Một ngày vui vẻ
Chủ đề:
GIẢI PHÁP KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG GIĨ Ở VIỆT
NAM TRONG Q TRÌNH CƠNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA
BÀI LÀM
ĐẶT VẤN ĐỀ
Xu thế phát triển năng lượng gió đang trở thành trào lưu của nhiều quốc gia trên
thế giới nhất là các nước phát triển và những nền kinh tế tiêu thụ nhiều năng
lượng....Kinh nghiệm thực tiễn của Đức, Ấn Độ, Trung Quốc sẽ là bài học cho phát
triển năng lượng gió ở Việt Nam
Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng phát triển năng lượng gió.
Theo báo cáo của Viện Năng lượng thì tiềm năng năng lượng gió của Việt Nam tập
trung nhiều nhất tại vùng duyên hải miền Trung, miền Nam, Tây Nguyên và các đảo.
Đánh giá của ngân hàng thế giới (WB) cũng cho thấy khoảng 8% lãnh thổ của Việt
Nam có tiềm năng về năng lượng gió, cao hơn hẳn so với các nước trong khu vực.
Việc nghiên cứu triển khau năng lượng gió ở Việt Nam đã đi những bước đầu
tiên. Nhưng về cơ bản, sự phát triển năng lượng gió trong nước còn nhỏ lẻ, còn khá
khiêm tốn so với tiềm năng to lớn của Việt Nam.
Với xu thế phát triển những nguồn năng lượng "xanh" vì một tương lai xanh và
nhất là vì phát triển đất nước trong giai đoạn cơng nghiệp hố, hiện đại hố như Việt
Nam hiện nay, việc nghiên cứu và đưa ra những giải pháp trong công tác khai thác và
sử dụng nguồn năng lượng gió đang là một vấn đề hết sức cấp thiết
Bắt nguồn từ những nhìn nhận của bản thân, cùng với những kiến thức đã được
giảng dạy và sự gợi ý tâm huyết của cơ Đỗ Thị Hồi, em xin chọn chủ đề tiểu luận:
Giải pháp khai thác và sử dụng hiệu quả năng lượng gió ở Việt Nam trong q
trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa. Em hi vọng sẽ mang lại cái nhìn tổng quan nhất
về năng lượng gió, nhìn ra thực trạng hiện nay của Việt Nam và định hướng giải pháp
hiệu quả.
2
Chương 1: Lí luận chung về khai thác và sử dụng năng lượng gió
1. Lý luận chung về năng lượng gió
1.1.Nguồn gốc và sự hình thành năng lượng gió
Trong lịch sử con người đã biết sử dụng năng lượng gió từ rất lâu. Người Ai
Cập đã lợi dụng sức gió đấy cánh buồm để đưa tàu ra khơi, người Châu Âu đã sử dụng
sức gió để xay xát lúa mì,cối xay gió cịn được sử dụng để bơm nước ở Trung Quốc,…
Bức xạ mặt trời chiếu xuống bề mặt trái đất khơng đồng đều làm cho bầu khí
quyển, nước và khơng khí nóng khơng đều nhau. Bề mặt trái đất ban đêm bị che khuấ
không nhận được bức xạ của mặt trời.
Thêm vào đó là bức xạ ở các mặt ở các vùng gần xích đạo nhiều hơn là ở các
cực. Do đó cả sự khác nhau về nhiệt độ và vị thế là khác nhau về áp suất mà khơng khí
xích đạo và 2 cực cũng như khơng khí giữa mặt ban ngày và ban đêm của trái đất di
động tạo thành gió.
Và trái đất xoay trịn cũng góp phần vào việc làm xốy khơng khí và vì trục của
trái đất nghiêng đi (so với mặt phẳng do quỹ đạo trái đất tạo thành khi quay quanh mặt
trời) nên cũng tạo thành các dịng khơng khí theo mùa.
1.2.Khái niệm
Tài ngun thiên nhiên vơ hạn là tài ngun có thể tái tạo liên tục, không phụ
thuộc vào sự tác động của con người; hay khi tài nguyên này được khai thác, sử dụng
thì q trình tự nhiên sẽ ln tự tái tạo một cách vơ tận. Trong đó, gió là một nguồn tài
ngun thiên nhiên vơ hạn.
Năng lượng gió là động năng của khơng khí di chuyển trong bầu khí quyển của
trái đất. Năng lượng gió là một hình thức gián tiếp của năng lượng mặt trời. Năng
lượng gió được mơ tả như một q trình, nó được sử dụng để phát ra năng lượng cơ
hoặc điện. Tua bin gió sẽ chuyển đổi từ động lực điện thành năng lượng cơ
3
1.3. Lợi ích của năng lượng gió
Năng lượng gió là nguồn năng lượng có thể tái tạo, trong khi than đá và gỗ là
những nguồn năng lượng không thể tái tạo được. Có một điều chắc chắn rằng, năng
lượng gió sẽ ln tồn tại. Nếu có sự nỗ lực lớn hơn để đưa năng lượng này vào khai
thác sẽ làm giảm sử dụng các nguồn năng lượng không thể tái tạo được, mà việc khai
thác các nguồn năng lượng này sẽ gây ảnh hưởng xấu đến thế hệ mai sau.
Sự nóng lên tồn cầu là 1 trong thách thức lớn nhất đối với tồn nhân loại. Theo
báo cáo được cơng bố về vấn đề này, 1 yêu câu cấp thiết là giảm phát thải các chất ơ
nhiễm trong bầu khí quyển của trái đất. Năng lượng gió là lựa chọn thay thế tuyệt vời
cho nhu cầu năng lượng của chúng ta, bởi nó khơng gây ơ nhiễm trên diện rộng như
các nhiên liệu hóa thạch.
Có thể khai phá cả một vùng đất lớn để xây dựng 1 nhà máy điện nhưng với 1
nhà máy điện sử dụng năng lượng gió bạn chỉ cần một diện tích nhỏ để xây dựng. Sau
khi lắp đặt các tua bin, khu vực này vẫn có thể sử dụng cho canh tác hoặc hoạt động
nơng nghiệp khác.
Một trong những lợi thế của năng lượng gió so với nguồn năng lượng tái tạo
khác là hiệu quả về mặt chi phí. Khơng có các chi phí liên quan đến việc mua vận
chuyển vào tua bin gió như các nhà máy điện hoạt động bằng than. Thêm vào đó với
những tiến bộ trong cơng nghệ năng lượng gió sẽ trở lên rẻ hơn do đó làm giảm được
lượng vốn mà các nước phải bỏ ra để đáp ứng nhu cầu năng lượng.
Các nước đang phát triển thiếu cơ sở hạ tầng cần thiết để xây dựng 1 nhà máy
điện có thể được hưởng lợi từ nguồn năng lượng này. Chi phí để lắp đặt một tua bin
gió là thấp hơn so với một nhà máy điện than, các quốc gia khơng có nhiều kinh phí có
4
thể sử dụng và lựa chọn phương án với hiệu quả chi phí thấp mà vẫn đáp ưng được
nhu cầu về năng lượng.
1.4. Hạn chế của năng lượng gió
Nhược điêm lớn nhất của năng lượng gió là nó khơng liên tục. Điện có thể được
sản xuất và cung cấp đầy đủ khi gió đủ mạnh, cũng có thời điểm gió tạm lắng việc sản
xuất điện bằng năng lượng gió là không thể. Những nỗ lực đã được thực hiện lưu trữ
năng lượng gió thành cơng và sử dụng nó kết hợp với năng lượng khác, tuy nhiên để
biến năng lượng này thành năng lượng chính trong tương lai gần những nỗ lực này cần
nhanh chóng và rộng rãi hơn.
Do tính chất khơng liên tục của năng lượng gió nó cần phải được sử dụng và lưu
trữ các nguồn năng lượng thơng thường tuy nhiên việc lưu trữ nó tốn khá nhiều chi phí
và các quốc gia phải sử dụng các nhà nhiên liệu hóa thạch để đáp ứng nhu cầu năng
lượng này.
Có những báo cáo trước đây về sự nguy hiểm mà cối xay gió đặt ra với những
loại chim. Do chiều cao đáng kể của các cối xay gió nên thường gây ra sự va chạm với
các loài chim đang bay và một số lượng chim chết vì lí do này.
Lắp đặt cối xay gió phải đối mặt với sự phản đối của người dân sống ở khu vực
lân cận nơi mà các nhà máy điện gió dự kiến xây dựng. Các yếu tố như tốc độ gió và
tần số của nó được đưa ra khi lựa chọn nơi để lắp đặt và đôi khi người dân kiên quyết
phản đối kế hoạch này. Một số lí do chính là cối xay gió tạo ra ơ nhiễm tiếng ồn ngồi
ra một số ý kiến cho rằng tua bin gió làm mất thẩm mĩ về một thành phố và ngành
công nghiệp du lịch trong khu vực của họ. Tuy vậy chúng ta khơng thể phủ nhận
những lợi ích to lớn mà năng lượng gió chắc chắn mang lại này.
5
2. Khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên – năng lượng gió
2.1.khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên vô hạn
2.1.1. Tài nguyên thiên nhiên vô hạn
Tài nguyên thiên nhiên vô hạn là tài nguyên có thể tái tạo liên tục, khơng phụ
thuộc vào sự tác động của con người; hay khi tài nguyên này được khai thác, sử dụng
thì quá trình tự nhiên sẽ luôn tự tái tạo một cách vô tận.
2.1.2. Khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên vô hạn
Các nguồn tài nguyên thiên nhiên vô hạn chủ yếu là các dạng năng lượng. Đó là
năng lượng mặt trời, bao gồm bức xạ mặt trời, năng lượng sinh học, năng lượng của
các chuyển động trong khí quyển, thủy quyển như dịng chảy, gió, sóng…; năng lượng
lịng đất, bao gồm nguồn địa nhiệt, năng lượng phóng xạ…; năng lượng thủy triều và
các nguồn năng lượng mới (điện và từ trường, lực hấp dẫn…).
Năng lượng là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống và phát triển xã hội lồi người từ
khi hình thành cho tới nay và trong tương lai. Do đó, khai thác, sử dụng các nguồn tài
nguyên vô hạn là yêu cầu khách quan của con người. Đặc trưng của các nguồn tài
nguyên này đều là các nguồn năng lượng sạch, chi phí tài ngun khơng cao, lại có khả
năng khai thác lâu dài nên đây là loại tài nguyên thiên thiên cần thiết, quan trọng và phù
hợp với yêu cầu phát triển trong q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
2.2.khai thác và sử dụng năng lượng gió
Các nguồn tài ngun vơ hạn như gió lại thường có mức độ tập trung không
cao, phân bố không đồng đều cả trong không gian và thời gian. Trong điều kiện phát
triển hiện nay, hiệu suất khai thác còn khá thấp, khả năng khai thác phụ thuộc sâu sắc
vào sức gió, sự thay đổi của thời tiết. Do đó, chưa phù hợp với các hoạt động cần có
nguồn năng lượng tập trung cao và liên tục trong thời gian dài.
6
Với những nét đặc thù trên, nên khi muốn khai thác, sử dụng năng lượng gió
trong vùng có thể tiến thành 2 hướng:
Thứ nhất, khai thác sử dụng trực tiếp theo hình thức cổ điển.
Thứ hai, là chuyển hóa các dạng năng lượng này thành dạng năng lượng điện,
sản xuất nhiên liệu,…Đây là hình thức thu gom và chuyển hóa các năng lượng nhỏ để
tạo thành các nguồn năng lượng điện lớn, tập trung, dễ sử dụng.
Việc khai thác và sử dụng năng lượng gió cịn gặp nhiều khó khăn và rất cần
những giải pháp phù hợp để đưa năng lượng này thành một nguồn năng lượng chính
trong tương lai vì những lợi ích nếu trên mà nó mang lại.
Chương 2: Khai thác và sử dụng năng lượng gió ở Việt Nam hiện nay
1. Tình hình năng lượng gió trên thế giới
Từ 5000 năm trước Thiên chúa (TC), loài người đã biết vận dụng gió để làm lực
đẩy cho các tàu trên sông Nile ở Ai Cập. Vào khoảng 200 năm trước TC, người Trung
Hoa đã biết dùng cánh quạt gió để dẫn thủy nhập điền. Trong lúc đó người Ba Tư và
các dân tộc vùng Trung Đông dùng quạt gió có trục đứng để xay lúa mì và các loại
hạt. Từ thế kỷ 20 người ta đã sử dụng năng lượng hóa thạch, năng lượng hạt nhân,
bước đầu sử dụng năng lượng tái tạo để phát điện, nhằm phục vụ sản xuất và cải thiện
đời sống cho nhân loại. Vào thời điểm này, năng lượng gió đã trải qua nhiều giai đoạn
thăng trầm tùy theo tình hình thế giới cũng như nguồn cung cấp dầu hỏa hay than đá.
Ngay sau khi chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt, giá dầu hỏa sụt giảm mạnh do đó
cơng nghệ gió hầu như bị ngưng trệ hoàn toàn. Nhưng khi khủng hoảng dầu hỏa nổ ra
vào thập niên 70, các turbine gió lại được chú ý đến và cơng nghệ nghiên cứu và phát
triển nguồn điện năng này lớn mạnh ngay sau đó.
Ngày nay, trữ lượng than, dầu, khí đang ngày càng cạn kiệt. Mặt khác, nếu sử
dụng chúng để phát điện sẽ phát thải khí nhà kính vào khí quyển, làm cho trái đất ngày
7
càng nóng lên, gây biến đổi khí hậu tồn cầu. Các tai họa như hạn hán, bão lụt xảy ra
trên tồn thể giới ngày càng trầm trọng. Do đó, ngay từ đầu thế kỷ 21 tổ chức năng
lượng gió châu Âu (EWEA) đã đề xuất ưu tiên phát triển điện gió trên thế giới trong
giai đoạn đầu thế kỷ 21. Kinh phí đầu tư cho 1 MW điện gió vào cuối thế kỷ 20 là 1
triệu USD. Theo tổ chức năng lượng gió châu Âu, dự kiến đầu tư cho các năm 20012006 khoảng 688.000 USD/MW; từ 2007-2011: 571.000 USD; từ 2011-2017: 496.000
USD; từ 2018-2020: 455.000 USD. Trong năm 2003, tại Blue Canyon (Oklahoma Mỹ) chỉ có 840.000 USD/MW điện gió.
Theo thống kê, tổng lượng cơng xuất sản xuất trên thế giới vào năm 2009 là
159.2 GW, với 340 TWh năng lượng, xác nhận mức tăng trưởng 31% mỗi năm, một
con số khá lớn giữa lúc nền kinh tế toàn cầu đang gặp nhiều khó khăn. Theo thống kê
trên thế giới, Đức, Tây Ban Nha, Hoa Kỳ, Đan Mạch và Ấn Độ là những quốc gia sử
dụng năng lượng gió nhiều nhất trên thế giới. Chẳng hạn vào năm 2009, điện gió
chiếm 8% tổng số điện sử dụng tại Đức; trong khi đó con số này lên đến 14% ở Ailen
và 11% tại Tây Ban Nha. Hoa Kỳ sản xuất nhiều điện gió nhất thế giới với cơng xuất
nhảy vọt từ 6 GW vào năm 2004 lên đến 35 GW vào 2009 và điện gió chiếm 2.4%
tộng số điện tiêu dùng. Trung Quốc và Ấn Độ cũng phát triển nhanh về nguồn năng
lượng sạch này với 22.5 GW (Trung Quốc, 2009) và 10.9 25 GW (Ấn Độ, 2009).
8
Hình
1: Cơng suất sản xuất từ năng lượng gió trên thế giới trong khoảng thời gian
từ 1997 đến 2013
Trong số 20 thị trường lớn nhất trên thế giới, riêng ở châu Âu đã có 13 nước với
Đức là nước dẫn đầu về công suất của các nhà máy dùng năng lượng gió với khoảng
cách xa so với các nước cịn lại. Tại Đức, Đan Mạch và Tây Ban Nha, năng lượng gió
phát triển liên tục trong nhiều năm qua là nhờ sự nâng đỡ của chính phủ sở tại. Nhờ
vào đó mà một ngành cơng nghiệp mới đã phát triển tại 3 quốc gia này. Công nghệ
Đức (bên cạnh các phát triển mới từ Đan Mạch và Tây Ban Nha) đã được sử dụng trên
thị trường nhiều hơn trong những năm vừa qua. Công suất định mức của các nhà máy
sản xuất điện gió vào năm 2007 được nâng lên 94.112 MW. Cơng suất này thay đổi
dựa trên sức gió qua các năm, các nước, các vùng như chúng ta có thể thấy trong bảng
sau:
STT
QUỐC GIA
CƠNG SUẤT (W)
1
ĐỨC
22247
9
2
HOA KỲ
16818
3
TÂY BAN NHA
15145
4
ẤN ĐỘ
8000
5
TRUNG QUỐC
6050
6
ĐAN MẠCH
3125
7
Ý
2716
8
PHÁP
2454
9
ANH
2389
10
BỒ ĐÀO NHA
2150
11
CANADA
1846
12
HÀ LAN
1746
13
NHẬT
1538
14
ÁO
982
15
HY LẠP
871
16
ÚC
824
17
AI LEN
805
18
THỤY ĐIỂN
788
19
NA UY
333
20
NIU DI LÂN
322
21
NHỮNG NƯỚC
2953
KHÁC
22
THẾ GIỚI
94112
Bảng 1: Công suất định mức năng lượng gió của các nước trên thế giới năm 2007.
Và cho đến hôm nay, công nghệ gió đã tiến đến mức độ là giá thành của điện
năng này tương đương với giá thành của các nguồn điện năng khác như than đá, khí
đốt, v.v... Và đây cũng là nguồn hy vọng của thế giới trong tương lai trước vấn nạn
hâm nóng tồn cầu.
10
2. Tình hình năng lượng gió tại việt nam
1) Sự cần thiết và tầm quan trọng
Trong vòng hai thập niên qua, Việt Nam đã chứng kiến những gia tăng nhanh
chóng về nhu cầu sử dụng điện trong khi cung luôn gặp căng thẳng để bắt kịp với cầu.
Từ con số khiêm tốn 8,7 triệu MWh vào năm 1990, sản lượng điện đã tăng lên 26,7
triệu MWh vào năm 2000 và dự kiến sẽ đạt 77,2 triệu MWh vào năm 2008. Với nhiều
bất trắc tiềm ẩn trong nền kinh tế toàn cầu và nội địa, khó có thể dự đốn được liệu tốc
độ tăng trưởng cao ở mức 14%/năm kể từ 2000 sẽ tiếp tục được duy trì hay khơng.
Tuy nhiên, với mức tiêu thụ điện bình quân đầu người vẫn còn thấp hơn 2/5 của Thái
Lan, khả năng tiếp tục tăng trưởng nhu cầu tiêu thụ rõ ràng là rất lớn. Bên cạnh đó,
tình trạng cắt điện ln phiên ở Việt Nam đã trở thành điều phổ biến, đặc biệt là vào
mùa khơ. Hai ngun nhân có thể được nêu ra để giải thích cho tình trạng này. Thứ
nhất là tỷ lệ phụ tải đỉnh /ngoài đỉnh là rất cao. Nhu cầu phụ tải đỉnh là 11.500 MW
trong khi phụ tải ngồi đỉnh chỉ cịn 6.800 MW. Sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu trong
và ngồi giờ cao điểm địi hỏi phải đầu tư nhiều cho công suất phát điện mà hiếm khi
cần đến. Để đạt công suất phát điện này, nếu sử dụng dầu diesel, sẽ rất tốn kém với giá
dầu cao như hiện nay. Giải pháp khác là sử dụng tua-bin khí chu trình đơn với chi phí
đầu tư thấp. Nhà máy điện chạy khí chu trình hỗn hợp có chi phí đầu tư cao hơn,
nhưng lại hiệu quả hơn về nhiên liệu, và được sử dụng nhiều hơn để cung cấp công
suất phụ tải nền (base load) và tải trung bình (intermediate load). Hệ thống điện cũng
bị lệ thuộc nặng nề vào thủy điện, hiện đang chiếm 40% về công suất và 25% về sản
lượng. Các nhà máy thủy điện hiện có khả năng trữ nước hạn chế - với nguồn cung từ
vài ngày đến một tuần ở mức hoạt động bình thường. Do vậy, trong mùa khô, khi
lượng nước chảy vào hồ chứa chỉ bằng một tỷ lệ nhỏ so với mùa mưa, sản lượng thủy
điện ở công suất tối đa là không thể đạt được. Vấn đề này có thể và trên thực tế là đã
được giải quyết bằng việc đầu tư nhiệt điện dự phòng. Tuy nhiên, những nhà đầu tư
11
vào các nhà máy nhiệt điện này sẽ yêu cầu suất sinh lợi tương đương với các nhà máy
nhiệt điện khí chu trình hỗn hợp hay nhà máy nhiệt điện than thường được sử dụng để
chạy phụ tải nền (gần như tồn bộ thời gian) và tải trung bình ở các nước khác. Nhưng
vì EVN (tập đồn điện lực nhà nước) thiên về sử dụng thủy điện khi có đủ cơng suất
do chi phí biên của thủy điện gần như bằng khơng, nên rất khó để các nhà đầu tư nhà
máy điện độc lập và EVN đạt được thỏa thuận về các điều khoản mua điện từ nguồn
chạy than hay chạy khí. Cung cấp điện với chí phí thấp và ổn định đòi hỏi phải kết hợp
nhiệt điện và thủy điện một cách hiệu quả. Nếu nhiệt điện phục vụ phụ tải cơ sở khơng
được xây dựng thì phải quay lại giải pháp lắp đặt nhà máy phát điện chạy diesel hay
tua-bia khí chu trình đơn. Máy phát điện diesel hiện đại có thể sản xuất 4 kWh trên 1
lít dầu (tuy nhiên hầu hết các nhà máy ở Việt Nam có hiệu suất thấp hơn), nhưng mặc
dù chi phí đầu tư ban đầu thấp, giải pháp này ngày càng trở nên tốn kém do giá dầu
leo thang. Chi phí sản xuất điện của một tổ máy phát điện diesel quy mơ nhỏ có thể dễ
dàng lên trên 30 xen/kWh, trong khi mức giá thương phẩm của EVN là 5-6 xen/kWh.
Dù gì đi nữa, việc doanh nghiệp phải đầu tư máy phát điện dự phòng, kho chứa nhiên
liệu và tự lo về hoạt động, bảo trì sẽ là gánh nặng khơng mong muốn. Tính cạnh tranh
của Việt Nam sẽ phụ thuộc một phần vào khả năng cung cấp điện ổn định ở mức giá
khơng cao hơn (nếu khơng muốn nói là phải thấp hơn) so với các nước láng giềng.
2) Thực trạng khai thác và sử dụng năng lượng gió trong q trình cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Chính những nguyên nhân vừa nêu trên mà chính phủ của nhiều quốc gia trên
thế giới, trong đó có cả Việt Nam đang dốc tiền của, nhân lực vào việc nghiên cứu và
đưa vào sử dụng thực tiễn các nguồn năng lượng tái tạo để giúp giảm bớt sự căng
thẳng năng lượng ở các nước. Ngoài ánh sáng mặt trời, gió cũng là một năng lượng
thiên nhiên mà lồi người đang nhắm đến cho nhu cầu năng lượng trên thế giới trong
tương lai. Hiện nay, năng lượng gió đã mang đến nhiều hứa hẹn cho ngành điện của
12
Việt Nam nói chung và thế giới nói riêng. Tiềm năng gió của Việt Nam rất lớn, vì thế
việc nghiên cứu phát triển năng lượng gió là một cơng việc cần thiết. Theo bản đồ
phân bố các cấp tốc độ gió của tổ chức Khí tượng thế giới (1981) và bản đồ phân bố
các cấp tốc độ gió của khu vực Đông Nam Á, do tổ chức True Wind Solutions LLC
(Mỹ) lập theo yêu cầu của Ngân hàng Thế giới, xuất bản năm 2001, cho thấy: Khu vục
ven biển từ Bình Định đến Bình Thuận, Tây Nguyên, dãy Trường Sơn phía Bắc Trung
bộ, nhiều nơi có tốc độ gió đạt từ 7.0; 8.0 và 9.0 m/giây, có thể phát điện với công suất
lớn (nối lưới điện quốc gia), hầu hết ven biển còn lại trên lãnh thổ, một số nơi, vùng
núi trong đất liền... tốc độ gió đạt từ 5.0 đến 6.0 m/giây, có thể khai thác gió kết hợp
diezen để tạo nguồn điện độc lập cung cấp cho hải đảo, vùng sâu, vùng xa. Và cũng
theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, trên lãnh thổ Việt Nam, hai vùng giàu tiềm
năng nhất để phát triển năng lượng gió là Sơn Hải (Ninh Thuận) và vùng đồi cát ở độ
cao 60-100m phía tây Hàm Tiến đến Mũi Né (Bình Thuận). Gió vùng này khơng
những có vận tốc trung bình lớn, mà cịn có một thuận lợi khác, đó là số lượng các cơn
bão khu vực ít và gió có xu thế ổn định.
Đây là những điều kiện rất thuận lợi để phát triển năng lượng gió. Trong những
tháng có gió mùa, tỷ lệ gió Nam và Đơng Nam lên đến 98% với vận tốc trung bình 67m/s, tức là vận tốc có thể xây dựng các trạm điện gió cơng suất 3 - 3,5 MW. Ngồi ra,
các vùng đảo ngoài khơi như Bạch Long Vĩ, đảo Phú Quý, Trường Sa... là những địa
điểm gió có vận tốc trung bình cao, tiềm năng năng lượng gió tốt, có thể xây dựng các
trạm phát điện gió cơng suất lớn để cung cấp năng lượng điện cho dân cư trên đảo.
Sự nghiên cứu triển khai năng lượng gió ở Việt Nam đã đi được những bước
đầu tiên. Nhưng cơ bản sự phát triển năng lượng gió trong nước cịn nhỏ lẻ, cịn khá
khiêm tốn so với tiềm năng to lớn của Việt Nam. Hiện tại, Việt Nam có tất cả 20 dự án
điện gió với dự kiến sản xụất 20 GW. Nguồn điện gió này sẽ kết nối với hệ thống điện
lưới quốc gia và sẽ được phân phối và quản lý bởi Tổng Công Ty Điện Lực Việt Nam.
13
Vào tháng 4 năm 2004, Việt Nam đã lắp đặt trạm năng lượng gió cơng suất 858KW
trên đảo Bạch Long Vĩ do chính phủ tài trợ và các tổ máy được chế tạo bởi hãng
Technology SA (Tây Ban Nha). Ngoài ra Trung Tâm Năng Lượng Tái Tạo và Thiết Bị
Nhiệt (RECTARE) Đại học Bách Khoa TP Hồ Chí Minh đã lắp đặt trên 800 tuốc bin
gió trong hơn 40 tỉnh thành với sự tài trợ của Hiệp hội Việt Nam – Thụy Sĩ tập trung
nhiều nhất gần Nha Trang, trong đó có gần 140 tuốc bin gió đã hoạt động. Ở Cần Giờ
thành phố Hồ Chí Minh với sự hỗ trợ của Pháp cũng đã lắp đặt được 50 tuốc bin gió.
Tuy nhiên những tuốc bin gió trên đều có công suất nhỏ khoảng vài KW mức độ thành
công không cao vì khơng được bảo dưỡng thường xun theo đúng yêu cầu nên hiện
nay đã ngừng hoạt động.
Tháng 8-2008 Fuhrlaender AG, một tập đồn sản xuất tuốc bin gió hàng đầu của
Đức đã bàn giao 5 tổ máy (cánh quạt gió) sản xuất điện gió đầu tiên cho dự án điện gió
tại Tuy Phong, Bình Thuận với mỗi tổ máy có cơng suất 1.5MW (Tốc độ gió trung
bình ở đây là 6.7 m/s). Tổ máy đầu tiên được lắp đặt vào tháng 11-2008 và chính thức
hồn thành kết nối vào điện lưới quốc gia vào tháng 8 năm 2009.
14
Hình 1.1: Cụm 5 tua-bin phong điện tại Tuy Phong – Bình Thuận. Chiều cao
của mỗi cái tháp là 103.75 m và đường kính của cánh quạt là 37.5 m.
Hình 1.2: Cụm tua-bin và cánh quạt nặng 85 tấn tại nhà máy phong điện Tuy
Phong – Bình Thuận
Tồn bộ thiết bị của 15 tổ máy còn lại của giai đoạn 1 sẽ được hoàn thành trong
thời gian sắp tới để hoàn tất việc lắp đặt toàn bộ 20 tổ máy cho giai đoạn 1. Tổng công
suất của nhà máy điện gió tại Bình Thuận trong giai đoạn này là 1130MW do Công Ty
Cổ Phần Năng Lượng Tái Tạo Việt Nam (REVN) làm chủ đầu tư. Thời gian hoạt động
của dự án là 49 năm. Nhà máy được xây dựng trên diện tích 328ha. Theo kế hoạch,
giai đoạn 2 sẽ mở rộng sau đó với cơng suất lên đến 120MW.
Tháng 10-2008 tại Hà Nội đã diễn ra lễ ký kết giữa Tổng Cơng Ty Điện Lực
Dầu Khí Việt Nam (PV Power) thuộc Tập Đồn Dầu Khí Việt Nam và Tập Đồn
Luyện Kim của Argentina Industrias Metallurgica Pescamona S.A.I.yF (IMPSA) thỏa
thuận chi tiết về việc sản suất và phát triển các dự án điện gió và thủy điện tại Việt
15
Nam. Hai bên đã đồng ý góp vốn để kinh doanh và thương mại hóa tuốc bin gió, phát
triển và quản lý các dự án điện gió, cung cấp các dịch vụ bảo trì, sửa chữa các thiết bị
điện gió ở Việt Nam. Hai bên cũng đã kí thỏa thuận hợp tác triển khai nhà máy điện
gió cơng suất 1 GW trên diện tích 10.000 ha nằm cách xã Hịa Thắng huyện Bắc Bình
tỉnh Bình Thuận khoảng 6 km về hướng Đông Bắc. Nhà máy sẽ được lắp đặt tuốc bin
gió IMPESA Unipower IWP –Class II cơng suất 2,1MW các tổ máy gồm nhiều tuốc
bin gió cho phép sản xuất 5,5Gwh/năm. Dự kiến tổng vốn đầu tư cho dự án là 2,35 tỷ
USD trong 5 năm. Hai bên cũng thỏa thuận về dự án sản suất tuốc bin gió cơng suất
2MW có sải cánh quạt dài 80m cho Việt Nam và cho xuất khẩu. Dự án nhà máy điện
gió Bạc Liêu do Công ty TNHH Xây dựng-Thương mại-Du lịch Công Lý (Cà Mau)
làm chủ đầu tư, được xây dựng tại khu vực ven biển thuộc ấp Biển Đông A, xã Vĩnh
Trạch Đông, thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Dự án được xây dựng trên diện tích 500
ha, cơng suất thiết kế 99 MW, điện năng sản xuất 310 triệu KWh/năm, vốn đầu tư
4.500 tỷ đồng.
Những đề án khác chẳng hạn như: (i) Phương Mai - Quy-Nhơn với công xuất
2.5 MW do chuyên viên tập đoàn Avantis Energy Group; (ii) hai đề án với công xuất
150 MW & 80 MW tại tỉnh Lâm Đồng đang được tích cực triễn khai; Công ty Thụy Sĩ
Aerogie Plus Solution AG lắp đặt nhà máy điện gió có cơng xuất 7.5 MW kết hợp với
động cơ diesel tại Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu. Từ đầu năm 2010 đến nay, do tình
hình cung điện ngày càng đáng lo ngại, tỉnh Ninh Thuận đã được cấp Giấy chứng nhận
đầu tư cho 5 dự án điện gió trên địa bàn. Tổng cơng suất của 5 dự án này là 344 MW,
có vốn đầu tư khoảng gần 12 ngàn tỷ đồng và dự kiến khởi công trong năm 2011,
2012. Bên cạnh đó, tỉnh cũng đã chấp thuận đầu tư cho 2 dự án khác với công suất trên
187 MW, trong đó có một dự án có vốn đầu tư trên 4,5 ngàn tỷ đồng. Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng đã có chỉ đạo cho EVN nghiên cứu hồn thiện đề cương dự án thí
điểm về sản xuất điện gió tại tỉnh Ninh Thuận. Thời điểm giữa tháng 9/ 2010, dự án
nhà máy điện gió 200 MW lớn đầu tiên đã được xây dựng tại tỉnh Ninh Thuận, nơi
16
được xem là hội tụ nhiều lợi thế về vị trí địa lý do Cơng ty cổ phần đầu tư xây dựng
Trung Nam khảo sát. Dự án có tổng vốn đầu tư vào khoảng 500 triệu đô la Mỹ. Theo
cam kết với UBND tỉnh, sau khi hoàn thành xong dự án, Trung Nam sẽ tiếp tục đầu tư
xây dựng một nhà máy sản xuất thiết bị điện gió tại 2 xã Lợi Hải và Bắc Phong.
Tuy nhiên, hiện nay ngành điện nước ta đang phụ thuộc nhiều vào thủy điện,
với hơn 34% lượng điện được sản xuất ở Việt Nam là từ các nguồn thủy điện (lớn và
trung bình). Đây là nguyên nhân chính dẫn đến việc thiếu điện trong mùa khô khi các
hồ thủy điện giảm mức nước đáng kể, nhiều hồ còn bị xuống tới gần mức chết. Hy
vọng rằng các dự án phong điện nói trên và các dự án sắp tới, sẽ góp phần đảm bảo an
ninh năng lượng quốc gia, làm nền tảng cho phát triển kinh tế bền vững
3. Đánh giá
1) Lợi ích của việc lắp đặt điện gió ở Việt Nam (sử dụng năng lượng gió)
Với những phân tích nêu trên thì ta thấy Việt Nam hồn tồn có thể phát triển
nguồn năng lượng điện gió để đáp ứng nhu cầu thiếu điện cho sinh hoạt và sản xuất
như hiện nay. So với các nguồn năng lượng khác thì điện gió có nhiều ưu điểm nổi bật
hơn cả. Như chúng ta đều biết, năng lượng hạt nhân là nguồn năng lượng sạch, nhưng
nó là một nguồn năng lượng tiềm tàng những hậu quả khôn lường. Đầu tiên là về công
nghệ, hiện nay con người cũng chỉ mới có kinh nghiệm vài chục năm trong việc xây
dựng và vận hành các nhà máy điện hạt nhân. Đằng sau việc vận hành sử dụng, thì
việc xử lý, khai tử các nhà máy hạt nhân sau thời gian sử dụng là một điều hoàn toàn
mới mẻ. Các sự cố về hạt nhân cũng có thể xảy ra và đem đến những hậu quả khôn
lường. Vụ Chernobyl trước đây là một bài học đắt giá của loài người và gần đây nhất
là vụ nổ các nhà máy điện hạt nhân ở Nhật do động đất đã làm cho chất phóng xạ lan
truyền vào nước biển và khơng khí, gây nguy hiểm cho các nước lân cận. Do đó, việc
phát triển nhà máy điện hạt nhân tại Việt Nam cần phải cân nhắc lại. Thứ hai là về mặt
chính trị: con người đang sống ngay trên kho vũ khí hạt nhân khổng lồ mà sức tàn phá
17
của nó có thể phá hủy mấy mươi lần trái đất. Vì thế sự nghi kỵ lẫn nhau của các quốc
gia cũng là một hạn chế ảnh hưởng đến sự phát triển một cách mạnh mẽ và chính
thống của nguồn năng lượng vơ tận này. Bên cạnh đó các tổ chức khủng bố, phần tử
q khích ln nhăm nhe để trao đổi mua bán loại năng lượng có sức cơng phá khủng
khiếp này. Nếu khắc phục được những điều đó thì năng lượng hạt nhân là chính là
nguồn năng lượng to lớn nhất của loài người.
Kế đến, nhiệt điện là nguồn năng lượng chủ yếu của thế kỷ 20, là mạch máu của
các cuộc đại công nghiệp trong các thế kỷ vừa qua. Nguồn điện cung cấp cho các nhu
cầu ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới chủ yếu dựa vào nguồn năng
lượng này là chính. Nhưng giờ đây cũng đã đến lúc phải khai tử nguồn năng lượng
không tái sinh này. Việc sử dụng các nguồn năng lượng không tái sinh đã làm cạn kiệt
tài nguyên dẫn đến việc tranh giành, chi phối để tạo ảnh hưởng với các nguồn tài
nguyên còn lại, phá hủy môi trường, trái đất ấm lên, băng tan ở hai cực, thiên tai tàn
khốc hơn, môi trường sống bị hủy hoại phát sinh nhiều bệnh tật, …Tất cả những điều
đó tiềm ẩn về một thế giới hỗn loạn tranh chấp.
Năng lượng hóa thạch đã từng là đơi cánh cho nền kinh tế thế giới bay cao,
nhưng nếu tiếp tục sử dụng và phụ thuộc vào nguồn năng lượng hóa thạch thì đến lúc
sẽ khơng cịn gì để con người khai thác nữa, lúc đó sẽ khơng có gì nhanh hơn để chơn
vùi xã hội lồi người bằng chính việc sử dụng năng lượng hố thạch.
Cịn đối với thủy điện, một ngành năng lượng đã từng được xem là cứu cánh
cho vấn đề thiếu hụt năng lượng trên thế giới, cho một loạt các vấn đề về xã hội như
nông nghiệp, chăn ni …và vẫn cịn được sử dụng như 1 ngành năng lượng chính để
cung cấp điện năng cho nhiều nước hiện nay. Nhưng giờ đây con người đã dần nhận ra
rằng con người không phải sinh ra là để chinh phục thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục
vụ mình mà con người được sinh ra trong thiên nhiên và phải biết học cách sống hòa
hợp với thiên nhiên. Bất kỳ một hành động nào theo chủ quan con người mà không
18
đánh giá đến tác động của thiên nhiên đều là những hành động sai lầm; những điều đó
sẽ hủy hoại đời sống của con người. Qua nhiều năm phát triển thủy điện một cách tràn
lan giờ đây ta đang phải chịu đựng những mặt trái của nó gây ra đối với môi trường.
Đất canh tác bị thu hẹp, rừng bị tàn phá, thay đổi dịng chảy của các sơng, khơng cịn
rừng điều tiết nước làm cho các dịng sơng cạn vào mùa khô, lũ lụt về mùa mưa, …
Tất cả những điều đó để nói lên rằng phát triển thủy điện ở nước ta khơng cịn mang
nhiều ý nghĩa nữa nếu xét một cách nghiêm túc những ảnh hưởng của nó đến mơi
trường. Có chăng việc phát triển thủy điện chỉ còn ý nghĩa kinh tế đối với các tập đồn
kinh tế.
Tóm lại, sau khi phân tích những tác hại có thể có của các nguồn năng lượng
hóa thạch mà con người đã khai thác và sử dụng lâu nay thì chúng ta có thể rút ra một
nhận định đó là lồi người cần phải có những thay đổi lớn trong việc sử dụng năng
lượng. Cụ thể là cần phải tìm ra 1 nguồn năng lượng bền vững và sạch, ít gây ảnh
hưởng đến môi trường để thay thế các nguồn năng lượng hóa thạch nói trên. Và chúng
ta đã làm được điều đó. Tại Việt Nam, năng lượng mặt trời và năng lượng gió chính là
những nguồn năng lượng dồi dào và có thể nói là vơ tận. Chúng là những nguồn năng
lượng có thể giải quyết tốt và nhanh chóng các vấn đề năng lượng trong nước về hiện
tại cũng như trong tương lai. Đánh giá đúng mực về năng lượng gió, chúng ta có thể
rút ra được mấy ưu điểm sau của năng lượng gió mà các nguồn năng lượng khác khó
có được áp dụng tại nước ta:
• Tận dụng được diện tích đồi trọc để xây các tuốc bin gió: Nước ta có một dải
đất duyên hải miền Trung nắng nóng, Tây Nguyên và vùng núi phía Bắc giáp
Trung Quốc là những nơi đất đai hoang hóa và thường bỏ trống nên nếu xây
dựng trạm điện gió tại đây sẽ tận dụng được diện tích đất trống, đồi trọc.
• Ảnh hưởng đến đất canh tác khơng đáng kể: vì theo đánh giá của tổ chức khí
tượng thế giới thì phía bắc miền Trung, Tây Ngun và vùng núi phía Bắc giáp
19
Trung Quốc có tiềm năng về gió lớn nhất nước, có thể xây dựng các trạm điện
gió cơng suất lớn, trong khi những vùng này lại là những vùng đất đai kém màu
mỡ, khì hậu khác nghiệt nên người dân ít canh tác nông nghiệp. Hơn nữa, trên
thực tế các trạm điện gió chiếm diện tích khơng đáng kể, bình qn khoảng
1.000 mét vng tính cho 1 MW cơng suất. Diện tích đất nằm giữa các cột gió
vẫn có thể sử dụng để canh tác nơng nghiệp.
• Ảnh hưởng tới thiên nhiên nơi đặt các tuốc bin gió khơng đáng kể nếu so sánh
với nhà máy thủy điện, nhiệt điện, điện hạt nhân, …vì đây là một nguồn năng
lượng sạch, nguyên liệu được dùng là "gió". Nguồn năng lượng này khơng làm
ơ nhiễm khơng khí như nguồn điện năng phát xuất từ các nhà máy thủy điện và
nhiệt điện từ than hay khí đốt. Các turbine gió khơng tạo ra mưa acid do khí
thải SO2, hay các khí nhà kính, khơng tiềm ẩn nguy cơ rị rĩ phóng xạ ra mơi
trường như các nhà máy điện hạt nhân….
• Là nguồn năng lượng sạch và vô tận đối với thiên nhiên. Điều đó là điều tiên
quyết đem lại lợi thế của năng lượng gió so với các nguồn năng lượng hóa
thạch vốn có hạn và ảnh hưởng nghiêm trọng đến mơi trường. Với việc công
nghệ ngày càng tiến bộ, và việc sử dụng năng lượng gió ngày càng phổ biến
hơn thì giá thành của năng lượng gió ngày càng rẻ cộng với xu hướng ngày
càng tăng lên của các nguồn năng lượng hóa thạch phổ biến thì đây cũng là một
lợi ích to lớn của năng lượng gió. Nhưng khơng phải năng lượng gió khơng có
những mặt hạn chế của nó. Từ tiềm năng đến việc cụ thể thành sản phẩm là một
q trình mà nếu ta khơng đánh giá một cách tồn diện các mặt thì khó có thể
biến tiềm năng trở thành hiện thực được.
2) Các mặt hạn chế khi phát triển năng lượng gió ở Việt Nam
1. Điểm hạn chế nhất của nguồn năng lượng này là phụ thuộc hoàn toàn vào thiên
nhiên. Mặc dù tiềm năng về gió ở nước ta ở mức cao nhưng tốc độ gió khơng ổn
định và thường xun thay đổi. Vì vậy, nguồn điện năng từ gió vẫn chưa được
xem là nguồn cung cấp điện ổn định, nguồn điện từ thủy điện vẫn chiếm ưu thế
20
2. Gió đến từ thiên nhiên cho nên khơng đáp ứng được những nhu cầu cần thiết
của con người, vì con người khơng thể kiểm sốt được nguồn gió và nguồn điện
năng này không thể giữ lại được nguồn điện dư thừa trừ khi chuyển điện qua
các bình điện dự trữ - như thế sẽ rất tốn kém và không hiệu quả kinh tế.
3. Nguồn gió nhiều và đều đặn thường ở khu vực xa thành phố, do đó ngồi việc
sử dụng tại chỗ, điện năng từ gió khó được chuyển về các khu đơng dân cư. Do
đó, trước khi có những biện pháp nhằm giải quyết các bất lợi trên, năng lượng
từ gió có thể xem như một nguồn năng lượng dự phịng ngồi các nguồn năng
lượng chính yếu khác
4. Dù cơng nghệ gió đang phát triển cao, và giá thành của một turbine gió giảm
dần từ hơn 10 năm qua, mức đầu tư ban đầu cho nguồn năng lượng nầy vẫn còn
cao hơn mức đầu tư các nguồn năng lượng cổ điển.
5. Có thể làm thay đổi dịng khơng khí làm ảnh hưởng đến các lồi chim di trú.
6. Thay đổi hoặc làm phá vỡ cảnh quan của vùng lắp đặt điện gió vì nếu xây dựng
đồng loạt nhiều trạm điện gió gần nhau có thể sẽ tạo ra tính đơn điệu của phong
cảnh.
7. Tiếng ồn có thể ảnh hưởng đến các loài động vật hoặc con người sống gần nơi
đặt các trạm năng lượng gió (mặc dù độ ồn của các trạm điện gió chỉ tương
đương với độ ồn của đường phố và chỉ ở mức 50 dB và trên khoảng cách đến
trạm điện gió lớn hơn 300 mét sẽ không phân biệt được tiếng ồn của trạm và
tiếng ồn tự nhiên của gió) nhưng tiếng ồn tứ những trạm điện gió này vẫn gây
những ảnh hưởng ở mức độ khó chịu cho những người tiếp xúc thường xuyên.
8. Có thể ảnh hưởng đến các trạm thu phát sóng điện thoại, truyền hình, …do làm
thay đổi dịng khơng khí tại khu vực đặt các trạm điện gió nên làm nhiễu xạ gây
trở ngại cho việc phát tuyến trong truyền thanh và truyền hình.
9. Cánh quạt của tua bin gió dài và lớn, quay trong khơng gian thường hay làm
chết chim (mặc dù số lượng chim ở Việt Nam hiện nay khơng cịn nhiều).
10. Do phải nhập tồn bộ máy móc thiết bị từ nước ngồi nên chi phí đầu tư cho
điện gió vẫn cịn cao so với chi phí đầu tư cho thủy điện.
21
11. Tài liệu thông tin và dữ liệu không đầy đủ về địa lý, tốc độ gió tại nhiều vùng
trong nước.
12. Thiếu nguồn đầu tư, nhất là các nguồn đầu tư nước ngồi.
Chính sách, kế hoạch và các quy định trợ giá về năng lượng gió của những cơ
quan liên hệ trong chính phủ khơng rõ rệt.
13.Thiếu hạ tầng cơ sở và kỹ thuật.
Đó là một số mặt hạn chế của năng lượng gió, nhưng nếu xét về cơ bản thì
những ảnh hưởng đến mơi trường của nguồn năng lượng này so với những ảnh hưởng
của các nguồn năng lượng hóa thạch thì điện gió vẫn có thể được xem là nguồn năng
lượng sạch và ít gây tác động đến môi trường.
3) Tiềm năng
Như chúng ta đã biết, Việt Nam là một quốc gia đang phát triển với cơ sở vật
chất thiếu thốn, nguồn vốn hạn chế và các nghiên cứu khoa học chưa được hoàn chỉnh.
Hiện nay, nguồn cung sản xuất điện chủ yếu là thủy điện và nhiệt điện dựa vào các
nhiên liệu hữu hạn trong tự nhiên như: than, dầu, khí gas tự nhiên hay Hydro. Một
phần nhỏ còn lại là nhập khẩu điện và các nguồn năng lượng tái tạo.
Chính vì sự phụ thuộc lớn vào các yếu tố hữu hạn và liên quan tới thời tiết nên
nguồn cung cấp điện của Việt Nam chưa thật sự phong phú, các nguồn năng lượng
cung cấp điện bị giới hạn. Một nền kinh tế phát triển phải gắn với sự phát triển của
ngành năng lượng quốc gia, nhằm đảm bảo cung cấp đủ nguồn điện cho các hoạt động
sản xuất, kinh doanh và phát triển kinh tế. Việt Nam cũng khơng nằm ngồi quy luật
đó, khi ngành điện luôn được coi là một ngành then chốt, trọng điểm và nhận được rất
nhiều sự quan tâm của Nhà nước. Trong những năm vừa qua, sau khi thực hiện cải
cách kinh tế theo lối mở cửa thị trường thì cơ cấu kinh tế của nước ta đã có những thay
đổi cơ bản từ nơng nghiệp theo hướng cơng nghiệp hóa.
22
Do đó, tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện của Việt Nam cũng ngày càng cao và có
xu hướng gấp đơi tốc độ tăng trưởng GDP, điều đó cho thấy Việt Nam đang trên đà
phát triển ngày càng mạnh mẽ. Tuy nhiên, sự tăng trưởng cao cũng đặt ra bài tốn cần
có một chiến lược lâu dài ổn định. Các chính sách đưa ra cần nâng cao hiệu quả sử
dụng điện năng, giảm thiểu tác hại đến môi trường nhằm tránh đi ngược lại với xu
hướng của thế giới. Mỹ và Trung Quốc, 2 quốc gia có lượng thải CO2 lớn nhất thế
giới, đều cho rằng cần phải tập trung giải bài toán năng lượng, nguyên nhân sâu xa của
những bất ổn kinh tế - tài chính.
Nhìn vào cơ cấu đóng góp trong ngành điện thì thủy điện đóng góp tới 37%
tổng nguồn điện cung cấp, có thể nói đây là tỷ trọng rất lớn. Đối với các nhà máy thủy
điện, sản lượng điện sản xuất phụ thuộc vào lượng nước đổ vào các hồ chứa, do đó
thời tiết là yếu tố khách quan ảnh hưởng trực tiếp tới việc cung cấp điện năng. Hơn
nữa, do những tác động xấu của con người đến môi trường trong những năm gần đây
đã dẫn đến biến đổi về khí hậu trên phạm vi tồn cầu, mùa mưa và mùa khơ của Việt
Nam cũng diễn ra phức tạp hơn. Trái đất đang ngày càng nóng lên làm cho mùa khơ ở
VN cũng kéo dài hơn, các nhà máy thủy điện gặp khó khăn lớn khi khơ hạn chưa từng
thấy trong vịng 100 năm qua. Các hồ thủy điện đều gần như cạn kiệt, nước ở gần mực
nước chết. Tổng lượng nước về các hồ thủy điện cả nước đã hụt 33,3 tỷ m3so với
trung bình nhiều năm, tương ứng sản lượng thủy điện thiếu hụt khoảng 5,94 tỷ kWh.
Nhưng vào thời điểm giữa tháng 10, trận bão lịch sử đổ bộ vào miền Trung đã khiến
gần như cả khu vực ngập trong nước. Tuy nhiên, mực nước tại các hồ thủy điện miền
Bắc, Trung, Nam đều thấp hơn năm 2009 và trung bình nhiều năm khác. Tình hình
biến động bất thường của thời tiết chắc chắn sẽ khiến sản lượng từ thủy điện bị ảnh
hưởng.
Đối với các nhà máy nhiệt điện, áp lực từ phía nhà cung cấp là chi phí sản xuất
đầu vào tăng, mà cụ thể là giá than. Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV), đơn
23
vị duy nhất được phép khai thác than Việt Nam đã đề nghị tăng giá than theo lộ trình 2
bước trong năm 2010. Theo đó, giá than đã tăng 28% lần thứ nhất vào ngày
01/03/2010 khiến giá điện cũng tăng 6,8%. Tuy nhiên, theo TKV mặc dù tăng nhưng
giá than hiện tại vẫn chỉ bằng 36-40% giá than xuất khẩu cùng chất lượng và đang tiếp
tục đề xuất đợt tăng giá mới. Mặt khác, sản lượng than khai thác cũng đang dần cạn
kiệt và dự kiến Việt Nam sẽ phải nhập khẩu than từ năm 2012. Với việc giá than nhập
khẩu hiện đắt hơn khoảng 50% giá than trong nước, trong tương lai, chi phí sản xuất
điện từ than sẽ tăng lên rất nhiều và khả năng áp đặt giá là rất lớn. Cũng theo như dự
báo của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam, nếu tốc độ tăng trưởng GDP trung bình tiếp
tục được duy trì ở mức 7,1% /năm thì nhu cầu điện sản xuất của Việt Nam vào năm
2020 sẽ là khoảng 200.000 GWh, vào năm 2030 là 327.000 GWh. Trong khi đó, ngay
cả khi huy động tối đa các nguồn điện truyền thống thì sản lượng điện nội địa của Việt
Nam cũng chỉ đạt mức tương ứng là 165.000 GWh (năm 2020) và 208.000 GWh (năm
2030). Chính những điều đó đã khiến cho nền kinh tế sẽ bị thiếu hụt điện một cách
nghiêm trọng, và tỷ lệ thiếu hụt có thể lên tới 20-30% mỗi năm.
Về thành phần điện sử dụng hiện tại: 58 % thuộc từ năng lượng hóa 13 thạch,
4% nhập cảng và 37 % thuộc về năng lượng tái sinh (thủy điện : 6.304 MW, biomass:
150 MW, điện gió: 10.5 MW, điện mặt trời : 1.25 MW). Trong cuộc hội thảo mới đây
đánh giá về những tác động của ngành năng lượng Việt Nam sau khi gia nhập WTO,
số liệu đưa ra cho thấy: Nếu như Nhà máy thủy điện Sơn La với 6 tổ máy, tổng công
suất thiết kế là 2400 MW, được dự kiến xây dựng trong 7 năm, với tổng mức đầu tư là
2,4 tỷ USD. Giá thành khi phát điện (chưa tính đến chi phí mơi trường) là 70
USD/MWh. Như vậy, để có được 1 kW cơng suất cần đầu tư 1.000 USD trong 7 năm.
Trong khi đó, theo thời giá năm 2003, đầu tư cho 1 kW điện gió ở nhiều nước châu Âu
cũng vào khoảng 1.000 USD. Ðáng lưu ý là giá thành này giảm đều hàng năm do cải
tiến công nghệ. Nếu thời gian sử dụng trung bình của mỗi trạm điện gió là 20 năm thì
chi phí khấu hao cho một kWh điện gió sẽ là 14 USD. Cộng thêm chi phí thường
24
xun thì tổng chi phí quản lý và vận hành sẽ nằm trong khoảng 48 - 60 USD/MWh tương đương với thủy điện, vốn được coi là nguồn năng lượng rẻ và hiệu quả. Theo dự
đoán, đến năm 2020, giá thành đầu tư của năng lượng gió gió sẽ giảm đáng kể, chỉ
khoảng 600 USD/kW, khi ấy chi phí quản lý và vận hành sẽ giảm đáng kể, chỉ còn
khoảng 30 USD/MWh.
Trong khi đó, sử dụng điện năng bằng sức gió (mượn sức gió để quay tua bin
phát ra điện, gọi tắt là phong điện) sẽ không lo hết nhiên liệu hay cạn kiệt nguồn nước
như thủy điện và nhiệt điện, và nhất là không gây những tác động đáng kể đến môi
trường. Hơn nữa, Việt Nam với hơn 3000 km bờ biển, đón gió trực tiếp từ biển Ðơng,
nên có nhiều điều kiện thuận lợi để khai thác nguồn năng lượng này. Theo đánh giá
tiềm năng năng lượng gió (NLG) khu vực Ðơng Nam Á của Tổ chức Khí tượng thế
giới, Việt Nam là quốc gia có tiềm năng NLG tốt nhất. Dựa trên cơ sở dữ liệu nhiều
năm của hơn 300 trạm khí tượng thủy văn trên phạm vi cả nước, các kết quả tính tốn
cho thấy bức tranh tổng quát về đặc điểm chế độ gió và tiềm năng năng lượng gió tại
Việt Nam như sau: Ở độ cao khoảng 12m, tốc độ gió trung bình/năm khu vực ven biển
là khoảng từ 4 đến 5 m/s; ở khu vực hải đảo, tốc độ gió trung bình/năm ở khu vực này
khoảng từ 5 đến 8 m/s. Trong khi vùng núi phía bắc miền Trung, Tây Nguyên, vùng
núi phía Bắc giáp Trung Quốc..., ở độ cao 65m, có tốc độ gió trung bình năm đạt từ 8
đến 9,5 m/s, có thể xây dựng các nhà máy điện gió cơng suất lớn. Theo tính tốn của
tổ chức nói trên thì tổng tiềm năng lý thuyết về NLG ở Việt Nam được đánh giá là trên
100.000 MW (tính với tốc độ gió từ 7 m/s trở lên). Vùng lãnh thổ khai thác được năng
lượng gió có tổng diện tích chiếm gần 9% diện tích cả nước. Tuy nhiên, để khuyến
khích đầu tư về năng lượng gió, cần có các chính sách về năng lượng tái tạo, mạng
lưới điện, đầu tư… nhằm thu hút vốn cho các trạm điện gió. Trước mắt, nhất thiết phải
tiến hành ngay nhiệm vụ điều tra cơ bản đánh giá chế độ gió và tiềm năng năng lượng
gió theo u cầu của cơng nghệ điện gió cơng suất lớn.
25