Tải bản đầy đủ (.pdf) (26 trang)

BTL ĐẶC ĐIỂM CỦA VÙNG VĂN HÓA CHÂU THỔ BẮC BỘ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.35 MB, 26 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA VĂN THƯ - LƯU TRỮ

ĐẶC ĐIỂM CỦA VÙNG VĂN HÓA CHÂU THỔ BẮC BỘ
BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN

Học phần: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Mã phách:………………………………….

Hà Nội – 2021

1


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
I. KHƠNG GIAN VĂN HĨA VÙNG
1.1. Vị trí địa lí...............................................................................................4
1.2. Lãnh thổ..................................................................................................4
1.3. Địa hình...................................................................................................5
1.4. Khí hậu....................................................................................................5
1.5. Mơi trường nước.....................................................................................5
II. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ CHỦ THỂ VĂN HÓA CỦA VÙNG
2.1. Lịch sử phát triển.....................................................................................6
2.2. Chủ thể văn hóa.......................................................................................6
2.3. Kinh tế.....................................................................................................7
2.4. Tổ chức Làng, Xã....................................................................................8
III. MỘT SỐ NÉT ĐẶC TRƯNG VÙNG CHÂU THỔ BẮC BỘ
3.1. Các tiểu vùng văn hóa của vùng châu thổ Bắc Bộ..................................9
3.2. Đặc điểm văn hóa vật chất.....................................................................12


3.3. Đặc điểm văn hóa tinh thần...................................................................20
KẾT LUẬN....................................................................................................25
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................26

2


PHẦN MỞ ĐẦU
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá: Giáo sư Phan Ngọc [1]
đưa ra con số thống kê có đến 400 định nghĩa về văn hố. Theo tác giả Trần
Ngọc Thêm [2], “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần
so con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự
tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.”. Và kể từ đó
đến nay, thống kê chưa chính xác nhưng người ta ước tính có đến hàng ngành
định nghĩa về văn hóa.
Bắc Bộ là cái nơi hình thành dân tộc Việt, vì thế, cũng là nơi sinh ra
các nền văn hóa lớn, phát triển nối tiếp lẫn nhau: Văn hóa Đơng Sơn, văn hóa
Đại Việt và văn hóa Việt Nam. Từ trung tâm này, văn hóa Việt lan truyền vào
Trung Bộ rồi Nam Bộ. Sự lan truyền ấy, một mặt chứng tỏ sức sống mãnh liệt
của văn hóa Việt, một mặt chứng tỏ sự sáng tạo của người dân Việt. Văn hố
Bắc Bộ là sự giao hồ giữa thiên nhiên và con người, phát triển dựa trên sự kế
thừa và phát huy bản sắc dân tộc kết hợp tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn
hố khu vực và nhân loại. Trong tư cách ấy, văn hóa châu thổ vùng Bắc Bộ
có những nét đặc trưng của văn hóa Việt, nhưng lại có những nét riêng độc
đáo của vùng. [3, tr.252]

3


PHẦN NỘI DUNG

I. KHƠNG GIAN VĂN HĨA VÙNG
1.1. Vị trí địa lí
Vùng nằm ở phía Bắc đất nước, phía Bắc giáp Vùng văn hóa Việt Bắc,
Phía Nam giáp vùng văn hóa Trung Bộ, phía Tây giáp vùng văn hóa Tây Bắc,
phía Đơng giáp biển Đơng.
Vùng châu thổ Bắc Bộ là tâm điểm của con đường giao lưu quốc tế theo
hai trục chính: Tây - Đơng và Bắc - Nam. Vị trí này khiến cho nó trở thành vị
trí tiền đồn để tiến tới các vùng khác trong nước và Đông Nam Á, là mục tiêu
xâm lược đầu tiên của tất cả bọn xâm lược muốn bành trướng thế lực vào lãnh
thổ Đơng Nam Á. Nhưng cũng chính vị trí địa lí này tạo điều kiện cho cư dân
có thuận lợi về giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
Vùng có vị trí địa chính trị, địa kinh tế rất đặc biệt: Thủ đô Hà Nội - trái
tim của cả nước, là đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm văn hóa
KH-GD... Nó cịn là cái nôi của nền văn minh lúa nước, tạo sự tăng trưởng
kinh tế và giao lưu của các vùng trong nước và quốc tế.
1.2. Lãnh thổ
Đồng bằng Bắc Bộ là vùng đất mang nhiều nét truyền thống của văn hóa
Việt Nam. Đây được coi là cái nơi của Văn hố - Lịch sử dân tộc. Xét về lãnh
thổ vùng này có nhiều ý kiến khác nhau nhưng hầu hết các ý kiến cho rằng
vùng đồng bằng Bắc Bộ là khu vực của ba hệ thống sông lớn: sông Hồng,
sông Thái Bình và sơng Mã. Như vậy thì có thể xác định vùng văn hoá đồng
bằng Bắc Bộ bao gồm: Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Thái
Bình; thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng; phần đồng bằng của các tỉnh
Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An,
4


Hà Tĩnh. Vùng văn hố có những điểm khơng đồng nhất với vùng hành
chính, vùng quân sự… Việc xét Thanh - Nghệ - Tĩnh vào vùng văn hóa đồng
bằng Bắc Bộ là dựa trên những căn cứ về văn hoá và lịch sử.

1.3. Địa hình
Châu thổ Bắc Bộ là địa hình núi xen kẽ đồng bằng hoặc thung lũng, thấp
và bằng phẳng, dốc thoải từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ độ cao 10 – 15m
giảm dần đến độ cao mặt biển. Toàn vùng cũng như trong mỗi vùng, địa hình
cao thấp khơng đều, tại vùng có địa hình cao vẫn có nơi thấp úng như Gia
Lương (Bắc Ninh), có núi Thiên Thai, nhưng vẫn là vùng trũng, như Nam
Định, Hà Nam là vùng thấp nhưng vẫn có núi như Chương Sơn, núi Đọi,
v.v…
1.4. Khí hậu
Vùng Bắc Bộ thật độc đáo, khác hẳn những đồng bằng khác. Đồng bằng
Bắc Bộ có một mùa đơng thực sự với ba tháng có nhiệt độ trung bình dưới 18
độ, do đó mà có dạng khí hậu bốn mùa với mỗi mùa tương đối rõ nét, khiến
vùng này cấy được vụ lúa ít hơn các vùng khác. Hơn nữa, khí hậu vùng này
lại rất thất thường, gió mùa đơng bắc vừa lạnh vừa ẩm, rất khó chịu, gió mùa
hè nóng và ẩm.
1.5. Mơi trường nước
Đồng bằng Bắc Bộ có một mạng lưới sơng ngịi khá dày, khoảng 0,5 –
l,0km/km2, gồm các dịng sơng lớn như sơng Hồng, sơng Thái Bình, sơng
Mã, cùng các mương máng tưới tiêu dày đặc. Do ảnh hưởng của khí hậu gió
mùa với hai mùa khơ và mưa nên thủy chế các dịng sơng, nhất là sơng Hồng
cũng có hai mùa rõ rệt: mùa cạn, dòng chảy nhỏ, nước trong và mùa lũ dòng
chảy lớn, nước đục.

5


Ngoài khơi, thủy triều vịnh Bắc Bộ theo chế độ nhật triều, mỗi ngày có một
lần nước lên và một lần nước xuống. Chính yếu tố nước tạo ra sắc thái riêng
biệt trong tập quán canh tác, cư trú, tâm lí ứng xử cũng như sinh hoạt cộng
đồng của cư dân trong khu vực, tạo nên nền văn minh lúa nước, vừa có cái

chung của văn minh khu vực, vừa có cái riêng độc đáo của mình.
II. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ CHỦ THỂ VĂN HÓA CỦA VÙNG
2.1. Lịch sử phát triển
Dựa vào những điều kiện tự nhiên thuận lợi và các thành tựu kinh tế đạt
được, những cư dân vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã, sông Cả được gọi
chung là cư dân Việt cổ, đã phát huy sức lao động và óc sáng tạo của mình để
đẩy nhanh sự phát triển của xã hội, vượt qua những hạn chế của thời nguyên
thuỷ, đạt đến thời đại văn minh vào các thế kỷ VII-VI TCN. Tồn tại trong
khoảng hơn 5 thế kỷ, nền văn minh đó được mệnh danh là văn minh Văn
Lang - Âu Lạc, tương ứng với 2 quốc gia nối tiếp tồn tại trên đất bắc Việt
Nam đương thời.
2.2. Chủ thể văn hóa
Dựa vào các thành tựu của khảo cổ học, nhân học, chúng ta có thể biết cư
dân nguyên thuỷ sống trên các vùng đồng bằng Bắc Việt Nam đương thời đều
thuộc các chủng tộc Nam Á (Việt - Mường, Môn - Khơ me, Hán – Thái). Với
thời gian, các nhóm tộc người đó ít nhiều hồ lẫn vào nhau, có tiếng nói gần
gũi nhau, pha trộn. Những di chỉ được phát hiện chứng tỏ rằng, bấy giờ các
nhóm cùng sống với nhau hoặc sống gần gũi nhau đã có số lượng khá đơng,
cùng lấy nghề nông trồng lúa nước làm nền kinh tế chủ yếu và cũng có ít
nhiều phong tục tập qn giống nhau.
Trong q trình phát triển, dần dần nhóm Việt Mường phát triển mạnh
hơn các nhóm kia và dần trở thành chủ thể văn hóa chính của vùng. Những

6


giá trị văn hóa của vùng là những sản phẩm từ sự sáng tạo, cần cù của nhóm
Việt Mường, trong đó dân tộc Kinh đóng vai trị cốt lỏi.

Dân tộc Kinh chính là chủ thể văn hóa chính của vùng

Hiện nay, dân số của riêng vùng đồng bằng sông Hồng là 19.577.944
người (thời điểm 1/4/2009), chiếm 22,82% dân số cả nước. Đa số dân số là
người Kinh, một bộ phận nhỏ dân tộc Mường. Nhóm ngơn ngữ chính sử dụng
thuộc nhóm Việt – Mường.
2.3. Kinh tế
Nơng nghiệp lúa nước trên vùng châu thổ các con sông lớn (Hồng, Mã,
Cả, Chu) đã trở thành ngành kinh tế chủ yếu, vừa tạo cơ sở cho định cư lâu
dài, vừa tạo ra thứ lương thực cần thiết hàng ngày của người dân ở đây. Cư
dân ở đồng bằng Bắc Bộ là cư dân sống với nghề trồng lúa nước, làm nông
nghiệp một cách thuần túy. Biển và rừng bao bọc quanh đồng bằng Bắc Bộ
nhưng từ trong tâm thức, người nông dân Việt Bắc Bộ là những cư dân “xa
rừng nhạt biển”.
7


Nói khác đi là, người nơng dân Việt Bắc Bộ là người dân đồng bằng đắp
đê lấn biển trồng lúa, làm muối và đánh cá ở ven biển. Hàng ngàn năm lịch
sử, người nơng dân Việt khơng có việc đánh cá được tổ chức một cách quy
mơ lớn, khơng có những đội tàu thuyền lớn. Nghề khai thác hải sản không
mấy phát triển. Các làng ven biển thực ra chỉ là các làng làm nơng nghiệp, có
đánh cá và làm muối.
Ngược lại, Bắc Bộ là một châu thổ có nhiều sơng ngịi, mương máng, nên
người dân chài trọng về việc khai thác thủy sản. Tận dụng ao, hồ đầm để khai
thác thủy sản là một phương cách được người nông dân rất chú trọng. Đã có
lúc việc khai thác ao hồ thả cá tôm được đưa lên hàng đầu như một câu ngạn
ngữ: nhất canh trì, nhì canh viên, ba canh điền. Bên cạnh nghề nông, việc
trồng rau, trồng cà , trồng cây ăn quả, trồng dâu chăn tằm, nuôi gà, ni lợn,
chó, trâu bị,...cũng rất phát triển.
Trong khi đó, đất đai ở Bắc Bộ không phải là nhiều, dân cư lại đơng. Vì
thế, để tận dụng thời gian nhàn rỗi của vịng quay mùa vụ, người nơng dân đã

làm thêm nghề thủ công. Ở đồng bằng sông Hồng, trước đây, người ta đã
từng đếm được hàng trăm nghề thủ cơng, có một số làng phát triển thành
chun nghiệp với những người thợ có tay nghề cao. Một số nghề đã rất phát
triển, có lịch sử phát triển lâu đời như nghề gốm, nghề dệt, luyện kim, đúc
đồng …ngày càng tạo ra nhiều sản phẩm hơn, phục vụ tốt hơn cho nhu cầu
con người.
Số lượng đồ đồng tăng lên so với nhiều loại dụng cụ như rìu, mũi giáo,
mũi tên, liềm, dao, các nhạc cụ bằng đồng như chiêng trống, tượng đồng... số
lượng đồ gốm cũng phong phú: bát, đĩa, bình, nồi …
2.4. Tổ chức Làng, Xã
Làng là đơn vị xã hội cơ sở của nông thôn Bắc Bộ, tế bào sống của xã hội
Việt. Nó là kết quả của các công xã thị tộc nguyên thủy sang công xã nông
8


thôn. Các vương triều phong kiến đã chụp xuống công xã nơng thơn ấy tổ
chức hành chính của mình và nó trở thành các làng q.
Tiến trình lịch sử đã khiến cho làng Việt Bắc Bộ là một tiểu xã hội trồng
lúa nước, một xã hội của các tiểu nông. Về mặt sở hữu ruộng đất, suốt thời
phong kiến, ruộng công, đất công nhiều là đặc điểm của làng Việt Bắc Bộ.
Làng, xã Bắc Bộ là những làng xã điển hình của của nơng thơn Việt với sự
khép kín rất cao: lũy tre dày, cổng làng đóng mở sáng tối,…
Do vậy, quan hệ giai cấp ở đây nhạt nhòa, chưa phá vỡ tính cộng đồng,
tạo ra một lối sống ngưng đọng của nền kinh tế tư cấp tự túc, một tâm lí bình
qn, ảo tưởng về sự “bằng vai”, “bằng vế” như kiểu câu tục ngữ “giàu thì
cơm ba bữa, khó thì đỏ lửa ba lần”.
Sự gắn bó giữa con người và con người trong cộng đồng làng quê, không
chỉ là quan hệ sở hữu trên đất làng, trên những di sản hữu thể chung như đình
làng, chùa làng v.v…, mà cịn là sự gắn bó các quan hệ về tâm linh, về chuẩn
mực xã hội, đạo đức. Đảm bảo cho những quan hệ này là các hương ước,

khoán ước của làng xã.
Các hương ước, hay khoán ước này là những quy định khá chặt chẽ về
mọi phương diện của làng từ lãnh thổ làng đến sử dụng đất đai, từ quy định
về sản xuất và bảo vệ mơi trư¬ờng đến quy định về tổ chức làng xã, ý thức
cộng đồng làng xã, vì thế trở thành một sức mạnh tinh thần khơng thể phủ
nhận. Nhưng cũng vì thế mà cá nhân, vai trị cá nhân bị coi nhẹ. Chính những
đặc điểm ấy của làng Việt Bắc Bộ sẽ góp phần tạo ra những đặc điểm riêng
của vùng văn hóa Bắc Bộ.
III. MỘT SỐ NÉT ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA CỦA VÙNG
3.1. Các tiểu vùng văn hóa của vùng châu thổ Bắc Bộ
3.1.1. Tiểu vùng duyên hải Đồng bằng sông Hồng
9


Tiểu vùng dun hải khu vực ven biển phía đơng nam của vùng Đồng
bằng Sông Hồng, giáp với vịnh Bắc Bộ, bao gồm địa phận các huyện: Yên
Mô, Yên Khánh, Kim Sơn (Ninh Bình), Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Giao Thủy,
Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường (Nam Định), Vũ Thư, TP Thái Bình,
Kiến Xương, Tiền Hải, Thái Thụy, Đơng Hưng, Quỳnh Phụ (Thái Bình),
Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Kiến Thụy, Đồ Sơn, Cát Bà, An Hải (Hải Phòng). Đây
là phần châu thổ hiện đại phần lớn chỉ cao dưới 1m so với mực nước biển, nơi
thủy triều và nước mặn có thể tràn ngập đất đai nếu khơng có đê ngăn chặn.
Q trình hình thành đồng bằng trong khu vực vẫn đang tiếp diễn nhờ vào
việc bồi tụ phù sa của sông Hồng và các chi lưu chuyển ra biển.
Đặc điểm văn hóa nổi bật nhất của vùng chính là sự phân trộn văn hóa
do cư dân từ các khu vực khác dồn đến và gắn bó chặt chẽ với q trình khai
hoang các vùng bãi triều. Trong đó độc đáo hơn cả là sự phát triển rộng rãi
của đạo Thiên chúa trong khu vực. Trong khi các tiểu vùng khác cúa Đồng
bằng Sơng Hồng, Phật Giáo gần như chiếm vị trí độc tơn trong đời sống tâm
linh của người dân thì ở khu vực duyên hải có sự đan xen giữa Phật Giáo và

Công giáo.
3.1.2. Tiểu vùng trung tâm Đồng bằng sơng Hồng
Có ranh giới phía Tây là Sơng Đáy, phía Đơng tới Hải Phịng, phía Bắc
từ sơng Hồng, sơng Đuống thoải dần về phía dun hải. Châu thổ này được
hình thành bởi sự bồi tụ phù sa của hệ thống sơng Hồng là chính. Người dân
tiểu vùng trung tâm châu thổ, đặc biệt là những người dân Thăng Long - Hà
Nội vốn rất nổi tiếng là thanh lịch về vốn văn hóa tinh thần, về cách ăn mặc
trang nhã, các món ăn chế biến tinh vi, khéo léo.
Người dân ăn mặc giản dị trong kiểu cách, nền nã trong màu sắc, tuy
nhiên không tự nhiên, xô bồ mà thể hiện sự chọn lựa của những người có
trình độ thẩm mỹ cao.
10


Trong ăn uống, người dân ở đây rất sành ăn, tinh tế trong lựa chọn và
chế biến món ăn, khi ăn uống luôn giữ vẻ thanh lịch của người đang thưởng
thức cái ngon, vẻ đẹp chứ không ăn lấy đủ, lấy no. Ở trong tiểu vùng có rất
nhiều những món ăn ngon đã trở thành đặc sản cho các địa phương, vừa là
những món ăn truyền thống của dân tộc, vừa là sản phẩm tiếp thu và đồng
hóa các món ăn ảnh hưởng từ người Trung Quốc, người Châu Âu…
3.1.3. Tiểu khu vực rìa Đồng bằng sơng Hồng
Ranh giới của tiểu vùng có thể giới hạn thuộc địa bàn các huyện giáp
ranh với vùng trung du và miền núi phía Bắc thuộc các tỉnh Vĩnh Phúc (Tam
Đảo, Lập Thạch, Tam Dương, Bình Xuyên), Hà Nội (Thạch Thất, Phúc Thọ,
Ba Vì, Sơn Tây, Quốc Oai, Đơng Anh, Sóc Sơn), Bắc Ninh (Yên Phong, Quế
Võ, Tiên Du, Từ Sơn), Hải Dương (Kinh Mơn, Chí Linh) và Hải Phịng
(Thủy Ngun). Ở phía Nam, tiểu vùng cũng bao gồm một số huyện thuộc
tỉnh Ninh Bình (Tam Điệp, Nho Quan) và một phần thuộc tỉnh Hịa Bình cũ
(nay đã được sát nhập về Hà Nội)
Đây là nơi tập trung nhiều lễ hội nhất của cả nước với nhiều hoạt động

vừa có ý nghĩa vừa thú vị và sôi nổi. Lễ hội của tiểu vùng cũng tương đối đa
dạng cả về loại hình. Có những lễ hội liên quan đến sản xuất nơng nghiệp, có
những lễ hội liên quan đến các danh nhân và di tích lịch sử (Hội Dóng, Hội
Lý Bát Đế), lại có những lễ hội gắn với sinh hoạt văn hóa của người dân (Hội
Lim, Hội Ó) và những lễ hội gắn với đời sơng tâm linh, tín ngưỡng (hội chùa
Phật Tích, Hội chùa Bách Mơn).
3.1.4. Tiểu vùng văn hóa Thanh – Nghệ - Tĩnh
Ranh giới của vùng bao gồm vùng đồng bằng và trung du các tỉnh
Thanh Hóa – Nghệ An – Hà Tĩnh, vùng miền núi thuộc khơng gian văn hóa
của vùng Tây Bắc. Thanh - Nghệ - Tĩnh từ lâu đã thuộc khơng gian văn hố
Đơng Sơn, trước đó nữa, có những di tích có tính chất của văn hố Phùng
11


Ngun, nếu phải nhìn xa hơn thì cồn sị hến Đa Bút, cồn Cổ Ngựa và các di
chỉ hang động xứ Thanh là thuộc về khơng gian văn hố Hồ Bình, Bắc Sơn.
Cả giới địa học và dân tộc học, văn hoá học đều coi miền núi Thanh -Nghệ là
sự nối dài cùng một dải của sơn hệ Tây Bắc - Bắc Bộ. Cố nhiên, Thanh Nghệ - Tĩnh đã là khơng gian văn hố Việt Cổ. Tiểu vùng là vùng đồng bằng
và trung du duy nhất ở Trung Bộ khơng thuộc văn hóa Chăm Pa xưa mà có
mối quan hệ khăng khít và lâu đời với vùng châu thổ Bắc Bộ.
Do vị trí địa lý nên tiểu vùng đất này có những đặc điểm tách biệt so
với các tiểu vùng khác của vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ. Nét đặc trung nhất
của vùng đó là tính hai mang, có những nét đặc trưng cơ bản của vùng văn
hóa châu thổ nhưng phát triển trên vùng đất miền trung dài hẹp, đầy thiên tai
và khắc nghiệt nên mang nét đặc trưng của vùng văn hóa Trung Bộ để thích
nghi với mơi trường sống khắc nghiệt.
3.2. Đặc điểm văn hóa vật chất
3.2.1. Văn hóa cư trú (nhà ở)
Văn hố nhà ở là một đặc trưng trong nền văn hoá Bắc Bộ. Nhà ở của
cư dân Bắc Bộ thường sử dụng các vật liệu nhẹ, bền. Người nông dân Bắc Bộ

thường muốn xây dựng ngơi nhà của mình theo kiểu bền chắc, to đẹp, tuy
nhiên vẫn hoà hợp với cảnh quan, vì đối với họ, ngơi nhà là một trong những
yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo một cuộc sống ổn định.
*Hình dáng nhà
Nhà của người dân Bắc Bộ thường có mái cong truyền thống. Sau này,
mái nhà bình thường được làm thẳng cho giản tiện, chỉ có những cơng trình
kiến trúc lớn mới làm mái cong cầu kì. Ngồi ra, các đầu đao ở bốn góc đình
chùa, cung điện cũng được làm cong vút như con thuyền rẽ sóng lướt tới, tạo
nên dáng vẻ thanh thoát đặc biệt và gợi cảm giác bay bổng cho ngôi nhà vốn
được trải rộng trên mặt bằng để hồ mình vào thiên nhiên.
12


Mái cong truyền thống trong kiến trúc nhà của người Việt Bắc Bộ
Một số nơi ở Bắc Bộ (ví dụ như Nghệ An) thiết kế ngơi nhà của mình
theo kiểu nhà sàn để đối phó với lũ lụt, độ ẩm và ngăn cơn trùng. Vào thế kỷ
XVII, nhiều ngơi đình như đình Đình Bảng (Bắc Ninh), đình Chu Quyến (Hà
Tây)... vẫn làm theo lối nhà sàn.
*Cấu trúc nhà ở
Tiêu chuẩn ngơi nhà Việt Nam nói chung và của vùng Bắc Bộ nói riêng
là “nhà cao cửa rộng”, cấu trúc mở. Nhà
cao gồm hai yếu tố: sàn (nền) cao so với
mặt đất và mái cao xo với sàn (nền).
Người Việt xưa thường ở nhà sàn.
Nhà sàn đáp ứng yêu cầu thứ nhất, có tác
dụng ứng phó với mơi trường. Nhà Việt
Nam nay đã chuyển sang nhà đất, nhưng
nhà đất lí tưởng vẫn phải có nền cao.
Cửa nhà khơng cao mà phải rộng, tránh nắng chiếu và mưa hắt, đón gió mát.
Đầu dưới mái nhà (thường được đưa ra khá xa so với mái hiên. Đầu hồi nhà

thường có khoảng trống hình tam giác để thốt hơi nóng và khói. Dân Bắc Bộ
có kinh nghiệm khơng làm cửa và cổng thằng hàng tránh gió độc, gió mạnh.
13


*Chọn hướng nhà, chọn đất
Đây là biện pháp quan trọng thứ hai để ứng phó với mơi trường tự
nhiên. Hướng nhà tiêu biểu ở Bắc Bộ là hướng Nam. Vì Bắc Bộ ở gần biển,
trong khu vực gió mùa. Hướng Nam (hoặc Đơng Nam) vừa tránh được nóng
từ phía Tây, bão phía Đơng và gió rét từ phía Bắc lại vừa tận dụng được gío
mát vào mùa nóng (gió nồm).
*Cách thức kiến trúc
Nhà ở của người Bắc Bộ có đặc
điểm là rất đông và linh hoạt, thường là
loại nhà không có chái, hình thức nhà vì
kéo phát triển. Bộ khung của nhà thường
được liên kết với nhau theo một không
gian ba chiều: đứng, ngang, dọc. Theo
chiều đứng, lực dồn vào đá tảng, theo
chiều ngang các cột nối với nhau tạo các
vì kèo; theo chiều dọc, các vì kèo được
nối với nhau bằng xà, tạo thành bộ khung. Các chi tiết của ngơi nhà được
ghép với nhau bằng mộng.
3.2.2. Văn hóa ẩm thực (ăn – uống)
Ẩm thực cũng là một bộ phận cấu
thành quan trọng của văn hoá

Bắc Bộ.

Giống như ở mọi vùng miền khác trên đất

Việt, cơ cấu bữa ăn của cư dân Việt trên
châu thổ Bắc Bộ bộc lộ rất rõ dấu ấn của
truyền thống văn hố nơng nghiệp lúa nước,
bao gồm có cơm, rau, cá, thịt, cơm là thức
ăn cho cơ thể. Đặc biệt, ở đây các gia vị có
14

Thành phần chính bữa ăn: Cơm, Rau, Cá


tính chất chua, cay, đắng khơng được ưa chuộng như ở vùng Trung Bộ và
Nam Bộ. Có người đã từng nói rằng Bắc Bộ là “nơi quần tụ văn hố ẩm thực,
văn hố vùng miền”.
Khơng thể kể hết những món ăn Bắc Bộ vô cùng đa dạng và độc đáo.
Nào là bánh cáy Thái Bình, bánh dứa Hưng Yên, bánh đậu xanh Hải Dương,
bánh phu thê Bắc Ninh, bánh tôm Hà Nội, bánh nhãn Nam Định, ... Mỗi loại
bánh mang những hương vị khác nhau, đặc trưng cho mỗi miền quê.
Thường là người Việt Bắc Bộ muốn trồng cây cối quanh nơi cư trú, tạo
ra bóng mát cho ngơi nhà ăn uống của cư dân Việt trên châu thổ Bắc Bộ vẫn
như mơ hình bữa ăn của người Việt trên các vùng đất khác : cơm + rau + cá,
nhưng thành phần cá ở đây chủ yếu hướng tới các loại cá nước ngọt. Hải sản
đánh bắt ở biển chủ yếu giới hạn ở các làng ven biển, còn các làng ở sâu trong
đồng bằng, hải sản chưa phải là thức ăn chiếm ưu thế. Cư dân đô thị, nhất là
Hà Nội, ít dùng đồ biển hơn cư dân ở các đơ thị phía Nam như Huế, Nha
Trang, Sài Gịn. Thích ứng với khí hậu ở châu thổ Bắc Bộ, người Việt Bắc Bộ
có chú ý tăng thành phần thịt và mỡ, nhất là mùa đông lạnh, để giữ nhiệt năng
cho cơ thể.
3.2.3. Văn hóa trang phục
Cách ăn mặc của người dân Bắc Bộ cũng là một sự lựa chọn, thích ứng
với thiên nhiên châu thổ Bắc Bộ.

Trang phục truyền
thống người Việt qua
các thời kỳ

15


Vào thời kỳ Hùng Vương, sự phát
triển của nghề trồng dâu nuôi tằm, kéo
tơ, dệt lụa giúp cho người Việt cổ Bắc
Bộ ăn mặc ngày càng đẹp hơn. Nữ
thường mặc váy, loại ngắn hoặc dài, đơi
lúc có khâu thêm một mảnh vải vng
vắn có trang trí hoa văn ở trước bụng;
phụ nữ thường mặc yếm; áo cánh hoặc
áo chui đầu. Ngày lễ hội, họ mặc váy xoè, cắm thêm lông chim hoặc cả lá
cây.
Tóc ít khi để tóc mà thường được búi lên ở đỉnh đầu hoặc tết theo nhiều
kiểu khác nhau. Có lúc họ buộc một tấm khăn cởi trần, mặc khố, đầu cạo trọc.
Dân sống ven sông thường có tục vẽ mình để tránh “giao long” làm hại. Các
lạc hầu, lạc tướng có áo giáp đồng hộ than khi đi chiến đấu. Nối tiếp truyền
thống làm đẹp của tổ tiên, người Việt cổ
thích trang sức các dây chuyền bằng vỏ ốc,
hạt đá hoặc đeo hoa tai, vòng tay bằng đá.

Thời phong kiến, trang phục
của phụ nữ Bắc Bộ là: váy
đen, yếm trắng, áo tứ thân,
đầu chít khăn mỏ quạ, thắt lưng hoa lý. Đàn ông với y phục đi làm là chiếc
16



quần lá toạ, áo cánh màu nông sồng. Phụ nữ cũng chiếc váy thâm, chiếc áo
nâu, khi đi làm.
Bộ lễ phục củ phụ nữ gồm ba chiếc
áo, ngoài cùng là áo dài tứ thân bằng the
thâm hay màu nâu non, kế đến là chiếc áo
màu mỡ gà và trong cùng là chiếc áo màu
cánh sen. Khi mặc, cả ba chiếc áo chỉ cài
khuy bên sườn, phần từ ngực đến cổ lật
chéo để lộ ba màu áo. Bên trong chiếc yếm
thắm. Đầu đội nón trơng rất dun dáng và
kín đáo. Lễ phục của đàn ông là chiếc quần
trắng, áo dài the, chít khăn đen.
Tới nay, trang phục truyền thống của
người Việt Bắc Bộ đã thay đổi. Bộ âu phục
dần thay thế cho bộ đồ truyền thống của
đàn ông. Chiếc áo dài của phụ nữ ngày
càng được cải tiến và hoàn thiện hơn như

Trang phục lễ hội

ngày nay, mặt khác do yêu cầu của lao động,
công việc, không phải lúc nào phụ nữ cũng mặc áo dài mà chỉ những ngày
trang trọng, ngày vui... thì mới có dịp để “thể hiện mình”.
3.2.4. Về các làng nghề
Khi nói về nét đẹp văn hố vùng châu thổ Bắc Bộ, người ta không thể
không nhắc đến những làng nghề thủ cơng đã có lịch sử phát triển cách đây
hàng trăm năm.
Đầu thế kỷ 20, một nhà nghiên cứu đã đếm được 108 nghề thủ công ở

7000 làng thuộc vùng châu thổ sông Hồng. ở đây có tới 500 làng nghề, tập
trung nhiều nhất ở Nam Định, Hà tây, Thái Bình, Bắc Ninh, Hải Dương,
17


Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Hà Nội. Đặc biệt, Thăng Long - Hà Nội là
nơi “đát lành chim đậu”, hội tụ tài hoa, thu hút những thợ cả, thợ giỏi từ mọi
miền đến sinh cơ lập nghiệp. Hà Nội có Ngũ Xã Tràng, nổi tiếng với nghề
đúc đồng, do dân năm làng gốc ở huyện Siêu Loại, xứ Kinh Bắc lập nên từ
thế kỷ XVII, là tác giả của những pho tượng đồng vào loại quý giá nhất nước
Nam. Đó là tượng Trấn Vũ bằng đồng đen cao 4m, nặng 4 tấn được đúc năm
1681, là quả chuông đồng cao gần 1,5m treo ở tam quan đền, là tượng Di Đà
cao 3,95m, nặng 10 tấn với toà sen đặt tượng nặng 1,6 tấn đồng.
Hà Nội có làng gốm sứ Bát Tràng có lịch sử 500 năm, do những người
thợ gốm tài ba từ Thanh Hoá ra gây dựng từ cuối thế kỷ XV. Và tất nhiên,
nhắc tới Hà Nội, người ta cũng khơng qn một làng giấy phía Nam Hồ Tây,
đã rất nổi tiếng trong câu ca dau “Mịt mù khói toả ngàn sương, Nhịn chày
Yên Thái mặt gương Tây Hồ”, làng Thậm Thình, có truyền thống lịch sử 500
năm. Từ Hà Nội ngược về phía Đơng Bắc, ta đến với miền đất trù phú “bên
kia sông Đuống”, với làng tranh Đông Hồ. Tranh Đông Hồ, từ chất liệu đến
đề tài, tư tưởng, phong cách nghệ thuật đều rất dân gian và đậm đà màu sắc
dân tộc. Đề tài tranh Đơng Hồ rất đỗi bình dị, phản ánh đời sống lao động,
sinh hoạt thường ngày của người dân quê Việt Nam, tiêu biểu là tranh “đánh
ghen”, “hứng dừa”, “đám cưới chuột”.... Xi về phía Nam, ta đến với các
làng nghề lụa Hà Đông (Hà Tây), đũi Nam Cao (Thái Bình),...
Mn bàn tay khéo léo tài hoa đã hội tụ lại trên mảnh đất châu thổ trù
phú này, thời nào cũng thế, đã vun đắp làm đẹp cho đời, làm phong phú cuộc
sống, giàu có tâm hồn, nối tiếp truyền thống của nền văn minh sông Hồng,
văn minh Đại Việt, góp phần xây dựng nền văn hố Việt Nam tiến vào thiên
niên kỷ thứ ba.


18


3.2.5. Di tích lịch sử - Văn hóa
Mặt khác, nói tới văn hoá ở châu thổ Bắc Bộ là nới tới một vùng văn
hố có một bề dày lịch sử hàng ngàn năm cũng như mật độ dày đặc của các di
tích văn hố. Các di tích khảo cổ, các di sản văn hoá hữu thế tồn tại ở khắp
các địa phương.
Đền Hùng (Lâm Thao, Phú Thọ) gồm 4 đền, 1 chùa và 1 lăng mộ tổ
Hùng Vương thứ VI. Có khả năng vào thế kỷ thứ X người Việt Nam đã xây
nên Đền Hùng và tổ chức ngày giỗ tổ Hùng Vương với những nghi thức,
phong tục đầy bản sắc dân gian Việt Nam. Thời Lý - Trần, Đền Hùng là một
khu di tích khá đẹp do làng Cổ Tích dựng lên. Tại đây, các nhà khảo cổ học
đã tìm thấy nhiều hiện vật: bát đĩa men ngọc, nhiều viên ngọc trang trí, có cả
lon đựng sơn... thuộc thời Lý - Trần. Kiến trúc ở Đền Hùng có từ thời Lý Trần đã được tôn tạo qua nhiều thời kỳ, đến nay chỉ còn lại một kiến trúc khá
cổ là Gác Chng, Tam Quan và Đền Hạ có từ thời Hậu Lê, những phần còn
lại chủ yếu là các kiến trúc được xây dựng vào thời Nguyễn.
Đền Gióng thuộc làng Gióng
(xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà
Nội), thời Thánh Gióng, người có
cơng dẹp giặc Ân thời Hùng Vương.
Từ xa xưa, đền là một thảo am. Đến
thế kỷ XI, Lý Thái Tổ tạo và xây dựng
khang trang, kiến trúc “nội cơng ngoại
quốc” trên một thế đất đẹp có hồ bán
nguyệt và thuỷ đỉnh ở trước cổng.
Khuê Văn Các – Quốc Tử Giám

Bên trong có nhà tiên tế, đến chính


và nhà giãi vũ. Trong đền còn lưu giữ ược nhiều cổ vật quý: Tượng Thánh
Gióng cao 2m, có hàng trăm năm nay và các tác phẩm điêu khắc gố: cuốn

19


thư, hoành phi, câu đối bàn thờ; các tác phẩm điêu khắc đá: rồng đá, nghê đá,
giếng đá, liềm đá,...
Chùa Một Cột tên chữ là Diên
Hậu tự, nằm giữa hồ Linh Chiểu
(nay thuộc phố Chùa Một Cột).
Chùa dựng năm 1049, phỏng
theo giấc mơ của Lý Thái Tông
(1028 - 1054) thấy Phật Bà Quan
Âm ngồi trên toà sen mời vua
bước lên. Vua bèn cho xây chàu
theo hình hoa sen để thờ và cầu
xin tuổi thọ. Chùa xây dựng một

Chùa Diên Hựu (Chùa Một Cột)

cột giữa lịng hồ nên có tên Một
Cột.
Cụm di tích cố đơ Hoa Lư tại xã Trường n, huyện Hoa Lư (Ninh
Bình) là kinh đơ đầu tiên của nước Đại Việt, do Đinh Tiên Hoàng xây dựng
năm 968. Khu di tích đền - miếu được chia thành hai khu: Khu thứ nhất (bên
tả) thờ Đinh Bộ Lĩnh và ba người con trai của ông là thái gử Đinh Hạ Lang,
Hoàng tử Đinh Toàn và Hoàng tử Đinh Liễn (sau này nối ngôi cha); Khu thứ
hai thờ vua Lê Đại Hành, Hoàng hậu Dương Vân Nga và Hoàng tử Lê Long

Đĩnh (vua cuối cùng của triều Tiền Lê).
3.3. Đặc điểm văn hóa tinh thần
Cùng với các di sản văn hóa hữu thể, các di sản văn hóa vơ thể của
đồng bằng Bắc Bộ cũng khá đa dạng và phong phú.
3.3.1. Phong tục tập quán
• Giao tiếp: miếng trầu là đầu câu chuyện, kính lão, khiêm nhường trong
giao tiếp.
20


• Giỗ tết, tế lễ: thờ cúng mọi vật được coi là biểu tượng của vị thần hay
nhân thần nào đó.
• Tết ngun đán: giao thừa và lễ trừ tịch, lễ cúng thổ công,1 số lễ hội
như hái lộc xông nhà...
• Tục lễ đầu xn: có lễ động thổ, lễ khai hạ, lễ thần nơng, lễ thượng
ngun...
• Tết thanh minh: có tục đi viếng mộ gia tiên và làm lễ cúng gia tiên sau
cuộc tảo mộ - Cúng giỗ mang ý nghĩa "uống nước nhớ nguồn"
• Tang lễ: quan niệm "nghĩa tử là nghĩa tận" tang lễ được tổ chức lớn và
cầu kỳ.
• Lễ cưới hỏi: linh đình và náo nhiệt, khơng kém phần cầu kỳ.
3.3.2. Văn hóa dân gian
Vùng châu thổ Bắc Bộ có một kho báu vơ giá truyền từ đời nọ sang đời
kia. Đó là một kho tàng di sản văn hoá phi vật thể đa dạng và phong phú: là
nguồn ca dao, ngạn ngữ, huyền thoại, truyện cổ tích, truyện cười, giai thoại,
..., là các lễ hội truyền thống lâu đời đặc sắc, là cái nôi của ca nhạc dân gian,
trị diễn,... Có thể nói Bắc Bộ là mảnh đất màu mỡ cho văn hoá nghệ thuật
của dân tộc Việt ươm chồi, nảy lộc.
Trên đất nước Việt Nam, đất nước của ca dao, thần thoại, văn học dân
gian Bắc Bộ là một trong những viên ngọc quý giá nhất, mang nhiều nét đặc

trưng. Vùng có một kho tàng đồ sộ những tích truyện, truyện cổ dân gian,
truyền thuyết, truyện cười... với những hình ảnh ơng bụt, cô Tấm, những
chàng Sơn tinh, Thuỷ Tinh... đã đi vào tâm khảm người Việt hàng thế kỷ qua.
3.3.3. Tín ngưỡng
Có thể nói tín ngưỡng là một nhân tố văn hố không thể thiếu trong đời
sống tinh thần của người dân Việt. Nếu nhìn trên lát cắt đồng đại của tiến
trình lịch sử, tín ngưỡng đã lắng đọng ở đây những nét văn hoá.
21


Nhìn vào đời sống văn hố của vùng văn hố châu thổ Bắc Bộ, ta thấy rõ
được tính đa dạng, phong phú của nó, trong đó, một trong những nét lớn là
văn hố tín ngưỡng. Văn hố tín ngưỡng ở vùng văn hố Bắc Bộ là một hình
thức văn hố đặc thù chứa nhiều nội dung như: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên,
tín ngưỡng phồn thực, tín Ngưỡng thờ thành Hồng làng, tín ngưỡng thờ ơng
tổ nghề và tín ngưỡng lễ hội,...:
3.3.3.1. Tín ngưỡng thờ tổ tiên
Tục thờ cúng tổ tiên là một phong tục lâu đời của người Việt.
Gia đình nào dù nghèo hay giàu cũng đều có bàn thờ tổ tiên và hàng
năm cúng giỗ cha mẹ, ông bà. Con cháu xa nhà đến ngày giỗ ông bà,
cha mẹ đều nhớ về q. Những dịng họ lớn, có học thức thường soạn
gia phả để giáo dục các thế hệ kế tiếp giữ gìn truyền thống tốt đẹp của
gia đình.
3.3.3.2. Tín ngưỡng thờ thành hồng
Đặc trưng của cư dân vùng văn hố Bắc Bộ là sống quần xã,
hình thành nên các đơn vị làng xã. Do vậy, tục thờ thành hồng làng
được xem là điều khơng thể thiếu trong đời sống tâm linh của người
dân vùng văn hoá Bắc Bộ.
Tất cả những làng xã ở vùng Bắc Bộ đều có một vị thành hồng
làng riêng cho làng mình. Vị Thành Hồng đó được xem như là một vị

thánh của làng, là người mà đương thời có cơng lớn đối với quê hương,
đất nước. Với những người dân vùng văn hố Bắc Bộ, thành hồng là
chỗ dựa tinh thần, là nơi gửi gắm niềm tin cho cuộc sống có khơng ít
khó khăn sóng gió của họ. Và việc thờ thành hồng là một nét đẹp
trong văn hố tín ngưỡng của cư dân Bắc Bộ.

22


3.3.3.3. Tín ngưỡng thờ mẫu
Đây cũng được xem là một nét văn hố tín ngưỡng lớn của cư
dân vùng văn hố Bắc Bộ. Gắn bó với tín ngưỡng thờ mẫu là hệ thống
các huyền thoại, thần tích, các bài văn chầu, truyện thơ Nôm, các bài
giáng bút, câu đối, đại tự, hát xướng, hát chầu văn, lên đồng, múa
bóng...
Những thần ngưỡng của tín ngưỡng thờ Mẫu gồm các nhiên
thần, nhân thần, trong đó có khá nhiều các nhân vật lịch sử anh hùng
như Trần Hưng Đạo (Vị vua cha). Nhân vật của tín ngưỡng thờ Mẫu
được thờ trong những điện, đền, phủ... mà những di tích này nằm rải
rác rất nhiều ở vùng văn hố Bắc Bộ.
3.3.3.4. Tín ngưỡng thờ cụ tổ nghề
Ngồi ngành kinh tế nơng nghiệp thuần nơng thì các ngành nghề
thù cơng rất phổ biến ở các làng trong vùng văn hố Bắc Bộ. Những
làng q đó dần được phát triển thành những làng nghề chuyên nghiệp.
Do đó, việc thờ các ơng tổ nghề (dệt, gốm, đúc đồng...) là nét khơng
thể thiếu trong văn hố tín ngưỡng của cư dân vùng văn hoá Bắc Bộ.
3.3.4. Các lễ hội của vùng
Như đã nói ở trên, đặc trưng của cư dân vùng văn hoá Bắc Bộ là sống
bằng nghề nơng nghiệp trồng lúa nước. Vịng quay tự nhiên tạo ra tính chất
mùa vụ và hình thức lễ hội ra đời trong thời gian đó. Ban đầu, nó đơn thuần

chỉ là hính thức văn hố giải trí. Dần dà, qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, nó
lắng đọng lại và trở thành văn hố tín ngưỡng.
Ở đồng bằng Bắc Bộ, lễ hội rất phong phú, đa dạng, rực rỡ về thời
gian, số lượng, mật độ, nội dung... Theo thời gian, có thể chia lễ hội làm
nhiều loại: Lễ hội mùa xuân, lễ hội mùa thu... Theo không gian địa lý, lễ hội
23


được phân làm những dạng: Lễ làng, lễ hội vùng, lễ hội cả nước... Tuy vậy,
dù vào thời gian nào hay ở địa phương nào, lễ hội ở vùng văn hố Bắc Bộ đều
có đặc điểm chung là mang tính chất lễ hội nông nghiệp. Điều này thể hiện rõ
trong các hình thức lế hội như thờ mẹ lúa, thờ thần mặt trời, cầu mưa...
Lễ hội ở vùng văn hoá Bắc Bộ không chỉ là những nét phác thảo về văn
hố mà cịn mang đậm tính chất tín ngưỡng tơn giáo. Những lễ hội thường
được đồng nhất với lễ chùa chiền, miếu mạo. Nếu xét trong phạm vi hẹp nhất
định.
Trên mảnh đất thiêng này, ta có thể bắt gặp nhiều lễ hội truyền thống:
Hội chùa Hương (Hà Tây), hội Đền Hùng (Phú Thọ), hội Gióng (Hà Tây), hội
Lim. (Bắc Ninh)... những lễ hội ấy là kết quả của những tinh hoa văn hoá dân
tộc được kế thừa, chọn lọc, kết tinh và lắng đọng qua các thời kỳ lịch sử.
Nhưng qui cách và những nghi thức trong lễ hội mà mỗi người phải tuân thủ
theo tạo nên niềm thông cảm của tồn thể cộng đồng, làm cho mỗi người gắn
bó chặt chẽ hơn với cộng đồng và do đó, thấy mình vươn lên ở những tầm
vóc cao hơn với một sức mạnh lớn hơn
Như vậy, ta có thể thấy rõ rằng lễ hội là một nét tiêu biểu trong văn hố
tín ngưỡng của vùng văn hố châu thổ Bắc Bộ. Tựu trung lại với những sắc
thái đặc trưng, những giá trị lớn, văn hố tín ngưỡng ở vùng Bắc Bộ đã góp
một phần khơng nhỏ trên hành trình xây dựng một nền văn hoá tiến bộ, hiện
đại, đậm đà bản sắc dân tộc.


24


KẾT LUẬN
Vùng văn hóa sơng Hồng là vùng đất cổ, là cội nguồn văn hóa Việt
Nam, vùng đất ấy mang trong mình một kho tang giá trị văn hóa vơ cùng to
lớn của đất nước, cả về vật chất lẩn tinh thần. Những giá trị to lớn ấy cần
được bão tồn và phát huy hơn nữa bởi thế hệ hôm nay và thế hệ mai sau của
đất nước để những giá trị và công sức ông cha để lại mãi trường tồn và phát
triển theo thời gian.

25


×