Tải bản đầy đủ (.pdf) (31 trang)

Tiếp xúc văn hoá Đông Tây- Bắc Kinh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.78 MB, 31 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA QUỐC TẾ HỌC

TIỂU LUẬN CUỐI KÌ

Đề tài: Tiếp xúc văn hố Đơng – Tây: Bắc Kinh

Học phần
Tên giảng viên
Tên sinh viên
Mã số sinh viên

:
:
:
:

Tiếp xúc văn hố giữa phương Đơng và phương Tây
TS Nguyễn Thu Hằng
Phạm Thị Huyền Trang
18031985

Hà Nội - 2021

1


MỞ ĐẦU
Văn hố phương Đơng và phương Tây mang những nét đặc trưng riêng, bởi mỗi nền
văn hố đều có thời gian địa điểm hình thành khác nhau đặc biệt các nền văn hố rất đa


dạng vì mỗi chủng tộc, bộ lạc, dân tộc đều mang trong mình những bản sắc riêng. Mỗi một
sắc tộc sẽ tạo ra từng chất riêng thế nên đa dạng của văn hố là vơ tận. Tuy nhiên các nền
văn hố này đã có những sự giao lưu tiếp xúc với nhau trong lịch sử qua các cuộc phát kiến
địa lý, cuộc chiến tranh…Trung Quốc là một trong những nền văn minh lâu đời và có những
ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quốc gia khu vực phương Đơng và thậm chí là cả các quốc
gia phương Tây. Bên cạnh đó, văn hố của các nước phương Tây cũng có những ảnh hưởng
nhất định đến văn hoá Trung Quốc, tuy nhiên giai đoạn đầu quốc gia này có sự đối đầu với
nền văn minh phương Tây bởi các hệ tư tưởng khác nhau thì Trung Quốc cũng đã đón nhận
văn hố phương Tây và để lại những dấu ấn đặc sắc. Bắc Kinh là thủ đô của Trung Quốc
và được xem là thành phố phát triển bậc nhất với chỉ số GDP đầu người đứng đầu Trung
Quốc. Với bề dày lịch sử hàng nghìn năm qua các thời đại phong kiến đến nay làm cho Bắc
Kinh mang những nét văn hoá đặc sắc của cả phương Đông và phương Tây.

2


NỘI DUNG
Chương 1: Giới thiệu chung về Bắc Kinh
1.1. Nguồn gốc tên gọi
Bắc Kinh (北京) có nghĩa là "Kinh đơ phía bắc", phù hợp với truyền thống chung
của Đơng Á khi kinh đơ được dứt khốt đặt tên như chính nó. Các thành phố có kiểu tên
tương tự là Nam Kinh (南京 Nánjīng, có nghĩa là "Kinh đơ phía nam"), Tokyo (東京,
"Đông Kinh" theo chữ Hán), Đông Kinh (東京 Dōngjīng, có nghĩa là "Kinh đơ phía đơng",
ngày nay là Hà Nội); cũng như Kyoto (京都, "Kinh Đô") và Kinh Thành, (京城 – có nghĩa
là "kinh đơ", ngày nay là Seoul), Tây Kinh (西京 Xījīng, nghĩa là "Kinh đơ phía tây", nay
là Lạc Dương). Ở Trung Quốc, thành phố này có nhiều lần được đặt tên lại. Giữa thời gian
từ 1368 đến 1405, và sau đó lại một lần nữa từ 1928 đến 1949, thành phố này có tên là Bắc
Bình (北平; bính âm: Beiping; Wade-Giles: Pei-p'ing), có nghĩa "hịa bình phía bắc" hay
"bình định phía bắc". Trong cả hai trường hợp, tên được đổi – bằng cách bỏ từ "kinh" - để
phản ánh hiện thực là kinh đô đất nước đã chuyển đến Nam Kinh, lần đầu tiên dưới thời

Hồng Vũ hoàng đế Nhà Minh, và lần thứ hai dưới thời Chính phủ Quốc dân của Trung Hoa
Dân Quốc, lúc đó Bắc Kinh khơng phải là kinh đơ của Trung Hoa.
Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chuyển thủ đô về Bắc Kinh năm 1949 một lần nữa
một phần để nhấn mạnh rằng Bắc Kinh đã trở lại vai trò thủ đơ Trung Quốc của mình.
Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc ở Đài Loan chưa bao giờ cơng nhận chính thức việc đổi
tên này và trong thập niên 1950 và thập niên 1960 phổ biến ở Đài Loan gọi Bắc Kinh là
Bắc Bình để ám chỉ tính bất hợp pháp của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ngày nay, phần
lớn Đài Loan, kể cả chính phủ Đài Loan đều sử dụng tên gọi Bắc Kinh, dù một số bản đồ
của Trung Quốc từ Đài Loan vẫn sử dụng tên gọi cũ cùng với biên giới chính trị cũ. Yên
Kinh (燕京; Bính âm: Yānjīng; Wade-Giles: Yen-ching) cũng là một tên phổ biến khác
khơng chính thức của Bắc Kinh, liên hệ đến nước Yên đã tồn tại ở đây từ thời nhà Chu. Tên
này hiện được một số tổ chức sử dụng làm tên thương hiệu như bia Yên Kinh, Đại học Yên
Kinh, một trường đại học đã bị sáp nhập vào Đại học Bắc Kinh. Trong thời Nhà Nguyên,
Bắc Kinh được gọi là Đại Đô.

3


1.2. Khái quát đặc điểm
Bắc Kinh là thủ đô của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, là một trong bốn thành
phố trực thuộc Trung ương, là trung tâm chính trị, khoa học và văn hóa quốc gia, trung tâm
giao lưu quốc tế, là thành phố văn hóa lịch sử nổi tiếng ở Trung Quốc.
Dân số Bắc Kinh là hơn 21 triệu người. Trong số này, chỉ hơn một nửa số cư dân có
đăng ký thường trú trong thành phố. Phần còn lại của dân số là những người đến thủ đơ từ
các tỉnh để tìm kiếm một cuộc sống. Khoảng 7 triệu người sống trong chính thành phố.
Bắc Kinh nằm ở cuối phía bắc của Đồng bằng Hoa Bắc. Phía tây và bắc của thành
phố là các dãy núi liên tục, thuộc dãy núi Taihang và Yanshan, phía đơng và nam là các
đồng bằng rộng lớn dần dần nghiêng về phía biển Bột Hải.
Bắc Kinh có diện tích 16.808 km vuông, độ cao 43,5 mét, dân số khoảng 12 triệu
người. Các đơn vị hành chính của thành phố được chia thành 10 quận và 8 quận, trong đó

quận Dongcheng, quận Xicheng, quận Chongwen và quận Xuanwu trong Đường vành đai
thứ hai là các quận nội thành truyền thống. Trong những năm gần đây, phía đơng bắc nội
thành đã phát triển nhanh chóng, cịn phía tây nam vẫn giữ được nhiều nét kiểu cũ.
Khí hậu Bắc Kinh là khí hậu ôn đới gió mùa lục địa ấm áp, có bốn mùa rõ rệt. Mùa
đơng lạnh và khơ, đơi khi có cát, mùa hè ẩm ướt và mưa. Nhiệt độ trung bình vào tháng
Giêng là -4 ℃, và nhiệt độ trung bình vào tháng Bảy là 26 ℃. Mùa du lịch đẹp nhất là từ
cuối tháng 4 đến đầu tháng 6, và từ cuối tháng 8 đến cuối tháng 11.
Tôn giáo của Bắc Kinh rất phong phú và đa dạng như tôn giáo dân gian Trung Quốc,
Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo, Hồi giáo và Thiên chúa giáo đều có sự hiện diện lịch sử
quan trọng trong thành phố. Là thủ đô quốc gia, thành phố cũng tổ chức Cơ quan tôn giáo
nhà nước và các tổ chức bảo trợ nhà nước khác nhau của các tôn giáo hàng đầu. Trong
những thập kỷ gần đây, cư dân nước ngoài đã đưa các tôn giáo khác vào thành phố. Theo
Wang Zhiyun của Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc năm 2010, có 2,2 triệu Phật tử trong
thành phố, bằng 11,2% tổng dân số. Theo khảo sát xã hội chung của Trung Quốc năm 2009,
Kitô hữu chiếm 0,78% dân số thành phố. Theo một khảo sát năm 2010, người Hồi giáo
chiếm 1,76% dân số Bắc Kinh.

4


Chương 2: Bắc Kinh truyền thống
2.1. Kiến trúc
2.1.1. Tử Cấm Thành
Là một thành phố văn hóa nổi tiếng của thế giới nói chung và là thủ đơ của Trung
Hoa huyền bí - Bắc Kinh tự hào với những cơng trình, thành cổ gắn liền với những sự kiện
hoành tráng và 'đẫm máu' của chặng đường dài lịch sử.
Cố cung ( Tử Cấm Thành): Cố cung là hoàng cung ở Trung Quốc vào thời nhà Minh
và nhà Thanh, lúc bấy giờ được gọi là Tử Cấm Thành, sau này mới được gọi là Cố cung.

Tử Cấm Thành


Bắc Kinh là tinh hoa của kiến trúc cung điện cổ đại Trung Quốc, có diện tích 720.000 mét
vng, trong đó


Cố cung có diện tích 150.000 mét vng,



Tồn thành phố có hơn 70 cung điện lớn nhỏ

Tử Cấm Thành là một trong những cơng trình kiến trúc cổ hoàn chỉnh nhất, đã trở thành
danh lam thắng cảnh cấp quốc gia; được xếp vào danh sách 5 cung điện lớn nhất thế giới
và là di tích văn hóa trọng điểm được bảo vệ của Trung Quốc.
Kiến trúc của Tử Cấm Thành rất đặc biệt, mỗi loại cây cối trong Tử Cấm Thành đều có
một ý nghĩa và rất có thể phản ánh lịch sử văn hóa của Trung Quốc. Tên gọi đầu tiên là Tử
Cấm Thành, cái tên rất tao nhã, người ta nói rằng cấu trúc của Tử Cấm Thành là mô phỏng
cấu trúc của Thiên Cung. Màu tím của Tử Cấm Thành tượng trưng cho giữa bức tường màu
tím, sao Bắc Đẩu ở giữa bầu trời là trung tâm của tất cả các vì sao, có nhân phẩm cực cao
và sự bảo vệ nghiêm ngặt nên được gọi là Tử Cấm Thành. Đây cũng là nơi khởi nguồn tư
tưởng của Nho giáo và cũng đại diện cho cốt lõi của Nho giáo Trung Quốc.
5


Có thể nói Tử Cấm Thành cũng là nơi chứng kiến nhiều thăng trầm của lịch sử Trung
Quốc, là nhân chứng sống của nhiều cuộc tranh giành quyền lực, cải cách, chứng kiến bao
lần xoay chuyển, thay triều đổi đại. Không những thế Tử Cấm Thành đã từng bị bốc cháy,
khi Lý Chính Thành chiếm được Bắc Kinh, khi rút lui đã thiêu rụi cả Tử Cấm Thành, nhiều
cơng trình kiến trúc bị phá hủy. Về sau, quân Thanh tiến vào Bắc Kinh đánh chiếm Tử Cấm
Thành và bắt đầu tu sửa, sau gần 14 năm sửa chữa liên tục, các cơng trình kiến trúc trên

Trung Đường về cơ bản đã được trùng tu.
Đến thời Trung Hoa Dân Quốc, Phùng Ngọc Tường phát động một cuộc đảo chính ở
Bắc Kinh kết quả Phố Nghi bị trục xuất khỏi Tử Cấm Thành. Sau đó, Bảo tàng Cố Cung
được thành lập vào ngày 10 tháng 10 năm 1925, từ đó Tử Cấm Thành được đổi tên thành
Cố cung. Do Tử Cấm Thành dần đổ nát nên đến năm 1949, nhiều cung điện sụp đổ, sau khi
thành lập Tân Trung Hoa, Tử Cấm Thành được tiến hành sửa chữa quy mô lớn, Tử Cấm
Thành không chỉ là biểu tượng của thời đại mà cịn là sự kết tinh của trí tuệ trong kiến trúc
xây dựng của người Trung Quốc.
Cố Cung tráng lệ, bao phủ một khu vực rộng lớn, các tòa nhà tinh tế và phong cảnh mĩ
lệ, là điểm khiến Cố cung luôn thu hút nhiều khách du lịch Trung Quốc và nước ngồi. Có
thể nói, ngồi khung cảnh cung điện tuyệt đẹp, Cố cung còn hấp dẫn hơn bởi lịch sử và văn
hóa lâu đời của nó
Là nơi ở của hồng gia, là nơi sinh sống của 24 vị hoàng đế, đây từng là nơi hoàng gia
tổ chức nghi lễ, hội kiến các quan người nắm quyền lực cao nhất của đất nước, cũng là nơi
hoàng đế và các phi tần an lạc. Trong số đó, nhiều câu chuyện trong hồng thất ít được biết
đến và vơ số kho báu q hiếm của hồng cung cũng đặt lên một lớp bí ẩn cho cung điện
hàng thế kỷ này, và nhiều bí ẩn chưa được giải đáp cũng được sinh ra ở đây.
Tử Cấm Thành, là một đại diện tiêu biểu cho quần thể cung điện cổ đại của Trung Quốc,
là một cơng trình rất vĩ đại đứng hàng đầu thế giới. Sự nguy nga, tráng lệ của Tử Cấm
Thành không chỉ phản ánh kỹ năng tinh xảo của những người thợ thủ cơng Trung Hoa cổ
đại, mà cịn là trí tuệ và óc thẩm mỹ của người xưa.

6


2.1.2. Cơng viên Thiên Đàm
Cơng viên Thiên Đàm:
1.

Nằm ở phía nam Bắc Kinh.


2.

Nó có diện tích khoảng 2,73 triệu mét vuông.

3.

Đền Thiên được xây dựng vào năm Vĩnh Lạc thứ 18 của nhà Minh (1420), và được
xây dựng lại vào thời Càn Long và Quảng Hưng của nhà Thanh.

Vào thời nhà Minh và nhà Thanh, Thiên Đàm là nơi các vị hoàng đế thờ phụng hoàng
tộc và lễ bái trời đất cầu mùa màng bội thu. Miếu Trời là tên gọi chung của hai bàn thờ, có
hai vách thờ tạo thành bàn thờ trong và ngồi, tường thờ hình trịn theo hai hướng Nam Bắc tượng trưng cho nơi đất trời trịn. . Tịa nhà chính là gian thờ phía trong, hai bệ thờ nằm
trên cùng một trục nam bắc, ngăn cách nhau bằng một bức tường.


Được nâng đỡ bởi 28 cột gỗ lớn bằng vàng, các cột được sắp xếp theo hình trịn, ở
giữa là 4 "cột giếng dài" đỡ mái hiên phía trên;



12 cột vàng ở giữa đỡ mái hiên thứ hai, trên đáy sơn son thếp vàng vẽ hoa văn tinh
xảo bằng phương pháp mạ vàng;



12 trụ ngồi mái hiên nâng đỡ mái hiên thứ ba;




Tương ứng là trần ba gian, giếng tảo rồng phượng đặt chính giữa; c



Ác xà ngang trong sảnh được vẽ rồng, phượng và các con dấu.

Bốn "Long Tỉnh Trụ" ở giữa Đại sảnh cầu cho mùa màng bội thu tượng trưng cho bốn
mùa xuân, hạ, thu, đông; mười hai cây cột lớn ở lớp giữa mỏng hơn một chút so với trụ
Long Tỉnh, tên là Jin Zhu, tượng trưng cho 12 tháng trong năm; 12 cây cột bên ngồi Nó
được gọi là Yanzhu, tượng trưng cho 12 giờ trong ngày. Có tổng cộng 24 cây cột ở hai tầng
trong và ngoài nước, tượng trưng cho 24 tiết trời.

7


Công viên Thiên Đàm (天坛公园/Tiāntán gōngyuán)
Đây là nơi để các hoàng đế của triều đại nhà Minh và nhà Thanh thờ cúng hoàng đế và
cầu mong sự dồi dào của các loại ngũ cốc. Năm 1961, Quốc vụ viện Trung Quốc công bố
Thiên Đàm là “Đơn vị bảo vệ Di tích Văn hóa Trọng điểm Quốc gia”. Năm 1998, nó đã
được UNESCO cơng nhận là “Di sản văn hóa thế giới”. Ngày 8 tháng 5 năm 2007, Công
viên Thiên Đàm chính thức được Tổng cục Du lịch phê duyệt là điểm du lịch cấp quốc gia
Trung Quốc.
2.1.3. Phố cổ Hutong
Hutong – hay Hồ Đồng – là loại đường phố hẹp những con hẻm, thường xuất hiện
nhiều ở các thành phố miền Bắc Trung Quốc, trong đó nổi tiếng nhất là ở Bắc Kinh. Tại
đây, các Hutong là những con hẻm hình thành theo dãy Tứ-Hợp-Viện (siheyuan). Một “ Tứ
hợp viện” Bắc Kinh theo tiêu chuẩn sẽ được xây dựng ở phía Bắc và hướng về phía Nam,
cửa nhà chếch về phía Đơng Nam. Phía Nam có 5 căn phịng, cửa chính được đặt ở ngồi
cùng phía Đơng, phía bên cạnh của cửa chính là gian nhà đầu tiên. Từ cửa chính bước vào,
chúng ta sẽ nhìn thấy ngay một bức bình phong. Phía trước bức bình phong chúng ta sẽ

nhìn thấy một cánh cửa, đi qua cánh cửa này sẽ dẫn chúng ta đến các gian nhà ở. Tùy theo
cấu trúc lớn nhỏ chia ra các loại hình “ tứ hợp viện” khác nhau. Trong đó phổ biến là Tứ
hợp viện một sân (như dạng tượng hình chữ khẩu 口); tứ hợp viện hai sân (như dạng tượng
hình chữ nhật 日); tứ hợp viện ba sân (như dạng tượng hình chữ mục 目), ngồi ra cịn có
8


Ngồi ra, tứ hợp viện thiết kế lớn nhất có thể lên đến 7 sân hoặc 9 sân. Theo phong thủy,
“tọa bắc hướng nam” để ánh sáng ln có trong nhà, tránh được cát bụi bay vào. Nên gian
chính của gia chủ là gian bắc đối diện hướng nam cũng tức là đối diện cửa ra vào (gọi là
chính phịng). Hai bên là chái nhà, mặt trời hướng vào ít hơn (gọi là sương phịng). Giữa
chính phịng và sương phịng nối liền nhau bởi hành lang có mái ngói lợp liền kề. Chính
phịng (bắc phịng): xây trên nền gạch đá, rộng hơn các gian phịng khác và gian chính của
chủ nhà, cũng là gian tập trung họp mặt gia đình. Sương phịng (đơng phịng và tây phịng):
gian cho con cháu. Nam phịng: dành tơi tơi tớ hoặc chứa vật dụng sinh hoạt. - Tuy nhiên
từ góc độ khách quan nhìn nhận, thiết kế của Tứ hợp viện không thật sự khoa học. Ngồi 3
căn phịng ở phía Bắc, các căn phịng khác đều có nhược điểm riêng. Ngày xưa người Bắc
Kinh truyền nhau câu nói rằng “ Có tiền khơng ở phía Đơng, Nam, mùa đơng khơng ấm,
mùa hè khơng mát”. Bởi vì sương phịng ở phía Đơng, mùa hè rất nóng. Khi mùa Đơng đến
gió phía Tây Bắc thổi đến rất là lạnh. Căn sương phịng ở phía Nam thì càng khơng tốt, cửa
chính và cửa sổ đều đặt ở phía Bắc vì thế ánh sáng khó có thể chiếu vào. Căn sương phịng
phía Tây mặc dù tốt hơn phía Nam và phía Đơng, tuy nhiên vào mùa hè ở đây cũng rất
nóng. Chỉ có duy nhất căn dãy nhà theo phía Bắc là đáp ứng được tiêu chí mùa đơng khơng
lạnh, mùa hè khơng nóng có ánh sáng đầy đủ.

Một ngôi nhà xây theo kiến trúc Tứ hợp viện trong các Hutong
Kiến trúc Tứ hợp viện thể hiện quan niệm phong kiến và sự phân biệt tầng lớp được
hình thành trong quá trình phát triển lịch sử lâu dài của Trung Quốc, hơn nữa nó cũng phần
9



nào phản ánh sự coi trọng tôn ti trật tự vai vế trong gia đình của người Trung Quốc - Xung
quanh 4 phía của sân là 4 bức bình phong, vì thế người bên ngồi khơng thể nhìn thấy hoạt
động bên trong sân, ngược lại người bên trong cũng không nhìn thấy hoạt động bên ngồi.
Cả một thế hệ sinh sống với nhau trong tứ hợp viện, họ rất ít có hoạt động giao tiếp với
bên ngồi. Hơn nữa bình thường cửa chính đều đóng. Vì thế có thể nói “ Tứ hợp viện”
phản ánh một cách vô cùng rõ lối sống khép kín mang đậm phong cách truyền thống của
Trung Quốc thời kì trước. - Đặc điểm tiếp theo chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy được đó
là việc sắp xếp phòng ở là theo một quy định nhất đinh. Về bố cục, phịng chính sẽ cao hơn
trắc phịng, diện tích cũng sẽ rộng hơn. Nơi này thường được sắp xếp cho trưởng bối trong
nhà, con cháu sẽ ở sương phòng hoặc là 2 bên phòng giáp với chính phịng. Việc sắp xếp
phịng ở sẽ dựa theo tuổi tác, từ lớn đến bé, có quy định vơ cùng rõ ràng. Cách sắp xếp như
vậy không chỉ làm nổi bật địa vị của các trưởng bối trong nhà, hơn thế nó cịn phần nào
hình thành tơn ti trật tự vai vế trong dịng họ, làm tốt lên sự phân biệt giai cấp, tầng lớp
một cách rõ nét. - Các gian phòng của Tứ hợp viện kết hợp lại tạo thành một khoảng sân
nhỏ ở giữa. Nơi đây được coi là nơi vui chơi giải trí, nơi quây quần,tụ họp của cả đại gia
đình. Nơi đây đem lại cho người sống ở đây một cảm giác tách biệt với thế giới bên ngồi,
hịa mình vào khơng gian n bình, trong lành và tĩnh lặng.
2.2. Nghệ Thuật
Các hình thức nghệ thuật ấn tượng được gọi là opera Bắc Kinh - hoặc Peking opera
- đã là một yếu của giải trí Trung Quốc trong hơn hai thế kỷ. Nó được thành lập vào năm
1790 khi "Tứ Đại An Huy Đoàn" đến Bắc Kinh để biểu diễn cho triều đình.
Khoảng 40 năm sau, các đoàn kịch opera nổi tiếng từ Hồ Bắc đã tham gia biểu diễn
An Huy, làm phong cách địa phương của họ.
Cả hai đoàn kịch opera Hồ Bắc và An Huy đều sử dụng hai giai điệu chính được
chuyển thể từ truyền thống âm nhạc Sơn Tây: "Xipi" và "Erhuang". Từ sự hợp nhất của
phong cách địa phương, Bắc Kinh mới hoặc Bắc Kinh opera phát triển. Hôm nay, Bắc Kinh
Opera được coi là hình thức nghệ thuật quốc gia của Trung Quốc .

10



Nhà hát Bắc Kinh nổi tiếng với những âm mưu phức tạp, trang điểm sinh động, bộ
trang phục đẹp mắt và phong cách thanh nhạc độc đáo được các nghệ sĩ biểu diễn sử dụng.
Nhiều trong số 1.000 ô - có lẽ khơng đáng ngạc nhiên - xoay quanh xung đột chính trị và
qn sự, thay vì lãng mạn. Những câu chuyện cơ bản thường là hàng trăm hoặc thậm chí
hàng ngàn năm tuổi liên quan đến các sinh vật lịch sử và thậm chí siêu nhiên.
Nhiều người hâm mộ của Bắc Kinh Opera đang lo lắng về số phận của hình thức
nghệ thuật này. Các vở kịch truyền thống đề cập đến nhiều sự kiện của cuộc sống và lịch
sử Cách mạng Văn hóa tiền bối vốn khơng quen thuộc với giới trẻ. Hơn nữa, nhiều phong
trào cách điệu có ý nghĩa đặc biệt mà có thể bị mất trên khán giả không được bắt đầu.
Đáng lo ngại nhất của tất cả, vở opera bây giờ phải cạnh tranh với các bộ phim,
chương trình truyền hình, trị chơi máy tính và internet cho sự chú ý. Chính phủ Trung Quốc
đang sử dụng các khoản tài trợ và các cuộc thi để khuyến khích các nghệ sĩ trẻ tham gia
Bắc Kinh Opera.
2.3. Văn hoá ẩm thực
2.3.1. Lịch sử ẩm thực Bắc Kinh
Bắc Kinh là thủ đô của Trung Quốc trong nhiều thế kỷ, nên ẩm thực của nó bị ảnh
hưởng bởi truyền thống ẩm thực từ khắp Trung Quốc, nhưng phong cách có ảnh hưởng lớn
nhất đến ẩm thực Bắc Kinh là của tỉnh ven biển phía đơng Sơn Đơng. Đến lượt mình, ẩm
thực Bắc Kinh cũng ảnh hưởng rất nhiều đến các nền ẩm thực khác của Trung Quốc, đặc
biệt là ẩm thực của Liêu Ninh, các Ẩm thực cung đình Trung Quốc và Ẩm thực quý tộc
Trung Quốc.
Một truyền thống khác ảnh hưởng đến ẩm thực Bắc Kinh (cũng như chịu ảnh hưởng
của chính ẩm thực Bắc Kinh) là ẩm thực cung đình Trung Quốc có nguồn gốc từ "Nhà bếp
của Hồng đế" (御膳 房; ýshànfáng), đề cập đến các thiết bị nấu ăn bên trong Thành phố
bị cấm, nơi hàng ngàn đầu bếp từ các vùng khác nhau của Trung Quốc đã thể hiện tài nấu
nướng tốt nhất của họ để làm hài lịng hồng gia và các quan chức. Vì vậy, đơi khi rất khó
để xác định nguồn gốc thực sự của một món ăn vì thuật ngữ "Mandarin" được khái qt
hóa và khơng chỉ dùng để chỉ Bắc Kinh mà còn các tỉnh khác. Tuy nhiên, một số khái quát

11


về ẩm thực Bắc Kinh có thể được đặc trưng như sau: Thực phẩm có nguồn gốc từ Bắc Kinh
thường là món ăn nhẹ hơn là món chính, và chúng thường được bán bởi các cửa hàng nhỏ
hoặc người bán hàng rong. Tập trung vào tương đen, bột mè, dầu mè và hành lá, và đậu hủ
lên men thường được dùng như một loại gia vị. Về kỹ thuật nấu ăn, các phương pháp liên
quan đến các cách chiên khác nhau thường được sử dụng. So với nhiều vùng khác ở Trung
Quốc, người ta ít chú trọng đến lúa gạo hơn so với nhiều vùng khác ở Trung Quốc, vì sản
lượng lúa địa phương ở Bắc Kinh bị hạn chế bởi khí hậu tương đối khơ hạn.
Nhiều món ăn trong ẩm thực Bắc Kinh được phục vụ như các món chính có nguồn
gốc từ nhiều loại thực phẩm Halal của Trung Quốc, đặc biệt là các món thịt cừu và thịt bị,
cũng như từ ẩm thực Hồi Dương.
Ẩm thực Hồi Dương đã được ca ngợi từ thời cổ đại ở Trung Quốc và việc một quan
chức đến Bắc Kinh nhận chức vụ mới mang theo một đầu bếp chuyên về ẩm thực Hồi
Dương là một thơng lệ chung. Khi các quan chức này hồn thành nhiệm kỳ ở thủ đơ và trở
về tỉnh lẻ, hầu hết các đầu bếp mà họ dẫn theo thường ở lại Bắc Kinh. Họ mở nhà hàng của
riêng mình hoặc được thuê bởi những người dân địa phương giàu có. Gia tộc hồng gia của
Triều đại nhà Minh, các Nhà của Zhu, người có tổ tiên từ tỉnh Giang Tơ, cũng góp phần rất
lớn trong việc giới thiệu ẩm thực Hoài Dương đến Bắc Kinh khi thủ đô được chuyển từ
Nam Kinh đến Bắc Kinh vào thế kỷ 15, bởi vì nhà bếp của hồng gia chủ yếu là phong cách
Hoài Dương. Yếu tố văn hóa ẩm thực và ẩm thực Bắc Kinh truyền thống của việc thưởng
thức các buổi biểu diễn nghệ thuật như Opera Bắc Kinh trong khi việc ăn uống được phát
triển trực tiếp từ thực tiễn tương tự trong văn hóa của Giang Tơ và các món ăn Hồi Dương.
Ẩm thực Hồi giáo Trung Quốc là một thành phần quan trọng khác của ẩm thực Bắc
Kinh và lần đầu tiên được giới thiệu nổi bật khi Bắc Kinh trở thành thủ đơ của Triều đại
nhà ngun. Tuy nhiên, đóng góp đáng kể nhất cho sự hình thành của ẩm thực Bắc Kinh
đến từ Ẩm thực Sơn Đông, như hầu hết các đầu bếp từ Tỉnh Sơn Đông đến Bắc Kinh hàng
loạt trong thời gian Triều đại nhà Thanh. Không giống như hai nền ẩm thực trước đó, được
mang đến bởi tầng lớp thống trị như quý tộc, quý tộc và quan chức và sau đó lan rộng đến

tầng lớp bình dân, sự ra đời của ẩm thực Sơn Đông bắt đầu từ việc phục vụ dân chúng, với
phân khúc thị trường rộng lớn hơn nhiều, từ các thương gia giàu có đến giai cấp công nhân.
12


2.3.2. Các đại diện của văn hoá ẩm thực Bắc Kinh
* Vịt Bắc Kinh:
Vịt quay Bắc Kinh là món ăn nổi tiếng của nhà hàng Vịt quay Bắc Kinh Quanjude,
nổi tiếng trong và ngoài nước với màu đỏ, thịt mềm, vị thanh, béo nhưng không ngấy.
Theo truyền thuyết, vẻ đẹp của vịt quay có nguồn gốc từ lồi vịt quay Bắc Kinh q
giá, là lồi vịt có chất lượng thịt cao nhất thế giới hiện nay. Người ta nói rằng việc chăn
ni lồi vịt Bắc Kinh trắng tinh đặc biệt này bắt đầu cách đây khoảng một nghìn năm do
các hoàng đế của triều đại Liêu, Tấn và Nguyên săn lùng. đã được tiếp tục cho đến lúc đó.
Được thuần chủng tốt này và được ni thành lồi vịt ăn thịt quý hiếm ngày nay. Là loại
vịt trắng được vỗ béo bằng phương pháp cho ăn nên có tên là vịt lấp. Không chỉ vậy, vịt
quay Bắc Kinh đã được truyền bá sang Châu Âu và Hoa Kỳ từ cả trăm năm trước, và sau
khi nhân giống nó đã trở thành bom tấn. Vì vậy, với tư cách là lồi vịt quay Bắc Kinh chất
lượng cao, từ lâu, đây đã là nguồn cung cấp loài vịt quý hiếm trên thế giới.

Vịt quay Bắc Kinh là một món ăn hồng gia

Có ba cách để ăn vịt quay Bắc Kinh:
Cách ăn vịt quay Bắc Kinh thứ nhất: Tương truyền do các cô nương ở cổng dinh thự
mang lên. Họ không ăn hành lá hay tỏi, nhưng họ thích nhúng miếng da vịt giịn giịn vào
nước đường để ăn. Sau đó, khi khách quen của Quanjude nhìn thấy một vị khách nữ đến,
chắc chắn anh ta sẽ đi theo quay vịt quay và phục vụ một đĩa đường nhỏ.
13


Cách ăn vịt quay Bắc Kinh thứ hai: Mì ngọt chấm với hành lá, có thể ăn kèm với

dưa leo, củ cải; dùng đũa chấm một ít nước mắm ngọt, phết lên bánh lá sen, đặt vài lát. Cho
vịt quay lên trên, cho ít hành lá, dưa leo hoặc củ cải thái sợi, cuốn bánh lá sen lên thật là
ngon.
Cách thứ ba để ăn vịt quay Bắc Kinh: nước sốt mì ngọt tỏi, ăn kèm với cà rốt,… Thịt
vịt cuốn lá sen cũng là một gia vị phổ biến trong những năm đầu. Tỏi băm nhuyễn có thể
làm giảm độ ngấy. Nhúng vịt quay thái lát với tỏi xay và nước mắm phở ngọt vừa ăn, thêm
vị cay cho mùi thơm tươi, hương vị độc đáo hơn. Nhiều khách hàng đặc biệt ưa chuộng loại
gia vị này.
* Kẹo trái cây Bắc Kinh:
Kẹo trái cây Bắc Kinh được làm theo công thức bí mật truyền thống của hồng cung
và được tinh chế từ trái cây tươi, vị chua chua ngọt ngọt vừa phải, thanh mát, ngọt dịu
nhưng không béo ngậy, hương vị trái cây đậm đà, có hàng nghìn loại và hàng trăm quy cách
như mơ khô, lê khô, thu hải đường… Các loại sản phẩm đều được Bộ Nông nghiệp công
nhận là thực phẩm xanh.
Kẹo hoa quả của Bắc Kinh được làm từ Phịng ăn của Hồng cung Cố Cung. Để đảm
bảo hồng đế có thể ăn hoa quả tươi quanh năm, các đầu bếp đã phân loại hoa quả sản xuất
theo từng mùa và ngâm trong mật ong để hồng đế có thể ăn bất cứ lúc nào. Về sau, phương
thức sản xuất này từ hoàng cung truyền bá, ở Bắc Kinh có một xưởng chuyên sản xuất hoa
quả bảo quản.
Quy trình làm keọ: hái quả phải chín đến khi tách được lõi và cùi, sau đó hái ngay
và đưa về nhà máy chế biến, quả mơ tươi được nạo thành hai cánh và đun sôi với dung dịch
đường trắng, hoặc dung dịch đường. dùng để hút ẩm trong quả.
Việc lựa chọn nguyên liệu và chế biến cầu kỳ nên sản phẩm có màu sắc đẹp, hương
vị thơm ngon, mềm mại, sảng khoái. Màu sắc từ vàng nhạt đến vàng cam, hình bầu dục,
khơng bị rách hoặc thối, khơng đảo đường, khơng dính tay, ăn mềm, có vị chua ngọt.
Dinh dưỡng của quả kẹo Hàm lượng đường trong quả kẹo có thể lên tới hơn 35% và
hàm lượng đường nghịch đảo có thể chiếm khoảng 10% tổng lượng đường. Mọi người.
14



Ngồi ra, nó cịn chứa axit trái cây, khống chất và vitamin C. Có thể thấy kẹo trái cây là
một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao.
2.4. Tơn giáo
Các di sản tôn giáo của Bắc Kinh rất phong phú và đa dạng như tôn giáo dân gian
Trung Quốc, Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo, Hồi giáo và Thiên chúa giáo đều có sự hiện
diện lịch sử quan trọng trong thành phố. Là thủ đô quốc gia, thành phố cũng tổ chức Cơ
quan tôn giáo nhà nước và các tổ chức bảo trợ nhà nước khác nhau của các tôn giáo hàng
đầu. Trong những thập kỷ gần đây, cư dân nước ngồi đã đưa các tơn giáo khác vào thành
phố. Theo Wang Zhiyun của Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc năm 2010, có 2,2 triệu
Phật tử trong thành phố, bằng 11,2% tổng dân số. Theo khảo sát xã hội chung của Trung
Quốc năm 2009, Kitô hữu chiếm 0,78% dân số thành phố. Theo một khảo sát năm 2010,
người Hồi giáo chiếm 1,76% dân số Bắc Kinh.
* Tôn giáo dân gian Trung Hoa và Đạo giáo:
Bắc Kinh có nhiều đền thờ dành riêng cho các vị thần tôn giáo và cộng đồng dân
gian, nhiều trong số đó đang được xây dựng lại hoặc tân trang lại vào những năm 2000 và
2010. Sự thờ cúng hàng năm cho Thần Thiên (祭天 jìtiān) tại Đền Thiên Đàn đã được các
nhóm Nho giáo phục hồi lại vào những năm 2010.
Có những ngơi đền dành riêng cho việc thờ phụng Nữ thần (娘娘 Niángniáng) trong
thành phố, một trong số đó gần Làng Olympic, và chúng xoay quanh một trung tâm giáo
phái lớn ở Núi Miaofeng. Ngồi ra cịn có nhiều ngơi đền được thánh hiến cho Long vương
(龙神 Lóngshén), cho Thầy thuốc (Yàowáng), cho Quan Vũ (关 Guāndì), cho Thần lửa (火
神 Huǒshén), cho Thần Tài (Cáishén), đền thờ của Thành hoàng (Chénghuángshén), và ít
nhất một ngơi đền được thánh hiến cho vị Hồng Đế của nhóm sao Bắc Đẩu (黄帝
Xuānyn Hngdì) ở quận Pinggu. Nhiều ngôi đền trong số này được quản lý bởi Hiệp
hội Đạo giáo Bắc Kinh, chẳng hạn như Đền Lửa của Hồ Shicha, trong khi nhiều ngôi đền
khác thì khơng và được quản lý bởi các Ủy ban và người dân địa phương nổi tiếng. Một
ngôi đền lớn của Xuanyuan Huangdi sẽ được xây dựng tại Bình Cốc (có thể là một bản mở
rộng của ngơi đền đã tồn tại) vào năm 2020, và ngơi đền sẽ có một bức tượng của vị thần
sẽ nằm trong số những vị thần cao nhất thế giới.
15



Hiệp hội Đạo giáo quốc gia Trung Quốc và Cao đẳng Đạo giáo Trung Quốc có trụ
sở tại Bạch Vân Quán của Toàn Chân đạo, được thành lập năm 741 và được xây dựng lại
nhiều lần. Đền Dongyue Bắc Kinh bên ngồi Chaoyangmen là ngơi đền lớn nhất của Đạo
giáo Trịnh Nghi trong thành phố. Hiệp hội Đạo giáo Bắc Kinh địa phương có trụ sở tại Đền
Lüzu gần Fuxingmen.
* Phật giáo:
11% dân số Bắc Kinh theo Phật giáo. Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc, cơ quan giám
sát của nhà nước giám sát tất cả các tổ chức Phật giáo ở Trung Quốc đại lục, có trụ sở tại
chùa Guangji, một ngôi chùa được thành lập hơn 800 năm trước dưới thời nhà Kim (1115–
1234) ngày nay là Fuchengmennei. Hiệp hội Phật giáo Bắc Kinh cùng với Dàn hợp xướng
và dàn nhạc Phật giáo có trụ sở tại chùa Guanghua, có từ thời nhà Nguyên hơn 700 năm
trước. Học viện Phật giáo Trung Quốc và thư viện của nó được đặt trong chùa Fayuan gần
Caishikou. Đền Fayuan, có từ thời nhà Đường cách đây 1300 năm, là ngôi đền cổ nhất ở
thành thị Bắc Kinh. Đền Tongjiao bên trong Dongzhimen là ni viện Phật giáo duy nhất của
thành phố.
Đền Tây Vàng ban đầu có từ thời nhà Liêu. Năm 1651, ngơi đền được Hồng đế nhà
Thanh Thuận Trị ủy nhiệm để tổ chức chuyến viếng thăm của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ năm
tới Bắc Kinh. Kể từ đó, ngơi đền này đã tổ chức Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 cũng như các
Lạt ma thứ sáu, thứ chín và thứ mười. Ngôi chùa Phật giáo Tây Tạng lớn nhất ở Bắc Kinh
là chùa Yonghe, được Hoàng đế Càn Long ra lệnh vào năm 1744 để làm nơi cư trú và
nghiên cứu cho vị thầy Phật giáo Rölpé Dorjé của ông Changkya thứ ba (hay Đức Phật
sống ở Nội Mơng). Đền Yonghe được đặt tên như vậy vì đây là nơi ở thời thơ ấu của Hồng
đế Ung Chính, và vẫn giữ những viên ngói lưu y dành riêng cho các cung điện hoàng gia.
Đền Lingguang của Badachu ở Western Hills cũng có từ thời nhà Đường. Chùa Zhaoxian
của ngôi đền được xây dựng lần đầu tiên vào năm 1071 trong thời Liêu để giữ một di tích
răng của Đức Phật. Ngôi chùa đã bị phá hủy trong phong trào Nghĩa Hịa Đồn và chiếc
răng được phát hiện từ nền tảng của nó. Một ngơi chùa mới được xây dựng vào năm 1964.
Sáu ngơi chùa nói trên: Guangji, Guanghua, Tongjiao, West Yellow, Yonghe và Lingguang

đã được chỉ định là chùa Phật giáo quan trọng quốc gia ở khu vực Hán Trung.

16


Ngồi ra, những ngơi đền đáng chú ý khác ở Bắc Kinh bao gồm Đền Tanzhe (được
thành lập vào thời nhà Tấn (265–420) là lâu đời nhất trong đô thị), Đền Tianning (chùa cổ
nhất trong thành phố), Đền Miaoying (nổi tiếng với thời kỳ trắng của Yuan dagoba), Đền
Wanshou (nơi có Bảo tàng Nghệ thuật Bắc Kinh) và Đền Big Bell.
* Hồi giáo:
Bắc Kinh có khoảng 70 nhà thờ Hồi giáo được Hiệp hội Hồi giáo Trung Quốc cơng
nhận, có trụ sở được đặt bên cạnh Nhà thờ Hồi giáo Niujie, nhà thờ Hồi giáo lâu đời nhất
và nổi tiếng nhất trong thành phố. Nhà thờ Hồi giáo Niujie được thành lập vào năm 996
dưới thời nhà Liêu và thường xuyên được các chức sắc Hồi giáo ghé thăm. Các nhà thờ Hồi
giáo đáng chú ý khác trong thành phố cổ bao gồm Nhà thờ Hồi giáo Dongsi, được thành
lập vào năm 1346; Nhà thờ Hồi giáo Huashi, được thành lập vào năm 1415; Nhà thờ Hồi
giáo Nan Douya, gần Triều Dương; Nhà thờ Hồi giáo đường Jinshifang, ở quận Xicheng;
và nhà thờ Hồi giáo Dongzhimen. Có những nhà thờ Hồi giáo lớn trong các cộng đồng Hồi
giáo xa xôi ở Hải Điến, Madian, Thơng Châu, Xương Bình, Changying, Shijingshan và Mật
Vân. Viện Hồi giáo Trung Quốc nằm trong khu phố Niujie ở quận Tây Thành.
2.5. Về tính cách con người
Đặc điểm của người Bắc Kinh là hài hước, không tầm thường, có tài hùng biện, thích
làm quan, trọng nghĩa khinh tài, mở ra là tư duy vĩ mô, lời ăn tiếng nói bộc lộ tính ưu việt
của người thủ đô. Người Bắc Kinh xưa thường cởi trần, lắc lư cây chuối, đi vòng quanh sân
để khoe khoang, nhưng bây giờ người Bắc Kinh tìm đến các quán bar Shichahai và Sanlitun
để ngâm mình, uống một chút rượu và nhỏ lưỡi., Một người Bắc Kinh phim, nói về quá
khứ và hiện tại.
Người Bắc Kinh có thể nói tốt, điều này nằm ngoài tầm với của bất kỳ người ngoài
cuộc nào. Có thể nói chuyện ở Bắc Kinh là một loại khả năng và một loại vốn để tự hào.
"Kan" là một cách giải trí độc đáo của người Bắc Kinh. Hầu hết người Bắc Kinh đều là

những bộ phim Kanye và Bắc Kinh hùng hồn và hùng hồn. Tuy nhiên, điều họ chú ý khơng
phải là “cách nói chuyện”, cũng khơng phải “cách nói chuyện”, “cách nói chuyện hay”, mà
là nói chuyện vì lợi ích, khơng phải hình thức cũng như mục đích, từ những sự kiện trọng
đại của đất nước đến những việc vặt vãnh. Bạn có thể nói về bất cứ điều gì. Bạn có thể nhảy

17


múa với niềm vui, bạn có thể lộng lẫy, bạn có thể hoa mắt, bạn khơng thể tìm thấy phương
bắc, nó được gọi là "Shenkan".
Có người nói đùa rằng, sở dĩ những ngọn núi xung quanh Bắc Kinh thấp như vậy là
để người dân Bắc Kinh “nói chuyện” (chém). Các khách sạn lớn nhỏ trên các con đường,
ngõ hẻm của thành phố Bắc Kinh, đèn sáng, nhà lầu, nguyên nhân chính khơng phải do
người Bắc Kinh thích ăn uống mà là người Bắc Kinh thích tụ tập và “kan”. . Người dân Bắc
Kinh nói về nhiều chủ đề, bao gồm ăn, uống, vui chơi, quần áo, nhà ở, hoa, chim, cơn trùng,
cá, giai thoại, chính trị, kinh tế, phong cách, đông và tây, bắc và nam.
Người Bắc Kinh táo bạo, cởi mở và có tư tưởng cởi mở. Trong hệ thống giá trị của
người Bắc Kinh, lòng trung thành, dũng cảm và độ lượng được đánh giá cao, nhưng sắc
sảo, cư xử tốt, bóng bẩy, hèn nhát và tính tốn lại bị người Bắc Kinh coi thường. Chú ý để
tự nhiên, trở về những điều cơ bản trong cuộc sống, không cố ý điêu khắc, đơn giản và bao
quát, nhấn mạnh sự trung thành và không chú ý đến các quy tắc.
Ưu điểm của đàn ơng Bắc Kinh là nói nhiều, nói nhiều, hài hước và hay giật gân,
nếu khơng cẩn thận sẽ trở thành ông tơ bà nguyệt. Đàn ông Bắc Kinh đều theo kiểu "ông
chú "-" Tôi là ông chú ". Khi bạn chơi ở Bắc Kinh, bạn phải chơi với màu sắc, bạn phải là
người nổi tiếng, ra ngồi là một "người đàn ơng", ngã xuống là một "người đàn ông", một
miệng là "kanye", và khi bạn im lặng, bạn là một "bạn thân" ". Câu nói của Wang Shuo
"Tôi là kẻ bất hảo mà tôi sợ" đã từng phổ biến trên khắp đất nước.
Đàn ông Bắc Kinh vạm vỡ, khỏe mạnh, thô kệch và kiêu ngạo, tuy không mạnh dạn,
chân chất như đàn ông Đông Bắc nhưng về mặt truyền miệng họ lại nhỉnh hơn đàn ông
Thượng Hải sắc sảo. Đàn ông Bắc Kinh có phẩm chất văn hóa cao và thích nói hoặc đưa ra

lời khuyên về những gì họ đã thấy và đã nghe, họ nói những lời đáng ngạc nhiên và hóm
hỉnh, ăn nói sinh động, ăn nói xuất sắc và khiến người khác phải sửng sốt. Đàn ông Bắc
Kinh cũng theo đuổi thời trang, họ luôn chọn phong cách và dáng vẻ khi mua đồ, thường
mua sản phẩm mới trước đàn ông ở các thành phố khác, thích thử những nhãn hiệu mới,
sẵn sàng bỏ nhiều thời gian và tiền bạc cho những thứ hợp thời trang cao cấp hơn.
Đàn ông Bắc Kinh chơi hết mình vì cuộc sống của họ. Đầu tiên họ chơi bi-a, sau đó
chơi bowling và mạt chược. Du lịch tự túc đã xuất hiện từ cuối những năm 1970. Những
hình thức phổ biến hiện nay là leo núi mạo hiểm, nhảy bungee mạo hiểm và đua thuyền
18


kart xuống dốc. Nó là một cách sống trong xã hội hiện đại để giải tỏa căng thẳng và xả
stress, thực ra đây là điều nằm trong xương máu của đàn ơng Bắc Kinh: Người miền Nam
gọi là “ngầu” cịn người Bắc Kinh gọi là “sát khí”.
Đàn ơng Bắc Kinh cho rằng mình “dưới chân là hồng đế, là bề trên là thượng”, kẻ
làm ăn là “đồng bọn”, kẻ có thể khoe khoang là “nàng Kanye”, kẻ khỏa thân trên người là.
được gọi là "Bangye", và người đi xe ba bánh cũng được gọi là "Banye". Trong "Jing Ye"
Dưới lớp vỏ bọc của văn hóa, những thói hư tật xấu sinh ra là: nói nhiều, làm ít, khơng làm
được việc lớn, không muốn làm việc nhỏ, ưa sĩ diện, sĩ diện, chỉ muốn được phục vụ, không
muốn làm. không muốn phục vụ người khác. Nếu bạn nhìn thấy một người đàn ông trẻ tuổi
đang sửa giày và lau chiếc mũ trùm đầu trên các con đường và ngõ hẻm, anh ta phải là
người nước ngồi, và anh ta khơng chắc là người địa phương ở Bắc Kinh, bởi vì hầu hết
người Bắc Kinh đều thích thể diện, ngay cả khi họ khơng có cơng việc, họ ở nhà và ăn uống
nhàn nhã, nhưng họ khơng muốn làm điều đó.
Nói chung, phụ nữ Bắc Kinh khơng xinh đẹp, nhưng khí chất của phụ nữ Bắc Kinh
thì khơng nơi nào sánh được, họ có gu thẩm mỹ tinh tế hơn là xinh đẹp; phụ nữ Bắc Kinh
khơng tiên phong, nhưng lại có khiếu phản kháng hơn cả tiên phong. Nội dung, bất kể họ
mặc đắt hay xấu, luôn khiến người ta cảm thấy độc đáo và thanh lịch. Về ngoại hình, sự
hiểu biết về bản thân của họ cũng sẽ khiến bạn bất ngờ, cơ ấy sẽ chủ động nói: "Đừng nói
là em đẹp, trong lòng em như gương, nhưng nét duyên của em là duy nhất, đẹp là đẹp. Tuổi

trẻ sánh bước cùng cuộc đời, vẻ đẹp hoàn toàn phụ thuộc vào tâm hồn. Vì vậy, người phụ
nữ Bắc Kinh là một phong cảnh đẹp, đẹp mang màu sắc của Bắc Kinh.
Phụ nữ Bắc Kinh bản chất là kiêu ngạo hơn, và đây là nơi đàn ông và phụ nữ ở những
nơi khác đồng lòng. Tuy nhiên, sự kiêu ngạo của phụ nữ Bắc Kinh không phải là kiêu ngạo,
mà là kiêu ngạo trong xương. Cơ ấy có thể tự mình vào SOGO khơng cần tiền, nhưng vẫn
ngẩng cao đầu, có thể đánh nhau với một người đàn ông thề không thua, sau đó đi ra ngồi
nơn thốc nơn tháo ... Loại kiêu ngạo này là mang trong bụng mẹ nên cơ đã hun đúc nên đức
tính của một người phụ nữ Bắc Kinh, tính cách thẳng thắn, dám yêu dám hận.
Tun ngơn về tình u của người phụ nữ Bắc Kinh: yêu phải chân thật, vừa lòng nhau mới
được đẹp mắt. Họ yêu và ghét rõ ràng. Họ yêu bạn mãnh liệt, làm nóng bạn, bỏng bạn và
kích thích bạn đến chết; ghét bạn lạnh lùng và lạnh lùng, và dùng một cái vẫy tay đẩy bạn
19


vào hầm băng. Phụ nữ Bắc Kinh sẵn sàng khóc vì tình cảm của mình, trong thế giới tình
cảm, họ khơng quen mơ hồ, khoa trương, khơng thích mưa liên tục, dù là gió to hay mưa
rào. Người phụ nữ Bắc Kinh có một tính cách lạnh lùng, và cơ ấy cảm thấy như gió mùa
thu. Bạn bè thường nói: Tơi rất thích nghe phụ nữ Bắc Kinh nói, lời nói trịn trịa, thẳng thắn
như hạt to, hạt nhỏ rơi trên đĩa ngọc. Những người phụ nữ Bắc Kinh trở nên giận dữ như
mưa đá mùa hè, bữa ăn tàn khốc.
Trái tim của một phụ nữ Bắc Kinh rộng như cát và cứng như bức tường của Vạn Lý
Trường Thành cổ; trái tim của một phụ nữ Bắc Kinh rộng như đại lộ Trường An và sâu như
biển không đáy; trái tim của một Bắc Kinh đàn bà trong như trăng trên trời, trong sáng Như
đậu phụ trộn hẹ ... Trái tim phụ nữ Bắc Kinh là tập hợp của tất cả những tâm tư của phụ nữ.
Đây không phải là muốn ăn thêm, mà là nói cho ngươi biết, đừng đoán tâm tư của một
người phụ nữ Bắc Kinh, cho dù có đốn cũng khơng hiểu.
Chương 3: Ảnh hưởng của văn hoá phương Tây đối với Bắc Kinh
3.1. Quá trình tiếp nhận văn hố phương Tây đến Bắc Kinh
Trong khi tiến hành giao lưu văn hóa giữa Bắc và Nam, Bắc Kinh vào thời nhà
Nguyên bắt đầu trở thành trung tâm giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc và phương Tây. Hai

hình thức giao lưu văn hóa khác nhau đã bắt đầu từ thời nhà Nguyên, điều này đã làm phong
phú thêm nội hàm văn hóa của Bắc Kinh về "sự cởi mở, tính tương thích và sự dám nghĩ
dám làm".
Là trung tâm chính trị của cả nước, nhà Nguyên là nơi hội tụ, và nhiều nền văn hóa
nước ngoài khác nhau được thể hiện ở Bắc Kinh, giao lưu và dung hợp. Điều đáng chú ý là
văn hóa phương Tây với đặc trưng là văn hóa Cơ đốc giáo đã vào Bắc Kinh lần đầu tiên.
Công giáo và Nestorianism đã lan rộng ở hầu hết các thành phố. Trong thời nhà Minh và
nhà Thanh khi xã hội phong kiến của Trung Quốc phát triển đến cực điểm, Bắc Kinh đã mở
ra sự giao lưu văn hóa Trung Quốc và phương Tây lần thứ 2. Đây là sự xuất hiện của các
tu sĩ Dòng Tên ở Trung Quốc vào cuối nhà Minh và đầu triều đại nhà Thanh. Nếu nói rằng
vào thời nhà Ngun, tín đồ chính của Cơng giáo và Giáo chủ là người Mông Cổ và người
Semu, thì lần thứ hai khi Cơ đốc giáo vào Bắc Kinh vào cuối thời nhà Minh, nó khơng chỉ
được các nhà cai trị nhà Hán ban tặng, Mà còn nhờ Matteo Ricci và Xu Guangqi. Với sự

20


nỗ lực chung của những người khác, cuộc giao lưu văn hóa Trung Quốc và phương Tây lần
thứ hai ở Bắc Kinh đã cho thấy một xu hướng học hỏi lẫn nhau và giao lưu hịa bình.
Mặc dù cuộc giao lưu văn hóa thứ hai giữa Trung Quốc và phương Tây đã trải qua ở
Bắc Kinh vào cuối triều đại nhà Minh và đầu triều đại nhà Thanh, mặc dù nó bị gián đoạn
một lần nữa do "tranh cãi về nghi thức", nó đã để lại những dấu vết rõ ràng, chẳng hạn như
nhà thờ và các tòa nhà kiểu phương Tây ở Cung điện Mùa hè Cũ. Đến triều đại nhà Minh
và nhà Thanh, văn hóa Trung Quốc đã trải qua hàng nghìn năm giao lưu và hội nhập, và nó
đã trở nên khá trưởng thành, cũng như văn hóa phương Tây. Vào thế kỷ XVIII và XIX, sự
giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc và phương Tây khơng cịn giống như sự dung hợp giữa
văn hóa nơng nghiệp đồng bằng Trung Bộ tiên tiến và giao lưu văn hóa dân tộc đồng cỏ lạc
hậu hàng nghìn năm mà hai nền văn hóa trưởng thành đã sản sinh ra trong quá trình giao
lưu. Sự va chạm ngày càng gay gắt và khó khăn hơn. Vì “mặt trời lặn sáng chói” thể hiện
ở thời kỳ sau của xã hội phong kiến Trung Quốc, thất bại thảm hại trong quá trình giao lưu

văn hóa giữa Trung Quốc và phương Tây vào cuối thời nhà Thanh.
Sau khi tàu và súng hùng mạnh của các cường quốc phương Tây mở cửa Trung Quốc,
nền văn hóa cổ đại Trung Quốc đã thụ động cảm nhận sự tác động mạnh mẽ của văn hóa
phương Tây. Với tư cách là thủ đô, Bắc Kinh đương nhiên là người chịu gánh nặng đầu
tiên: đốt cháy Cung điện Mùa hè cũ, ký kết "Hiệp ước Bắc Kinh" và "Hiệp ước Xin Chou"
và ký kết các liên minh dưới thành phố, các khu đại sứ quán, các tòa nhà nhà thờ. , và các
trường truyền giáo trên khắp Bắc Kinh đều là sản phẩm của sự giao lưu và xung đột văn
hóa giữa Trung Quốc và phương Tây.
Từ thời cận đại, Bắc Kinh đã trở thành tâm điểm của sự va chạm giữa hai nền văn
hóa Trung Quốc và phương Tây. Phong trào Văn hóa Mới, bắt đầu ở Bắc Kinh, là một
phong trào nổi tiếng của giới trí thức Trung Quốc nhằm phản ánh văn hóa truyền thống
Trung Quốc và văn hóa phương Tây. Trong q trình khám phá con đường cứu nước và
sinh tồn, các trí thức tiên tiến Trung Quốc đã tiếp xúc sâu rộng với nhiều triết lý và tư tưởng
chính trị phương Tây, và cuối cùng đã chọn chủ nghĩa Mác. Những người sáng lập sớm
nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc là Chen Duxiu, Li Dazhao, Mao Zedong và những
người khác đều học tập, làm việc và chuyển đến ở Bắc Kinh. Sự thăm dò, theo đuổi và đấu
tranh của những người Cộng sản Trung Quốc ở Bắc Kinh, Trung Quốc mới đã thành lập
21


thủ đô Bắc Kinh, bổ sung thêm nội dung mới cho nội hàm văn hóa là “cởi mở, tương thích
và dám nghĩ dám làm” của Bắc Kinh.
Lịch sử đã chứng minh rằng văn hóa Bắc Kinh, cũng giống như văn hóa truyền thống
Trung Quốc, chưa bao giờ “khép kín, bảo thủ và trì trệ”. Kể từ khi thành lập Trung Quốc
Mới, đặc biệt là từ khi cải cách và mở cửa, Bắc Kinh đã trở thành cửa sổ giao lưu văn hóa
giữa Trung Quốc và nước ngồi với vị thế và nội hàm văn hóa độc nhất vơ nhị. Điều đáng
mừng là trong thế kỷ 21, mọi người hiểu biết sâu sắc hơn về văn hóa phương Tây, các giá
trị phương Tây, văn hóa truyền thống Trung Quốc và các giá trị truyền thống Trung Quốc,
và họ trở nên hợp lý và khách quan hơn trong việc so sánh điểm mạnh và điểm yếu của
nhau, cũng như những thiếu sót của họ. Điều này đã đạt được sau hàng trăm năm giao lưu,

xung đột, tranh cãi và khó khăn kể từ khi văn hóa phương Tây đến Trung Quốc lần thứ ba
vào giữa và cuối thời nhà Minh. Định vị Bắc Kinh như một thành phố lịch sử và văn hóa
và một đơ thị quốc tế hiện đại ngày nay là tiêu điểm của thế giới. Vị trí này phản ánh một
tâm hồn rộng lớn và sự tự tin đầy đủ. Sau khi trải qua sự thụ động và kéo dài trong giai
đoạn đầu của giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc và phương Tây, sự tự tin vào văn hóa
truyền thống của Trung Quốc, mà đại diện là Bắc Kinh, và tư duy rộng rãi thể hiện khi tiếp
thu văn hóa nước ngồi, đang báo trước sự kết thúc của hàng trăm năm của dân tộc Trung
Hoa. Lang thang, đối mặt với văn hóa nước ngồi với phong thái tự tin, tiếp thu tinh hoa
văn hóa nước ngồi, khơng ngừng phát triển văn hóa truyền thống Trung Quốc. Trung Quốc
tích cực phấn đấu gia nhập WTO và Bắc Kinh đăng cai tổ chức và đăng cai thành công Thế
vận hội Olympic 2008. Điều đó cũng thể hiện lịng dũng cảm, sự tự tin và sức sống của đất
nước cổ kính có bề dày lịch sử văn minh phương Đơng và Bắc Kinh, một thành phố cổ kính
đối mặt thế giới và đi ra thế giới. Từ “Bắc Kinh nhân văn, Bắc Kinh công nghệ, Bắc Kinh
xanh” đến việc xây dựng thành phố thế giới đặc sắc Trung Hoa, nội hàm văn hóa “cởi mở,
tương thân, tương ái” của Bắc Kinh một lần nữa được mang nội dung mới, bổ sung những
yếu tố mới cho tinh thần thủ đô.
3.2. Dấu ấn phương Tây ở Bắc Kinh
3.2.1. Kiến trúc
3.2.1.1 Nhà hát lớn quốc gia Bắc Kinh

22


Nhà hát lớn quốc gia Bắc Kinh là được xây dựng từ năm 2001 và 2007 chính thức
hồn thành bởi kiến trúc sư người Pháp Paul Andreu. Diện tích nhà hát quốc gia Bắc Kinh
khoảng 149.500 m2, mang hình ảnh viên ngọc trai khổng lồ ngay giữa thủ đô. Công trình
thiết kế theo hình elip, vỏ ngồi làm bằng titan có độ dài nhất là 213m và ngắn nhất là 144m,
chiều cao tầm 46m, chia thành hai tấm kính rộng 100m ở phần đáy. Lối vào của tòa nhà
như tách biệt với toàn thể kiến trúc, nối với nhau bằng đường ống dẫn trong suốt khoảng
60m, mang cảm hứng của viễn tưởng, của mơ ước và của nghệ thuật. Ngoài ra, bên trong

cịn mở ra các khơng gian khác nhau như khu mua sắm, nhà hàng, phòng chờ, đường phố…
Ban ngày ánh sáng chiếu rọi mái kính, len lỏi vào bên trong tịa nhà nên tổng thể khá thống
đãng, sáng sủa. Về đêm, từ ngồi có thể nhìn thấy mọi chuyển động bên trong, cực kỳ thú
vị. Tòa bao gồm 3 phòng biển diễn, một nhà hát chứa 2.416 người, một nhà hát với 1040
người và một phòng hòa nhạc 2017 chỗ ngồi. Ngồi ra cịn có phịng triển lãm nghệ thuật,
phịng trưng bày. Trung tâm của cơng trình chính là nhà hát opera, nơi biểu diễn nghệ thuật
ấn tượng thu hút rất nhiều người yêu âm nhạc cổ điển đến xem. Được bao phủ bởi lớp kim
loại mạ vàng, khi ánh đèn từ sân khấu bật sáng cũng là lúc khán phòng trở nên nổi bật và
thu hút mọi ánh nhìn.

Nhà hát lớn Quốc gia Bắc Kinh nằm đối diện Đại lễ đường Nhân Dân

3.2.1.2. Nhà thờ Thánh Giuse
Nhà thờ Thánh Joseph tọa lạc, một trong bốn nhà thờ Công giáo lớn ở Bắc Kinh . Chong
Qing Junji năm ( 1665 ), nguyên là một linh mục người Bồ Đào Nha Lodovico Buglio
23


(Ludovicus Buglio) và Anwen Si (G de Magalhaens) sử dụng hai dinh thự của Giáo hội
Công giáo . Tên của Dongtang là liên quan đến tên phổ biến của Nantang, Beitang và Xitang
ở khu vực đô thị của Bắc Kinh. Đây là nhà thờ thứ hai ở Bắc Kinh sau Nhà thờ Nam. Vào
năm Khang Hy thứ năm mươi chín (1720), nó bị sụp đổ trong trận động đất Great Jingshi.
Nó được xây dựng lại vào năm sau và được thiết kế bởi F. Maggi. Có rất nhiều biểu tượng
được vẽ bởi nhà truyền giáo người Ý Langsning ở sảnh sau . Vào năm Gia Khánh thứ mười
hai (1807), khi nhà thờ bị thanh trừng, nhà thờ phía đơng đã bị phá bỏ vì các linh mục mang
theo sách quý vào ban đêm và vơ tình gây ra hỏa hoạn. Vào năm Tây An thứ 10 (1860),
"Lực lượng đồng minh Anh và Pháp" xâm lược Bắc Kinh, khi triều đình nhà Thanh buộc
phải trả lại Đơng Cung, tịa nhà đã bị phá hủy hồn tồn, và một số ngơi nhà gỗ được xây
dựng tạm thời như một nhà cầu nguyện. cho các tín hữu. Mười năm Quảng Hưng (1884)
Kinh

Giám mục Tian Lesi đã qun góp từ nước ngồi để xây dựng lại nhà thờ theo lối
kiến trúc Romanesque với một kế hoạch giống như cây thánh giá Latinh và một vẻ ngoài
tráng lệ. Vào năm Quảng Nguyên thứ hai mươi sáu (1900), nhà thờ Đông bị các Boxer thiêu
rụi, và trong ba mươi năm (1904), Pháp và Ireland đã sử dụng "tiền bồi thường" để xây
dựng lại nhà thờ. Hiện nó là một đơn vị bảo vệ di tích văn hóa ở Bắc Kinh.

Nhà thờ Thánh Giuse, Bắc Kinh

24


Nhà Thờ được xây dựng trên vùng đất nằm giữa Baishu Hutong và Ganyu (ganyu)
Hutong, có diện tích khoảng 1,18 ha. Bước lên từ cổng phố Vương Phủ Tỉnh ở phía tây và
vào sân trước, nhà thờ nằm trên một bệ đá xanh cách cổng 55 m, tổng chiều dài khoảng 64
m, phía trước có một bệ lớn. cánh cửa. Mặt tiền phía tây bao gồm ba khối dọc, với hai eo
ngang kết nối tổng thể. Ba lỗ cổng kiểu chữ thập hình bán nguyệt ở phía dưới tạo thành một
hiên lớn, phía sau hiên có ba cổng. Phần trên của cổng chính giữa là cửa sổ trịn hình chữ
thập, hai bên là cửa sổ kép dài kiểu phiếu nửa tròn. Mặt tiền được phân chia theo chiều dọc
bằng các phào chỉ kết hợp, thuộc kiểu cột La Mã, phần chân đế, chân cột, thân cột, đầu cột
và mái hiên từng lớp hoàn chỉnh. Vết nhơ của mặt trước là Ionic bị biến dạng, nhưng các
hoa văn ở các mặt khác là Roman Tasgan. Đỉnh của ba tháp ở mặt tiền phía Tây là một ghế
trống kép, có mái vịm có gân, trên đó có một gian chiếu sáng với mái vịm nhỏ, trên gian
có một cây thánh giá. Tồn bộ mặt tiền là sự kết hợp giữa phong cách Phục hưng và Baroque,
vừa hùng vĩ vừa thu hút sự chú ý đến những khúc quanh co. Hoành phi câu đối cao khoảng
13 mét, nóc cao khoảng 18 mét, mái vòm trung tâm cao khoảng 25 mét, đỉnh chữ thập cao
khoảng 27,2 mét.
Nhà thờ với phong cách Basilican, và 18 cột với đường kính 0,65 mét chia nội thất
của nhà thờ thành một sảnh trung tâm và một phòng trưng bày phụ. Khoảng cách giữa các
cột là 4,2 mét, và các mái vịm được dựng lên phía trên đầu cột và mái hiên. Nó được che
bằng một mái dốc của một vì kèo mái bằng gỗ. Có một tịa nhà tụng kinh ở cổng phía Tây.

Phía sau bàn thờ phía đơng có một gian thờ Kinh thánh nhỏ nhơ ra phía ngồi và các phịng
thay đồ ở hai bên, tạo thành hình chữ thập. Có các cửa sổ hẹp và dài với mái vòm giữa các
cột ở các bức tường bên, và ở phía tây của các bức tường phía nam và phía bắc, cửa phụ
mở ra ngồi trời. Mặt tiền của nhà thờ là một bức tường gạch xám với nước trong, và đá
vôi xanh được sử dụng ở chân tường và mái hiên. Phần xây của bức tường rất tinh tế, dựa
trên hình dáng tổng thể cổ điển của phương Tây, kết hợp với các hoa văn truyền thống của
Trung Quốc. Trên cột đá phía trước cổng có câu đối "Beimin Dadebao Trung quốc ngoại
quốc, Shang Wenhong tôn vinh cổ đại và hiện đại", và biểu ngữ ghi "Lợi ích tơi về phương
Đơng"

25


×