Tải bản đầy đủ (.pdf) (14 trang)

PHÂN TÍCH RỦI RO DỰ án VINFAST CỦA TẬP ĐOÀN VINGROUP

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (584.16 KB, 14 trang )


Mục lục


A. TỔNG QUÁT VỀ RỦI RO:
I. Khái niệm rủi ro.
Rủi ro gắn với khả năng xảy ra một biến cố khơng lường trước, biến cố mà ta hồn tồn
khơng biết chắc.
Rủi ro ứng với sai lệch giữa dự kiến và thực tế hoặc là rủi ro là sự không thể đoán trước
được nguyên nhân dẫn đến kết quả thực khác với kết quả dự đốn.
Có nhiều quan điểm khác nhau về rủi ro:
+ Theo quan điểm rủi ro gắn với những điều không may người ta quan niệm rằng: rủi ro
là sự không chắc chắn hoặc là các mối nguy hiểm, hay rủi ro là các kết quả thực tế chênh
lệch so với dự báo, rủi ro cũng có thể là sự mất mát, thương tổn, sự bất lợi hay sự hủy
diệt…
+ Theo quan điểm rủi ro gắn với cả thiệt hại và may mắn thì cho rằng rủi ro có thể là
những điều xấu, điều khơng may và rủi ro cũng có thể là những điều tốt, điều may mắn,
thuận lợi. Theo cách đánh giá này thì rủi ro được nhìn nhận một cách khách quan hơn và
đúng đắn hơn.
II. Đặc trưng của rủi ro.
Khi đã xác định được các vấn đề tiềm ẩn đáng kể và hiển nhiên chúng ta khơng đủ tài
ngun để ứng phó với mọi vấn đề tiềm ẩn này. Vì vậy cần xác định được những vấn đề
nào là lớn nhất có khả năng đe doạ dự án lớn nhất. Có nhiều phương pháp song có một
phương pháp được sử dụng phổ biến và cũng là đơn giản nhất đó là đưa ra các phán đốn
chủ quan về 2 đặc tính của vấn đề tiềm ẩn là tần số và biên độ.
Tần số: đồng nghĩa với việc thích rủi ro nhiều hay thích rủi ro ít. Được thể hiện
bằng xác suất hoặc khả năng xuất hiện của biến cố.
- Biên độ: mồi lần xảy ra có lớn hay khơng? Lớn bao nhiêu? Được thể hiện bằng giá
trị của các biến cố hoặc tác động của các biến cố.
Chúng ta có các rủi ro có tần suất lớn, biên độ lớn; tần suất nhỏ, biên độ nhỏ; tần suất
lớn, biên độ nhỏ; và tần suất nhỏ, biên độ lớn.


-

Nhưng đối với các nhà quản trị rủi ro họ chú trọng tần suất lớn, biên độ lớn của rủi ro. Vì
Rủi ro = Tần suất * biên độ.
Với những loại rủi ro này luôn được các nhà đầu tư để ý đến để có các biện pháp đề
phịng rủi ro một cách có hiệu quả nhất.


B. RỦI RO DỰ ÁN (PROJECT RISK)
I. KHÁI NIỆM
- Rủi ro dự án là một sự kiện hoặc sự cố có thể ảnh hưởng tiêu cực đến dự án. Rủi ro dự
án có thể được giảm thiểu, thậm chí ngăn ngừa. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi nhà quản trị
phải có một sự tầm nhìn về các rủi ro và lập kế hoạch trước.
- Rủi ro trong dự án đầu tư có thể bao gồm rủi ro tốt và rủi ro xấu. Đối với các dự án đầu
tư, rủi ro có thể bao gồm rủi ro ở pha lập dự án ( rủi ro bên trong và rủi ro bên ngoài), rủi
ro liên quan đến dự báo sử dụng nguồn lực, rủi ro liên quan đến triển khai thực hiện dự
án.
1. Rủi ro trong giai đoạn lập dự án
Vào thời điểm bắt đầu dự án, ta cịn hiểu ít về dự án, và lúc đó tính bất định sẽ rất cao,
chúng ta cần thận trọng nhận diện các rủi ro ở giai đoạn này để có biện pháp phịng tránh
và đối phó với rủi ro khi bắt đầu thực hiện dự án vì các rủi ro này có thể ảnh hưởng đến
dự án và làm nản lòng chúng ta khi nó xảy xa mà khơng có biện pháp phịng trừ.
1.1 Rủi ro bên trong dự án:
- Công việc chưa được xác định chính xác: trong q trình nghiên cứu sơ bộ để lập dự án
không phải bao giờ cũng thu được thơng tin đầy đủ và chính xác về khối lượng công việc,
thời gian thực hiện, mức tiêu hao các yếu tố đầu vào, tiêu chuẩn kỹ thuật,…

-

- Mục tiêu và phương tiện khơng tương thích: thơng thường vì muốn được xét duyệt dự

án thuận lợi nên nhà lập dự án thường rất lạc quan khi đưa ra các số liệu về thời gian
hồn thành sớm, chi phí ít, tiêu chuẩn chất lượng bảo đảm,… nhưng thực tế không phải
như vậy. Ở đây chính những người lập dự án đã tự lừa dối mình.
Rủi ro kỹ thuật và rủi ro cơng nghiệp hóa:
+ Rủi ro kỹ thuật: là khả năng không thể chế tạo ra được sản phẩm với công nghệ đã cho
và bảo đảm các tiêu chuẩn kỹ thuật.
+ Rủi ro cơng nghiệp hóa: là khả năng khơng thể chuyển từ sản xuất thử sang sản xuất
hàng loạt nếu khơng có những thay đổi lớn và ngồi dự kiến về nguồn lực huy động.
- Chưa nắm vững được quá trình phát triển và theo dõi dự án: hình thức dự án, quy trình
lập dự án, phương thức kiểm sốt…
1.2 Rủi ro bên ngoài dự án:
- Sự lạc hậu thương mại:
+ Sai lầm trong đánh giá nhu cầu thị trường.


+ Nhu cầu thị trường biến động nhanh do cạnh tranh hoặc do chính sách về giá cả nguyên
vật liệu.
- Rủi ro pháp chế:
+ Ngày bắt đầu có hiệu lực của một văn bản pháp chế chưa được công bố chính sách.
+ Nội dung văn bản khơng rõ.
1.3 Rủi ro liên quan đến dự báo sử dụng nguồn lực:
Xác định nguồn lực cần huy động, khả năng thực tế của các nguồn lực đó:
- Xác định nguồn lực địi hỏi cần phải hết sức chú ý vì nó liên quan đến:
+Vấn đề sử dụng lao động: thời gian, các quy ước tập thể, chăm sóc sức khỏe…
+Vấn đề sử dụng trang thiết bị: các quy ước về bảo hộ, ô nhiễm môi trường
+ Thiếu hiểu biết về trang thiết bị và con người, về khả năng sử dụng và hoàn thành cơng
việc.
+ Khơng có sự tương thích giữa các nguồn lực huy động.
- Khă năng thực tế của các nguồn lực:
+ Cơng suất của máy móc thiết bị

+ Năng suất lao động của công nhân.
2. Rủi ro trong triển khai thực hiện dự án:
- Phát hiện vấn đề quá muộn do:
+ Khơng có thơng tin tốt hoặc xử lý thơng tin không đúng, không kịp thời.
+ Cơ cấu tổ chức: ưu thế thống trị của một quan điểm nào đó hoặc ngược lại là sự
phân tán trách nhiệm.
+ Họp hành, giấy tờ báo cáo quá phức tạp, thủ tục rườm rà…
- Nhận thức sai vấn đề: q trình phân tích thơng tin khơng phải bao giờ cũng dẫn đến
một đốn nhận đúng vì:
+ Cùng một kết quả có thể có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân mà ta chọn để
phân tích xử lý chưa chắc đã là đúng.


+ Có thể ta mới chỉ dừng lại ở nguyên nhân bên ngồi mà chưa tìm các ngun nhân
sâu xa ở bên trong.
+ Sự trình bày chủ quan đối với một hiện thực khách quan có thể dẫn đến những giả
thiết sai về mối quan hệ nhân quả. Do đó kéo theo những đoán nhận sai về nguồn gốc hay
hiệu quả của vấn đề.
Và một điều hiển nhiên là nhận thức sai vấn đề thì đề xuất giải pháp cũng rất có khả năng
sai nhưng nhận thức đúng vấn đề chưa hẳn có nghĩa là giải pháp đề xuất sẽ đúng.
- Giải pháp đề xuất không phù hợp do dựa trên những quan điểm không xuất phát từ cái
chung của cả dự án, hoặc né tránh không muốn thay đổi, sợ thay đổi sẽ bất lợi cho mình.
 Các rủi ro ở giai đoạn này xảy ra phần lớn là những rủi ro có mức độ nghiêm trọng
nhưng nó đã được dự đoán trước trong giai đoạn lập dự án nên ít ảnh hưởng đến dự án
do có những biện pháp phòng tránh. Tuy nhiên cần phải khắc phục những rủi ro này
để dự án được tiếp tục thực hiện mà không làm cản trở các giai đoạn khác của dự án.
3. Rủi ro khi kết thúc dự án
Vào lúc dự án chấm dứt hoạt động tác động của rủi ro vẫn cịn rất quan trọng. Có ít rủi ro
ở giai đoạn kết thúc hơn ở các giai đoạn khác nhưng thời gian ở giai đoạn này thường ít
và ngân sách cũng khơng cịn nhiều chẳng hạn như chưa thanh tốn hết nợ, chưa hồn

thành xong sản phẩm giao khác hàng…. Mặc dù rủi ro trong giai đoạn này không nghiêm
trọng bằng rủi ro ở các giai đoạn khác, nhưng vì thời gian ngắn và ngân sách ít sẽ làm
cho việc xử lý rủi ro trở nên phức tạp hơn nhiều.
II. NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH:
1. Nguyên nhân.
- Do sự “lạc quan thái quá” của những người lập dự án. Để làm hài lòng chủ đầu tư, thu
hút thêm các nhà đầu tư mới, tăng tính hấp dẫn cho dự án, người lập dự án thường làm
tăng khả năng thành công của dự án, giảm bớt hoặc giấu đi những bất lợi mà dự án có thể
gặp phải.
- Do sự thiếu trao đổi thơng tin giữa các thành viên nhóm lập dự án.
- Do tiến hành quá ít thử nghiệm cũng như cân nhắc quá ít các lựa chọn khi lập dự án, dự
báo khơng chính xác về nhu cầu của người tiêu dùng hoặc bỏ qua việc trang bị cơ sở hạ
tầng tiếp thị nhằm hỗ trợ cho sản phẩm của dự án.
- Đánh giá và phân tích khơng đầy đủ môi trường kinh doanh.


2. Quản lý rủi ro dự án:
Rủi ro dự án có thể được đánh giá theo 2 nhân tố: tác động và khả năng xảy ra, khi rủi ro
xảy ra thì người ta gọi nó là vấn đề (issue) của dự án.
Quản lý rủi ro giúp giảm thiểu, giám sát và điều khiển tính khả thi hoặc tác động của các
sự kiện khơng dự đốn được hoặc tối đa hóa sự nhận dạng các cơ hội. Việc này được thực
hiện qua 6 quy trình như sau:
- Lập kế hoạch quản lý rủi ro (Plan Risk Management): là quy trình xác định các hoạt
động cần thực hiện để quản lý rủi ro dự án. Lợi ích của quy trình này là đảm bảo mức độ,
tầm nhìn và các loại hoạt động quản lý rủi ro tương xứng với cả rủi ro và tầm quan trọng
của dự án trong tổ chức.
- Xác định rủi ro (Identify Risk): là quy trình xác định rủi ro nào có thể ảnh hưởng đến dự
án và lập tài liệu về các đặc điểm của nó. Lợi ích của quy trình này là có 1 tài liệu đầy đủ
về các rủi ro đang tồn tại và kiến thức cũng như khả năng mà danh sách rủi ro cung cấp
giúp đội dự án dự đoán các sự kiện.

- Phân tích định tính rủi ro (Perform Qualitative Risk Analysis): là quy trình sắp xếp thứ
tự ưu tiên các rủi ro dựa vào khả năng xuất hiện và ảnh hưởng của từng rủi ro. Lợi ích
của quy trình này là cho phép các nhà quản lý dự án giảm mức độ khơng chắc chắn và tập
trung vào rủi ro có độ ưu tiên cao.
- Phân tích định lượng rủi ro (Perform Quantitative Risk Analysis): là quy trình phân tích
số liệu cụ thể về mức độ ảnh hưởng của các rủi ro tới mục tiêu dự án. Lợi ích của quy
trình này là cung cấp các thông tin định lượng về rủi ro nhằm giảm mức độ không chắc
chắn của dự án.
- Lập kế hoạch phản ứng rủi ro (Plan Risk Response): là quy trình đưa ra các lựa chọn và
hành động để tăng cường cơ hội và giảm thiểu đe doạ tới mục tiêu dự án. Lợi ích của quy
trình này là xác định mức độ ưu tiên của các rủi ro, thêm nguồn lực và các hoạt động cần
thiết vào dự án tuỳ vào chiến lược phản ứng cho từng rủi ro được chọn.
- Kiểm soát rủi ro (Control Risks): là quy trình hiện thức kế hoạch phản ứng rủi ro, theo
dõi các rủi ro đã được xác định, giám sát các rủi ro còn lại, xác định rủi ro mới, và đánh
giá hiệu quả của quy trình quản lý rủi ro. Lợi ích của quy trình này là cải thiện hiệu suất
của cách tiếp cận rủi ro trong suốt vòng đời quản lý dự án để liên tục tối ưu các phản ứng
rủi ro.


III. MỘT SỐ RỦI RO THƯỜNG GẶP TRONG DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1. Rủi ro chính trị
Rủi ro này bao gồm bất ổn tài chính và bất ổn chính trị
- Rủi ro thuế: Sự thay đổi về thuế đã làm cho dòng tiền hằng năm của dự án bị thay đổi từ
đó NPV và IRR của dự án bị thay đổi theo.
- Hạn nghạch, thuế quan hoặc các giới hạn thương mại khác: làm giảm sản lượng hoặc
tăng chi phí của các dự án.
- Chính sách tuyển dụng lao động: những thay đổi về quản lý và tuyển dụng lao động như
thay đổi quy định về mức lương tối thiểu. Chính sách với lao động nữ, hạn chế lao động
nước ngoài… đều ảnh hưởng đến hiệu quả của các dự án.
- Kiểm soát ngoại hối: hạn chế chuyển tiền ra nước ngoài ảnh hưởng đến hoạt động cung

ứng hoặc tiêu thụ sản phẩm của dự án cũng như quyền lợi của các nhà đầu tư.
- Lãi suất: khi chính phủ đưa ra các chính sách lãi suất để kiểm sốt lạm phát có thể làm
cho hoạt động đầu tư tăng lên hoặc giảm đi.
- Độc quyền: sự độc quyền kinh doanh của Nhà nước ở một số lĩnh vực có thể làm hạn
chế đầu tư cho các bộ phận khác trong xã hội và thường dẫn đến sự kém hiệu quả của đầu
tư.
- Mơi trường, sức khỏe và an tồn: những quy định liên quan đến kiểm sốt chất thải, quy
trình sản xuất để bảo vệ sức khỏe cộng đồng có thể làm hạn chế nhiều dự án cũng như
làm tăng chi phí của dự án.
2. Rủi ro xây dựng, hồn thành cơng trình.
- Chi phí xây dựng vượt q dự tốn.
- Cơng trình xây dựng khơng đảm bảo các u cầu của dự án.
- Hồn thành khơng đúng thời hạn.
- Không giải tỏa được dân, phải thu hẹp hoặc hủy bỏ dự án.
3. Rủi ro về thị trường, thu nhập, thanh tốn.
- Cầu khơng đủ: Q < cơng suất của dự án
- Giá bán thấp dẫn đến việc khơng có khả năng trả nợ


4. Rủi ro về cung cấp đầu vào
- Đầu vào của dự án: nguyên vật liệu, vốn, lao động, máy móc thiết bị…
+ Khơng đảm bảo được các đầu vào quan trọng theo số lượng, giá cả, chất lượng
đã dự kiến gây khó khăn trong việc vận hành, thanh tốn các khoản nợ.
+ Do sự cạnh tranh của các đối thủ dẫn đến các nhà cung cấp gây khó khăn trong
việc cung cấp các nguồn nguyên vật liệu đầu vào.
5. Rủi ro về kỹ thuật và vận hành
- Khi các tiện ích (dây chuyền, cơng nghệ, thiết bị, hệ thống điều hành…) của dự án
không thể vận hành và bảo dưỡng ở mức độ phù hợp với thiết kế ban đầu.
6. Rủi ro về môi trường xã hội
Môi trường: bao gồm những nhân tố ảnh hưởng đến kết quả nhưng không bị chi phối bởi

người ra quyết định.
Rủi ro về những tác động tiêu cực của dự án đối với môi trường và người dân xung
quanh.
7. Rủi ro kinh tế vĩ mơ
Bao gồm: Tỷ giá hối đối, lạm phát, lãi suất.

C. PHÂN TÍCH RỦI RO DỰ ÁN VINFAST CỦA TẬP ĐỒN
VINGROUP
I.Tổng quan về dự án :
Tập đồn VinGroup tiến hành dự án sản xuất ô tô VinFast là lĩnh vực kinh doanh cốt
lõi thứ 7 của Tập đoàn. Sự ra đời của VinFast khơng chỉ góp phần "viết nên giấc mơ xe
hơi của người Việt" mà còn mở ra kỉ nguyên phát triển dựa trên công nghệ và tri thức
cho Vingroup, đồng thời tham gia thúc đẩy ngành công nghiệp cơ giới tại Việt Nam.
Được thành lập năm 2017, tính đến hết q 3/2018 tập đồn đã rót hơn 13.600 tỷ
đồng vào VinFast, tăng hơn 12.900 tỷ đồng (tương đương khoảng 580 triệu USD) so với
mức 685 tỷ đồng hồi đầu năm. Mục tiêu của VinFast là trở thành nhà sản xuất ôtô hàng
đầu Đông Nam Á với công suất thiết kế lên đến 500.000 xe/năm vào năm 2025.
II.Rủi ro dự án gặp phải:
VinFast tuyên bố trong giai đoạn khởi đầu, VinFast có thể sản xuất và tiêu thụ
250.000 xe/năm trong khoảng 5 năm tới, tương đương với 92% lượng xe bán ra ở Việt


Nam năm 2017, theo dữ liệu tổng hợp của Hiệp hội Các nhà sản xuất ôtô Việt Nam
(VAMA). Khả năng VinFast không thể tiêu thụ được hết số lượng xe này trong một năm
là hồn tồn có cơ sở.
Theo dự báo của Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Cơng Thương
(IPSI) đến năm 2020, nhu cầu thị trường ô tô trong nước cũng chỉ đạt vào khoảng
500.000-600.000 xe/năm. Như vậy nếu VinFast chỉ tập trung vào thị trường trong nước
thì mục tiêu của họ là sẽ chiếm một nửa thị phần ô tô Việt Nam. Đây là một
thách thức vô cùng khó khăn cho một thương hiệu cịn non trẻ như VinFast khi mà thị

phần này đang phần lớn nằm trong tay các thương hiệu đình đám trên thế giới.
III.Trong quá trình thực hiện dự án gặp phải những rủi ro sau:
1.Rủi ro về cung cấp đầu vào:
- Dòng vốn của họ lúc này sẽ không đủ để tái đầu tư cho các vòng sau, hoạt động sản
xuất kinh doanh sẽ khơng được liên tục, thậm chí rơi vào tình trạng nợ nần trong khi dự
án xe điện chưa đem lại doanh thu.
- Thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, đủ tiêu chuẩn đáp ứng được yêu cầu công
việc và khả năng chịu áp lực.
2.Rủi ro về thị trường:
Ở việt nam, hiện nay đang có rất nhiều chính sách đánh thuế rất cao đối với các dòng xe
nhập khẩu từ nước ngồi. Điều này cũng dễ hiểu vì với cơ sở hạ tầng giao thơng như hiện
tại thì nên đánh thuế cao để hạn chế nhập khẩu ô tô với các mục đích sâu xa hơn có thể kể
đến như là: Hạn chế nhập siêu, phát triển công nghiệp sản xuất ô tô trong nước. Đây là 2
yếu tố hết sức then chốt để Vinfast quyết định đầu tư vào dự án này. Tuy nhiên ở thị
trường Việt Nam sẽ tồn tại những rào cản mà Vinfast sẽ phải cố gắng hơn nhiều để vượt
qua.
Nhiều người cho rằng VinFast khá mạo hiểm khi chủ động đưa xe tới 14 quốc gia thuộc 4
châu lục để kiểm thử chất lượng và độ an toàn theo các tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là
chương trình đánh giá xe mới ASEAN NCAP nổi tiếng với sự khắc nghiệt và tính khách
quan. Tuy nhiên, các chuyên gia ngành ô tô đều cho rằng không bất ngờ trước kết quả
ASEAN NCAP 5 sao với dòng VinFast Lux và 4 sao với Fadil. “Xe VinFast đã mang
trong mình ADN của BMW, chất lượng đầu vào chuẩn châu Âu thì khơng thể ra sản
phẩm thứ cấp được”, chuyên gia Nguyễn Thanh Hải nhấn mạnh.
Nhưng hãy tạm coi chất lượng xe Vinfast là luôn luôn tốt đủ để đáp ứng nhu cầu của
khách hàng Việt Nam, thì ông Nguyễn Thanh Hải vẫn lí giải khi đưa ra quyết định mua
xe, người Việt thường ưu tiên các tiêu chí sau:


- Chọn xe rẻ tiền, đơn giản, dễ sử dụng.
- Phụ tùng thay thế giá rẻ và giữ giá thay vì tính tiện nghi.

- An tồn cùng những đặc trưng trong phong cách của phương tiện này.
Với những tiêu chí như này, chất lượng là 1 chuyện còn đáp ứng được nhu cầu thị trường
lại là một chuyện khác. Đặc biệt với thị trường kinh tế đang phát triển và có quan niệm
khá là xưa như ở Việt Nam. “Người Việt chưa mua xe đã tính đến chuyện bán. Trật tự ưu
tiên vẫn là tính thanh khoản và chấp nhận hy sinh các tiêu chuẩn về an toàn hay cảm giác
lái mà chiếc xe mang lại”, chuyên gia Hải Kar nói.
Ở Việt Nam có thể nói Toyota là một một thương hiệu lâu đời và có sức ảnh hưởng hết
sức to lớn đối với nhu cầu mua xe của người Việt. Nhờ sự lâu đời đó, Toyota ln sắp
xếp cho hệ thống phân phối tồn cầu của mình một dịch vụ vận chuyển riêng biệt. Các
tuyến đường được hiệu chỉnh và định tuyến hàng ngày để đem lại hiệu quả cao nhất cho
từng lô hàng dù là nhỏ nhất. Từ đó Toyota áp dụng “phong cách Toyota” để quản lý đại
lý dựa trên 3 nguyên tắc chính:
- Đại lý được toàn quyền quyết định về sản phẩm.
- Toyota sẽ cùng phát triển với đại lý như hai đối tác
- Cạnh tranh là yếu tố quan trọng nhất để phát triển
Và chuỗi cung ứng của Toyota đã giúp công ty thành cơng khơng chỉ mỗi ở thị trường
Việt nam mà cịn ở trên tồn thế giới
Trong khi đó, việc chỉ mới ra mắt trên thị trường chưa được lâu khiến Vinfast vẫn là tay
mơ trong việc cung ứng xe cho khách hàng. Tính đến năm 2017, Vinfast hiện chỉ mới có
14 showroom trên cả nước chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng,
TP Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó khách hàng cịn phải đặt hàng từ 50-80 triệu đồng và chờ
đợi khá lâu thì mới có thể nhận được xe.
Trong bối cảnh đó, ơng Hải cho rằng VinFast đang dẫn dắt lại cuộc chơi, tạo ra một cú
hích làm thay đổi quan niệm và thứ tự ưu tiên của người Việt với xe hơi mà chứng chỉ
ASEAN NCAP là một chỉ dấu rõ rệt. Sự chủ động của VinFast trong câu chuyện này đã
hướng người tiêu dùng biết quan tâm đến sự an toàn hơn, quan tâm đến cảm xúc và
những gì phục vụ trực tiếp cho bản thân mình hơn là khả năng giữ giá của chiếc ô tô.
“VinFast đang định nghĩa lại giá trị ô tô tại Việt Nam. Sự thay đổi này cũng rất hợp lý khi
điều kiện giao thông ở nước ta ngày càng phức tạp. Chất lượng sống dần tăng lên, người
mua xe sẽ quan tâm hơn đến sức khoẻ và sự an toàn của bản thân và con cái họ”, vị



chuyên gia từng có nhiều năm kinh nghiệm làm marketing cho các thương hiệu xe sang
của nước ngồi phân tích.
3.Rủi ro về môi trường xã hội:
- Hạn chế về cơ sở hạ tầng cho các trạm sạc đặc biệt ở vùng nông thôn và chung cư.
Những chuyến đi đường dài sẽ là một thách thức đối với xe điện vì nhiều vùng nơng thơn
khơng có trạm nạp như trong thành phố. Đối với các khách hàng ở trong các chung cư
cao tầng, việc sạc xe cũng sẽ trở nên khó khăn hơn vì thiếu tính cơ động khi sạc.
- Phạm vi lái xe của xe điện bị ảnh hưởng nhiều bởi thời tiết: Trong thời tiết lạnh, phạm
vi có thể giảm tới 40%, vì vậy khơng thích hợp cho nơi có khí hậu lạnh.
4.Rủi ro về kỹ thuật và vận hành:
- Động cơ N20 được BMW bán cho VinFast là động cơ 2 lít 4 xy lanh có hệ turbo tăng
áp. Tuy nhiên BMW không bán bản quyền computer điều khiển và Valetronic nên hệ
thống turbo không thể hoạt động. Họ phải nhờ đến công ty AVL của Áo để độ lại phầm
mềm điều khiển. Theo một số chuyên gia phân tích thì việc này có thể dẫn tới việc giảm
cơng suất hay một số vấn đề về khí thải, tiếng ồn, sự ổn định của động cơ.
- Thêm vào đó, thơng thường các mẫu xe mới của Nhật trước khi được đưa ra thị trường
họ đều phải cho chạy test kiểm tra 24/24 tối thiểu 2 năm với đủ mọi địa hình để đánh giá
độ an tồn. Do đó việc VinFast công bố sản phẩm quá nhanh và tung ra bản thương mại
vào năm 2019 có thể dẫn tới những lỗi kĩ thuật phát sinh khi vận hành.
- Giai đoạn đầu do chưa có sản phẩm R&D và xe điện cũng là một công nghệ mới nên
Vinfast sẽ phải chi khá tiền để mua license sản xuất theo mẫu của người khác, về lâu dài
công nghệ sẽ bị lỗi thời.
IV.Kiểm sốt rủi ro:
- Kiểm sốt bên ngồi: Sự bảo hộ của Nhà nước với dự án VinFast. Dự án này đón đúng
điểm rơi quyết tâm chính trị của nhà nước về phát triển ngành công nghiệp ô tô là cao
nhất. Nếu khơng có dự án này, của một doanh nghiệp nội địa, thì xem như chiến lược
phát triển ơ tô của nhà nước lần 2 coi như phá sản. Sau khi thuế hạ vào 2018 thì sẽ chẳng
cịn doanh nghiệp nào muốn đầu tư sản xuất nữa cả. Do vậy, Vinfast nhận được sự hỗ trợ

tối đa của nhà nước với các chính sách ưu đãi rất thuận lợi.
- Kiểm soát bên trong: VinFast đặt ra mục tiêu tiếp cận thị trường sớm, chỉ sau hơn 1
năm đã cho ra mắt sản phẩm. Bắt buộc đẩy nhanh tiến độ để tập trung mục tiêu đánh
nhanh, thắng nhanh, giành được thị phần trước về mảng xe điện. Trong khoảng thời gian


tới, VinFast sẽ dành tài lực và nhân lực tập trung vào cơng nghệ để đi trước đón đầu thị
trường. Bên cạnh đó, VinFast cần tập trung xây dựng hệ thống trạm sạc hợp lí, thuận tiện
để đáp ứng nhu cầu của người đi xe điện. Các trạm sạc đang được bố trí tuy nhiên mới
chỉ ở một số vùng nội thành các thành phố lớn, cần mở rộng ra các tỉnh thành khác và các
vùng ngoại thành.
Kết luận
Ngành công nghiệp sản xuất ơ tơ tại Việt Nam vẫn cịn là một ngành mới và đầy
tiềm năng phát triển. Việc đầu tư vào ngành này trong khi thị trường ô tơ Việt Nam vẫn
cịn nhiều chỗ trống giúp cho doanh nghiệp có nhiều cơ hội phát triển. Tuy nhiên khơng
thể phủ nhận rằng chính bởi tính chất “mới” đó mà doanh nghiệp có thể gặp phải tất
nhiều những rủi ro. Doanh nghiệp cần phải tỉnh táo nhận diện và quản lý rủi ro một cách
hiệu quả để có thể tránh những tình huống đáng tiếc xảy ra. Trên đây là bài tiểu luận về
nhận diện những rủi ro dự đoán, đánh giá rủi ro, kiểm soát và tài trợ rủi ro của nhóm em
về đề tài: “Quản trị rủi ro cho dự án sản xuất ô tô VinFast của tập đoàn Vingroup”.
Dự án Vinfast đã thu hút được sự quan tâm ủng hộ rất lớn từ cộng đồng và chính
phủ Việt Nam. Vinfast đang mở ra một cánh cửa tươi sáng cho sự phát triển của ngành
công nghiệp ô tô tại Việt Nam. Tuy nhiên chúng ta khó có thể nói trước được điều gì vì
đây là một dự án dài hạn trong khi hiện tại Vinfast mới chỉ trải qua giai đoạn đầu, nên
còn rất nhiều những rủi ro tiềm ẩn mà doanh nghiệp có thể gặp phải trong những giai
đoạn tiếp theo. Trên đây chỉ là những dự đốn và đề xuất của nhóm được thực hiện trong
giới hạn thời gian, phạm vi nghiên cứu và khả năng tiếp cận nguồn tài liệu của nhóm nên
nhóm khó có thể đưa ra những thông tin và giải pháp tối ưu. Với nền tảng vững chắc của
tập đoàn Vingroup, chúng ta có thể hi vọng rằng họ đã có những dự tính trước về những
rủi ro có thể gặp phải trong tương lai và lên kế hoạch phòng ngừa chúng một cách hiệu

quả để đưa đến cho chúng ta những chiếc xe ô tô “made in Việt Nam “chất lượng gây
được tiếng vang lớn trên thị trường nội địa và quốc tế.


Tài liệu tham khảo
1, Bài viết Phân tích chiến lược dự án Vinfast của Vingroup :
Phân tích chiến lược dự án Vinfast của Vingroup. - CTY TƯ VẤN TINH HOA QUẢN
TRỊ (tinhhoaquantri.com)
2, Báo Đánh giá xe, Bài viết Giá xe ô tô Vinfast bao nhiêu? Mua ở đâu? :
Đánh giá ôtô Vinfast 2018: thông số kỹ thuật hình ảnh bảng giá bán (danhgiaxe.net)
3, VINFAST THAY ĐỔI "QUAN NIỆM Ô TÔ" TẠI VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO?
/>4, Việt Nam nên đánh thuế ơtơ cao vì nước cịn nghèo - VnExpress



×