CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT LẬP LUẬN
1. Lập luận
1.1. Định nghĩa
- Lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay
chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới.
- Như vậy, lập luận gồm 2 phần:
+ Lí lẽ của lập luận, gọi là luận cứ, kí hiệu là p, q.
+ Kết luận, kí hiệu là r.
1.2. Mơ hình lập luận
1.2.1. Mơ hình lập luận đơn (lập luận chỉ có một kết luận)
- Biểu diễn: p, q
r
- Ví dụ:
+ Trời mưa quá, chị lại chưa nhận lương, lúc khác đi chơi nhé!
Trời mưa quá (p)
Lúc khác đi chơi nhé (r)
Chị lại chưa nhận lương (q)
+ Ngày nắng đẹp, vợ chồng mình lại được nghỉ, chúng ta đi du lịch nhé!
Ngày nắng đẹp (p)
Chúng ta đi du lịch nhé (r)
Vợ chồng mình lại được nghỉ (q)
1.2.2. Mơ hình lập luận phức hợp
* p1, q1
r1
r2
r3
R
- Ví dụ:
1
Muốn phát triển năng lực tư duy cho trẻ (p1) thì phải tạo cho trẻ một mơi trường
hoạt động độc lập (r1). Muốn tạo một mơi trường độc lập thì phải xem trẻ như một
cá nhân thực thụ, có khả năng tự thực hiện mọi hoạt động (r2).
*
p1, q1
p2, q2
p3, q3
r1
r2
r3
R
- Ví dụ:
Sp1: Thảo ơi, đơn sách của tụi mình trên Tiki vẫn chưa đặt à?
Sp2: Chương trình khuyến mãi cịn những 5 ngày nữa kia mà. Hóa đơn của mình
chưa đủ số lượng. Vả lại lương tớ 2 ngày nữa mới có.
Phân tích ví dụ:
+ Chương trình khuyến mãi còn những 5 ngày nữa kia mà. (p1) => Còn
nhiều thời gian để lựa chọn sách. (r1)
+ Hóa đơn của mình chưa đủ số lượng. (p2) => Phải đặt đủ số lượng mới
được giảm giá. (r2)
+ Vả lại lương tớ 2 ngày nữa mới có. (p3) => Từ từ có đủ tiền rồi đặt nhiều
luôn thể. (r3)
+ (r1), (r2), (r3) đều dẫn đến kết luận R là vẫn chưa đặt sách trên Tiki.
=> Trong 1 lập luận, kết luận (r) có thể ở vị trí đầu, cuối hoặc giữa. Các thành phần
luận cứ, kết luận có thể hàm ẩn, người nghe phải tự suy ra.
2
2. Tác tử lập luận
- Tác tử lập luận là một yếu tố khi được đưa vào một nội dung miêu tả nào đấy sẽ
làm thay đổi tiềm năng lập luận của nó, độc lập với thơng tin miêu tả vốn có của
nó.
- Tác tử lập luận có thể định hướng cho lập luận, có hai loại định hướng là định
hướng dương tích cực và định hướng âm tiêu cực.
- Theo Nguyễn Đức Dân, có 6 loại tác tử lập luận sau:
(1) Những / chỉ, có
Ví dụ:
Con cá này chỉ 100 ngàn.
Chỉ: ít => có thể mua
Con cá này những 100 ngàn.
Những: nhiều, giá cao, đắt => không nên mua
(2) Kia/ thơi
Ví dụ:
Con cá này giá 100 ngàn thơi!
Thơi: ít, giá thấp, rẻ => nên mua
Con cá này giá 100 ngàn kia!
Kia: nhiều, giá cao, đắt => khơng nên mua
(3)
Cịn…đã
Mới…đã
Chưa…đã
3
Cả 3 cặp tác tử này đều đảo hướng lập luận và thể hiện đánh giá: q sớm.
Ví dụ:
Cịn sớm mà đã đòi về rồi.
Mới vừa đi chơi đã đòi về rồi sao?
Chưa đi chơi mà đã đòi về rồi ư?
(4)
Đã …vẫn
Đã …vẫn còn
Đã …còn
Cả 3 cặp tác tử này đều đảo hướng lập luận và thể hiện đánh giá: q muộn
Ví dụ:
Đã hết bão rồi mà vẫn chưa có điện.
Đã sáng rồi mà vẫn còn chơi game thế à!
Đã ăn rồi cịn than đói nữa.
(5) mới/ đã
Mới: sớm, ít về thời gian
Đã: muộn, nhiều về thời gian
Ví dụ:
Bố mới đi làm 2 tiếng >< Bố đã đi làm 2 tiếng
(6) ít/ chút ít, đơi chút
Ít: định hướng âm
Chút ít, đôi chút: định hướng dương
4
Ví dụ:
Bố chèn chống nhà ít. Có thể bão sẽ làm bay nó.
Bố có chèn chống nhà chút ít. Có thể bão sẽ khơng làm bay nó.
3. Kết tử lập luận
- Kết tử lập luận là các yếu tố phối hợp hai hoặc một số phát ngôn thành một lập
luận duy nhất. Nhờ kết tử mà các phát ngôn trở thành luận cứ hay kết luận của 1
lập luận.
- Ví dụ:
Tuy bị mắng nhưng tơi vẫn khơng giận mẹ.
- Có 2 loại kết tử:
+ Kết tử đồng hướng: và, hơn nữa, thêm vào đó, vả lại… huống hồ, thật
vậy…
+ Kết tử nghịch hướng: nhưng, thế mà, thực ra, tuy nhiên, tuy vậy, tuy…
nhưng
4. Lẽ thường của lập luận
- Lẽ thường là những chân lí thơng thường có tính kinh nghiệm (khơng có tính tất
yếu, bắt buộc như các tiên đề logic) mang tính đặc thù địa phương hay dân tộc, có
tính khái qt, nhờ chúng mà ta có thể xây dựng được những lập luận riêng.
- Đặc tính của lẽ thường:
+ Lẽ thường được mọi người thừa nhận.
+ Đặc tính có thang độ là đặc tính quan
+ Lẽ thường thay đổi theo dân tộc, thời gian, khơng gian và tình huống.
- Ví dụ:
5
+ Thức ăn đã để trên cao nên chó khơng ăn được.
=> Lẽ thường: Chó treo mèo đậy.
+ Chơi với cái thằng lang thang ấy thì làm sao mà khá nổi hả con.
=> Lẽ thường: Gần mực thì đen gần đèn thì sáng.
6
CHƯƠNG 2: BÀI TẬP
Tìm một đoạn văn và chỉ ra: luận cứ, kết luận, tác tử lập luận, kết tử lập luận và lẽ
thường của lập luận. (Tìm một đoạn văn nghị luận chính trị - xã hội)
Đoạn văn: Đoạn trích từ bài trích Đấu tranh cho một thế giới hịa bình, G.G
Marquez, SGK Ngữ Văn 9, tập 1.
“Niềm an ủi duy nhất trước tất cả những suy diễn kinh khủng đó là nhận
thức được rằng việc bảo tồn sự sống trên trái đất ít tốn kém hơn là “dịch hạch” hạt
nhân. Chỉ sự tồn tại của nó khơng thơi, cái cảnh tận thế tiềm tàng trong các bệ
phóng cái chết cũng đã làm tất cả chúng ta mất đi khả năng sống tốt đẹp hơn.
Năm 1981, UNICEF đã định ra một chương trình để giải quyết những vấn đề
cấp bách cho 500 triệu trẻ em nghèo khổ nhất trên thế giới. Chương trình này dự
kiến cứu trợ về y tế, giáo dục sơ cấp, cải thiện điều kiện vệ sinh và tiếp tế thực
phẩm, nước uống. Nhưng tất cả đã tỏ ra là một giấc mơ không thể thực hiện được,
vì tốn kém 100 tỉ đơ la. Tuy nhiên, số tiền này cũng chỉ gần bằng những chi phí bỏ
ra cho 100 máy bay ném bom chiến lược B.1B của Mĩ và cho dưới 7.000 tên lửa
vượt đại châu. (a)
Và đây là một ví dụ khác trong lĩnh vực y tế: Giá của 10 chiếc tàu sân bay
mang vũ khí hạt nhân kiểu tàu Ni-mít, trong số 15 chiếc mà Hoa Kì dự định đóng
từ nay đến năm 2000, cũng đủ để thực hiện một chương trình phịng bệnh trong
cũng 14 năm đó và sẽ bảo vệ cho hơn 1 tỉ người khỏi bệnh số rét và cứu hơn 14
triệu trẻ em, riêng cho châu Phi mà thôi. (b)
Một ví dụ trong lĩnh vực tiếp tế thực phẩm: Theo tính tốn của FAO, năm
1985, người ta thấy trên thế giới có gần 575 triệu người thiếu dinh dưỡng. Số
lượng ca-lo trung bình cần thiết cho những người đói chỉ tốn kém không bằng 149
7
tên lửa MX… Chỉ cần 27 tên lửa MX là đủ trả tiền nông cụ cần thiết cho các nước
nghèo để họ có được thực phẩm trong bốn năm tới. (c)
Một ví dụ trong lĩnh vực giáo dục: Chỉ hai chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt
nhân là đủ tiền xóa nạn mù chữ cho tồn thế giới.” (d)
1. Giới thiệu đoạn trích
- Đoạn trích được trích từ một bài trích trong Đấu tranh cho một thế giới hịa bình
- Đoạn này nằm ở:
+ Sau đoạn nói về hiểm họa chiến tranh hạt nhân.
+ Trước đoạn nòi về nhiệm vụ chống chiến tranh hạt nhân của cả thế giới
2. Luận cứ và kết luận
- Đoạn (a):
Năm 1981, UNICEF đã định ra một chương trình để giải quyết những vấn đề cấp
bách cho 500 triệu trẻ em nghèo khổ nhất trên thế giới (1). Chương trình này dự
kiến cứu trợ về y tế, giáo dục sơ cấp, cải thiện điều kiện vệ sinh và tiếp tế thực
phẩm, nước uống (2). Nhưng tất cả đã tỏ ra là một giấc mơ không thể thực hiện
được, vì tốn kém 100 tỉ đơ la (3). Tuy nhiên, số tiền này cũng chỉ gần bằng những
chi phí bỏ ra cho 100 máy bay ném bom chiến lược B.1B của Mĩ và cho dưới
7.000 tên lửa vượt đại châu (4).
+ Luận cứ, kết luận:
Luận cứ: (1), (2), (3), (4)
Kết luận: Chạy đua vũ trang gây tốn kém hơn nhiều lần so với việc đầu tư
cho xã hội.
=> Sơ đồ hóa thành mơ hình như sau:
8
(1), (2), (3), (4) Chạy đua vũ trang gây tốn kém hơn nhiều lần so với việc
đầu tư cho xã hội.
- Đoạn (b):
Và đây là một ví dụ khác trong lĩnh vực y tế: Giá của 10 chiếc tàu sân bay mang vũ
khí hạt nhân kiểu tàu Ni-mít, trong số 15 chiếc mà Hoa Kì dự định đóng từ nay đến
năm 2000, cũng đủ để thực hiện một chương trình phịng bệnh trong cũng 14 năm
đó và sẽ bảo vệ cho hơn 1 tỉ người khỏi bệnh số rét và cứu hơn 14 triệu trẻ em,
riêng cho châu Phi mà thôi (1).
+ Luận cứ, kết luận:
Luận cứ: (1)
Kết luận: Chạy đua vũ trang gây tốn kém hơn nhiều lần so với việc đầu tư
cho lĩnh vực y tế.
=> Sơ đồ hóa thành mơ hình như sau:
(1) Chạy đua vũ trang gây tốn kém hơn nhiều lần so với việc đầu tư cho
lĩnh vực y tế.
- Đoạn (c):
Một ví dụ trong lĩnh vực tiếp tế thực phẩm: Theo tính toán của FAO, năm 1985,
người ta thấy trên thế giới có gần 575 triệu người thiếu dinh dưỡng (1). Số lượng
ca-lo trung bình cần thiết cho những người đói chỉ tốn kém không bằng 149 tên lửa
MX… (2) Chỉ cần 27 tên lửa MX là đủ trả tiền nông cụ cần thiết cho các nước
nghèo để họ có được thực phẩm trong bốn năm tới (3).
+ Luận cứ, kết luận:
Luận cứ: (1), (2), (3)
9
Kết luận: Chạy đua vũ trang gây tốn kém hơn nhiều lần so với việc đầu tư
cho lĩnh vực thực phẩm.
=> Sơ đồ hóa thành mơ hình như sau:
(1), (2), (3) Chạy đua vũ trang gây tốn kém hơn nhiều lần so với việc đầu
tư cho lĩnh vực thực phẩm.
- Đoạn (d):
Một ví dụ trong lĩnh vực giáo dục: Chỉ hai chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân là
đủ tiền xóa nạn mù chữ cho tồn thế giới. (1)
+ Luận cứ, kết luận:
Luận cứ: (1)
Kết luận: Chạy đua vũ trang gây tốn kém hơn nhiều lần so với việc đầu tư
cho lĩnh vực giáo dục.
=> Sơ đồ hóa thành mơ hình như sau:
(1) Chạy đua vũ trang gây tốn kém hơn nhiều lần so với việc đầu tư cho
lĩnh vực giáo dục.
- Tồn đoạn trích:
+ Luận cứ:
“Niềm an ủi duy nhất trước tất cả những suy diễn kinh khủng đó là nhận
thức được rằng việc bảo tồn sự sống trên trái đất ít tốn kém hơn là “dịch hạch” hạt
nhân”
Đoạn (a): Chạy đua vũ trang gây tốn kém hơn nhiều lần so với việc đầu tư
cho xã hội.
10
Đoạn (b): Chạy đua vũ trang gây tốn kém hơn nhiều lần so với việc đầu tư
cho lĩnh vực y tế.
Đoạn (c): Chạy đua vũ trang gây tốn kém hơn nhiều lần so với việc đầu tư
cho lĩnh vực thực phẩm.
Đoạn (d): Chạy đua vũ trang gây tốn kém hơn nhiều lần so với việc đầu tư
cho lĩnh vực giáo dục.
+ Kết luận: “Chỉ sự tồn tại của nó khơng thơi, cái cảnh tận thế tiềm tàng
trong các bệ phóng cái chết cũng đã làm tất cả chúng ta mất đi khả năng sống tốt
đẹp hơn”
Sơ đồ hóa thành mơ hình như sau:
(a), (b), (c), (d) Chỉ sự tồn tại của nó khơng thơi, cái cảnh tận thế tiềm tàng
trong các bệ phóng cái chết cũng đã làm tất cả chúng ta mất đi khả năng sống tốt
đẹp hơn.
3. Tác tử lập luận
- Chỉ trong câu “Chỉ sự tồn tại của nó khơng thơi, cái cảnh tận thế tiềm tàng trong
các bệ phóng cái chết cũng đã làm tất cả chúng ta mất đi khả năng sống tốt đẹp
hơn”: một (số lượng) => Tác dụng: nhấn mạnh vấn đề được nói tới.
- Đã trong câu: “Năm 1981, UNICEF đã định ra một chương trình để giải quyết
những vấn đề cấp bách cho 500 triệu trẻ em nghèo khổ nhất trên thế giới” => Tác
dụng: Nhấn mạnh việc làm của UNICEF là hoạt động đã xảy ra.
- Đã trong câu “Nhưng tất cả đã tỏ ra là một giấc mơ khơng thể thực hiện được, vì
tốn kém 100 tỉ đơ la” => Nhấn mạnh điều đang nói hoạt động đã xảy ra, thống
nhất.
11
- Cũng trong câu “…cũng đủ để thực hiện …” => Tác dụng: biểu thị ý khẳng
định, nhấn mạnh điều kiện nêu ra là khác thường, để làm tăng thêm ý khẳng định.
- Chỉ trong câu “Số lượng ca-lo trung bình cần thiết cho những người đói chỉ tốn
kém khơng bằng 149 tên lửa MX…”: ít (ít tốn kém) → Kết luận: Nên đầu tư cải
thiện dinh dưỡng cho 575 triệu người hơn là đầu tư vào vũ trang.
- Chỉ trong câu “Chỉ cần 27 tên lửa MX là đủ trả tiền nông cụ cần thiết cho các
nước nghèo để họ có được thực phẩm trong bốn năm tới”: ít (số lượng ít) → Kết
luận: Nên phục vụ nơng cụ cho các nước nghèo để họ có thực phẩm trong 4 năm
tới thay vì đầu tư cho 27 tên lửa.
- Chỉ trong “Một ví dụ trong lĩnh vực giáo dục: Chỉ hai chiếc tàu ngầm mang vũ
khí hạt nhân là đủ tiền xóa nạn mù chữ cho tồn thế giới”: ít (số lượng ít) →Kết
luận: Nên đầu tư để xóa nạn mù chữ cho cả thế giới.
4. Kết tử lập luận
- Nhưng trong câu “Nhưng tất cả đã tỏ ra là một giấc mơ khơng thể thực hiện
được, vì tốn kém 100 tỉ đô la” => Kết tử nghịch hướng
- Tuy nhiên trong câu “Tuy nhiên, số tiền này cũng chỉ gần bằng những chi phí bỏ
ra cho 100 máy bay ném bom chiến lược B.1B của Mĩ và cho dưới 7.000 tên lửa
vượt đại châu” => Kết tử nghịch hướng
5. Lẽ thường của đoạn trích
- Chiến tranh gây tổn hại lớn cho con người.
- Phải biết tiết kiệm, đừng tốn tiền cho những việc vơ ích, phi nghĩa.
- u hịa bình, ghét chiến tranh
12