu dùng được mua
sắm trong không gian sạch sẽ, mát mẻ, nguồn gốc sản phẩm, giá cả được niêm yết
rõ ràng.

2.1.2. Những kết quả đạt được của hoạt động thương mại nông thôn đối với
phát triển kinh tế nơng thơn
Q trình phát triển thương mại nơng thơn là một quá trình, diễn biến trải qua rất
nhiều giai đoạn, đến nay về cơ bản đã đạt được một số những thành tựu cơ bản sau:
2.1.2.1.

Trong tổng thể nền kinh tế nông thôn

Sự phát triển thương mại trong thời gian qua góp phần làm cho tỷ trọng của
ngành Thương mại - Dịch vụ trong cơ cấu kinh tế nông thôn liên tục tăng lên, đã
góp phần làm cho kinh tế nơng thơn dịch chuyển theo chiều hướng tích cực.
Thương mại và thị trường nông thôn đã từng bước phát triển gắn kết với thị trường
cả nước. Tốc độ tăng trưởng của tổng cầu về hàng hóa tiêu dùng trên thị trường tăng
nhanh, bình quân trên 20%/năm trong thập niên gần đây.
2.1.2.2.

Đối với mạng lưới chợ và cửa hàng thương mại

Duy trì được mạng lưới chợ tương đối đều khắp trên địa bàn nông thôn và phân
bố các chợ tương đối hợp lý tại các vùng dân cư tạo điều kiện cho trao đổi hàng hoá
của người dân tương đối thuận tiện. Về cơ bản tại tất cả các xã, huyện đều có chợ
hoặc gần chợ, người dân cùng lúc có nhiều chợ để trao đổi mà không phải đi quá xa,
tránh được sự tốn kém vất vả.
Chợ nông thôn được đầu tư nâng cấp, tạo thuận lợi kinh doanh. Chợ nông thôn
tại một số địa phương đã được quy hoạch và quản lý nên dễ dàng xác định đầu tư.
Các chợ đã được đầu tư nâng cấp, cải tạo, tạo điều kiện mua - bán, trao đổi hàng
hóa được dễ dàng hơn. Công tác quản lý hoạt động của chợ nông thôn mới ngày
càng tốt hơn; việc tổ chức, sắp xếp các điểm kinh doanh khoa học, phù hợp dần với
thiết kế xây dựng, tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, bảo đảm môi trường và
giải quyết, xử lý các vấn đề đặt ra.

Hàng hóa vùng nơng thơn đã từng bước phát triển và mở rộng, dồi dào, đa dạng
về cơ cấu, chủng loại phong phú; quy cách, mẫu mã dần được cải tiến, chất lượng
Trường Đại học Kinh tế-Đại học Đà Nẵng | 20


[PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN]

nâng cao, phù hợp về cơ bản với đòi hỏi của thị trường. Một số mặt hàng chiếm
được vị thế quan trọng và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài
nước như hạt tiêu, cà phê, hạt điều, cao su, chè…
Phát triển được lượng lớn các cửa hàng bán lẻ, đa dạng loại hình tổ chức, chủng
loại mặt hàng kinh doanh ngày càng phong phú thỏa mãn tốt hơn về nhu cầu tiêu
dùng trong nhân dân. Sự phát triển của các cửa hàng với nhiều loại hình và chủng
loại mặt hàng làm cho nơng dân, đặc biệt là các vùng xa trung tâm huyện, các vùng
miền biển có thêm nhiều lựa chọn về hàng hóa cũng như điểm giao dịch, khơng cịn
q phụ thuộc vào chợ hoặc một số cửa hàng nhất định.
2.1.3. Những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân
2.1.3.1. Những tồn tại của thương mại nông thôn Việt Nam
(1)Quy hoạch mạng lưới thương mại phát triển rời rạc thiếu tính hệ thống
Mạng lưới chợ thiếu sự liên kết để tạo thành một hệ thống chợ hiệu quả. Hầu hết
các chợ mang tính đơn lẻ phục vụ nhu cầu dân sinh cho một vùng (một hoặc vài ba
xã) mà chưa có chợ đầu mối rõ ràng, hàng hố khơng được bổ sung cho nhau để tạo
thành các chuỗi hàng hoá theo kênh phân phối theo kiểu từ chợ bán buôn đến chợ
bán lẻ dân sinh và ngược lại.
Các chợ trên địa bàn huyện nông thôn chủ yếu bán lẻ không tạo được nguồn
hàng tập trung cần thiết làm đầu mối phân phối cho các chợ bán lẻ khác, làm cho
các hộ kinh doanh tại những chợ cịn lại phải tìm đến những đầu mối xa ở địa bàn
huyện, do đó làm tăng chi phí giao dịch và thiếu tính ổn định. Ngược lại, các chợ
khác cũng không làm được chức năng gom hàng ( nhất là hàng nông sản, tươi sống)
cung cấp cho các chợ lớn ở thị trấn- nơi đông dân, nên nhiều khi bị thiếu hụt hàng

hóa, dẫn đến thường xun có hiện tượng cùng loại nơng sản mà ở chợ nhỏ thì ế,
chợ lớn thì thiếu và đắt đỏ.
(2) Tổ chức ngành hàng
Chưa tổ chức được hệ thống ngành hàng cho hầu hết các loại hàng. Do chưa
hình thành được hệ thống bán buôn cho phần lớn các mặt hàng tiêu dùng, dẫn đến
mạng lưới cửa hàng bán lẻ cũng rời rạc không được tổ chức theo các ngành hàng
nhất định. Đa số các cửa hàng được tổ chức ở dạng cửa hàng tổng hợp, hàng hóa
manh mún, nhỏ lẻ chưa tạo ra được hệ thống ngành hàng rõ ràng cả về chiều cung
Trường Đại học Kinh tế-Đại học Đà Nẵng | 21


[PHÁT TRIỂN NƠNG THƠN]

ứng lẫn tiêu thụ.
Về góc độ cung ứng hàng hóa: Nhìn chung các mặt hàng khác chưa có nhiều các
đại lý và các cửa hàng bán bn làm đầu mối phân phối trực tiếp cho các hãng sản
xuất và phân phối lớn. Đồng thời các cửa hàng bán lẻ không được tổ chức theo đầu
mối của các nhà sản xuất và phân phối nên giá cả tùy ý, chất lượng ít được đảm bảo
và nguồn gốc hàng hóa khơng rõ ràng.
Về mặt tiêu thụ hàng hóa nơng sản, vật tư và tư liệu sản xuất nơng nghiệp:
Ngồi thủy hải sản nuôi, lúa gạo được bảo đảm tiêu thụ theo hợp đồng thì các mặt
hàng khác khơng được đảm bảo đảm tiêu thụ. Thương mại mới chỉ tập trung đáp
ứng được một phần trong nhu cầu tiêu dùng của người dân mà chưa thể hiện được
vai trò hỗ trợ phát triển kinh tế nông nghiệp, chưa đảm bảo được nguồn cung ứng
các vật tư sản xuất và chưa có cửa hàng, doanh nghiệp nào liên kết lâu dài với các
đầu mối tiêu thụ hay doanh nghiệp lớn để thu mua hàng hóa nơng sản và thực phẩm.
(3) Cơ sở hạ tầng thương mại chậm phát triển, trình độ kinh doanh và văn hoá
thương mại thấp
Cơ sở hạ tầng thương mại ở một số vùng nơng thơn cịn nghèo nàn, thiếu an
tồn, trong đó cơ sở hạ tầng của các chợ là điển hình, các chợ đã được xây dựng từ

lâu đã quá cũ kỹ xuống cấp nhưng chưa được đầu tư cải tạo nâng cấp.
Hầu hết các cửa hàng đều tổ chức kinh doanh theo phương thức truyền thống,
các trang thiết bị hiện đại hỗ trợ kinh doanh chưa được đầu tư, ứng dụng công nghệ
thông tin vào kinh doanh cịn rất ít, cả huyện chưa có siêu thị và trung tâm thương
mại hiện đại. Quá trình hiện đại hoá các cửa hàng chỉ mới xuất hiện tại một số ít cửa
hàng ở các thị trấn và diễn ra rất chậm.
Còn quá nhiều các hộ kinh doanh thương mại tại chợ cũng như các cửa hàng
kinh doanh không có đăng ký, khơng nghiêm túc chấp hành các quy định về thương
mại, hàng giả hàng nhái kém chất lượng tràn lan, không minh bạch trong thông tin
giá cả và đảm bảo chất lượng hàng hoá.
Mua tranh bán cướp là hiện tượng diễn ra hàng ngày tại các chợ tự phát, làm mất
an ninh trật tự gây bức xúc cho người dân và tâm lý bất an cho nông dân trong q
trình tiêu thụ hàng hố, khiến cho nơng dân thường hay phải chịu thiệt thòi khi bán
hàng (hay bị ép giá thô bạo, không bán được trực tiếp đến tay người tiêu dùng cuối
Trường Đại học Kinh tế-Đại học Đà Nẵng | 22


[PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN]

cùng).
2.1.3.2.

Nguyên nhân của những tồn tại

Những tồn tại kể trên, bản thân chúng cũng chính là nguyên nhân trực tiếp của
nhau; ngồi ra cịn có những ngun nhân lớn sau:
- Tại các tỉnh nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, cơ sở hạ tầng tuy đã được
đầu tư, nâng cấp, nhưng chưa đồng bộ, đã hạn chế sự phát triển của kết cấu hạ tầng
thương mại. Mặt khác sản xuất chưa phát triển, do đại đa số người dân sinh sống
bằng nghề nông, sản xuất nông nghiệp ở trình độ thấp, chủ yếu là sản xuất theo

phương pháp tự cung tự cấp nên thu nhập thấp, mức sống còn thấp, nhu cầu tiêu
dùng và nhận thức về hàng hóa chưa cao. Vì vậy nhu cầu tiêu dùng hàng hóa ở khu
vực nơng thơn thật sự chưa cao.
- Tính liên kết trong và giữa các chủ thể kinh tế, thương nhân và doanh nghiệp
còn lỏng lẻo, đại bộ phận doanh nghiệp thương mại và hộ kinh doanh cá thể quy mô
nhỏ bé trong điều kiện nguồn vốn rất hạn hẹp, hiệu quả kinh doanh thấp. Khả năng
tích tụ và tập trung các nguồn lực của các doanh nhân nhìn chung chưa đảm bảo đủ
sức để cạnh tranh và hợp tác. Phương thức kinh doanh thiếu tính chuyên nghiệp,
trình độ đội ngũ quản lý chưa bắt kịp yêu cầu phát triển thương mại và thị trường
theo xu hướng hiện đại và tiến trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
- Lực lượng quản lý thị trường mỏng, cịn yếu kém trong cơng tác quản lý, chưa
kịp thời, thiếu sự phối hợp của chính quyền cấp cơ sở trong quản lý phát triển ở các
tụ điểm thương mại nằm giữa các ranh giới hành chính.
- Thiếu các dự án lớn, chưa kêu gọi được đầu tư để huy động được các nguồn
vốn từ bên ngoài để xây dựng được nhiều các thương hiệu địa phương. Quy trình và
trình tự đầu tư tại một số địa phương đôi khi cịn hạn chế, cơng tác giải phóng mặt
bằng thu hồi đất cịn khó khăn làm cho các thành phần kinh tế khơng muốn tham
gia đầu tư. Bên cạnh đó, các chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư, hỗ trợ đầu tư
phát triển hạ tầng thương mại còn hạn chế và thiếu sự đồng bộ.
2.2. Tác động của hoạt động thương mại đối với phát triển kinh tế nông thôn
2.2.1. Tích cực
2.2.1.1. Thương mại nơng thơn thúc đẩy sự phát triển sản xuất nông nghiệp theo
hướng quy mô lớn
Trường Đại học Kinh tế-Đại học Đà Nẵng | 23


[PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN]

Việt Nam cơ bản là một nước nơng nghiệp và có những tiềm năng to lớn cho sự
phát triển sản xuất nơng nghiệp như: diện tích đất nông nghiệp lớn, đất đai màu mỡ

lực lượng lao động dồi dào. Tuy nhiên, hoạt động thương mại được coi là khâu nối
quan trọng, quyết định sự vận hành của thị trường và của cả nền kinh tế, đưa những
thành tựu của nơng nghiệp đến tay người tiêu dùng.
Có thể thấy, trước năm 1986 trong bối cảnh cơ chế kinh tế cũ, vai trị thị trường
khơng được chú trọng, nơng dân là lực lượng sản xuất chủ yếu trong nền kinh tế
nhưng sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, phân phối cho ai đều theo mệnh lệnh
của cơ quan quản lý nhà nước trong một nền kinh tế kế hoặch hoá tập trung quan
liêu và chế độ phân phối bao cấp. Sản phẩm làm ra không được tự do bn bán thị
trường cả nước nói chung và thị trường nơng thơn nói riêng, khơng có thị trường thì
sản xuất hàng hố khơng phát triển, cơ cấu sản xuất nghèo nàn. Sản xuất kém phát
triển thì khơng có cái để trao đổi và do vậy thiếu sức mua, thiếu khả năng thanh
tốn thì thị trường tiêu điều. Các vịng luẩn quẩn đó đã kìm hãm sự phát triển của
nơng nghiệp và nông thôn qua nhiều thập kỷ.
Cải cách kinh tế 1986 đến nay đã dỡ bỏ cơ chế cũ chuyển dần sang cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã giải phóng năng lực và tiềm năng to lớn cho
sự phát triển sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện cho các hoạt động thương mại thể
hiện vai trị lớn của nó đối với sự phát triển của sản xuất nông nghiệp. Từ một nước
thiếu lương thức trầm trọng, Việt Nam đã xuất khẩu gạo đạt mức 6,5 triệu tấn (năm
2020), vượt Thái Lan để đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo.
Tác động tích cực đầu tiên của thương mại thể hiện ở chỗ muốn phát triển sản
xuất nơng nghiệp theo hướng quy mơ lớn thì phải giải quyết tốt vấn đề thị trường.
Trong đó thị trường đầu ra cho nơng sản có ý nghĩa quyết định. Thị trường có vai
trị đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của nông nghiệp nông thôn.
Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu hiện nay bao gồm: gạo, cà phê, cao
su, hạt điều, hạt tiêu,...
Cùng với việc mở rộng thị trường trong nước, thương mại tích cực tìm kiếm và
mở rộng thị trường xuất khẩu cho nơng sản Việt Nam, vì dù thị trường nội địa có
được mở rộng nhưng vẫn khơng thể tiêu thụ hết số lượng nông sản “dư thừa” ngày
càng nhiều. Thương mại còn cung cấp những yếu tố đầu vào cho sản xuất nông
Trường Đại học Kinh tế-Đại học Đà Nẵng | 24



[PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN]

nghiệp nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả và sức canh tranh của nông sản Việt
Nam trên thị trương trong nước và quốc tế.
2.2.1.2.

Thương mại nông thôn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông
nghiệp và nông thôn

Trước thời kỳ đổi mới, cơ cấu kinh tế nông nghiệp vào nông thôn nước ta rất lạc
hậu, kinh tế nông nghiệp chủ yếu dựa vào trồng trọt. Trong trồng trọt chủ yếu là
trồng lúa và các cây lương thực. Chăn nuôi kém phát triển, trong chăn nuôi chủ yếu
là ni lợn, trâu bị, gia cầm. Kinh tế nông thôn nặng về nông nghiệp, phát triển
chậm nhất là nông nghiệp chế biến nông sản, lâm sản, thuỷ sản vừa thiếu thốn vừa
lạc hậu. Ngành nghề nông thôn ngày càng bị mai một, dịch vụ nông thôn kém phát
triến.
Tuy nhiên, việc cải cách kinh tế và mở cửa hội nhập kinh tế thế giới đã đưa đến
sự thay đổi to lớn đối với thị trường và sự phát triển thương mại nông thôn. Trong
những năm gần đây, sức mua trên thị trường nội địa tăng do thu nhập dân cư khơng
ngừng tăng lên, thị trường nước ngồi ngày càng được mở rộng nhờ mở của hội
nhập. Thương mại trong nước phát triển và các hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng
được tăng cường làm cho sản xuất nông nghiệp đã có thay đổi to lớn, từ đó hình
thành nhiều vùng sản xuất nông nghiệp tập trung gắn với công nghiệp chế biến như:
lúa gạo ở đồng bằng Sông Cửu Long, đồng bằng Sơng Hồng, mía đường ở miền
Trung, Đơng Nam Bộ, chè ở Trung du miền núi phía Bắc, cao su ở Đông Nam Bộ,
cà phê, hạt điều, hạt tiêu ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, nuôi trồng thuỷ sản ở
nhiều tỉnh ven biển ..Sản xuất đã hướng vào và ngày càng gắn với thị trường làm
cho cơ cấu sản xuất nông nghiệp trở nên đa dạng và quy mô sản xuất ngày càng tập

trung.
Ngành công nghiệp chế biến được chú trọng phát triển, các ngành chế biến và
bảo quản lương thực, chế biến mía đường, chế biến cà phê, chè ,cao su, các loại đồ
uống, chế biến thịt sữa và thức ăn chăn nuôi ,chế biến và bảo quản rau quả ,gỗ, lâm
sản, chế biến thuỷ hải sản,... tạo ra một mạng lưới công nghiệp chế biến rộng khắp
nông thôn. Công nghiệp chế biến nông, lâm sản gắn vùng nguyên liệu với công
nghệ tiến bộ ra đời và ngày càng phát triển để đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất
khẩu.
Trường Đại học Kinh tế-Đại học Đà Nẵng | 25


×