"Hầu Trời" được viết theo thể thơ thất ngôn trường
thiên, bên cạnh những khổ thơ bốn câu, tác giả đan
xen vào những đoạn thơ sáu câu, mười câu, mười hai
câu... mang dáng dấp một bài hành nhỏ.Cấu trúc đa
dạng ấy đã mở ra một không gian nghệ thuật để Tản
Đà bộc lộ cái tơi của mình, và cho nó "tung hồnh" nơi
Thiên mơn đế khuyết.
•Thất ngôn trường thiên là thể thơ mỗi câu 7 chữ. Loại
thơ dài có câu kết nhưng vẫn có thể viết tiếp nữa. Ví dụ là
“Đồn thuyền đánh cá” ( Huy Cận)
•Hành: Bài thơ, thường đề cập đến những vấn đề chung,
những sự kiện mới lạ, bất ngờ hay những đồng cảm tạo ấn
tượng mạnh mẽ; chủ thể trữ tình thường kể lại sự việc với
tâm trạng bức xúc, có thể bày tỏ thái độ, chính kiến; thể
thơ cổ phong thường được sử dụng để sự biểu đạt khơng
bị gị bó, ràng buộc.
Phần này nổi bật nghệ
thuật gì nhỉ ?????
Đêm qua chẳng biết có hay khơng,
Chẳng phải hoảng hốt, khơng mơ mịng.
Thật hồn ! Thật phách ! Thật thân thể !
Thật được lên tiên- sướng lạ lùng.
•Từ “ Thật” được lặp lại 4 lần => nhấn mạnh tâm trạng,
cảm xúc của thi nhân.
•Câu 2 ( câu cảm thán ) bộc lộ cảm xúc bàng hồng
•Câu khẳng định dường như lật lại vấn đề: mơ mà như
tỉnh, hư mà như thực.
Tác giả là chủ thể của giấc mơ
nhưng cũng không dám khẳng định
là giấc mơ đó có hay khơng, thực
hay hư ảo. Nhưng ở các câu thơ tiếp
theo với việc từ “ Thật” được lặp lại
4 lần cũng như để nhấn mạch sự
thật của các chi tiết, hình ảnh trong
giấc mơ. Tác giả muốn người đọc
cảm nhận được cái “hồn cốt” trong
cõi mộng, mộng mà như tỉnh, hư
mà như thực.
Ngun lúc canh ba nằm một mình,
Vắt chân dưới bóng ngọn đèn xanh.
Nằm xướng, ngồi dậy đưa nước uống,
Uống xong ấm nước, nằm ngâm văn.
Ước mãi bây giờ mới gặp tiên!
Người tiên nghe tiếng lại như quen!
Văn chương nào có hay cho lắm
Trời đã sai gọi thời phải lên.
Chơi văn ngâm chán lại chơi trăng
Ra sân cùng bóng đi tung tăng
Trên trời bồng thấy hai cô xuống
Miệng cười mủm mỉm cùng nói rằng:
Theo hai cơ tiên theo đường mây
Vù vù khơng cánh mà như bay
Cửa son đỏ chói, oai rực rỡ
Thiên môn để khuyết như là đây!
-“Trời nghe hạ giới ai ngâm nga,
Tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà!
Làm Trời mất ngủ, Trời đương mắng
Có hay lên đọc, Trời nghe qua.”
Vào trong thấy Trời, sụp xuống lạy
Trời sai tiên nữ dắt lôi dậy.
Ghế bành như tuyết vân như mây
Truyền cho văn sĩ ngồi chơi đấy.
Cuộc hội kiến với Trời được thi
nhân kể lại chi tiết, hồn nhiên, nghe
tự nhiên như thật. Tác giả đã chọn
lối kể chuyện nôm na của dân gian
để tái hiện câu chuyện hầu Trời.
Nghệ thuật trong
đoạn này có đặc sắc
khơng nhỉ?
Đọc hết văn vần sang văn xi
Hết văn thuyết lí lại văn chơi
Đương cơn đắc ý đọc đã thích
Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi
Nghệ thuật tăng tiến tiến thể hiện tâm trạng say
sưa, phấn chấn cao độ. Tự khen tài của mình nhưng
lại chọn hình thức để Trời cùng chư tiên khen ngợi.
Đây là một kiểu ngông đáng yêu.
Hai quyển Khối tình văn thuyết lí
Hai Khối tình con là văn chơi
Thần tiền, Giấc mộng văn tiểu thuyết
Đài gương, Lên sáu văn vị đời
Quyển Đàn bà Tàu lối văn dịch
Đến quyển Lên tám nay là mười”
Cách kể chuyện mộc mạc tự nhiên, cách sử dụng
ngơn từ, giọng điệu hóm hỉnh, tác giả đã làm nổi
bật phong cách "bình dân" của ông Trời và các chư
tiên, cùng với cái điệu bộ khúm núm và "thật thà"
của văn sĩ.
Trời lại phê cho : “Văn thật tuyệt!
Văn trần được thế chắc có ít!
Nhời văn chuốt đẹp như sao băng!
Khí văn hùng mạnh như mây chuyển!
Êm như gió thoảng, tinh như sương!
Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết!
Chẳng hay văn sĩ tên họ gì?
Người ở phương nào, ta chưa biết.”
Thể hiện “Cái tơi” phóng khống, tác giả đã
cố ý mượn lời của Trời để ca ngợi thơ văn của
mình. Nó khơng những chứng tỏ Tản Đà rất
có ý thức về tài năng văn chương vượt trội của
bản thân mà cịn như khẳng định chính Tản
Đà là người khơi nguồn cho 1 cuộc cách mạng
về thơ ca, đúng với cái tên “ Người của 2 thế
kỉ” mà Hoài Thanh đã gọi. Cái hay, cái đẹp
trong thơ của Tản Đà được tác giả đem so
sánh với vẻ đẹp tuyệt vời của các hiện tượng,
sự vật trong vũ trụ như: sao băng, mây, gió,
tuyết, sương…, qua đây cũng thấy được thái
độ của tác giả tỏ ra rất tự hào, kiêu hãnh về tài
năng văn chương của mình.
Nghệ thuật trong
đoạn này có đặc sắc
khơng nhỉ?
-“BẩmTrời, cảnh con thực nghèo khó
.................
Biết làm có được mà dám theo.”
Cũng nhân đây, nhà thơ giãi bày tâm sự của mình về
nghề văn. Tản Đà được coi là người đặt nền móng
cho thơ Mới, khơng chỉ bởi thơ ơng mang hơi thở
hiện đại của thời đại với cái Tôi cá nhân sừng sững
giữa trang văn mà cịn vì ơng là nhà thơ đầu tiên
“mang văn chương ra bán phố phường”, coi nghề
văn là nghề kiếm sống. Khi giãi bày cảnh ngộ với
Trời, nhà thơ đã kể lể rất chi tiết về nghề làm văn
kiếm sống này. Tản Đà cũng đã dùng lời Trời để tự
an ủi mình.
Bức tranh hiện thực được vẽ bằng bút pháp
tả chân thực, tỉ mỉ và rất cụ thể, phản ánh
chính xác đời sống cùng cực của tầng lớp
văn nghệ sĩ và tình hình lộn xộn của thị
trường văn chương thời ấy. Tác giả đã cho
người đọc thấy 1 bức tranh rất chân thực và
cảm động về chính cuộc đời mình và cuộc
đời nhiều nhà văn, nhà thơ khác => Cảm
hứng hiện thực bao trùm cả đoạn thơ.
Qua cuộc đối thoại tưởng tượng với Trời,
Tạo tình huống tưởng
nhà thơ còn khẳng định nghĩa vụ và trách
tượng này để an ủi mình,
nhiệm cao cả của mình nói riêng và của
đồng thời cũng là để nói
người nghệ sĩ nói chung là lo việc “thiên
lên ý nghĩa cao quý của
lương” của nhân loại :
văn chương, của nhà văn.
Trời rằng : “Không phải là Trời đày,
Trời định sai con một việc này
Là việc “thiên lương” của nhân loại,
Cho con xuống thuật cùng đời hay.”
Nghệ thuật trong
đoạn này có đặc sắc
khơng nhỉ?
Sáng tạo độc đáo về mặt nghệ thuật của Tản Đà
được thể hiện qua những chi tiết sau:
. Ngôn ngữ đời thường nôm na, dễ hiểu, dung dị mà vẫn rất
gợi cảm trong thơ ca. Ngôn ngữ ở “Hầu trời” có sự xâm nhập
của giọng điệu văn xi và ngơn ngữ bình dân.
. Cái tơi cá nhân đã được thoả sức bộc lộ và thể hiện mình
. Tự khẳng định tài năng và quan niệm của mình bằng cách tạo
ra cái cớ là tình huống hầu trời.
. Bài thơ cũng phác hoạ một chân dung thi sĩ Tản Đà với
phong cách ngơng độc đáo, đó là cái ngơng của một nhà nho tài
tử ở thời kì mà ý thức cá nhân bắt đầu được trântrọng và khẳng
định.