MỤC LỤC
NỘI DUNG
Trang
Mở đầu..................................................................................................2
I. Nội dung tình huống
1. Hồn cảnh ra đời của tình huống......................................................6
2. Mơ tả tình huống..............................................................................6
II. Phân tích tình huống
1. Mục tiêu phân tích tình huống......................................................8
2. Cơ sở lý luận.................................................................................8
3. Phân tích diễn biến tình huống......................................................9
4. Ngun nhân dẫn đến tình huống..................................................11
5. Hậu quả tình huống.......................................................................12
III. Xử lý tình huống
1. Mục tiêu xử lý tình huống.............................................................12
2. Xây dựng phương án xử lý tình huống.........................................15
3. Lựa chọn phương án xử lý tình huống..........................................17
IV. Kiến nghị
1. Kiến nghị với UBND H................................................................18
2. Kiến nghị với Kho bạc..................................................................18
V. Kết luậnc.........................................................................................19
Tài liệu tham khảo................................................................................20
Tiểu luận Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên
2
Phần A: MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, Việt Nam với hơn ¾ diện tích là rừng che phủ khắp
chiều dài dải đất hình chữ S đã làm cho thế giới thực vật, động vật trong đó trở
nên phong phú, đa dạng hơn so với các nước trên thế giới; đó cịn là nguồn tài
ngun vơ cùng quý giá mà con người chúng ta được sở hữu.
Ngày xưa rừng được ví như nguồn tài ngun vơ hạn: “Việt Nam rừng
vàng biển bạc” nhưng ngày nay điều đó đã khơng cịn phù hợp. Từ nhận thức là
một tài nguyên vô hạn con người đã chuyển dần sang nhận thức nó là một tài
nguyên hữu hạn cần được bảo vệ tránh khỏi tình trạng rừng bị phá hoại, mất dần
diện tích xanh trong tương lai.
Theo số liệu thống kê tính đến ngày 19/3/2019 cả nước có 14.491.295 ha rừng,
trong đó: Diện tích rừng tự nhiên là 10.255.525 ha; rừng trồng: 4.235.770 ha. Diện
tích rừng đủ tiêu chuẩn để tính độ che phủ cả nước là 13.785.642 ha, độ che phủ tương
ứng đạt 41,65%.
Như vậy so với năm 2015, diện tích rừng đủ tiêu chuẩn để tính độ che phủ cả
nước đã tăng hơn 265.000 ha (tính đến ngày 31/12/2015, diện tích rừng đủ tiêu chuẩn
để tính độ che phủ cả nước là hơn 13,520 triệu ha, độ che phủ tương ứng đạt 40,84%.)
Mặc dù diện tích rừng được ghi nhận có tăng lên nhưng chất lượng rừng lại là
vấn đề cần được bàn tới. Năm 1945, diện tích rừng cả nước được ghi nhận là 14,3 triệu
ha thì đến năm 1995, do rừng tự nhiên bị lấn chiếm, chuyển đổi mục đích sử dụng và
khai thác quá mức nên diện tích chỉ cịn 8,25 triệu ha. Tính riêng trong thời gian 20
năm từ năm 1975 đến năm 1995, diện tích rừng tự nhiên của cả nước giảm 2,8 triệu ha.
Năm 1991, lần đầu tiên Nhà nước ta ban hành một văn bản luật điều chỉnh thống
nhất các quan hệ xã hội trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng. Sau 13 năm thực
hiện, văn bản này đã khơng cịn đáp ứng được các u cầu quản lý và phát triển rừng
thời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập sâu,
rộng vào các quan hệ quốc tế trong khu vực và thế giới. Vì vậy, ngày 03 tháng 12 năm
2004, Quốc hội ban hành Luật số 29/2004/QH11 về bảo vệ và phát triển rừng (hiện
nay đã hết hiệu lực). Năm 2017, Luật Lâm nghiệp được Quốc Hội ban hành vào
15/11/2017, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2019 và theo sau đó là nghị định 156/NĐ-CP
ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm
nghiệp, Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2019 về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp. Hoạt động bảo vệ rừng và thực thi pháp luật
lâm nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng do nhiều nguyên nhân mà diện tích
rừng bị mất hiện nay vẫn cịn ở mức cao (bình qn 57.019ha/năm). Trong đó, diện
tích mất chủ yếu do được phép chuyển đổi mục đích sử dụng và khai thác theo kế
Phạm Thị Mộng Tuyền
Tiểu luận Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên
3
hoạch chiếm 76%; diện tích rừng bị thiệt hại do các hành vi vi phạm các quy định của
Nhà nước về quản lý bảo vệ rừng tuy có giảm, nhưng vẫn ở mức cao làm mất
94.055ha rừng, chiếm 23,5% trong tổng diện tích rừng mất trong 7 năm qua, bình quân
thiệt hại 13.436ha/năm. Đấu tranh với các vi phạm này, từ năm 1999 đến tháng 10 năm
2009, cả nước đã phát hiện, xử lý 494.875 vụ vi phạm các quy định của Nhà nước về
quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Mặc dù tình trạng vi phạm giảm qua các năm,
nhưng số vụ vi phạm còn lớn, diễn ra phổ biến ở nhiều nơi, với tính chất, mức độ ngày
càng nghiêm trọng đang tạo gánh nặng cho các lực lượng chức năng, nhất là lực lượng
kiểm lâm trong ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật. Nguyên nhân của vấn đề này có
thể được đề cập ở nhiều phương diện, trong đó phải kể đến cơng tác giao đất, giao
rừng, khoán bảo vệ rừng, tổ chức thực hiện cơ chế hưởng lợi của người làm rừng còn
chưa hợp lý nên người dân sống xung quanh rừng, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số
còn chưa hiểu, chưa thực hiện các quy định pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng; thậm
chí cịn xâm hại tài ngun rừng, tiếp tay cho lâm tặc phá rừng.
Xã Hương Phong, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế là xã miền núi có diện
tích chủ yếu là rừng. Ở đây chỉ có rừng và rừng. Rừng ở đây rất đa dạng và phong phú,
nhưng đời sống nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số đời sống kinh tế rất
khó khăn. Một số hộ dân ngoài địa phương là đồng bào dân tộc thiểu số đã tổ chức phá
rừng một cách “bài bản” để lấy đất sản xuất. Trong khi đó, để quản lý và bảo vệ rừng
có hiệu quả, một trong những giải pháp cần được các cấp chính quyền thực hiện là vừa
phải kết hợp giữa xử lý nghiêm minh các hành vi phá rừng, tiếp tay cho lâm tặc phá
rừng với việc tạo các điều kiện cần thiết để cho những người dân sống xung quanh
rừng được hưởng lợi từ rừng và tham gia bảo vệ rừng lại chưa thực sự được quan tâm.
Vì vậy, là một công chức đang công tác tại UBND xã Hương Phong, huyện A Lưới để
góp phần tạo chuyển biến cơ bản và bền vững trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, tôi lựa
chọn Đề tài “Giải quyết việc người dân của xã Phú Vinh phá rừng làm nương rẫy tại
tiểu khu 313 xã Hương Phong, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế” làm nội dung cơ
bản để viết bài tiểu luận tình huống chương trình chuyên viên quản lý nhà nước.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở xử lý tình huống, sẽ đưa ra một số nhận xét và kiến nghị nhằm nâng
cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan chức năng có liên quan trong việc quản lý,
bảo vệ rừng nói chung và giải quyết việc phá rừng làm nương rẫy nói riêng. Đồng
thời, nhằm củng cố và vận dụng kiến thức đã học vào trong thực tiễn của đơn vị đang
cơng tác, giúp cho bản thân tìm hiểu nguyên nhân và xử lý giải quyết công việc một
cách nhanh chóng, kịp thời, đúng qui định nhằm góp phần bảo vệ tốt nguồn tài nguyên
rừng của địa phương.
3. Giới hạn, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đề tài này được hoàn thành trên cơ sở lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh; quan điểm, chủ trương đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về
Phạm Thị Mộng Tuyền
Tiểu luận Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên
4
nhà nước và pháp luật. Phạm vi đề tài này chỉ tập trung vào việc xử lý tình huống
người dân của xã Phú Vinh phá rừng làm nương rẫy tại tiểu khu 313 xã Hương Phong,
huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế vào năm 2019.
Đề tài sử dụng biện pháp nghiên cứu: khảo sát tình hình thực tiễn, phân tích xử
lý tình huống, so sánh đối chiếu.
Phần B: NỘI DUNG
I. NỘI DUNG TÌNH H́NG
1.1. Hoàn cảnh ra đời tình huống
Xã Hương Phong, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế là xã có diện tích rừng
rất đa dạng và phong phú, nhưng đời sống nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu
số đời sống kinh tế rất khó khăn. Một số hộ dân ngoài địa phương là đồng bào dân tộc
thiểu số đã tổ chức phá rừng một cách “bài bản” để lấy đất sản xuất. Họ thường xuyên
theo dõi, nắm chắc quy luật đi tuần tra, kiểm tra của lực lượng bảo vệ rừng. Họ thường
sử dụng điện thoại di động để thông báo cho nhau khi phát hiện lực lượng bảo vệ rừng.
Thường tổ chức số đông trong việc phá rừng để tạo thế áp đảo với lực lượng chức
năng khi bị phát hiện. Việc phá rừng thường được tổ chức vào ban đêm. Khi gặp lực
lượng chức năng những đối tượng này sẵn sàng chống trả, sẵn sàng dùng những lý lẽ
của riêng họ để chống lại lực lượng chức năng.
1.2. Mơ tả tình huống
Vào hồi 16 giờ ngày 03 tháng 7 năm 2019, lực lượng nhận khoán quản lý, bảo vệ
rừng thuộc UBND xã Hương Phong tổ chức tuần tra, kiểm tra diện tích rừng tại tiểu khu
313 xã Hương Phong do mình quản lý, phát hiện hộ gia đình người đồng bào dân tộc
Pako là ông Nguyễn Văn Vinh (sinh năm 1951) cùng vợ là bà Hồ Thị Bông (sinh năm
1973) và con là Nguyễn Văn Van (sinh năm 1993) ở tại xã Phú Vinh, huyện A Lưới,
tỉnh Thừa Thiên Huế, đang tiến hành chặt phá cây rừng để trồng sắn, ngô, cây keo. Khi
lực lượng đến và yêu cầu không được phép phá rừng thì Nguyễn Văn Vinh cùng vợ, con
đã có hành vi chống đối, không cho lực lượng thu giữ các công cụ, phương tiện được sử
dụng để phá rừng. Họ cho rằng số diện tích đất rừng này là của Bố, mẹ canh tác từ năm
1986 để lại, nên họ cố tình khơng chấp hành mà vẫn ngang nhiên dùng rựa, dao tiếp tục
chặt cây rừng và gây gô với lực lượng bảo vệ rừng, nếu không để cho họ làm thì họ sẽ
“chém”. Nhận thấy nếu cứ giành giật như vậy, có thể các hộ dân khác đang phá rừng ở
gần đó thấy động và đến chi viện thì với lực lượng mỏng, không đủ để giải quyết vụ
việc, nên lực lượng quay về báo cáo sự việc xảy ra cho UBND xã và kiểm lâm viên địa
bàn để tìm biện pháp giải quyết.
Ngày 4 tháng 7 năm 2019, kiểm lâm viên địa bàn cùng lực lượng Công an và địa
chính mơi trường xã đến hiện trường thì thấy diện tích rừng bị chặt phá khá rộng. Sau
khi đo đạc xác định là 2,763 ha. Trên diện tích bị chặt phá khơng có các loại thực vật
Phạm Thị Mộng Tuyền
Tiểu luận Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên
5
rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm nhóm IA, IB thuộc danh mục thực vật rừng,
động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm quy định tại Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30
tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp,
quý, hiếm. Các lực lượng đã tiến hành lập biên bản hiện trường để báo cáo cụ thể cho
lãnh đạo cấp trên.
(Hình ảnh Lực lượng đi tuần tra tại thực địa)
Phạm Thị Mộng Tuyền
Tiểu luận Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên
6
(Hiện trường vụ việc phá rừng làm nương rẫy)
Nhận thấy tình hình ngày càng có khả năng phát triển phức tạp mà lực lượng
làm nhiệm vụ lại mỏng, tính chất vụ việc có sự tham gia của đồng bào dân tộc thiểu số
có thể gây nên nhiều bất ổn nếu không được xử lý một cách khôn khéo. Ngày 06 tháng
02 năm 2020, thực hiện sự chỉ đạo của Hạt kiểm lâm A Lưới và UBND xã Hương
Phong, lực lượng đến tại xã Phú Vinh (Xã giáp ranh) nơi gia đình ơng Nguyễn Văn
Vinh đang sinh sống để gặp Già làng yêu cầu giúp lực lượng tuyên truyền, giải thích,
vận động gia đình ơng Nguyễn Văn Vinh và nhiều hộ dân khác không phá rừng để làm
rẫy, trồng sắn, trồng cây keo nữa mà chờ đợi chính quyền có các chương trình phù hợp
cho bà con tham gia vào các dự án trồng rừng, bảo vệ rừng nhưng Già làng đã từ chối
vì “họ đang cần đất để làm rẫy, lấy củ sắn, bắp ngơ để có cái ăn, khơng sẽ bị đói nên có
nói gì thì họ cũng khơng nghe đâu” và “Cái nếp sống du canh, du cư vẫn còn nặng lắm
các cán bộ à!”. Cũng theo Già làng nói, gia đình ơng Nguyễn Văn Vinh từ trước đến
nay luôn chấp hành tốt các quy định của địa phương, nay nghe theo lời của một số
“người xấu” xúi bậy tham gia phá rừng làm rẫy.
II. PHÂN TÍCH TÌNH H́NG
2.1. Mục tiêu phân tích tình huống
Mục tiêu phân tích tình huống là nhằm làm sáng tỏ hành vi vi phạm của hộ gia
đình ơng Nguyễn Văn Vinh gồm vợ và con trai theo quy định của pháp luật hiện hành;
thẩm quyền xử lý đối với các hành vi vi phạm của các thành viên trong hộ gia đình ơng
Nguyễn Văn Vinh. Thơng qua đó tìm hiểu các ngun nhân, hậu quả, nhất là những
nguyên nhân gắn với điều kiện sinh hoạt, phong tục tập quán, luật tục của địa phương
để góp phần giải quyết một cách thấu tình, đạt lý tình huống nêu trên.
2.2. Cơ sở pháp lý
2.2.1. Nhận thức chung về quản lý, bảo vệ rừng và xử lý vi phạm pháp luật
trong quản lý, bảo vệ rừng
Rừng là tài nguyên của quốc gia, là bộ phận quan trọng của mơi trường sinh
thái. Vì vậy, để khai thác rừng phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội và phát triển rừng
vì tương lai, lợi ích của quốc gia một cách có hiệu quả, Nhà nước phải thống nhất quản
lý, bảo vệ rừng. Trong đó, quản lý rừng là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng
pháp luật Nhà nước và các biện pháp mang tính kinh tế, hành chính, dân sự và cả
cưỡng chế trong những trường hợp cần thiết đến hành vi của các cá nhân, tổ chức trực
tiếp tham gia hoặc có liên quan đến các quá trình phát triển, khai thác rừng và các sản
vật từ rừng nhằm bảo vệ và phát triển rừng vì lợi ích của Nhà nước và của tồn xã hội.
Thuật ngữ quản lý có thể được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau như là sự giữ
gìn, trơng coi, bảo vệ, điều khiển, chỉ đạo, tác động, tổ chức…Vì vậy, có thể thấy, quản
lý nhà nước đối với rừng là một nội dung có tính chất bao trùm, trong đó bao gồm cả
Phạm Thị Mộng Tuyền
Tiểu luận Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên
7
phát triển rừng, bảo vệ rừng và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát
triển rừng.
Để quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, Nhà nước phải thực hiện
đồng bộ các nội dung để ban hành pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, kiểm tra,
thanh tra, giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát
triển rừng. Xử lý vi phạm pháp luật là một nội dung quan trọng của quản lý nhà nước
về bảo vệ và phát triển rừng. Tuỳ thuộc vào hành vi vi phạm được pháp luật xác định
chế tài (hình sự, dân sự, hành chính, kỷ luật) và tính chất, mức độ của hành vi đó mà
các chủ thể có thẩm quyền sẽ tiến hành các biện pháp và các thủ tục cần thiết để truy
cứu trách nhiệm pháp lý tương ứng nhằm trừng phạt vi phạm, khôi phục trật tự pháp lý
bị xâm hại và khắc phục các hậu quả do vi phạm đó gây ra.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, nhu cầu gô, lâm sản rất lớn, trong khi
dân số ngày càng tăng, công tác quản lý, bảo vệ rừng của các lực lượng chức năng, đặc
biệt là lực lượng kiểm lâm còn hạn chế khiến cho các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
này gia tăng một cách đáng kể cả về số lượng, tính chất, mức độ. Vì vậy, nâng cao hiệu
lực, hiệu quả quản lý rừng cần gắn bó chặt chẽ với việc bảo đảm trật tự pháp luật (pháp
chế xã hội chủ nghĩa). Nghị quyết số 17-TW ngày 1/8/2007 Hội nghị lần thứ 5 Ban
chấp hành Trung ương Đảng khoá X về: “Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao
hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước” xác định cơ sở lý luận cần thiết cho
hoạt động của các cơ quan chức năng, nhất là ở môi cấp chính quyền địa phương và cơ
quan kiểm lâm trong việc chủ động phân cấp, kiện toàn tổ chức, bố trí cán bộ, cơng
chức hợp lý, tham mưu cho hiệu quả cho cơ quan có thẩm quyền thực hiện các biện
pháp, chương trình, dự án để quản lý, bảo vệ rừng ngày càng tốt hơn, đặc biệt là phải
gắn việc xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này với việc thực hiện các chương
trình, dự án để ổn định đời sống cho nhân dân, giải quyết nguyên nhân cơ bản dẫn đến
phá rừng, huỷ hoại rừng trên phạm vi nhiều địa phương hiện nay.
2.2.2. Cơ sở pháp lý về quản lý, bảo vệ rừng và xử lý vi phạm pháp luật về
quản lý, bảo vệ rừng
Ngày 15/11/2017 Luật Lâm nghiệp được ban hành với 12 chương, 108 điều,
(tăng 04 chương và 20 điều so với Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004), về nội
dung Luật Lâm nghiệp năm 2017 có 10 điểm mới so với Luật bảo vệ, phát triển rừng
năm 2004 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2019 và thay thế cho Luật bảo vệ,
phát triển rừng năm 2004. Luật Lâm nghiệp năm 2017 đã quy định những hành vi bị
nghiêm cấm trong hoạt động lâm nghiệp để làm cơ sở cho việc xác định chế tài cụ thể
đối với các hành vi vi phạm.
Hiện nay, với các vi phạm hành chính trong quản lý, bảo vệ rừng được xử lý
theo Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2019 về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp. Nghị định này còn xác lập cơ sở pháp lý cho
Phạm Thị Mộng Tuyền
Tiểu luận Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên
8
việc xác định ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm vi phạm các quy định về
quản lý rừng Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vi phạm, các đối tượng thường
không chỉ dừng lại ở các hành vi vi phạm trên mà có thể kéo theo các vi phạm khác
(hình sự, hành chính, dân sự, kỷ luật). Vì vậy, quá trình xử lý thường hết sức phức tạp,
bởi không chỉ xác định đúng vi phạm, áp dụng đúng chế tài, đảm bảo thực thi quyết
định vì sự nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa mà còn phải đảm
bảo cả các yêu cầu về chính trị-xã hội, ổn định an ninh, trật tự địa phương trước mắt
cũng như lâu dài.
Bảo vệ và phát triển rừng là nhiệm vụ của Nhà nước và là nghĩa vụ của tồn
dân, trong đó lực lượng Kiểm lâm thuộc Bộ Nơng nghiệp và phát triển nơng thơn là
nịng cốt. Tổ chức và hoạt động của lực lượng Kiểm lâm được quy định tại Điều 103,
104, 105 Luật Lâm nghiệp năm 2017, Nghị định số 156/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của
Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp. Theo đó, lực
lượng kiểm lâm có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát việc bảo vệ rừng, khai thác rừng, sử
dụng rừng, lưu thông, vận chuyển, kinh doanh lâm sản; đấu tranh phòng, chống các
hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; đồng thời có quyền xử phạt vi
phạm hành chính và áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành vi vi phạm hành chính,
khởi tố, điều tra hình sự đối với những hành vi vi phạm bị nghiêm cấm trong hoạt
động kiểm lâm theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, pháp luật về
hình sự và pháp luật về tố tụng hình sự. Trong xử phạt vi phạm hành chính, lực lượng
kiểm lâm thực hiện thẩm quyền theo quy định tại Điều 7 Nghị định của Chính phủ số
35/2019/NĐ-CP. Ngồi ra, lực lượng kiểm lâm cịn có nhiệm vụ tuyên truyền, vận động
nhân dân chấp hành nghiêm Luật lâm nghiệp; phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã, phường,
thị trấn xây dựng và bồi dưỡng nghiệp vụ cho lực lượng quần chúng bảo vệ rừng.
Bên cạnh đó, theo quy định tại Nghị định số 156/NĐ-CP ngày 16/11/2018 quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý toàn bộ tài
nguyên rừng và tài nguyên đất lâm nghiệp của quốc gia thuộc phạm vi địa bàn của tỉnh,
thành phố; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh về việc để xảy ra phá rừng trái phép, cháy rừng, mất rừng, sử
dụng đất lâm nghiệp sai mục đích ở địa phương; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chịu
trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện về việc để xảy ra phá rừng trái
phép, cháy rừng, mất rừng, sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích ở địa phương.
2.2.3. Đường lối, quan điểm xử lý
Đường lối, quan điểm xử lý vi phạm pháp luật trong quản lý rừng, bảo vệ rừng
liên quan đến đối tượng là người dân tộc thiểu số là:
- Phải kết hợp chặt chẽ giữa việc phát hiện kịp thời, ngăn chặn vi phạm, tiến hành
xử lý theo quy định của pháp luật với tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục nhân dân và
tạo các điều kiện thuận lợi cho nhân dân ổn định về đời sống vật chất, tinh thần để ổn
Phạm Thị Mộng Tuyền
Tiểu luận Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên
9
định về an ninh chính trị, trật tự an tồn xã hội trên địa bàn và giúp đỡ lực lượng kiểm
lâm trong quản lý, bảo vệ rừng.
(Cán bộ Kiểm lâm cắm biển cấm tác động đến diện tích đất rừng đã bị phá)
- Áp dụng đúng các quy định pháp luật để xử lý nhưng có tính đến các tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân người vi phạm, điều kiện, hồn cảnh kinh tế, trình độ
dân trí.
- Xử lý nghiêm các đối tượng tổ chức, cầm đầu, chủ mưu, kích động, lơi kéo, rủ
rê đồng bào dân tộc thiểu số phá rừng làm rẫy. Nhanh chóng thực hiện các biện pháp
ngăn chặn vi phạm tiếp diễn, huy động lực lượng và các nguồn lực một cách hiệu quả để
khắc phục các hậu quả do vi phạm pháp luật.
2.2.4. Kinh nghiệm xử lý, giải quyết các vi phạm pháp luật do người dân tộc
thiểu số thực hiện
Trên cương vị Hạt trưởng Trạm kiểm lâm, đồng chí Hạt trưởng đã tham mưu lên
Chi cục Kiểm Lâm tỉnh để xử lý các vi phạm pháp luật do người dân tộc thiểu số thực
hiện trên địa bàn một cách có hiệu quả cần phải:
- Phát huy vai trị của chính quyền cơ sở, đặc biệt là của kiểm lâm viên chuyên
trách tại Uỷ ban nhân dân xã Hương Phong, các cộng tác viên kiểm lâm và kiểm lâm
địa bàn xã thuyết phục người dân tham gia bảo vệ và phát triển rừng, khai thác và
hưởng lợi một cách hợp pháp tài nguyên rừng.
Phạm Thị Mộng Tuyền
Tiểu luận Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên
10
- Tích cực vận động thơn trưởng, những người có uy tín trong thơn giúp đỡ lực
lượng kiểm lâm vận động, thuyết phục để người vi phạm không tiếp tục vi phạm nữa;
đồng thời, nhận thức rõ trách nhiệm pháp lý trước Nhà nước vì đã có hành vi vi phạm.
Tập trung tham mưu cho chính quyền xã đề nghị cấp có thẩm quyền giải quyết các vấn
đề liên quan đến đời sống vật chất, nhu cầu sản xuất, canh tác của người dân.
- Áp dụng chế tài xử lý trên cơ sở tạo cơ hội và các điều kiện để đối tượng có thể
thực hiện được.
2.3. Phân tích diễn biến tình huống
Tình huống vi phạm pháp luật của hộ gia đình ơng Nguyễn Văn Vinh là một
điển hình về hoạt động phá rừng làm rẫy, trồng sắn, trồng ngô, keo…ở một số địa
phương, trong đó có địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Trên cơ sở các quy định pháp luật
hiện hành, có thể xác định các vi phạm của hộ gia đình ơng Nguyễn Văn Vinh như sau:
- Với diện tích rừng bị chặt phá để lấy đất canh tác là 2,763ha, hộ gia đình gồm
3 người của ơng Nguyễn Văn Vinh đã thực hiện hành vi phá rừng trái pháp luật. Theo
quy định tại Điều 7 Nghị định của Chính phủ số 35/2019/NĐ-CP thì “Hành vi dịch
chuyển mốc giới, ranh giới rừng hoặc chiếm rừng của chủ rừng khác” bị xử phạt bằng
các hình thức và theo các khung hình phạt được xác định từ khoản 1 đến khoản 7 Nghị
định 35/2019/NĐ-CP.
Loại rừng mà hộ gia đình ơng Nguyễn Văn Vinh chặt phá là rừng sản xuất, có
diện tích từ trên 20.000 m 2 thì bị áp dụng hình thức xử phạt là phạt tiền (hình thức xử
phạt chính); tịch thu lâm sản, cơng cụ, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính
(hình thức phạt bổ sung); bị buộc trồng lại rừng hoặc thanh tốn chi phí trồng lại rừng
(biện pháp khắc phục hậu quả). Căn cứ quy định tại khoản 7 Điều 7 Nghị định số
35/2019/NĐ-CP, vi phạm của các thành viên trong gia đình khơng cấu thành tội phạm theo
quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015.
Căn cứ quy định tại Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính thì trong gia đình
ơng Nguyễn Văn Vinh, cả ông, vợ ông và con trai đủ năng lực gánh chịu trách
nhiệm hành chính.
- Căn cứ quy định tại điểm b khoản 7 Điều 7 Nghị định số 35/2019/NĐ-CP, ông
Nguyễn Văn Vinh và vợ đều bị áp dụng hình thức xử phạt chính là phạt tiền. Theo quy
định thì khung tiền phạt là từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Theo quy định tại
Luật xử lý vi phạm hành chính, vi phạm của ơng Nguyễn Văn Vinh và vợ, con có cả
tình tiết tăng nặng (vi phạm nhiều lần, tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm mặc dù
người có thẩm quyền đã yêu cầu chấm dứt hành vi đó) và giảm nhẹ (vi phạm vì hồn
cảnh khó khăn mà khơng do mình gây ra, vi phạm do trình độ lạc hậu). Vì vậy, trong
quyết định có thể áp dụng tình tiết tăng nặng, cũng có thể áp dụng tình tiết giảm nhẹ
hoặc khơng áp dụng để xác định mức trung bình của khung tiền phạt.
Phạm Thị Mộng Tuyền
Tiểu luận Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên
11
- Kiểm lâm viên địa bàn, Công an và địa chính mơi trường xã thực thi cơng vụ
đã lựa chọn phương án hành động hợp lý, vừa đảm bảo yêu cầu của pháp luật trong
việc lưu giữ căn cứ cho việc đấu tranh, xử lý vi phạm (lập biên bản về vi phạm hành
chính), vừa bảo tồn được lực lượng trong trường hợp lực lượng mỏng, không đủ điều
kiện để xử lý triệt để vi phạm. Đồng thời, tiến hành tham mưu, sử dụng các biện pháp
quản lý mềm dẻo để tác động đến nhận thức, thái độ của đồng bào nhằm từng bước tạo
sự chuyển biến về hành vi chấp hành pháp luật.
2.4. Nguyên nhân dẫn đến tình huống
2.4.1. Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, thể chế pháp lý trong quản lý, bảo vệ rừng và xử phạt các hành vi phá
rừng làm rẫy còn nhiều hạn chế
Hiện nay, một số chủ trương, chính sách của Nhà nước chưa phù hợp với tình
hình thực tế ở các địa phương như: Việc chi trả kinh phí cho các hộ dân nhận khoán
rừng rất thấp, từ 200 đến 400 ngàn đồng/ha/năm. Các hộ nhận khốn bảo vệ rừng chưa
có chính sách hưởng lợi hợp lý theo lượng tăng bình quân hàng năm của rừng, nên
cuộc sống của người dân không đảm bảo, khơng làm trịn trách nhiệm trong cơng tác
bảo vệ rừng.
Mặc dù theo quy định của pháp luật hành vi phá rừng làm rẫy có khung tiền phạt
khá cao (so với mức sống và thu nhập của đồng bào dân tộc thiểu số) nhưng khó có thể
đảm bảo thực hiện được khi lực lượng kiểm lâm mỏng, thường không phát hiện kịp
thời vi phạm, khi người dân đã trồng cây, canh tác, sản xuất (thường tiến hành vào ban
đêm hoặc theo dõi quy luật hoạt động của lực lượng kiểm lâm để trốn tránh) thì gần
như “sự đã rồi”. Với tập quán du canh, du cư của đồng bào, việc xử lý lại càng khó
khăn hơn. Dần dần, dẫn đến hiện tượng “nhờn” luật. Đây cũng là nguyên nhân chính
làm gia tăng tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng một cách ồ ạt của nhiều hộ đồng
bào dân tộc thiểu số.
Thứ hai, điều kiện sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số.
Đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu tại các vùng núi cao, vùng sâu,
vùng xa, gắn bó mật thiết với rừng, đất rừng và thường có tập quán sinh sống là du
canh, du cư, đốt rừng làm rẫy, săn bắn thú rừng. Phần lớn người dân không biết chữ,
không biết tiếng phổ thông, tâm lý tự ti dân tộc nên thường sống khép kín. Khi Nhà
nước quản lý rừng một cách chặt chẽ để phục vụ cho việc khai thác và phát triển rừng
lâu dài vì lợi ích chung của tồn xã hội thì trực tiếp tác động đến đời sống của người
đồng bào dân tộc thiểu số. Họ không thể sống theo tập quán canh tác cũ, nếp sinh hoạt
cũ mà phải chấp hành pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng. Điều này rất khó khăn khi
bản thân họ trình độ văn hố thấp, các kỹ thuật canh tác, sản xuất, trồng trọt, chăn ni
cịn rất lạc hậu, nên kết quả sản xuất thường là năng suất không cao, chất lượng thấp.
Các điều kiện tiếp cận thông tin hạn chế khiến đồng bào càng ít nắm được các chủ
Phạm Thị Mộng Tuyền
Tiểu luận Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên
12
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng, nhất là
không nắm được cơ hội để tham gia vào các chương trình, dự án của Nhà nước, của
địa phương về phát triển rừng, giao đất, giao rừng…Vì vậy, để mưu sinh, một bộ phận
đồng bào dân tộc thiểu số vẫn sống theo tập quán cũ, thậm chí phá rừng, đốt rừng làm
rẫy, tiếp tay cho lâm tặc vận chuyển lâm sản…
Trong khi đó, áp lực về dân số ở các vùng có rừng tăng nhanh do tăng cơ học, di
cư tự do từ nơi khác, đòi hỏi cao về đất ở và đất canh tác, những đối tượng này chủ yếu
là những hộ nghèo, đời sống gặp nhiều khó khăn, sinh kế chủ yếu dựa vào khai thác tài
nguyên rừng. Nhận thức về bảo vệ rừng cịn hạn chế, do đó vẫn tiếp tục phá rừng kiếm
kế sinh nhai, lấy đất canh tác hoặc làm thuê cho bọn đầu nậu, kẻ có tiền để phá rừng
hoặc khai thác gô, lâm sản trái phép.
Mặt khác, do cơ chế thị trường, giá cả một số mặt hàng nông, lâm sản tăng cao,
nhu cầu về đất canh tác các mặt hàng này cũng tăng theo, nên đã kích thích người dân
phá rừng để lấy đất trồng các loại cây có giá trị cao hoặc bn bán đất, sang nhượng
trái phép. Đồng thời, để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong tình hình mới,
nhiều cơng trình xây dựng, đường xá và cơ sở hạ tầng khác được xây dựng gây áp lực
lớn đối với rừng và đất lâm nghiệp, tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động phá
rừng, khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép.
Thứ ba, năng lực quản lý và bảo vệ rừng của nhiều chủ rừng và cơ quan chức
năng còn chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn của việc ngăn chặn các hành vi phá rừng làm
rẫy của đồng bào dân tộc thiểu số.
Do quyền hạn của các công ty lâm nghiệp là chủ rừng trong công tác quản lý, bảo
vệ rừng hầu như khơng có, chỉ được phép ngăn chặn và báo cáo xin ý kiến, do đó hạn
chế về nhiều mặt đối với cơng tác quản lý, bảo vệ rừng. Lực lượng quản lý và bảo vệ
rừng của các cơng ty lâm nghiệp cịn chưa được coi trọng, chưa có chế độ ưu đãi phù
hợp dù trên thực tế họ là lực lượng chính để giữ rừng. Vì vậy, gánh nặng cơng tác quản
lý, bảo vệ rừng dồn lên vai lực lượng kiểm lâm. Trong khi đó, lực lượng kiểm lâm
mỏng, địa vị pháp lý chưa rõ ràng, trang thiết bị, phương tiện thiếu thốn, lạc hậu. Chế độ
chính sách cho lực lượng kiểm lâm chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao. Tại một
số địa phương, tiền ưu đãi nghề nghiệp đối với kiểm lâm cịn chậm được thanh tốn. Về
tổ chức, biên chế lực lượng quản lý bảo vệ rừng chưa được sắp xếp ổn định, cho nên
nguồn kinh phí chi trả tiền lương cho lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng chưa có. Thực
tế cho thấy, ở những vùng trọng điểm phá rừng nếu chỉ có lực lượng kiểm lâm khơng thể
giải quyết dứt điểm. Trình độ chun mơn nghiệp vụ cịn hạn chế (nhất là nghiệp vụ vận
động quần chúng), một số cơng chức kiểm lâm dao động trước khó khăn, thậm chí có
biểu hiện tiêu cực.
Cơng tác đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ, giáo dục đạo đức phẩm chất cho đội ngũ
bảo vệ rừng nhất là kiểm lâm chưa được coi trọng đúng mức, nên chưa có cơ sở vật chất
cho việc đào tạo, huấn luyện. Mặt khác, cơ sở vật chất cho công tác bảo vệ rừng hết sức
Phạm Thị Mộng Tuyền
Tiểu luận Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên
13
khó khăn. Những năm qua nguồn đầu tư cho bảo vệ rừng chủ yếu từ chương trình 661,
nhưng chỉ được 5% cho xây dựng cơ sở hạ tầng, vì vậy các cơng trình phịng cháy, chữa
cháy rừng, cơng trình nghiệp vụ khác được xây dựng không đáp ứng được yêu cầu bảo vệ
rừng bền vững. Tỷ trọng vốn đầu tư của xã hội cho công tác bảo vệ rừng không đáng kể.
2.4.2. Nguyên nhân chủ quan
Một là, công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật và cơ chế chính sách
về lâm nghiệp chưa được thực hiện có hiệu quả. Người dân, nhất là ở vùng sâu, vùng
xa, đồng bào dân tộc thiểu số chưa nhận thức đầy đủ tính cấp thiết của việc bảo vệ và
phát triển rừng, nên vẫn tiếp tục phá rừng, có nơi cịn tiếp tay, làm thuê cho bọn đầu
nậu, kẻ có tiền.
Hai là, các ngành, các cấp chính quyền, đặc biệt là cấp xã nhận thức chưa đầy
đủ, tổ chức thực hiện thiếu nghiêm túc trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất
lâm nghiệp. Ở những điểm nóng phá rừng, do lợi ích cục bộ, đã làm ngơ, thậm chí có
biểu hiện tiếp tay cho các hành vi phá rừng, khai thác, tiêu thụ lâm sản, sang nhượng
đất đai trái phép, nhưng khơng bị xử lý nghiêm túc. Có địa phương sau một thời gian
thực hiện các biện pháp kiên quyết ngăn chặn tình trạng phá rừng cịn có biểu hiện
thỏa mãn với thành tích, khơng duy trì hoạt động thường xuyên, do vậy tình trạng phá
rừng và các hành vi vi phạm pháp luật tiếp tục tái xuất hiện.
Ba là, chủ rừng là các lâm trường quốc doanh, Ban quản lý rừng pVinhg hộ và
rừng đặc dụng không đủ năng lực để quản lý, bảo vệ diện tích rừng được giao. Một số
đơn vị có biểu hiện thiếu trách nhiệm, thông đồng, tiếp tay cho hành vi phá rừng. Các
chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác có diện tích quy mơ nhỏ nên
khơng thể tự tổ chức lực lượng bảo vệ rừng được giao. Các diện tích rừng chưa có chủ,
thuộc trách nhiệm quản lý của Uỷ ban nhân dân xã, nhưng chưa có cơ chế để chính
quyền cấp xã thực hiện cơng tác quản lý, bảo vệ rừng có hiệu quả.
Bốn là, cơ chế chính sách chậm đổi mới chưa tạo động lực thu hút các nguồn lực
cho bảo vệ rừng. Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng thiếu rõ ràng, khi rừng bị mất, chủ
rừng (nhất là các chủ rừng thuộc Nhà nước) khơng phải chịu trách nhiệm trực tiếp.
Chính sách quyền hưởng lợi từ rừng chưa phù hợp với thực tiễn, lại chưa được các địa
phương thực hiện nghiêm túc. Công tác quy hoạch, kế hoạch thiếu tính khoa học, chưa
đồng bộ với các quy hoạch khác như quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, sử dụng đất
đai,... nên quy hoạch không được thực hiện nghiêm túc, thường xuyên bị phá vỡ. Cơng
tác giao, cho th rừng, đất rừng, khốn bảo vệ rừng chưa quan tâm đến đối tượng
đồng bào dân tộc thiểu số, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng còn rất
chậm, theo dõi việc sử dụng đất rừng sau khi giao, cho thuê chưa thường xuyên. Thiếu
sự đồng bộ, gắn kết trong tổ chức thực hiện các chương trình, dự án (chương trình
quốc gia về xóa đói giảm nghèo; các chương trình 135; và 134;; 661).
Phạm Thị Mộng Tuyền
Tiểu luận Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên
14
Năm là, chưa huy động được các lực lượng của xã hội cho bảo vệ rừng. Phối
hợp giữa các lực lượng Công an, Quân đội, Kiểm lâm ở nhiều địa phương chưa thật sự
có hiệu quả, cịn mang tính hình thức, nhiều tụ điểm phá rừng trái phép chưa có
phương án giải quyết của liên ngành. Việc xử lý các vi phạm chưa kịp thời, thiếu kiên
quyết, cịn có những quan điểm khác nhau của các cơ quan chức năng ở một số địa phương.
2.5. Hậu quả của tình huống
2.5.1. Về phía xã hội
Hành vi phá rừng của đồng bào dân tộc thiểu số nếu không được ngăn chặn kịp
thời và xử lý nghiêm minh sẽ làm cho tài nguyên rừng bị cạn kiệt một cách nhanh
chóng, tạo cơ hội cho lâm tặc phá rừng, khai thác rừng trái phép. Khi tài ngun rừng
bị mất đi sẽ khó hoặc khơng thể khôi phục lại được. Các nguồn gen quý hiếm, cần
được bảo tồn sẽ bị thiệt hại, bị mất đi. Rừng sản xuất là loại rừng được sử dụng chủ
yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh
vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hố, danh lam thắng cảnh;
phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phịng hộ, góp phần bảo vệ mơi trường. Vì vậy, khi
xâm hại đến các nhóm đối tượng của rừng đặc dụng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nơi sinh
sống của nhiều lồi động thực vật rừng, các di tích lịch sử văn hố, danh lam thắng
cảnh, các lợi ích trong du lịch, nghiên cứu khoa học, phát triển kinh tế-xã hội…Khi
diện tích rừng bị thu hẹp sẽ kéo theo các vấn đề về biến đổi khí hậu, ảnh hưởng đến đất
đai và sức khỏe của con người.
2.5.2. Về phía Nhà nước
Quản lý, bảo vệ và phát triển rừng là trách nhiệm của Nhà nước. Vì vậy, khi
rừng bị xâm hại thì ảnh hưởng lớn đến các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) mà
Nhà nước đã, đang và sẽ đầu tư cho sự nghiệp này. Mặt khác, khi các ảnh hưởng về
mơi trường, khí hậu, đất đai do mất rừng ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất của người
dân thì Nhà nước phải tổ chức khắc phục hậu quả. Với các vi phạm pháp luật phát sinh
trong quản lý, bảo vệ rừng cũng khiến Nhà nước phải đầu tư về nhân lực, về phương
tiện, cơng cụ, tài chính, về cơ chế, chính sách, đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cho các lực
lượng quản lý, bảo vệ rừng và xử lý vi phạm.
Các vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng còn khiến cho Nhà nước mất đi các
nguồn thu từ thuế, từ du lịch, dịch vụ, xuất khẩu các sản phẩm lâm nghiệp, đồng thời phải
tăng nhập khẩu các sản phẩm lâm nghiệp để đáp ứng nhu cầu trong nước. Đồng thời, quá
trình giải quyết các vi phạm có thể khơng đảm bảo được sự kết hợp hài hồ giữa chính trị
và pháp lý nên sẽ tiềm ẩn những nguy cơ không nhỏ đến an ninh chính trị, trật tự an tồn
xã hội tại các địa phương, có thể dẫn đến việc các thế lực thù địch lợi dụng gây chia rẽ
dân tộc.
Phạm Thị Mộng Tuyền
Tiểu luận Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên
15
III. XỬ LÝ TÌNH H́NG
3.1. Mục tiêu xử lý tình huống
Mục tiêu của việc xử lý tình huống trên là nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của
pháp luật trong xử lý vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ rừng, đồng thời làm cho
người dân nhận thức đúng trách nhiệm, loại bỏ phong tục, tập quán lạc hậu, du canh du
cư, ổn định đời sống và tham gia vào sự nghiệp quản lý, bảo vệ, phát triển rừng.
3.2. Xây dựng các phương án xử lý tình huống
Để xử lý tình huống trên, tiểu luận đề xuất một số phương án cụ thể như sau:
3.2.1. Phương án 1. Xử phạt vi phạm hành chính đối với vợ chồng
ơng Nguyễn Văn Vinh và con trai bằng hình thức xử phạt cảnh cáo
Điểm mạnh của phương án này là phát huy tác dụng của giáo dục, thuyết phục
đối với người dân tộc thiểu số vốn thật thà, chất phác, ngay thẳng, điều kiện kinh tế
cịn khó khăn. Nếu xử phạt tiền thì không thể đảm bảo thực hiện được quyết định xử
phạt mà cịn có thể gây bất đồng lớn tại địa bàn. Việc áp dụng hình thức phạt cảnh cáo
có tác dụng: vừa thể hiện thái độ khơng đồng tình với các hành vi vi phạm, vừa thể
hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước với đồng bào dân tộc thiểu số. Vì
vậy, u cầu về chính trị sẽ đạt được.
Tuy nhiên, yêu cầu về mặt pháp lý lại rất hạn chế. Theo Điều 9 Luật xử lý vi
phạm hành chính thì cảnh cáo được áp dụng đối với vi phạm hành chính nhỏ, lần đầu,
có tình tiết giảm nhẹ. Mặc dù vợ chồng ông Nguyễn Văn Vinh và con trai vi phạm có
tình tiết giảm nhẹ nhưng hành vi diễn ra nhiều lần trước khi bị phát hiện (dù chưa bị
xử lý lần nào), vi phạm không thuộc loại nhỏ, lại có cả tình tiết tăng nặng nên nếu áp
dụng cảnh cáo thì khơng phù hợp về mặt pháp lý. Đây cũng chính là nhược điểm của
phương án này.
3.2.2. Phương án 2. Xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp
luật áp dụng mức phạt tối đa của khung tiền phạt là 50.000.000 đồng
Theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, vi
phạm của ơng Nguyễn Văn Vinh và vợ, con có tình tiết tăng nặng: vi phạm nhiều lần,
tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm mặc dù người có thẩm quyền đã yêu cầu chấm dứt
hành vi đó, do đó điểm mạnh của phương án này là thực thi đúng theo quy định của
Pháp luật, răn đe được gia đình ơng Vinh nói riêng và các hộ dân khác nói chung nhằm
ngăn chặn tình trạng phá rừng làm nương rẫy.
Tuy nhiên, nhược điểm của phương án này là quá cứng nhắc, xét về điều kiện,
hoàn cảnh của gia đình ơng Vinh thì khơng thể có khả năng nộp phạt với số tiền quá
lớn so với nguồn thu nhập của gia đình, hậu quả dẫn đến sự bất bình đối với chính
quyền, dễ xảy ra tình trạng lôi kéo bà con khai thác rừng để kiếm tiền nộp phạt hoặc
vướng vào các tệ nạn trộm cắp, buôn bán ma túy,... lấy cớ kiếm tiền nộp cho chính quyền.
Phạm Thị Mộng Tuyền
Tiểu luận Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên
16
3.2.3. Phương án 3. Xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp
luật áp dụng mức phạt tối thiểu của khung tiền phạt là 40.000.000 đồng gắn với
tuyên truyền, giáo dục và tạo điều kiện cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Vinh và
con trai chấp hành quyết định xử phạt
Vi phạm hành chính của vợ chồng ơng Nguyễn Văn Vinh và con trai có cả tình
tiết tăng nặng và giảm nhẹ. Vậy phải áp dụng các tình tiết đó như thế nào để quyết
định xử phạt là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong đảm bảo sự kết hợp hài hồ yếu tố
chính trị, pháp lý trong xử lý vụ việc. Sự vi phạm của gia đình ông Vinh bắt nguồn từ
sự thiếu hiểu biết pháp luật (do điều kiện cư trú, sinh sống, kinh tế) và trình độ nhận
thức cịn lạc hậu. Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến hành vi phá rừng, không
chấp hành u cầu của người thi hành cơng vụ. Vì vậy, cần xem tình tiết vi phạm do
trình độ lạc hậu là cơ bản. Theo đó, chỉ áp dụng mức phạt là 40.000.000 đồng (mức tối
thiểu của khung tiền phạt) đối với ông Nguyễn Văn Vinh là chủ hộ, đứng ra tổ chức
cho các thành viên gia đình phá rừng. Đồng thời áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả
là buộc trồng lại rừng. Cịn vợ ơng và con trai chỉ áp dụng phạt cảnh cáo.
Do đó, ưu điểm của phương án này là đảm bảo kết hợp hài hoà nhất yếu tố chính
trị với yếu tố pháp lý. Vừa thể hiện được sự nghiêm minh của pháp luật, có giá trị
pVinhg ngừa và đấu tranh chung với các vi phạm pháp luật trên địa bàn, vừa thể hiện
được chính sách nhân đạo của Nhà nước với vi phạm của đồng bào dân tộc thiểu số.
Đồng thời, kết hợp với tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho vợ chông Nguyễn Văn
Vinhđể thấy được sự linh hoạt trong áp dụng pháp luật của lực lượng kiểm lâm vì lợi ích
của gia đình ông nhưng cũng để răn đe các đối tượng khác cố ý xâm hại đến rừng.
Tuy nhiên, phương án này có nhược điểm khá lớn là số tiền phạt quá cao, biện
pháp khắc phục hậu quả khó có thể được đảm bảo nếu khơng có các biện pháp cần thiết
từ phía các cơ quan chức năng, trong đó có chính quyền xã và lực lượng kiểm lâm địa bàn.
3.3. Lựa chọn phương án tối ưu
3.3.1. Lựa chọn phương án giải quyết
Trong ba phương án trên, mơi phương án đều có những ưu, nhược điểm nhất
định. Việc thực hiện phương án 1 dễ dàng trong triển khai thực hiện nhưng không thể
hiện được sự nghiêm minh của pháp luật, khơng có tác dụng ngăn chặn tình trạng phá
rừng trái phép, có thể dẫn đến hệ quả “nhờn” pháp luật. Phương án 2 càng khơng thể
thực hiện vì hậu quả dẫn đến một người hoặc một nhóm người bất bình với chính
quyền, gây mất đoàn kết, dễ xảy ra các tệ nạn xã hội ảnh hưởng đến tình hình an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Trong khi đó, phương án 3 cho phép áp
dụng đúng pháp luật nhưng để đảm bảo tính khả thi thì cần mềm dẻo trong q trình
triển khai thực hiện. Có như vậy mới giúp đồng bào dân tộc thiểu số hiểu được mục
tiêu của các chính sách, pháp luật của Nhà nước là phục vụ nhân dân chứ không nặng
về trừng trị.
Phạm Thị Mộng Tuyền
Tiểu luận Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên
17
Với những lập luận này, tiểu luận lựa chọn phương án 3 là phương án tối ưu để
giải quyết tình huống.
3.3.2. Tổ chức thực hiện phương án tối ưu
Để thực hiện được phương án tối ưu (phương án 3), cần tiến hành theo các trình
tự cụ thể như sau:
*Vận động, thuyết phục trưởng thôn cùng đến nhà Nguyễn Văn Vinh để yêu cầu
đến cơ quan kiểm lâm giải quyết vi phạm.
Thông thường ở các cộng đồng dân tộc thiểu số, vai trị của trưởng thơn, già
làng…rất lớn. Vì vậy, trước hết cần thuyết phục trưởng thôn ủng hộ lực lượng kiểm
lâm trong xử lý hành vi vi phạm của vợ chồng ơng Vinh. Sau đó, cùng trưởng thơn đến
nhà Nguyễn Văn Vinh giải thích cho họ rõ các quy định của pháp luật về quản lý, bảo
vệ rừng; các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực này; chế tài xử phạt đối với hành vi
vi phạm của vợ chồng Nguyễn Văn Vinh và con trai Nguyễn Văn Van.
Quá trình vận động, thuyết phục phải trên tinh thần vì lợi ích của họ, không bài
xích, không áp lực để họ hiểu ra hành vi của mình là sai trái. Từ đó, thuyết phục họ ký
vào các biên bản vi phạm để làm cơ sở cho việc xử lý. Sau đó, hẹn họ đến trụ sở của
cơ quan kiểm lâm để giải quyết. Nhắc nhở họ trong thời gian chờ xử lý không được
tiếp tục thực hiện vi phạm nếu không sẽ khơng được hưởng chính sách khoan hồng của
Nhà nước.
* Chi cục trưởng chi cục kiểm lâm ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính
đối vợ chồng ơng Nguyễn Văn Vinh
Chi cục trưởng ra quyết định xử phạt cảnh cáo đối với vợ và con ông Nguyễn
Văn Vinh. Sau đó, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính,
ra quyết định xử phạt ông Nguyễn Văn Vinh bằng hình thức phạt tiền, mức tối thiểu là
40.000.000 đồng và buộc gia đình ơng phải trồng lại rừng. Quyết định xử phạt sau khi
được ban hành phải giao cho ông Nguyễn Văn Vinh trong thời gian 3 ngày, kèm theo
công tác thuyết phục, động viên để ông yên tâm chấp hành quyết định xử phạt.
* Áp dụng các quy định pháp luật để kéo dài việc thực hiện quyết định xử phạt
cho ông Nguyễn Văn Vinh.
Do điều kiện hồn cảnh khó khăn về kinh tế. Chi cục trưởng có thể quy định
ngày có hiệu lực khác so với ngày ký quyết định xử phạt để kéo dài thời gian cho gia
đình ơng Nguyễn Văn Vinh có thể đảm bảo thực hiện quyết định nhưng tối đa không
quá 1 năm kể từ ngày quyết định được ban hành (bởi nếu quá thì sẽ hết thời hạn thi
hành quyết định xử phạt).
Sau đó, căn cứ vào tình hình thực tế, khi đến thời hạn thực hiện, nếu ông
Nguyễn Văn Vinh chưa thể đảm bảo thực hiện quyết định xử phạt thì cần hướng dẫn
ơng thực hiện thủ tục xin nộp tiền phạt nhiều lần. Theo quy định tại khoản 1,2 Điều 79
Phạm Thị Mộng Tuyền
Tiểu luận Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên
18
Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, thì thời hạn nộp tiền phạt nhiều lần không
quá sáu tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực; số lần nộp tiền phạt tối đa
không quá 03 lần và mức nộp phạt lần thứ nhất tối thiểu là 40% tổng số tiền phạt.
Như vậy, việc thực hiện quyết định xử phạt của ơng Nguyễn Văn Vinh có thể
được kéo dài trong 1 năm rưỡi. Ở lần nộp tiền phạt cuối có thể áp dụng quy định về
hỗn chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Chi cục kiểm lâm cần phối
hợp với Uỷ ban nhân dân xã Hương Phong để giúp ông Nguyễn Văn Vinh soạn đơn đề
nghị Chi cục kiểm lâm hoãn chấp hành quyết định xử phạt, có xác nhận của Uỷ ban
nhân dân xã Phú Vinh- nơi ông Nguyễn Văn Vinh cư trú về hồn cảnh đặc biệt khó
khăn về kinh tế.
* Tham mưu cho chính quyền địa phương giúp đỡ gia đình ông Nguyễn Văn
Vinh trong thời gian thực hiện quyết định xử phạt
Kiểm lâm viên địa bàn cần tham mưu cho UBND xã Hương Phong phối hợp với
UBND xã Phú Vinh tổ chức thực hiện tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật
về bảo vệ và phát triển rừng thông qua hệ thống truyền thanh cơ sở cho toàn thể nhân
dân trên địa bàn. Xây dựng phương án giao rừng cho gia đình ơng Nguyễn Văn Vinh
để tạo điều kiện cho gia đình ơng có thể ổn định đời sống. Đồng thời, ký hợp đồng cho
hộ gia đình ơng Nguyễn Văn Vinh thuê rừng, nhận khoán rừng theo khả năng. Cử cán
bộ hướng dẫn gia đình ơng hoặc khi có lớp tập huấn kiến thức về sản xuất lâm nghiệp,
nông nghiệp, ngư nghiệp kết hợp; làm nương rẫy, định canh, thâm canh, luân canh,
chăn thả gia súc theo quy hoạch, kế hoạch thì mời hộ gia đình ơng cùng tham gia học
tập để nâng cao hiểu biết.
Bên cạnh đó, UBND xã cần chỉ đạo các thôn xây dựng và thực hiện quy ước
quản lý, bảo vệ, phát triển rừng; tổ chức và huy động lực lượng quần chúng trên địa
bàn phối hợp với kiểm lâm, lực lượng công an, quân đội trên địa bàn phát hiện và ngăn
chặn kịp thời những hành vi xâm hại rừng.
Hạt trưởng Hạt kiểm lâm cũng cần phối hợp với cơ quan nông nghiệp địa bàn để
giúp đỡ ông Nguyễn Văn Vinh về giống cây trồng nhằm tạo điều kiện cho ông khắc
phục hậu quả (trồng lại rừng). Phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng tạo cơ hội
cho ông Nguyễn Văn Vinh tham gia vào các chương trình nhân đạo, hưởng các chính
sách đãi ngộ dành cho hộ nghèo, hộ đói. Đồng thời, chỉ đạo kiểm lâm viên địa bàn bồi
dưỡng năng lực để ông Nguyễn Văn Vinh tham gia vào lực lượng kiểm lâm với vai trò
là cộng tác viên kiểm lâm. Trong thời gian chấp hành quyết định xử phạt, tạo điều kiện
cho ông được phép khai thác một số sản vật từ rừng phù hợp với quy định của pháp luật.
* Kết thúc việc xử phạt
Sau khi ông Nguyễn Văn Vinh chấp hành xong quyết định xử phạt, Chi cục
kiểm lâm cần chỉ đạo cán bộ kiểm lâm lưu giữ tồn bộ hồ sơ vụ vi phạm hành chính để
quản lý, theo dõi. Đồng thời, tiến hành rút kinh nghiệm cho các lần xử lý tiếp theo.
Phạm Thị Mộng Tuyền
Tiểu luận Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên
19
3.4. Kiến nghị
Để hạn chế và giải quyết có hiệu quả các vi phạm hành chính trong lĩnh vực
quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản của đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay, tiểu
luận kiến nghị một số vấn đề sau:
3.4.1. Kiến nghị với Đảng, Nhà nước
Đối với Đảng cần có nghị quyết chuyên đề về lâm nghiệp bên cạnh việc triển
khai mạnh mẽ Nghị quyết số 26-NQ/TƯ ngày 28/8/2008 về nông nghiệp, nông dân và
nông thơn, các nghị quyết liên quan đến xố đói, giảm nghèo, giảm khoảng cách giữa
miền núi và miền xuôi, đặc biệt là vấn đề quản lý, bảo vệ rừng tại những nơi có liên
quan mật thiết đến cuộc sống đồng bào dân tộc thiểu số để lãnh đạo thực hiện có hiệu
quả cơng tác quản lý, bảo vệ rừng của Nhà nước trong mối quan hệ hài hồ với các
chính sách dân tộc.
Đối với Chính phủ cần ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp
luật, quy chế, quy trình, quy phạm, các tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật về bảo
vệ và phát triển rừng và tổ chức chỉ đạo việc thực hiện. Hướng dẫn và chỉ đạo thực
hiện việc giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng; lập
và quản lý hồ sơ giao, cho thuê rừng và đất để trồng rừng. Tổ chức và chỉ đạo thực
hiện việc nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, hợp
tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng. Ban hành một số chính sách về
kinh phí cho hoạt động nghiệp vụ, tiền lương, chế độ thương binh, liệt sỹ, cơ chế sử
dụng vũ khí, cơng cụ hơ trợ để trấn áp lâm tặc. Xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư trang
thiết bị bảo vệ rừng, đầu tư xây dựng các Trung tâm huấn luyện, đào tạo chuyên ngành
cho lực lượng bảo vệ rừng; trang bị phương tiện đáp ứng yêu cầu cơng tác hiện trường
cho các Hạt Kiểm lâm trên tồn quốc, trước mắt tập trung đầu tư cho các Hạt Kiểm
lâm ở những vùng trọng điểm; ứng dụng khoa học công nghệ, tin học, GIS, viễn thám
vào công tác quản lý bảo vệ rừng, theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp; thiết lập
và sử dụng có hiệu quả mạng máy tính chuyên ngành; xây dựng phần mềm quản lý,
theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và các vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng.
Xây dựng cơ chế về đóng góp tài chính cho hoạt động bảo vệ rừng từ các tổ chức, cá
nhân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng. Hợp tác quốc tế để thu hút các nguồn
vốn ODA và các hô trợ kỹ thuật của cộng đồng quốc tế cho công tác bảo vệ rừng.
3.4.2. Kiến nghị với cơ quan chức năng
Đối với Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cần thực hiện các giải pháp để
đổi mới tổ chức lực lượng kiểm lâm theo Luật bảo vệ và phát triển rừng để kiểm lâm
gắn với chính quyền, với dân, với rừng, thực hiện chức năng tham mưu cho chính
quyền địa phương, tổ chức bảo vệ rừng đặc dụng và rừng pVinhg hộ, bảo đảm chấp
hành pháp luật trong việc bảo vệ và phát triển rừng. Bố trí kiểm lâm địa bàn ở 100%
các xã có rừng để tham mưu cho chính quyền cơ sở trong cơng tác quản lý nhà nước
Phạm Thị Mộng Tuyền
Tiểu luận Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên
20
về lâm nghiệp, theo dõi chặt chẽ diễn biến rừng; kịp thời phát hiện, ngăn chặn ngay từ
đầu những vụ vi phạm. Từng bước tăng biên chế cho lực lượng kiểm lâm để bảo đảm
định mức bình quân 1.000ha rừng có 1 kiểm lâm. Đồng thời, tăng cường trang thiết bị
cho kiểm lâm gồm các phương tiện hoạt động phù hợp với địa bàn rừng núi, hệ thống
thông tin liên lạc, thiết bị pVinhg cháy, chữa cháy rừng. Đánh giá nhu cầu đào tạo về
quản lý bảo vệ rừng, lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ và
chính trị cho các đối tượng. Xây dựng chiến lược đào tạo về bảo vệ rừng đến năm
2021. Tổ chức các chương trình trao đổi kinh nghiệm về cơng tác quản lý, bảo vệ rừng.
Đối với chính quyền tỉnh cần có các chính sách thiết thực để hơ trợ nâng cao đời
sống người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số như đẩy mạnh việc giao rừng và đất
lâm nghiệp, khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia đình, cộng đồng dân cư sống chủ yếu
bằng nghề lâm nghiệp; đồng thời hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho các chủ rừng. Sớm hoàn thành chủ trương giải quyết đất ở, đất sản xuất, hô trợ
nhà ở cho đồng bào dân tộc đang gặp nhiều khó khăn, gắn với các chương trình mục
tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo, chương trình định canh định cư, quy hoạch và tổ
chức thực hiện các dự án ổn định vùng kinh tế mới để người dân có thu nhập từ sản
xuất, sớm ổn định cuộc sống, giảm bớt sự lệ thuộc vào thu nhập từ các hoạt động khai
thác rừng trái pháp luật...Rà soát ổn định diện tích canh tác nương rẫy theo phong tục
tập quán của đồng bào ở một số khu vực, từng bước chuyển sang phương thức canh tác
thâm canh, cung cấp giống cây trồng phù hợp với lập địa, có hiệu quả kinh tế cao và
hướng dẫn kỹ thuật cho đồng bào. Nghiên cứu chính sách hơ trợ của Nhà nước cho đồng
bào tương đương với thu nhập từ canh tác quảng canh nương rẫy hiện nay (tương đương
khoảng 1 đến 1,5 tấn thóc/hécta/năm) trong thời gian 3 đến 5 năm, cung cấp giống cây
rừng và một số vật tư cần thiết khác cho đồng bào dân tộc tại chô để chuyển căn bản họ
sang trồng rừng, đồng thời cho họ được hưởng 100% sản phẩm rừng.
Phần C: KẾT LUẬN
Những năm qua công tác bảo vệ rừng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng,
nhận thức về rừng được nâng cao, quan điểm đổi mới xã hội hóa về lâm nghiệp đã
được triển khai thực hiện có hiệu quả; hệ thống pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng
ngày càng hoàn thiện; chế độ chính sách lâm nghiệp, nhất là chính sách về đa dạng hóa
các thành phần kinh tế trong lâm nghiệp, giao đất, giao rừng, khoán bảo vệ rừng và
quyền hưởng lợi từ rừng được ban hành và bước đầu đi vào cuộc sống. Nhà nước đã
tăng cường đầu tư thơng qua nhiều chương trình, dự án đã tác động tích cực vào bảo
vệ rừng. Vai trị trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng của các ngành và chính quyền
các cấp được nâng cao hơn, các tổ chức xã hội đã có những nơ lực tham gia vào cơng
tác bảo vệ và phát triển rừng... Tuy nhiên, rừng vẫn bị tàn phá do nhiều nguyên nhân,
trong đó có nguyên nhân từ sự thiếu hiểu biết và do phong tục, tập quán lạc hậu của
một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh nhiều biện pháp cương quyết như tổ
chức các đợt truy quét lâm tặc, giải tỏa các tụ điểm phá rừng trái phép, ngăn chặn
Phạm Thị Mộng Tuyền
Tiểu luận Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên
21
chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp ngồi quy hoạch, xử lý vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực lâm nghiệp cịn có những biện pháp mang tính tổ chức, kinh tế để việc
thực hiện pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng mang tính bền vững, gắn việc thực hiện tốt
chính sách dân tộc nhằm giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội trên phạm vi cả nước.
Phạm Thị Mộng Tuyền
Tiểu luận Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên
22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015;
2. Nghị quyết số 26-NQ/TƯ ngày 05/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông
thôn;
3. Luật Lâm nghiệp được Quốc Hội ban hành vào 15/11/2017;
4. Nghị định 156/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Lâm nghiệp;
5. Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2019 về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp;
6. Tài liệu hướng dẫn lớp chuyên viên quản lý nhà nước năm 2020.
Phạm Thị Mộng Tuyền
Tiểu luận Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên
23
LỜI CẢM ƠN
Để hồn thành bài tiểu luận cuối khóa lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà
nước chương trình chuyên viên năm 2020. Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban
giám hiệu nhà trường và quý thầy cơ giáo đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình
học tập và viết bài tiểu luận.
Trân trọng cám ơn quý thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ, tạo điều kiện
cho em hoàn thành mục tiêu trong q trình học tập, qua đó trang bị những kiến thức
cơ bản về lĩnh vực quản lý Nhà nước để phục vụ công tác lâu dài cho môi cán bộ, công
chức, viên chức của môi cơ quan, đơn vị và địa phương nói chung và bản thân em nói
riêng.
Em chân thành cảm ơn Uỷ ban nhân dân huyện A Lưới, Phòng Nội vụ huyện và
Uỷ ban nhân dân xã Hương Phong đã cho phép và tạo mọi điều kiện thuận lợi để em
được tham gia lớp bồi dưỡng này.
Cuối cùng em kính chúc q thầy, cơ giáo dồi dào sức khỏe và thành công trong
sự nghiệp cao quý. Đồng kính chúc quý lãnh đạo huyện nhiều sức khỏe và đạt nhiều
thành công tốt đẹp trong công việc.
Trân trọng cảm ơn./.
Phạm Thị Mộng Tuyền
Tiểu luận Bồi dưỡng kiến thức QLNN Chương trình Chuyên viên
24
NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN CƠNG TÁC
Đồng chí Phạm Thị Mộng Tuyền qua quá trình tham gia lớp bồi dưỡng kiến thức
QLNN chương trình Chuyên viên tại trung tâm bồi dưỡng Chính trị huyện A Lưới do
Trường Chính trị Nguyễn Chí Thanh tổ chức đã tích cực học tập, nghiên cứu tài liệu,
vận dụng kiến thức đã học vào thực tế tại địa phương, hồn thành tiểu luận khố học
trên cơ sở lý luận và thực tiễn./.
Xác nhận của UBND xã Hương Phong
Phạm Thị Mộng Tuyền