Tải bản đầy đủ (.docx) (19 trang)

BAI VIET VE TON DUC THANG 2018

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (278 KB, 19 trang )

Trường Tiểu học Phước Bình
Họ và tên : Huỳnh Thị Kim Loan

Cuộc thi
«

Chủ tịch Tơn Đức Thắng – Một nhân cách lớn » – năm 2018

Đồng chí Tơn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng,
suốt đời cần kiệm, liêm chính ; suốt đời hết lịng hết sức phục vụ cách
mạng, phục vụ nhân dân
Cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Tôn Đức Thắng từ một công nhân, lính thợ
đến tổ chức đấu tranh cách mạng, từ ngục tù Côn Đảo đến tham gia kháng chiến, và
trải qua các chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cho đến khi
làm Chủ tịch nước, Bác ln ln tốt lên sự khiêm tốn, giản dị của một một tấm
gương mẫu mực về đạo đức cách mạng.
Chủ tịch Tôn Đức Thắng sinh ra và lớn lên trong truyền thống yêu nước và
nhân ái của quê hương, gia đình và dân tộc, đồng chí Tơn Đức Thắng đã sớm có chí
hướng đi về phía nhân dân lao động, chọn hướng lao động kỹ thuật, làm thợ, hịa mình
vào đời sống của giai cấp công nhân.
Tinh thần yêu nước và căm thù đế quốc đã tạo cho Tôn Đức Thắng sớm bộc lộ
năng lực tổ chức thực tiễn. Khi chưa có ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin soi
đường, đứng trên lập trường của một người yêu nước, đồng chí Tơn Đức Thắng đã
sớm tham gia các cuộc bãi cơng, bãi khóa của cơng nhân xưởng Ba Son và học sinh
trường Bá Nghệ.
Ngay khi còn ở tuổi thanh niên, với một tấm lòng yêu nước thương dân, căm
thù bọn đế quốc xâm lược, đồng chí Tơn Đức Thắng đã sớm bộc lộ lòng yêu thương
những con người bất hạnh, cùng khổ. Trong ngục tù đế quốc, hình ảnh "người cặp


rằng hầm xay lúa'' Tôn Đức Thắng là tấm gương sáng ngời về đức hy sinh, thương yêu


những đồng chí anh em cùng cảnh ngộ.
Ở những cương vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đồng chí Tơn Đức Thắng hết lịng
hết sức tận tụy phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, khơng màng gì tới danh lợi cho
bản thân. Đồng chí Tơn Đức Thắng sống thật bình dị, khơng địi hỏi gì về vật chất,
thương anh em, thương đồng bào.
Cống hiến của Chủ tịch Tôn Đức Thắng về phương diện đạo đức cách mạng đã
được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta, nhân dân ta và bè bạn thế giới nhiều lần khẳng
định và đánh giá cao.
Năm 1958, nhân dịp Chúc mừng Chủ tịch Tôn Đức Thắng thọ 70 tuổi, Chủ tịch
Hồ Chí Minh nói: "Đồng chí Tơn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng:
suốt đời cần, kiệm, liêm, chính; suốt đời hết lịng, hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ
nhân dân".
Đồng chí Lê Duẩn, cố Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Việt Nam khẳng định: ''Cùng với tinh thần phấn đấu khơng mệt mỏi, ở đồng chí Tơn
Đức Thắng cịn nổi bật lên lập trường vững vàng, chí khí cao cả, đức tính khiêm tốn,
giản dị, đó là những gương sáng để chúng ta học tập".
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: "... Di sản quý nhất mà đồng chí Tôn
Đức Thắng để lại cho nhân dân là chất người Tôn Đức Thắng, sản phẩm tổng hợp
của chất hào hiệp Nam Bộ, chất kiên cường và tài năng sáng tạo Việt Nam, chất tiên
phong của giai cấp công nhân, chất cách mạng của người yêu nước, người cộng sản,
chất nhân đạo của con người. Tinh túy của chất ấy là lòng thương nước, yêu dân,
niềm ưu ái với đồng bào, đồng chí; niềm tin sắt đá vào thắng lợi của cách mạng mặc
dù mọi khó khăn, gian khổ, tinh thần một lịng, một dạ phục vụ nhân dân, đức chí
cơng vơ tư qn mình, sự khiêm tốn, giản dị hồn nhiên, trong sáng".


Cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã viết: B
" ác Tôn là con người vô cùng
giản dị, vẫn là người cơng nhân, vẫn giữ cái búa, cái kìm... và tự chữa lấy xe đạp của
Bác. Bác Tôn của chúng ta là một con người như thế, một người công nhân tiêu biểu

cho tinh thần cách mạng, đạo đức cách mạng cao quý nhất của giai cấp công nhân,
của dân tộc Việt Nam, của Đảng chúng ta, của dân tộc Việt Nam chúng ta".
Cố Chủ tịch Hội đồng nhà nước Võ Chí Cơng thì khẳng định: "Cùng với lịng
trung thành, tận tụy, lập trường vững vàng, tinh thần dũng cảm bất khuất, ở Bác Tơn
cịn nổi lên đức tính khiêm tốn, giản dị, chân thành, hịa mình trong quần chúng".
Tính từ sự kiện năm 1919 đến khi từ trần năm 1980, đồng chí Tơn Đức Thắng
đã có trên 60 năm cống hiến trọn vẹn, liên tục, có hiệu quả cho phong trào cách mạng
thế giới, xứng đáng là một trong những lãnh tụ tiêu biểu nhất cho tinh thần quốc tế cao
cả, trong sáng, thủy chung. Điều đó được thể hiện cụ thể trong những ghi nhận, đánh
giá của bạn bè thế giới.
Để ghi nhận những cơng lao đóng góp xuất sắc của Bác Tôn đối với dân tộc,
Bác Hồ đã đề nghị Quốc hội, Chính phủ xem xét phê chuẩn trao tặng Bác Tôn Huân
chương Sao Vàng - Huân chương cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam. Và Chủ tịch
Tôn Đức Thắng là người Việt Nam đầu tiên được nhận phần thưởng cao quý này.
Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng lâu dài, sôi nổi và phong phú của mình,
Chủ tịch Tơn Đức Thắng đã có nhiều đóng góp cho phong trào cộng sản và cơng nhân
quốc tế, cho phong trào giải phóng dân tộc và phong trào đấu tranh của nhân dân tiến
bộ vì hịa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên toàn thế giới.
Là nhà lãnh đạo lỗi lạc và mẫu mực, Chủ tịch Tôn Đức Thắng mãi mãi để lại
cho đời một di sản vô cùng quý giá về tư tưởng, đạo đức và tác phong, không phải
được thể hiện qua các áng thơ văn và trong những trước tác về lý luận mà bằng sự
phát sáng trong thực tiễn hoạt động cách mạng dày dặn, phong phú, giàu tính đảng,
tính chiến đấu, tính nhân văn và là sự biểu hiện rực rỡ của tư duy năng động, sáng tạo.


Trường Tiểu học Phước Bình
Họ và tên : Huỳnh Thị Kim Loan

Cuộc thi
«


Chủ tịch Tơn Đức Thắng – Một nhân cách lớn » – năm 2018

Đồng chí Tơn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng,
suốt đời cần kiệm, liêm chính ; suốt đời hết lịng hết sức phục vụ cách
mạng, phục vụ nhân dân
Bác Tôn Đức Thắng, một nhà yêu nước vĩ đại, người chiến sĩ cộng sản
kiên cường mẫu mực, lãnh tụ kính mến của GCCN và nhân dân các
dân tộc Việt Nam.
Bác Tôn Đức Thắng, một nhà yêu nước vĩ đại, người chiến sĩ cộng sản kiên cường
mẫu mực, lãnh tụ kính mến của GCCN và nhân dân các dân tộc Việt Nam.

Bác Tôn Đức Thắng, một nhà yêu nước vĩ đại, người chiến sĩ cộng sản kiên
cường mẫu mực, lãnh tụ kính mến của GCCN và nhân dân các dân tộc Việt
Nam. Bác Tôn là hình mẫu phong phú, hồn chỉnh về lối sống, lẽ sống, nhân
cách, đạo đức cách mạng cần kiệm, liêm chính, suốt đời hết lịng, hết sức phục
vụ nhân dân. Cuộc đời sự nghiệp của Bác Tôn mãi mãi là tấm gương sáng cho
lớp lớp các thế hệ người Việt nam nói chung, cho các thế hệ GCCN Việt Nam
nói riêng noi theo. Bác Tơn Đức Thắng đã có những cống hiến to lớn, quan trọng
đối với GCCN và tổ chức Cơng đồn Việt Nam, thể hiện rỏ trên một số lĩnh vực
cơ bản sau:
1. Bác Tôn thuộc thế hệ công nhân đầu tiên của GCCN Việt Nam, là một
trong những người cơng nhân xuất sắc nhất, một hình mẫu của người
công nhân Việt Nam về sự uyên thâm nghề nghiệp và về tinh thần yêu
nước nồng nàn
Vào lúc thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 1924), GCCN nước ta đang trong quá trình hình thành, cũng là lúc Bác Tơn học
xong tiểu học. Năm 1906, Bác Tơn đến Sài Gịn học nghề, chuẩn bị hành trang
cho mình bước vào cuộc đời người thợ.



Năm 1910 Bác Tôn vào làm thợ ở xưởng Kroff thuộc Sở kiến trúc cầu đường và
nhà cửa ở Sài Gịn. Bước vào cuộc đời người thợ, Bác Tơn khơng chỉ thuộc thế
hệ những công nhân đầu tiên của GCCN nước ta, giai cấp đại diện cho phương
thức sản xuất tiên tiến đang trong quá trình hình thành, phát triển, mà còn là một
trong những người thợ thực sự giỏi về chun mơn, nghề nghiệp lúc bấy giờ. Do
có tay nghề giỏi, nên khi làm thợ, Bác Tôn thường được cử đi sửa chữa máy
móc ở nhiều nơi, có khi vào xưởng Ba Son, khi thì vào trường Bách nghệ, đã tạo
cho Bác Tơn có điều kiện tiếp xúc, trao đổi với nhiều đối tượng công nhân. Bác
Tôn không chỉ thuộc thế hệ những công nhân đầu tiên, thế hệ những công nhân
giỏi về chuyên môn nghề nghiệp của GCCN Việt Nam, mà cịn là người cơng
nhân có lịng u nước nồng nàn, có khát vọng đấu tranh cách mạng kiên
cường, cháy bỏng
Ngay từ khi đang học trong trường nghề, năm 1909, Bác Tôn đã vận động anh
em học sinh lính thủy bỏ học nghề, đấu tranh chống bắt phải làm việc nhiều, ăn
khổ, chống chế độ bắt lính. Năm 1910, Bác Tôn đã lãnh đạo cuộc đấu tranh của
công nhân kiến trúc cầu đường. Năm 1912 Bác Tôn đã cùng với một số anh em
tổ chức và lãnh đạo cuộc bãi công của học sinh trường Bách nghệ đ̣i tăng lương,
chống đánh đập, cúp phạt, tổ chức các hội ái hữu... Tháng 4 năm 1919, Bác
Tôn dũng cảm cùng anh em thủy thủ trên chiến hạm của Pháp đứng lên phản
chiến. Chính Bác Tơn là người đã kéo lá cờ đỏ treo trên chiến hạm France để
chào mừng nước Nga Xô Viết.
Tháng 8 năm 1923, Bác đã lãnh đạo cuộc bãi cơng của gần một nghìn cơng
nhân Ba Son ngăn cản chuyến đi của chiến hạm Michelet sang đàn áp cách
mạng Trung Quốc. Ngày 23 tháng 7 năm 1929, Bác Tôn bị thực dân Pháp bắt và
bị ṭa án kết án tù 20 năm. Ngày 3 tháng 7 năm 1930, Bác Tôn bị đày đi Côn Đảo
trên chuyến tàu Hadmand Rouseaus, 15 năm ở nhà tù Côn đảo không hề làm
giảm ý chí kiên cường đấu tranh của người chiến sĩ cách mạng, người thợ Tôn
Đức Thắng. Ngay sau khi đến nhà tù Côn đảo, Bác Tôn đã cùng với những
người trung kiên sáng lập ra "Hội những người tù đỏ" làm hạt nhân lãnh đạo khối
tù. Cách mạng Tháng 8 thành cơng, ngay sau khi thốt khỏi nhà tù, gông xiềng,

vừa đặt chân đến đất liền, Bác Tôn lại tham gia ngay vào cuộc kháng chiến vĩ đại
của dân tộc. ở Bác Tơn dù bất kỳ làm gì, ở đâu, trong hồn cảnh nào thì chất
người cơng nhân, người chiến sĩ cách mạng vẫn ln hịa quyện chặt chẽ, ln
một lịng một dạ trung thành với mục tiêu, ly tưởng của GCCN, suốt đời đấu
tranh cho độc lập dân tộc, cho quyền lợi của nhân dân. Bác Tôn thực sự là thế
hệ công nhân tiêu biểu nhất của GCCN Việt nam.


2. Bác Tôn - một trong những người đầu tiên, truyền bá, vận dụng chủ
nghĩa Mác - Lênin, kinh nghiệm của phong trào công nhân quốc tế vào xây
dựng phong trào cơng nhân Việt Nam; người có nhiều đóng góp trong
công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xuất thân từ công nhân
Năm 1916 Bác Tôn bị động viên vào làm thợ máy cho Hải quân Pháp, nên sớm
có điều kiện tiếp xúc, giao lưu với công nhân Pháp và công nhân các nước thuộc
địa, sớm nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức chính trị,
Bác Tơn đã ln tìm cách tiếp cận với những sách báo tiến bộ. Ngay sau khi
Cơng hội bí mật được thành lập, Bác Tôn đã tổ chức liên lạc chặt chẽ với công
nhân, thủy thủ tàu biển để nhận báo chí tiến bộ, như báo Nhân đạo; Người cùng
khổ, Việt Nam hồn và những bài báo của Nguyễn ái Quốc viết về Đông Dương
từ Pháp, Trung Quốc gửi về. Bác Tôn đã thường xuyên tổ chức cho anh em
chèo thuyền ra sơng đọc sách, báo hoặc tự mình nói lại cho anh em nghe về
những cuộc đấu tranh của công nhân thế giới.
Trong q trình lãnh đạo cơng hội bí mật, Bác Tôn đã chủ động bắt liên lạc với
một số đồng chí trong tổ chức Việt Nam cách mạng thanh niên, đã tự nguyện gia
nhập và giới thiệu các đồng chí trong nhóm trung kiên cùng gia nhập tổ chức
này. Bác Tôn đă trực tiếp bồi dưỡng, phát hiện, giới thiệu và đưa nhiều thanh
niên cơng nhân có tâm huyết sang Quảng Châu học tập, để trở về hoạt động
trong phong trào công nhân. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng Bác Tôn luôn
quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xuất thân từ công nhân, Bác Tôn đă trực
tiếp giáo dục, phát hiện đào tạo, bồi dưỡng nhiều công nhân tiêu biểu như:

Nguyễn Văn Nghi, Nguyễn Văn Tư, Nguyễn Văn Dung, Ngô Văn Năm, Lê Văn
Lưỡng… Những cán bộ này đều được lựa chọn từ phong trào công nhân của
nhà máy Ba Son để trở thành những cán bộ lớp đầu tiên của phong trào công
nhân và hoạt động cơng đồn, mà tên tuổi, sự nghiệp của họ gắn liền với phong
trào đấu tranh của GCCN nước ta.
Bác Tơn, người đă tích cực chuẩn bị mảnh đất tốt để gieo trồng, truyền bá chủ
nghĩa Mác - Lênin và sớm chuẩn bị những điều kiện cho công nhân thợ thuyền
Ba Son dễ dàng tiếp thu những quan điểm, tư tưởng mới, tạo cơ sở, nền tảng
cho công nhân nâng cao giác ngộ dân tộc, giác ngộ giai cấp. Ngay trong những
lúc khó khăn, gian khổ và nguy hiểm nhất ở xà lim tù đày của kẻ thù, Bác Tôn
vẫn tranh thủ mọi thời gian nghiên cứu sách báo, nghiên cứu lư luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, không chỉ tự ḿnh nghiên cứu lư luận của chủ nghĩa Mác -


Lênin, Bác Tơn cịn tìm cách để tun truyền và tổ chức cho anh em trong tù
cùng nghiên cứu. Tại nhà tù Côn Đảo cuối năm 1932, Bác Tôn đã tham gia cùng
các đồng chí trong chi ủy của nhà tù Côn Đảo xuất bản tờ báo “ý kiến chung”.
Đến đầu năm 1935 lại tham gia cho ra đời tạp chí “Tiến lên” để làm phương tiện
tuyên truyền chỉ đạo, hướng dẫn những người cộng sản trong nhà tù Côn Đảo
đấu tranh. Những ngày ở nhà tù Côn Đảo Bác Tơn cịn tranh thủ sự ủng hộ của
một số binh lính và cơng chức Pháp ở Cơn đảo, nhờ mua hộ sách báo tiến bộ,
nhất là các sách kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin do nhà xuất bản Xă hội
Pháp ở Pari ấn hành để nghiên cứu và tuyên truyền trong nhà tù.
Bác Tôn đã giành trọn vẹn cuộc đời cho việc tìm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin
và cho việc tìm những mảnh đất tốt và tạo điều kiện thuận lợi để gieo trồng chủ
nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân, hoạt động công đoàn Việt Nam và
đào tạo bồi dưỡng cán bộ xuất thân từ công nhân cho cách mạng.
3. Bác Tôn người đầu tiên tổ chức ra Công hội cách mạng ở nước ta,
người đặt cơ sở, nền móng cho lư luận và nghiệp vụ cơng tác cơng đồn
Việt Nam

Năm 1916, khi bị động viên vào làm thợ máy cho hải quân Pháp, trong những
năm tháng sống ở Pháp và tham gia phong trào đấu tranh của thủy thủ Pháp,
Bác Tôn đă ý thức được sức mạnh của giai cấp công nhân nếu họ được tổ chức.
Từ những kinh nghiệm tích lũy được khi tham gia tổ chức hoạt động cơng đồn
ở thành phố Toulon miền Nam nước Pháp, năm 1920 khi trở về Sài G̣ ịn, Bác
Tơn đã sớm nhận thấy cần phải tổ chức ra Công hội nhằm tập hợp, tuyên truyền,
giác ngộ, vận động công nhân thành tổ chức để đấu tranh chống áp bức, bóc lột,
đ̣i độc lập dân tộc. Từ thực tế phong trào công nhân và điều kiện cụ thể của
nước ta trong những năm đầu của thế kỷ XX, theo Bác Tôn ở Việt Nam Công hội
ra đời không chỉ nhằm tập hợp công nhân đấu tranh đ̣i quyền lợi về kinh tế mà
còn phải đ̣i cả quyền lợi về chính trị.
Do Cơng hội ở Việt Nam thời điểm này phải hoạt động bí mật. Bác Tơn đă tích
cực vận động thành lập Cơng Hội, đã cùng với một số anh em lập xưởng sửa
chữa xe hơi ở Phú Nhuận, dùng đó làm nơi gặp gỡ, tuyên truyền vận động, tập
hợp anh em công nhân, đồng thời để lấy tiền cho Cơng hội bí mật hoạt động và
để giải quyết công ăn việc làm cho một số anh em. Vào năm 1920, Công hội
cách mạng bí mật đầu tiên ở Nam bộ đã được thành lập,. Ban chấp hành Công
hội gồm: Tôn Đức Thắng ( thợ máy hãng Krốp) Hội trưởng; Nguyễn văn Cân


(thợ nguội hăng FACI) phó hội trưởng; Đặng Văn Sâm (thợ nhà đèn) thủ quỹ,
ngồi ra cơng hội cịn có Trần Trương (Sáu Trương), Đặng Văn Sửu (Nhuận),
Trần Văn Ḥa (Ba ḥa) Trần Ngọc Giai (Thuận Hóa). Cơng hội bí mật do Bác Tơn
sáng lập ra đời với mục đích là đoàn kết, tương trợ bênh vực quyền lợi của giai
cấp cơng nhân, đấu tranh chống áp bức, bóc lột của bọn đế quốc và tay sai.
Thời kỳ đầu mới thành lập, những thành viên của Cơng Hội bí mật quy ước với
nhau: chỉ kết nạp vào hội những người yêu nước, có tinh thần hăng hái đấu
tranh, biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau, trong lúc khó khăn, bệnh tật. Các
thành viên trong Cơng hội bí mật cũng đă thống nhất thu hội phí cơng hội theo
từng tháng, mỗi người góp một ngày lương trở xuống. Sự ra đời của Cơng hội bí

mật đầu tiên ở nước ta đánh dấu một thời kỳ mới trong lịch sử của GCCN Việt
Nam, thời kỳ GCCN Việt Nam bắt đầu chuyển sang giai đoạn đấu tranh từ tự
phát sang tự giác, từng bước đưa giai cấp công nhân Việt Nam lên vũ đài chính
trị và trở thành lực lượng chính trị độc lập, mở đầu cho giai đoạn đấu tranh mới,
giai đoạn đấu tranh có tổ chức.
Ngay sau khi Cơng hội bí mật ra đời, các cuộc bãi công của công nhân do Cơng
hội bí mật tổ chức tuy là đấu tranh kinh tế, nhưng đã mang tinh chất chính trị rơ
rệt. Cơng hội bí mật đã chú trong mở rộng quan hệ với các tầng lớp tiến bộ khác,
nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng trong xã hội. Bác Tôn người sáng lập ra Công hội bí mật đă thường xun cùng anh em cơng nhân về
các tỉnh để tuyên truyền tinh thần yêu nước trong bà con chịm xóm, nhằm xây
dựng quan hệ gắn bó những người yêu nước ở các vùng quê với Công hội.
Đối với phong trào yêu nước của tầng lớp trí thức tiểu tư sản, Cơng hội bí mật
cũng tích cực ủng hộ và tham gia tất cả các cuộc mít tinh, biểu tình cơng khai,
nhưng Cơng hội bí mật vẫn giữ riêng tổ chức độc lập. Hoạt động của Công hội bí
mật tuy cịn sơ khai, nhưng đã biểu hiện tinh thần đồn kết giai cấp cơng nhân
Việt Nam với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội.
Từ thực tiễn vận động thành lập và lãnh đạo Công hội bí mật hoạt động, Bác Tơn
người đă góp phần quan trọng vào việc đặt cơ sở, nền móng cho lư luận, nghiệp
vụ cơng tác cơng đồn Việt Nam hiện nay, tiêu biểu cho lư luận, nghiệp vụ cơng
tác cơng đồn đó là: cơng tác tổ chức, nội dung, phương pháp hoạt động của
Cơng đồn phải xuất phát từ tình hình cụ thể của phong trào công nhân, xuất
phát từ yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể của mỗi giai đoạn cách mạng. Hoạt động cơng
đồn phải gắn chặt việc thực hiện mục tiêu kinh tế với mục tiêu chính trị, phải


kiên trì vận động, thuyết phục và chú trong cơng tác tuyên truyền vận động, tập
hợp công nhân, lao động. Để nâng cao tinh thần trách nhiệm, sự gắn bó của
đồn viên với tổ chức và để có kinh phí hoạt động, cơng đồn phải có quy định
thống nhất hàng tháng đồn viên phải đóng đồn phí. Cán bộ Cơng đoàn là nhân
tố hết sức quan trọng, cần phải quan tâm thường xuyên đến việc đào tạo, bồi

dưỡng cán bộ. Cán bộ cơng đồn phải sâu sát quần chúng. Cơng đoàn phải
quan tâm xây dựng quan hệ đoàn kết, thống nhất trong tổ chức. Đồng thời phải
chú trọng xây dựng quan hệ đoàn kết với các tổ chức, các giai cấp, tầng lớp
khác trong xã hội.
4. Bác Tôn - một trong những người đầu tiên nêu cao tinh thần đoàn kết
quốc tế vơ sản và trực tiếp có nhiều đóng góp quan trọng vào xây dựng
quan hệ đồn kết giữa GCCN Việt Nam với GCCN các nước trên thế giới
Bác Tôn một trong những người công nhân Việt Nam đầu tiên hoạt động trong
phong trào cơng nhân, cơng đồn Pháp, Người trực tiếp tham gia xây dựng quan
hệ giữa GCCN Việt Nam và GCCN Pháp. Tháng 9 năm 1916, khi đang theo học
trường thợ máy á Châu tại Sài Gòn, Bác Tơn bị chính quyền thực dân động viên
vào đội lính thợ phục vụ cho quân đội Pháp tại xưởng áenal de Toulon (miền
Nam nước Pháp). Tại đây Bác Tôn đã tự nguyện gia nhập Nghiệp đồn cơng
nhân Pháp, cùng làm việc với những người lao động Pháp và lao động các nước
thuộc địa, thuộc các màu da, dân tộc khác nhau. Bác Tơn đă nhanh chóng hịa
nhập vào cuộc sống và lao động của GCCN Pháp đã tích cực vận động anh em
thủy thủ, thợ máy Pháp và các nước thuộc địa đấu tranh chống tệ phân biệt
chủng tộc, phân biệt đối xử giữa sĩ quan và binh lính trong quân đội Pháp.
Sống, làm việc cùng thủy thủ các nước, Bác Tơn đã dần dần hình thành tình cảm
với những người chiến sĩ đấu tranh bảo vệ nước Nga cách mạng. Bác Tơn đã
đồng tình với những người bạn Pháp đang vận động phản chiến, chống lại lệnh
chiến đấu của chỉ huy. Ngày 19 tháng 4 năm 1919, thủy thủ trên chiến hạm
France họp bàn lập kế hoạch sẽ hành động, Bác Tôn được giao nhiệm vụ kéo lá
cờ đỏ mở đầu cuộc binh biến của thủy thủ trong buổi lễ chào cờ sáng ngày 20
tháng 4 năm 1919. Từ một người yêu nước, Bác Tôn đă trở thành một chiến sĩ
quốc tế trong sáng, người công nhân Việt Nam đầu tiên anh dũng tham gia đấu
tranh ủng hộ GCCN và bảo vệ thành quả cách mạng Tháng Mười Nga. Tháng 8
năm 1925 trên đường chở quân sang Trung Quốc, hạm đội Pháp gồm các chiến
hạm Julé Mitchelet, Julé Ferry và Le Maine cập cảng Sài Gịn, Chiếc Đơ đốc hạm
Mitchelet bị hỏng phải đưa vào xưởng Ba Son để sửa chữa gấp. Nắm được âm



mưu của kẻ thù, với tinh thần quốc tế trong sáng, cao cả, Bác Tôn đã quyết định
cùng với ban lãnh đạo Cơng hội Sài Gịn - Chợ Lớn vận động công nhân Ba Son
kéo dài thời gian sửa chữa tàu Mitchelet đến mãi ngày 28 tháng 11 năm 1925,
để ủng hộ những người anh em công nông Trung Quốc.
Những sự kiện trên là biểu hiện đẹp đẽ của tinh thần đoàn kết quốc tế cao cả, sự
trưởng thành về ư thức chính trị của Bác Tơn, cũng như của GCCN Việt Nam
trong đấu tranh cách mạng. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác
Tơn Đức Thắng có nhiều đóng góp quan trọng vào việc xây dựng, vun đắp t́nh
đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các dân tộc Pháp, Nga
và nhân dân các dân tộc u chuộng hịa bình trên thế giới. Đặc biệt, Bác
Tơn đã phấn đấu khơng mệt mỏi vì hịa bình, hữu nghị giữa các dân tộc 3 nước
Đơng Dương trên nguyên tắc tự nguyện, binh đẳng.
2
5. Phẩm chất, đạo đức trong sáng, ư chí phấn đấu kiên cường, bền bỉ của
Bác Tơn là tấm gương sáng, là hình mẫu cho các thế hệ công nhân Việt
Nam phấn đấu, rèn luyện, noi theo
Cuộc đời hoạt động của Bác Tôn rất phong phú, đa dạng, từ học nghề, làm thợ,
làm lính đến tổ chức đấu tranh, từ tù đày Cơn đảo đến tham gia kháng chiến,
tham gia các chức vụ quan trọng trong bộ máy lănh đạo Đảng, Nhà nước, hệ
thống chính trị. Từ trực tiếp tham gia hoạt động trong phong trào cơng nhân,
cơng đồn ở nước ngồi, đến tham gia hoạt động ở trong nước. Dù ở đâu, Bác
Tôn cũng luôn thể hiện rỏ một người yêu nước, thương dân nhất mực, người có
tinh thần đồn kết, cố kết cộng đồng, chia sẻ ngọt bùi, tương thân tương ái, trọng
nghĩa khí, ghét áp bức bất cơng, cần cù sáng tạo, bao dung, độ lượng.
Khi bị bắt giam, đày đọa hơn 15 năm trời trong ngục tù Côn Đảo, với những cực
hình hết sức dã man, nhốt vào hầm xay lúa, nhốt vào hầm tối, tay chân bị xiềng
xích, kềm kẹp, bị đánh đập tàn bạo, bị bỏ đói, khát, Bác Tôn vẫn giữ vững tinh
thần cách mạng kiên cường và sự trung thành vô hạn đối với Đảng, luôn tin

tưởng ở tương lai tươi sáng của dân tộc, luôn vui vẻ, không bao giờ sao nhãng
công tác cách mạng, chịu khó nghiên cứu, học tập lý luận. Bản lĩnh và hành động
của Bác Tôn làm kẻ thù phải, kính nể, đồng chí, bạn bè càng quư trọng, kính
phục. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng dù ở đâu, với những cương vị
quan trọng khác nhau của Đảng, Nhà nước, Bác Tơn vẫn giữ vững những đức
tính vốn có của mình, ăn những món ăn giản dị, như những món ăn của quê


nhà,vẫn mặc như những người bình thường, ghét sự xa hoa, lãng phí, ham lao
động trí óc và chân tay.
Bác Tơn ln chăm lo, giữ gìn, củng cố tình đồn kết đồng chí, đồng bào, đồn
kết với các nước anh em và bè bạn quốc tế vì độc lập thống nhất tổ quốc, vì chủ
nghĩa xă hội, vì hịa bình hữu nghị giữa các dân tộc. Trong công tác cũng như
trong sinh hoạt, Bác Tôn Đức Thắng luôn nêu tấm gương mẫu mực, sáng ngời
về tính nguyên tắc, tính tổ chức, dù làm việc lớn, việc nhỏ đều phấn đấu không
mệt mỏi, đều tuân thủ quyết định của tổ chức.
Cuộc đời, sự nghiệp hoạt động cách mạng của Bác Tôn là tấm gương sáng về
lòng trung thành, tận tụy, về tinh thần anh dũng, bất khuất, về đức tính khiêm tốn,
giản dị. Như cố Thủ tưởng Phạm Văn Đồng đă viết "di sản q báu nhất mà
đồng chí Tơn Đức Thắng để lại cho nhân dân là chất người Tôn Đức Thắng...,
tinh túy của chất người ấy là lòng thương nước, yêu dân, niềm ưu ái với đồng
bào, đồng chí, niềm tin sắt đá vào thắng lợi của cách mạng, mặc dù khó khăn,
gian khổ, nhưng tinh thần một lịng một dạ phục vụ nhân dân, đức chí cơng vơ
tư, quên mình, sự khiêm tốn giản dị, hồn nhiên trong sáng. Đó là chất cách mạng
tinh khiết, khơng gì làm phai nhạt được, từ thưở thanh niên đến cuối đời, vượt
qua muôn trùng thử thách ngày càng ngời lên đẹp đẽ và cao quý".
Phẩm chất đạo đức, ý chí phấn đấu bền bỉ, kiên cường của Bác Tôn Đức Thắng
tượng trưng cho tinh hoa phẩm chất cách mạng của GCCN và nhân dân Việt
nam. Đạo đức của Bác Tôn là kiểu mẫu phong phú, hoàn chỉnh về lối sống, nhân
cách của một người cách mạng suốt đời hoạt động vì nước, vì dân, về tấm lịng

trung thành, dũng cảm, thể hiện ý chí sức mạnh phi thường khơng gì lay chuyển
nổi. Bác Tôn mãi mãi là tấm gương sáng, là hình mẫu cho các thế hệ cơng nhân
Việt Nam noi theo.


Bác Tôn – Con Người Luôn Hành Động Tiên Phong
Bác Tôn không phải là nhà lý luận, nhà tư tưởng hay nhà sáng tác, Bác Tôn là con người của
hành động, hành động tiên phong. Bác là người nói ít làm nhiều, chủ yếu là hành động, rất mực
nhất quán giữa nói và làm. Hơn 60 năm hoạt động, Bác Tơn kính u đã ln đứng ở vị trí tiên
phong, hàng đầu trong mọi hoạt động cách mạng.
Là thế hệ những công nhân đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam giỏi về chun mơn, có
lịng u nước nồng nàn, có khát vọng đấu tranh cách mạng kiên cường, cháy bỏng, Bác đã lãnh
đạo những cuộc đấu tranh đầu tiên của công nhân giành thắng lợi (đấu tranh của học sinh lính
thủy chống bắt phải làm việc nhiều, ăn khổ, chống chế độ bắt lính năm 1909; đấu tranh của
công nhân kiến trúc cầu đường năm 1910, đấu tranh của công nhân Ba Son năm 1912). Tháng 4
năm 1919, Bác Tôn đã dũng cảm cùng anh em thủy thủ trên chiến hạm của Pháp đứng lên phản
chiến. Chính Bác Tôn là người kéo lá cờ đỏ treo trên chiến hạm France để chào mừng nước Nga
Xô Viết, một hành động mà theo như Võ Nguyên Giáp: “Kéo cờ phản chiến và ủng hộ Cách mạng
Tháng Mười Nga chống lại sự can thiệp của Thực dân Pháp và các nước đế quốc khác. Đó là một
hành động mà lúc bấy giờ được xem là hiếm có, hơn thế nữa, là một hành động xuất chúng”.
Trong những năm tù đày biệt xứ ở Côn đảo, Bác Tôn đã cùng với những người trung kiên sáng lập
ra "Hội những người tù đỏ" làm hạt nhân lãnh đạo khối tù và là một trong những chi uỷ viên đầu
tiên của chi bộ đầu tiên được thành lập ở nhà tù Côn Đảo, đồng thời là người tù Cộng sản được
các tù thường ủng hộ, tổ chức cuộc bãi công đầu tiên ở đảo nhằm phản đối bọn chúa ngục khi
chúng giam người ở xà lim cấm cố.
Bác cũng là người đầu tiên tuyên truyền Chủ nghĩa Mác – Lênin trong công nhân Việt Nam. Sớm
nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức chính trị, năm 1916 Bác Tơn khi
cịn là thợ máy cho Hải quân Pháp, Bác Tôn đã ln tìm cách tiếp cận với những sách báo tiến
bộ. Ngay sau khi Cơng hội bí mật được thành lập, Bác Tôn đã tổ chức liên lạc chặt chẽ với cơng
nhân, thủy thủ tàu biển để nhận báo chí tiến bộ, như báo Nhân đạo; Người cùng khổ, và những

bài báo của Nguyễn ái Quốc viết về Đông Dương từ Pháp, Trung Quốc gửi về. Bác đã tích cực
chuẩn bị mảnh đất tốt để gieo trồng, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và sớm chuẩn bị những
điều kiện cho công nhân thợ thuyền Ba Son dễ dàng tiếp thu những quan điểm, tư tưởng mới,
tạo cơ sở, nền tảng cho công nhân nâng cao giác ngộ dân tộc, giác ngộ giai cấp. Ngay trong
những lúc khó khăn, gian khổ và nguy hiểm nhất ở xà lim tù đày của kẻ thù, Bác Tôn vẫn tranh


thủ mọi thời gian nghiên cứu sách báo, nghiên cứu lư luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, không chỉ
tự mình nghiên cứu lư luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Bác Tơn cịn tìm cách để tun truyền và
tổ chức cho anh em trong tù cùng nghiên cứu.
Bác còn là người đầu tiên tổ chức ra Công hội cách mạng ở nước ta, người đặt cơ sở, nền móng
cho lư luận và nghiệp vụ cơng tác cơng đồn Việt Nam, năm 1916, khi bị động viên vào làm thợ
máy cho hải quân Pháp, Bác đã ý thức được sức mạnh của giai cấp công nhân nếu họ được tổ
chức, năm 1920 khi trở về Sài G̣ ịn, Bác Tơn đã sớm nhận thấy cần phải tổ chức ra Công hội
nhằm tập hợp, tuyên truyền, giác ngộ, vận động công nhân thành tổ chức để đấu tranh chống
áp bức, bóc lột, đ̣i độc lập dân tộc. Do Công hội ở Việt Nam thời điểm này phải hoạt động bí mật.
Bác Tơn đă tích cực vận động thành lập Cơng Hội, đã cùng với một số anh em lập xưởng sửa
chữa xe hơi ở Phú Nhuận, dùng đó làm nơi gặp gỡ, tuyên truyền vận động, tập hợp anh em công
nhân, đồng thời để lấy tiền cho Cơng hội bí mật hoạt động và để giải quyết công ăn việc làm cho
một số anh em. Vào năm 1920, Công hội cách mạng bí mật đầu tiên ở Nam bộ đã được thành
lập. Cơng hội bí mật do Bác Tơn sáng lập ra đời với mục đích là đồn kết, tương trợ bênh vực
quyền lợi của giai cấp công nhân, đấu tranh chống áp bức, bóc lột của bọn đế quốc và tay sai.
Từ thực tiễn vận động thành lập và lãnh đạo Cơng hội bí mật hoạt động, Bác Tơn người đă góp
phần quan trọng vào việc đặt cơ sở, nền móng cho lư luận, nghiệp vụ cơng tác cơng đồn Việt
Nam.
Những hành động tiên phong tiêu biểu trên của người đã đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách
mạng giải phóng dân tộc, có thể nói về cuộc đời và sự nghiệp của Bác Tôn là một sự liền mạch
của lao động, học tập, đấu tranh, của tình thương yêu dành cho đồng bào, đồng chí, của niềm
tin son sắt vào lý tưởng và làm hết sức mình cùng tồn Đảng, tồn dân biến lý tưởng thành hiện
thực.

Và tơi xin mượn lời của Giáo sư Trần Văn Giàu tâm sự về Bác để kết thúc bài viết “Cụ Tôn không
phải là một nhà lý luận mà là người tiên phong cách mạng, người mà cả cuộc đời dành cho giải
phóng giai cấp cơng nhân và giải phóng dân tộc… Cụ Tôn khác với những nhân vật khác ở chỗ,
Cụ không có một tác phẩm nào cả, có chăng chỉ là chúng ta ghi lại những điều cụ nói thơi. Tuy
nhiên, theo tơi, có thể nói tác phẩm hay nhất của Cụ chính là cuộc đời của Cụ. Cụ Tơn là một
người hành động, một người có lẽ khơng có ý gì muốn để lại cho đời sau bằng các tác phẩm của
mình. Nhưng thực tế Người đã để lại cho đời sau chúng ta rất nhiều “tác phẩm” bằng hành động,
bằng việc làm và những lời nói. Đó là những tác phẩm hay hơn nhiều những bài viết”.


Một kỷ niệm khơng thể qn về đồng chí Tơn Đức Thắng

Nguyên Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Sự thật.PHẠM THÀNH*
Là một vinh dự lớn đối với tơi, khi được viết về một đồng chí cộng sản lão thành vơ cùng kính
mến hơn tơi gần nửa đời người. Nhưng viết gì đây? Tơi biết rất ít, tơi muốn nói trực tiếp biết rất ít
về cuộc đời hoạt động cách mạng vĩ đại và vô cùng phong phú của đồng chí. Đắn đo, suy nghĩ
kỹ, cuối cùng tơi quyết định viết về một hồi ký bình dị nhưng lại nói lên những điều hết sức có ý
nghĩa lịch sử khơng chỉ của đồng chí Tơn Đức Thắng, nhà cách mạng kiên cường được mọi người
tôn trọng và ngưỡng mộ, mà còn là của một thời điểm lớn lao của dân tộc ta, thời điểm một hai
năm tiếp liền sau Cách mạng Tháng Tám vĩ đại.
Trước hết tôi muốn nói đơi điều hiểu biết của tơi về đồng chí Tơn Đức Thắng. Đồng chí có một
lịch sử oanh liệt mà chỉ sau Cách mạng Tháng Tám tôi mới được biết. Kể ra bọn đế quốc thực dân
Pháp độc ác và quỷ quyệt cũng đã thật ranh ma trong việc bưng bít những nguồn tin rung
chuyển thế giới nhưng đặc biệt vơ cùng có hại cho chúng. Đồng chí Tơn Đức Thắng là một người
cơng nhân bình thường đã từng làm việc vào đầu thế kỷ trước ở hãng đóng tàu Ba Son (Sài Gòn
cũ) của thực dân Pháp. Đồng chí bị thực dân Pháp đưa đi lính trong thời kỳ cuối thập kỷ 2 thế kỷ
trước và bị chủ nghĩa tư bản Pháp, một thành viên trong liên minh 14 nước tư bản chủ nghĩa thế
giới, buộc đồng chí và những người cùng cảnh ngộ đi đánh Nhà nước Nga vơ sản đầu tiên trên
thế giới.
Lúc đó đồng chí là một thuỷ thủ trên một chiến hạm Pháp đang hùng hổ đi tới Biển Đen để hòng

cùng bọn phản cách mạng các nước tư bản chủ nghĩa khác bóp chết Nhà nước vô sản Nga non
trẻ. Nhưng chủ nghĩa đế quốc Pháp cùng bè lũ đã hoàn toàn sai lầm và thất bại. Các thuỷ thủ
trên tàu chiến Pháp đã nổi dậy chống lại cuộc chiến tranh phi nghĩa đó. Và cùng với tồn thể
thuỷ thủ trên tàu chiến France, đồng chí Tơn Đức Thắng đã hiên ngang đứng lên phản chiến
quyết liệt. Đồng chí nhận nhiệm vụ vinh quang của một chiến sĩ cách mạng anh dũng treo ngọn
cờ phản chiến lên cột buồm tàu chiến để chống lại cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn mà bọn
đế quốc Pháp buộc những người lao động và công nhân bị áp bức phải bắn vào nhân dân lao
động và công nhân Nga vừa mới giành được thắng lợi oanh liệt trong Cách mạng Tháng Mười
Nga vĩ đại - Người chiến sĩ quốc tế Việt Nam Tôn Đức Thắng đã nổi bật lên trong nhiều người
chiến sĩ quốc tế khác như thế đó.


Với những thành tích cách mạng mà đồng chí Tơn Đức Thắng đã cống hiến cho cách mạng Việt
Nam và cả cho Cách mạng Tháng Mười Nga, đồng chí đã bị đế quốc Pháp bắt giam và đày ra
Côn Đảo làm một tù nhân khổ sai của chúng. Điều này tơi cũng chỉ biết được ít nhiều qua một
vài câu chuyện kể của đồng chí Lê Duẩn vào những phút giải lao khi được làm việc với đồng chí
Tổng Bí thư của Đảng trước đây. Theo đồng chí Lê Duẩn thì những người tù chính trị, nhất là
những chiến sĩ cộng sản bị đày ra Côn Đảo là những người bị đế quốc Pháp kết án rất nặng;
đồng chí Tơn Đức Thắng là một trong số những người như vậy. Cơng việc khổ sai mà đồng chí
thường phải làm là hàng ngày nai lưng và đổ mồ hôi ra từ sáng đến tối để kéo chiếc cối xay lúa
nặng nề hàng chục tạ ở Hầm xay lúa. Không cần phải nói, ai cũng biết đây là một hình phạt dã
man, thâm độc mà đồng chí Tơn Đức Thắng phải gánh chịu, dưới sự giám sát tàn bạo của bọn cai
ngục luôn luôn lăm lăm trên tay những chiếc dùi cui và roi sắt. Nhưng đồng chí Tơn Đức Thắng
đã khơn khéo giáo dục và vận động các bạn tù ở Hầm xay lúa buộc kẻ thù phải giảm bớt những
chế độ hà khắc ở đấy.
Thế rồi Cách mạng Tháng Tám ở trên đất liền thành công rực rỡ sau bao nhiêu năm vận động
cách mạng gian khổ, liên tục và tài ba của Bác Hồ vĩ đại và hàng vạn chiến sĩ cộng sản trong đó
có cả những người đã và đang bị cầm tù như đồng chí Tơn Đức Thắng. Cả một dân tộc trên 20
triệu người đã đồng loạt nổi dậy ở khắp cả ba miền Bắc, Trung, Nam dưới lá cờ vinh quang của
Đảng Cộng sản, phá tan xiềng xích nơ lệ gần một trăm năm của đế quốc Pháp rồi đến phát xít

Nhật và trở thành một dân tộc hoàn toàn độc lập và tự do. Hưởng ứng thời cơ cách mạng có một
khơng hai ấy, Đảng bộ nhà tù Côn Đảo cũng đã lãnh đạo thành cơng cuộc khởi nghĩa ở trên đảo,
giải phóng hồn tồn một vạn chiến sĩ cách mạng trước đấy cịn bị chủ nghĩa đế quốc kìm kẹp.
Lý tưởng độc lập tự do mà mỗi người tù nung nấu hàng bao nhiêu năm được thực hiện. Đồng chí
Tơn Đức Thắng cũng được giải phóng.
Ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành cơng trong cả nước, Bác Hồ, Đảng và Chính phủ
của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà mới ra đời đã cho tàu, thuyền ra Côn Đảo đưa anh chị em
trước bị giam cầm là tù nhân sau đã trở thành những công dân, chủ nhân của một nước độc lập
trở về đất liền, cùng với các đồng chí, đồng bào cả nước tham gia sự nghiệp bảo vệ và xây dựng
Tổ quốc Việt Nam yêu quý của mình. Một số đồng chí khác, ở lại miền Nam cơng tác. Một số
đồng chí khác, trong đó có đồng chí Tơn Đức Thắng được Bác Hồ, Trung ương Đảng và Chính phủ
điều động ra miền Bắc để cùng các đồng chí ở ngồi đó làm việc cho Đảng và Chính phủ trong
phạm vi cả nước.
Đến đây một trang sử mới tuy âm thầm và lặng lẽ nhưng lại vô cùng cấp thiết và quan trọng đã
đến với đồng chí Tơn Đức Thắng. Sau Cách mạng Tháng Tám chẳng bao lâu, đất nước ta vừa mới
được giải phóng đã phải đương đầu với vơ vàn thử thách và khó khăn. Chẳng có câu nói nào diễn
tả được tình hình này một cách sâu sắc và đúng đắn hơn câu nói mà mọi người đã từng sống vào
những thời điểm gay cấn lúc ấy đều cảm nhận được: đất nước ta ở trong tình thế "ngàn cân treo
sợi tóc". Ở miền Bắc hàng chục vạn quân Tưởng lấy danh nghĩa đồng minh kéo vào giải giáp vũ
khí Nhật đã kéo theo chúng một lũ lâu la Việt quốc, Việt cách hòng nhằm lật đổ chính quyền
nhân dân vừa mới thành lập do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Ở miền Nam, quân đội Pháp nấp sau
quân đội Anh cũng đã đánh chiếm Sài Gòn vào ngày 23 tháng 9 năm 1945, rồi đánh lan dần ra
các tỉnh xung quanh. Thế là cuộc kháng chiến của nhân dân đã bắt đầu ở miền Nam sau hơn
một tháng. Cách mạng Tháng Tám thành công trong cả nước. Câu nói quen thuộc của mọi người
"miền Nam đi trước về sau” chính là có nguồn gốc từ đó.
Hồi ký chủ yếu về đồng chí Tơn Đức Thắng mà tôi trân trọng ghi lại ở đây, với các tài liệu khá
phong phú và cụ thể mà tôi biết được đã thực sự chứng kiến bắt đầu từ đây và diễn ra trong hơn
một năm đầy sóng gió của đất nước ta sau Cách mạng Tháng Tám. Hồi ký này cũng chỉ ghi lại
một trong vô vàn sự kiện tưởng như bình thường nhưng lại hết sức điển hình trong thời điểm lúc
ấy. Bởi lẽ hồi đó tồn thể nhân dân Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam đều đã làm những

công việc tương tự như vậy, những công việc đã góp gió thành bão và từng bước tạo nên những
thắng lợi huy hoàng của cách mạng Việt Nam sau này. Với tính cách như vậy, hồi ký này mong
gợi lại cho lớp lớp sau này hiểu được phần nào công việc của cha anh khi trước. Nhân vật trung
tâm của hồi ký này chính là đồng chí Tơn Đức Thắng vô vàn yêu quý của chúng ta.
Trong những năm 1945 - 1946, sau Cách mạng Tháng Tám, đất nước ta, một đất nước hoàn toàn
kiệt quệ qua gần 100 năm thống trị của đế quốc, đã trở về tay với nhân dân ta dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam là một kho tàng trống rỗng. Mọi thứ đều thiếu thốn hoặc ở vào
trạng thái nguy kịch. Nhân dân Việt Nam với tư thế hiên ngang của người chiến thắng, sẵn sàng


đứng lên bảo vệ Tổ quốc,nhưng trong tay khơng có một tấc sắt. Kho bạc trống rỗng, ngân hàng
vẫn trong tay tư bản nước ngoài; ruộng đồng nhiều nơi hoang hoá; lụt lội, hạn hán đe doạ mọi
miền đất nước; cả một dân tộc vừa trải qua một nạn nói khủng khiếp cướp đi 2 triệu sinh mạng
con người, nạn đói đi kèm với nạn mù chữ. Chính trong tình hình đó mà cả nước ta tính cực
hưởng ứng 3 khẩu hiệu hết sức sáng tỏ và kịp thời của Bác Hồ và của Đảng; diệt giặc ngoại xâm;
diệt giặc đói, diệt giặc dốt.
Trong tình hình đó, để tiến hành cuộc kháng chiến thần thánh bắt đầu ở miền Nam, thì cả nước
ta thực sự đã gồng hết sức mình với tinh thần quyết sống mái với kẻ thù, quyết giữ vững từng
tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Câu nói nổi tiếng của Bác Hồ: “miền Nam là máu của máu Việt
Nam, là thịt của thịt Việt Nam" đã nói lên quyết tâm của nhân dân ta trong cuộc đọ sức với kẻ
thù đang âm mưu chiếm lại miền Nam để từ đó đánh chiếm lại cả nước ta. Lúc đó, những đồn
tàu rầm rập suốt ngày đêm đi từ miền Bắc vào miền Nam đã chuyển hàng vạn thanh niên yêu
quý của miền Bắc vào sát cánh cùng đồng bào miền Nam ruột thịt của mình để chiến đấu chống
kẻ thù chung là thực dân Pháp. Tôi nhớ rất rõ những đoàn tàu này đã đưa những đoàn quân của
ta hiên ngang ra mặt trận với khí thế chiến đấu hừng hực "cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh", vì
trong đó có người thân của tơi đang độ trên 20 tuổi vui vẻ xung phong vào Nam chiến đấu, rồi
về sau hy sinh ở đó trong niềm thương tiếc của cô bác miền Nam.
Bộ phận công tác miền Nam lúc đó đã được lập ra và gọi là Phịng miền Nam do đồng chí Tơn
Đức Thắng phụ trách cùng với chị Nguyễn Thị Sóc (gọi là chị Hai Sóc) có nhiệm vụ theo dõi cuộc
chiến đấu của nhân dân ta ở miền Nam, giúp Đảng và Chính phủ hoạch định chiến lược, sách

lược và chính sách kháng chiến ở miền Nam. Miền Bắc khơng chỉ có nhiệm vụ cung cấp nhân lực
cho quân dân ta ở miền Nam mà cịn có nhiệm vụ cung cấp vũ khí, đạn dược và của cải cho
miền Nam. Nhưng sau Cách mạng Tháng Tám, với một nền kinh tế kiệt quệ của một đất nước
vừa mới được giải phóng như đã nói ở trên, Đảng và Chính phủ ta lấy tiền bạc, của cải đâu ra để
làm việc đó? Theo sáng kiến của Bác Hồ, của Đảng và Chính phủ ta, Tuần lễ vàng đã được phát
động trong cả nước từ Bắc chí Nam. Nói đến Tuần lễ vàng, giờ đây khơng khỏi có người ngỡ
ngàng và sửng sốt. Vàng là thứ của cải quý báu của nhân dân, ai cũng cất giữ cẩn thận và kín
đáo, vậy làm thế nào để lấy ra được? Anh Trường Chinh nói đại ý rằng, tiền của ta in ra và phát
hành để chi tiêu trong nước, nhân dân ta sẽ ủng hộ, khơng có vàng bảo đảm nhưng có sự tín
nhiệm của nhân dân thì ta vẫn có thể in tiền và phát hành tiền. Đồng bạc Cụ Hồ được in ra trên
cơ sở lấy sự tín nhiệm của nhân dân đối với cách mạng làm bảo đảm thay cho sự đảm bảo của
vàng. Nhưng chúng ta cịn phải có quan hệ kinh tế với các nước khác, phải mua sắm máy móc,
súng đạn. Vậy khơng thể thiếu vàng. Chính uy tín của cách mạng, lòng yêu nước của nhân dân
đối với Đảng là nguồn lực tạo nên dự trữ vàng cho đất nước. Thế là Tuần lễ vàng do Bác Hồ,
Đảng và Chính phủ phát động đã đem lại một kết quả kỳ diệu là thu hút được vàng dưới mọi
hình thức từ trong nhân dân về kho quỹ của Nhà nước. Người ta qun góp cho Chính phủ hoa
tai vàng, nhẫn vàng, vòng tay, vòng cổ vàng, cả những thỏi vàng, những lá vàng bao lâu nay
nằm sâu dưới đáy hòm của nhà này nhà khác. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị về việc sử dụng số
vàng đó như sau: "Vàng, bạc được nhân dân ủng hộ, chú phải hết sức tiết kiệm, sử dụng cho
đúng. Chú báo cáo với Thường vụ trích một phần cho người đem ra nước ngồi mua một số máy
vơ tuyến điện phân cho các khu để bảo đảm liên lạc giữa Trung ương với các khu và chuẩn bị
kháng chiến, mua phụ tùng máy móc tốt cho Đài tiếng nói Việt Nam. Cịn lại dùng một phần đúc
thành thỏi gửi cho Nam Bộ kháng chiến" 2. Chú ở đây là anh Nguyễn Lương Bằng lúc đó phụ trách
tài chính của Đảng. Về sau một số vàng đã được đúc thành thỏi để gửi nhiều lần vào Nam như
Bác Hồ đã căn dặn. Công việc đúc vàng chính là do đồng chí Tơn Đức Thắng phụ trách.
Đồng chí Tơn Đức Thắng cùng chị Nguyễn Thị Sóc (tức Hai Sóc) và các nhân viên tuỳ tùng gồm
có đồng chí Khuất Duy Tri, thư ký riêng của đồng chí, ơng Nguyễn Văn Lựu, một người thợ đúc
vàng đã hoạt động ngày đêm không mệt mỏi suốt trong thời gian Tuần lễ vàng và sau đó để
phục vụ cho cuộc chiến đấu của miền Nam, đặc biệt là để sản xuất ra các thỏi vàng gửi cho Nam
Bộ kháng chiến theo chỉ thị của Bác Hồ. Hồi ký do gia đình họ Khuất viết cịn cho biết trong số

những người đi theo đồn của đồng chí Tơn Đức Thắng cịn có anh Minh một người thợ phụ giúp
ơng Nguyễn Văn Lựu quạt, thổi lò than và đổ vàng đã được nung chảy trong các lọ gốm vào
những khuôn dài làm bằng gang. Ngồi ra cịn có ba người con của đồng chí Tơn Đức Thắng là
các cơ Tơn Thị Hạnh, Tôn Thị Nghiêm và Tôn Thị Tuyết Dung (con ni).
Trụ sở cơng tác chính của đồng chí Tơn Đức Thắng đóng ở Hà Nội. Trung ương Đảng, mà trực tiếp
là đồng chí Trường Chinh đã ln ln quan tâm liên hệ với đồng chí Tơn Đức Thắng để chăm lo
công việc đúc và chuyển vàng vào Nam Bộ.


Suốt trong thời gian vận động Tuần lễ vàng, đoàn của đồng chí Tơn Đức Thắng, chủ yếu là đồng
chí Tơn, đồng chí Hai Sóc và đồng chí Khuất Duy Tri đã thường xuyên tiến hành những chuyến đi
về các tỉnh lân cận Hà Nội, đặc biệt là từ Hà Nội lên Sơn Tây để trực tiếp thực hiện cuộc vận
động này. Trên hành trình Hà Nội - Sơn Tây tại làng Thuần Mỹ, gia đình cụ Khuất Duy Huyên cùng
vợ là cụ Hà Thị Quyến với người con cả là Khuất Duy Địch đã có vinh dự được làm một trạm
trung chuyển, nói đúng hơn là một trụ sở phụ của cơ quan đồng chí Tơn Đức Thắng. Đến đây tơi
cũng xin mở một dấu ngoặc để nói vài điểm về gia đình này, khơng phải chủ yếu để nói đến
cơng lao của gia đình mà để nói rõ sự sáng suốt của đồng chí Tơn Đức Thắng khi chọn gia đình
này làm trụ sở phụ cho mình giữa Hà Nội và Sơn Tây. Đây là một gia đình có thể nói hầu như
tồn gia làm cách mạng, trừ một số em bé. Khuất Duy Tiễn (tức Minh Tranh) là đảng viên năm
1937 của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khuất Duy Tri và Khuất Duy Tiễn đều là cán bộ cách mạng
trước năm 1945. Bên cạnh gia đình cụ Khuất Duy Hun là gia đình ơng Khuất Duy Tiến, một
người thân, một đảng viên cộng sản kỳ cựu, về sau có thời gian làm Chủ tịch Hà Nội, cùng với
em là Khuất Thị Thuân, một cán bộ lão thành cách mạng hoạt động ngay từ thời kỳ Pháp thuộc,
và Khuất Thị Bảy, vợ đồng chí Hồng Quốc Việt cũng vậy. Từ hai gia đình họ Khuất này, tư tưởng
cách mạng đã sớm toả ra trong cả làng, làm cho làng này nổi tiếng là một làng nông dân cách
mạng, có một đình làng hiện nay là một nhà truyền thống cách mạng. Như vậy, trụ sở phụ mà
đồng chí Tôn Đức Thắng chọn ở nhà cụ Khuất Duy Huyên thuộc làng Thuần Mỹ là hết sức đúng
đắn và sáng suốt. Về sau, trong thời kỳ Pháp tạm chiếm, gia đình họ Khuất này với lớp con cháu
kế tục vẫn tiếp tục hoạt động bí mật đào hầm bí mật, che giấu cán bộ, bộ đội, tiếp tế lương thực,
thuốc men và đóng thuế nơng nghiệp cho kháng chiến. Phải nói rằng ở nơng thơn Việt Nam

khơng ít những làng xã và gia đình cách mạng giống như làng này, gia đình này. Nhưng đây là
một làng, một gia đình thực sự điển hình và có vị trí trung chuyển thuận lợi cho đồng chí Tơn Đức
Thắng.
Từ Hà Nội lên Sơn Tây đường đi dài khoảng 40 - 50 kilômét. Cả đồn đồng chí Tơn Đức Thắng
gồm chủ yếu ba người là đồng chí Tơn Đức Thắng, đồng chí Hai Sóc và đồng chí Khuất Duy Tri
ln ln phải đi xe đạp cũ kỹ. Sau khi mới giành được chính quyền thì bất cứ cán bộ nào, kể cả
từ Trung ương cũng đi bộ hay đi xe đạp chứ lấy đâu ra ôtô, xăng dầu để đi công tác, cho dù là
cơng tác khẩn cấp. Cịn đi ơtơ khách của tư nhân thì có nhiều khó khăn, nhất là phải giữ bí mật.
Theo lời kể của đồng chí Khuất Duy Tri hiện đã 81 tuổi thì chính trong những chuyến đi xe đạp
như vậy mới thấy hết tay nghề của đồng chí cơng nhân Ba Son Tơn Đức Thắng, và quan hệ gắn
bó anh em của đồng chí cán bộ lãnh đạo đối với các nhân viên dưới quyền mình. Đồng chí Tơn
Đức Thắng tuy xa nghề đã lâu nhưng vẫn không quên những thao tác điêu luyện của một người
công nhân lành nghề. Trên đường đi, xe nào bị hỏng hóc gì đều qua bàn tay sửa chữa tài ba của
đồng chí với túi đồ nghề giản dị và cần thiết luôn luôn mang theo xe. Một cái ốc vặn khơng chặt,
một cái nan hoa gãy, xích líp trục trặc, lốp hay ruột xe thủng v.v. đều được đồng chí nhanh
chóng sửa chữa lại như mới. Sau mấy phút dừng xe để sửa chữa, xe càng tốt hơn và đồn người
lại tiếp tục đi cơng tác, quan hệ trong đoàn gần gũi, thân mật và giản dị. Nhưng trong cơng tác,
đồng chí Tơn Đức Thắng lại rất ngun tắc. Thuở ấy, ngay sau ngày cách mạng thành công, mọi
công tác cịn phải rất bí mật. Đồng chí Khuất Duy Tri là thư ký riêng rất tin cậy của đồng chí Tơn
Đức Thắng, thế mà khơng bao giờ đồng chí biết trước được kế hoạch cơng tác của đồng chí Tôn
Đức Thắng. Phải đến tận nơi và tận giờ tiến hành cơng tác, đồng chí Khuất Duy Tri mới được
đồng chí Tơn Đức Thắng thơng báo cho biết.
Những cuộc hành trình thường xuyên qua lại giữa Hà Nội và Sơn Tây được thực hiện như vậy để
vận động cho Tuần lễ vàng luôn luôn đạt kết quả mong muốn. Người miền Nam chính cống nói
chuyện tâm tình với bà con miền Bắc về tình hình kháng chiến ở Nam Bộ thì đúng là người thật
việc thật. Để xử lý số vàng quyên được trong các chuyến đi vận động, đồng chí Tơn Đức Thắng
cùng chị Hai Sóc đều đưa vào nhà ông Khuất Duy Huyên cất giữ và chế tác. Ở đây có một chi
tiết mà đồng chí Khuất Duy Tri yêu cầu đính chính. Số là ở phố Gạch cách làng Thuần Mỹ 1
kilơmét lúc đó khơng hề có một tiệm vàng nào cả, do đó cũng khơng có một thợ kim hoàn nào
cả. Việc đúc vàng thành thỏi hồn tồn được làm một cách hết sức bí mật tại nhà ơng Khuất Duy

Hun. Trên các thỏi vàng có khắc chữ Kim Nguyên. Ông Nguyễn Văn Lựu do chị Hai Sóc tuyển
về chuyên làm việc đó với một người thợ phụ tên là Minh như đã nói ở trên. Số vàng đúc thành
thỏi trong những dụng cụ thô sơ và được cất giấu dưới một cái hầm kín ngay dưới giường nằm
của chị Hai Sóc, sau đó được đem mua vũ khí hay chuyển vào Nam.
Trong thời gian đồn của đồng chí Tơn Đức Thắng ở làng Thuần Mỹ, hai ơng bà Khuất Duy Hun
đã nhường cho đồng chí Tơn Đức Thắng, chị Hai Sóc cùng những người tuỳ tùng ở những gian
phòng tốt nhất với những tiện nghi có thể có được lúc đó ở nơng thơn. Đồng chí Tơn Đức Thắng ở


gian ngồi với đồng chí Khuất Duy Tri. Chị Hai Sóc là một phụ nữ được bố trí ở buồng trong với
một cái hầm cất giấu vàng bạc như đã nói ở trên. Mùa hè khơng có gì đáng ngại lắm, nhưng mùa
đơng thì thời tiết quả thật là khắc nghiệt đối với những người đã từng quen sống từ nhỏ ở miền
Nam. Thường đồng chí Tơn Đức Thắng cùng đồng chí Khuất Duy Tri nằm chung một giường, cùng
đắp chung một chiếc chăn chiên. Chị Hai Sóc ở trong buồng cũng đắp một chiếc chăn chiên như
thế. Với cái rét miền Bắc có khi xuống dưới 10 độ thì rõ ràng đắp chăn chiên là không đủ ấm, dù
rằng đó đã là tiện nghi khá tốt đối với những người đã quen với thời tiết khí hậu miền Bắc. Vì
vậy, đồng chí Tơn Đức Thắng và chị Hai Sóc phải lấy ý chí, tinh thần để vượt qua mọi khó khăn
gian khổ về vật chất. Ngồi ra, tuy là cán bộ lãnh đạo, các đồng chí vẫn hồn tồn sinh hoạt như
người nông dân ở làng Thuần Mỹ. Những lúc đi xa về mồ hôi nhễ nhại, hoặc bị mưa gió bất ngờ
ập đến làm áo quần ướt sũng, đồng chí Tơn Đức Thắng vẫn cùng mọi người tắm nước giếng bên
cạnh nhà trong những buồng tắm đơn sơ, lợp bằng lá mía, áo quần thay ra thì tự giặt hoặc có sự
giúp đỡ của đồng chí Khuất Duy Tri và người trong nhà. Các bữa ăn như vợ tơi 3 thường kể lại thì
rất đạm bạc, gia đình có gì ăn nấy, từ dưa cà, mắm muối, những bát canh loãng, những bữa cơm
độn khoai sắn. Thỉnh thoảng bữa ăn có chút cá thịt, tơm, cua bắt ở đồng đã là sang. Đối với đồng
chí Tơn Đức Thắng, một người cơng nhân chính cống sống trong hồn cảnh ngay sau Cách mạng
Tháng Tám ở nơng thơn thì đó là những điều kiện sinh hoạt bình thường hàng ngày, khơng có gì
phải đắn đo. Cuộc sống trong mấy năm 1946 - 1947 của một người sau này là Chủ tịch nước
cùng làm việc bên cạnh Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ là như vậy đấy.
Đồng chí Tơn Đức Thắng đã sống chan hồ với gia đình ông Khuất Duy Huyên một thời gian khá
dài trong sự đùm bọc thương yêu của những người nông dân ở nông thôn: cùng ăn, cùng ở, cùng

làm việc với gia đình, coi người trong gia đình như người nhà của chính mình. Đồng chí và chị Hai
Sóc đặc biệt q mến vợ tơi, lúc đó mới trạc 15, 16 và những khi đi vắng thường coi vợ tơi là
“tay hịm chìa khố" của mình. Tấm lịng của đồng chí Tơn Đức Thắng cũng như của chị Hai Sóc
đối với gia đình ơng Khuất Duy Hun thật vơ cùng sâu sắc và cảm động. Sau này khi đồng chí
Tơn Đức Thắng đã trở thành Chủ tịch nước, đồng chí vẫn khơng quên thời gian chung sống trong
gia đình ấy. Bức ảnh hết sức giản dị của đồng chí gửi về tặng gia đình cùng những lời đề tặng
của đồng chí đã nói lên điều đó. Tơi xin phép được in lại tấm ảnh ấy cùng với những lời đề tặng
ấy để bạn đọc có thể hình dung được tâm hồn cao quý của một con người vĩ đại luôn luôn gần
gũi quần chúng. Tấm ảnh và những lời đề tặng ấy đã được các thế hệ ông, cha, con cháu nhà họ
Khuất trịnh trọng treo lên nơi trang trọng ở trong nhà. Càng nhìn tấm ảnh tơi càng có cảm nghĩ
đây là một ơng tiên phúc hậu của gia đình, dù tôi luôn luôn là một người vô thần. Tôi đã nhiều
lần về thăm nhà, nơi ở ngày xưa của Bác Tơn với biết bao dấu tích cịn lại cách đây trên 50 năm:
đây là dấu hầm cất giữ các thỏi vàng bạc, đây là những dụng cụ thô sơ dùng để đúc vàng, đây là
một căn hầm bí mật nằm dưới rặng tre nay đã rất xanh tốt. Biết bao kỷ niệm vô cùng sâu sắc về
một con người, về một người chiến sĩ cộng sản chân chính.
Tơi được biết cán bộ Viện Bảo tàng Tôn Đức Thắng ở Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiều lần ra đây
thu thập dấu tích, di vật của cố Chủ tịch Tơn Đức Thắng 4 và cũng đã nhiều lần đến nhà đồng chí
Khuất Duy Tri hiện đã vào ở tại Thành phố Hồ Chí Minh để hỏi kỹ về những kỷ niệm sâu sắc mà
cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng để lại trong thời gian ở nhà cụ Khuất Duy Huyên. Các cán bộ của Viện
đã đào được mấy chục lọ sứ, 1 chum đựng a xít và bễ thổi lửa. Bản hồi ký này tôi viết ra đây
không chỉ là một bài viết của riêng cá nhân tơi, mà có thể nói là một hồi ký tập thể của nhiều
người biết về Bác Tơn kính mến của chúng ta, với rất nhiều chứng tích hùng hồn cịn có thể nhận
biết được một cách thực tế và cụ thể, dù rằng thời gian 1946 - 1947 hồi Bác Tôn sống và làm
việc ở nhà cụ Khuất Duy Huyên thuộc làng Thuần Mỹ đã lùi rất xa so với thời điểm hiện nay. Qua
bản hồi ký này, bản thân tôi cũng vô cùng xúc động, với nhiều bài học quý báu mà tự tôi rút ra
được, trên mấy mặt sau đây:
1. Cuộc cách mạng Việt Nam của chúng ta có một ý nghĩa quốc tế thật sâu sắc ngay từ khi Bác
Hồ vô vàn kính u của chúng ta ra đi tìm đường cứu nước, rồi gặp được ánh sáng của chủ nghĩa
Mác - Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga soi sáng. Tính chất quốc tế ấy hồ quyện với chủ
nghĩa u nước chân chính của con người Việt Nam khơng chỉ dừng lại ở lý luận và đường lối

cách mạng thực tiễn của vị lãnh tụ vĩ đại của chúng ta mà còn thể hiện song hành động thực tế,
trước hết là của Bác Hồ và noi gương Bác Hồ trong hành động thực tế, của đảng viên mà một
người tiêu biểu nổi bật là đồng chí Tơn Đức Thắng kính yêu và sau đó là nhiều người khác như
những chiến sĩ Việt Nam chiến đấu bảo vệ Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại và biết bao nhiêu
người cộng sản Việt Nam chiến đấu trong Hồng quân Trung Quốc trong đó có cả những vị lưỡng
quốc tướng quân như đồng chí Nguyễn Sơn. Thật cảm động biết bao khi tơi viết lại hồi ký này kể
về một con người mang tinh thần chủ nghĩa quốc tế trong sáng của Bác Tôn.


2. Nước Việt Nam thân yêu của chúng ta cách đây hơn 50 năm cịn đang ở trong tình trạng
"ngàn cân treo sợi tóc", với nhưng hoạt động anh dũng, khơng một mỏi nhưng cịn rất thủ cơng
thơ sơ như hoạt động của người cộng sản chân chính Tơn Đức thắng thì nay đã trở thành một
nước Việt Nam khơng ngừng lớn mạnh tiến dần lên hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ
nghĩa để sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Bác Hồ từng tiên đoán. Quả thật đó là
một kỳ tích trong lịch sử nhân loại. Đó là q trình phát triển theo đúng quy luật của một cuộc
cách mạng nhân dân mà nòng cốt là Đảng của giai cấp công nhân, của Bác Hồ vĩ đại, và của
những người cộng sản chân chính như đồng chí Tơn Đức Thắng. Quả thật mỗi người Việt Nam
đều có thể tự hào về kỳ tích lịch sử hiếm có này.
3. Một nước Việt Nam thống nhất với hai miền Nam - Bắc xum họp một nhà như Bác Hồ nói, một
chân lý khơng bao giờ thay đổi. Hồi ký về đồng chí Tơn Đức Thắng nói lên thật cụ thể, rõ ràng
chân lý sâu sắc đó. Để bảo vệ miền Nam, đưa miền Nam trở lại trong lòng cả nước, miền Bắc sẵn
sàng hiến dâng cả máu và vàng trong khi miền Nam đi trước về sau luôn luôn chiến đấu anh
dũng, sát cánh với anh em miền Bắc ruột thịt của mình. Đó là sức mạnh của cách mạng Việt
Nam. Đó là một nguyên nhân thắng lợi của Việt Nam trong mọi cuộc đụng đầu lịch sử với kẻ thù
hung hãn và xảo quyệt hòng đè bẹp một dân tộc với những trang bị vũ khí nhiều gấp bội so với
chúng ta. Điều này, kẻ thù của chúng ta đã không sao hiểu nổi, nhưng bạn bè của chúng ta thì
vơ cùng cảm phục và tích cực ủng hộ, vui mừng khích lệ, cổ vũ chúng ta.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo chân chính duy nhất của cách mạng Việt Nam.
Nguồn sức mạnh của Đảng là sự liên minh chiến đấu của giai cấp công nhân và giai cấp nông
dân Việt Nam. Kỷ niệm về đồng chí Tơn Đức Thắng có sự gắn bó điển hình và sâu sắc giữa giai

cấp cơng nhân và giai cấp nông dân mà Đảng đã dốc lịng xây dựng kể từ khi Bác Hồ tìm ra con
đường cứu nước và giải phóng dân tộc, trong đó liên minh cơng - nơng là một vấn đề có tính
ngun tắc. Bán Tơn là một hình tượng tiêu biểu điển hình của giai cấp cơng nhân Việt Nam,
nơng dân làng Thuần Mỹ là tiêu biểu của giai cấp nông dân Việt Nam. Liên minh công - nông
cũng là một nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng Việt Nam mà mọi thế hệ người Việt Nam
luôn luôn ghi nhớ.
Hồi ký với những cảm nghĩ trên đây của tôi, một người đã từng sống những giờ phút trước và sau
Cách mạng Tháng Tám, và cũng góp phần tham gia quá trình cách mạng này, là những dịng hồi
ký và cảm nghĩ chân thành. Nó để lại cho tơi một dấu ấn không bao giờ phai mờ về sự nghiệp
cách mạng của dân tộc Việt Nam ta cũng như về những con người cách mạng chân chính như
Bác Tơn vơ cùng quý mến của chúng ta.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×