Giới thiệu dân tộc
Đời sống
Văn hóa dân tộc
Giới thiệu về dân tộc Khmer
Người Khmer tại Việt Nam (hay còn gọi là Khmer Việt)
- Tên khác: Cur, Cu Thổ, Việt gốc miên, KhMer krôm
- Người Khmer được công nhận là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam.
- Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Khmer ở Việt Nam có dân
số 1.260.600 người, có mặt tại nhiều tỉnh ở Nam Bộ.
Sau đây là danh sách các tỉnh có nhiều người Khmer nhất:
Sóc Trăng (397.014 người, chiếm 30,7 % dân số toàn tỉnh và 31,5 % tổng số
người Khmer tại Việt Nam).
Trà Vinh (317.203 người, chiếm 31,6 % dân số toàn tỉnh và 25,2 % tổng số
người Khmer tại Việt Nam).
Kiên Giang (210.899 người, chiếm 12,5 % dân số toàn tỉnh và 16,7 % tổng số
người Khmer tại Việt Nam),
Người Khmer Krom nói tiếng Khmer, một ngơn ngữ thuộc nhóm ngơn ngữ Mơn-Khmer.
Chuyển slide
Ở Việt Nam, người Khmer là dân tộc bản địa có lịch sử định canh định cư rất lâu dài sống
chủ yếu ở miền nam Việt Nam đặc biệt là đồng bằng sơng Cửu Long thuộc các tỉnh Sóc
Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh
Long, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Bến Tre
Dân tộc Khmer có lịch sử lâu đời với đời sơng văn hóa tinh thần phong phú và đặc sắc.
Chuyển slide
Đi vào
Đời sống hằng ngày
HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT
Tuy sống cùng trên một địa bàn với các dân tộc Kinh, Hoa từ rất lâu nhưng hình thái cư
trú của người Khmer vẫn giữ được đặc điểm riêng của mình, phổ biến là hình thái cư trú
theo cộng đồng người với tên gọi là “phum” và “sóc”.
Người Khmer trồng lúa nước là chính và bên cạnh đó nhiều nghề khác như đánh cá, dệt,
chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm.
Trong cuộc sống hàng ngày, người Khmer chế biến rất nhiều loại mắm làm từ tôm tép, cá
sặc nhưng nổi tiếng nhất là mắm làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tơm tép trộn với thính
và muối.
Trang phục
Họ mặc theo phong cách hiện đại
nhưng trong dịp đi dự lễ, Tết, đi chùa..., người phụ nữ Khmer thường mặc xàrông có đính
chuỗi hạt cườm; áo tầm vơng dệt bằng tơ tằm, sợi bông, hay chỉ kim tuyến, các loại hoa
văn màu trắng hoặc màu vàng
Nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên
đầu hoặc vắt qua vai.
Trong lễ cưới của đồng bào Khmer, cô dâu mặc áo dài màu vàng thêu kim tuyến và đính
hạt cườm ở phía trước. Đồ trang sức trong lễ cưới cổ truyền của phụ nữ Khmer chủ yếu
làm bằng hạt cườm, đồng. Thêm vào một số trang sức quí hiếm khác như hoa tai làm
bằng đồng và vàng, bạc và các loại hoa tươi để tôn vinh vẻ đẹp trong ngày vui nhất đời
của người phụ nữ Khmer.
Chuyển slide
Phần 3: Văn hóa dân tộc
Văn học
Nghệ thuật ca múa nhạc
Và đời sống tâm linh
Văn học dân tộc
Về văn học, văn học dân gian của người Khmer rất phong phú, gồm tục ngữ, dân ca,
truyện dân gian (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngơn và truyện cười).
Tục ngữ và châm ngôn của người Khmer thường là những tổng kết về kinh nghiệm hay
những nhận xét và những lời khuyên răn được gọi chung là Xôphia – Xết.
Đặc điểm nổi bật của truyện thần thoại, truyền thuyết của người Khmer là “phản ánh nét
đặc thù trong quá trình khai thiên, lập địa, mở mang địa phận trên vùng đồng bằng sơng
nước Cửu Long sình lầy, hoang vu, ngập nước và nhiều thú dữ”
Bên cạnh đó văn học dân gian còn phải kể đến văn học viết. Những tác phẩm văn học
viết của người Khmer thường được ghi chép bằng các tập lá buông, thường gọi là Sa-Tra
truyện (Sa-Tra Rương).
Chuyển slide
Về nghệ thuật ca múa nhạc, dân ca Khmer gồm dân ca nghi lễ, hát ru con (chum riêng
bom pê kôn) và hát đối đáp trong lao động.
Dân ca nghi lễ là một phần không thể thiếu trong các nghi lễ cúng thần và nghi lễ cúng
cầu mưa, cầu an, …
Chuyển slide
Nghi lễ
Dân ca nghi lễ thể hiện mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, biểu hiện ước mơ
cũng như khát vọng của con người về cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Nghệ thuật sân khấu
Trong nghệ thuật ca dân gian của người Khmer, bên cạnh các làn điệu dân ca cịn có nghệ
thuật múa và nghệ thuật sân khấu. Dân tộc Khmer khá nổi tiếng về các điệu múa nhất là
múa dân gian, phổ biến trong mọi tầng lớp nhân dân và mỗi khi có dịp gặp gỡ, vui chơi
tập thể là người dân Khmer cùng nhau múa những điệu múa truyền thống.
Múa dân gian bao gồm nhiều loại: múa sinh hoạt có Râm vơng, Lâm lev, Sarvan.
Nghệ thuật sân khấu được coi là “là linh hồn của toàn bộ hệ thống nghệ thuật dân tộc
mang đậm nét văn hóa và bản sắc riêng của người Khmer”.
Các loại hình sân khấu của người Khmer bao gồm:
1) Sân khấu Rôbam với vở kịch nổi tiếng nhất là Réamkèr
2) Sân khấu Dù - Kê là kịch hát của người Khmer vùng Tây Nam Bộ
3) Sân khấu Lakhôn tương tự kịch nói của người Việt.
Chuyển slide:
Về đời sống tâm linh
Đối với đồng bào Khmer Nam Bộ thì có hai yếu tố chi phối mạnh mẽ đời sống tâm linh
của họ đó là tín ngưỡng - tơn giáo và các nghi lễ, lễ hội.
Chuyển slide
Đời sống hằng ngày có:
Tín ngưỡng – Tơn giáo
Lễ hội
Tín ngưỡng - tơn giáo
Lễ hội gắn với các nghi thức, nghi lễ tôn giáo và nó thường diễn ra ở các ngơi chùa
Khmer.
Tín ngưỡng dân gian có từ thời xa xưa, khơng cịn phổ biến trong xã hội người Khmer
nữa mà nó chỉ tồn tại như những tàn dư. Các loại tín ngưỡng dân gian này bao gồm tín
ngưỡng Neak tà, tín ngưỡng Arăk và các lễ nghi nông nghiệp.
Về tôn giáo, trước khi Phật giáo du nhập vào, người Khmer có đạo Bà - la - mơn. Tuy
ngày nay đạo Bà-la-mơn khơng cịn tồn tại ở xã hội Khmer nhưng những giá trị của nó
cịn thể hiện ở việc một số vị thần đã được đồng hóa trong tín ngưỡng Neak tà và Arăk
Hiện nay, phần lớn người dân Khmer Tây Nam Bộ theo Phật giáo Nam tông và ngơi
chùa là trung tâm sinh hoạt văn hóa tâm linh đồng thời cũng là nơi sinh hoạt văn hóa
cộng đồng, nơi lưu trữ văn hóa truyền thống Khmer.
Phật giáo Nam tơng chỉ tơn thờ Phật Thích ca, khơng tơn thờ các vị bồ tát. Người Khmer
dù tu ở chùa hay ở nhà thì họ đều tự coi mình là con của Phật.
Và trong quan niệm của người Khmer thì tu không phải để trở thành Phật mà tu là để
làm người có nhân cách, có đạo đức.
Phật giáo có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống của người Khmer nên hầu hết mỗi sóc
đều có một ngơi chùa. Chùa Khmer thường được xây trên những khuôn đất cao, thoáng
mát và thường nằm ở trung tâm của các phum, sóc để thuận tiện việc đi lại của các tín đồ,
phật tử.
Do đặc điểm của việc tu hành của người Khmer thường gắn với việc học nên trong mỗi
ngôi chùa ngồi chánh điện – nơi thờ Phật cịn có những cơng trình khác để phục vụ việc
tu học của sư sãi cũng như con em trong phum, sóc.
Bên cạnh đó, ngơi chùa cịn là nơi sinh hoạt lễ hội của các tín đồ đồng thời là nơi bàn bạc
những cơng việc chung của phum, sóc. Mỗi người Khmer từ lúc sinh ra cho tới lúc chết
đi đều gắn bó với ngơi chùa. Sau khi chết đi, phần xác thì được hỏa táng trong lò hỏa
táng của nhà chùa, tro cốt được thờ tại chùa và như vậy họ vĩnh viễn được ở bên Đức
Phật. Hàng năm, đến ngày lễ Đôn - ta (ngày 30-8 Âm lịch), người dân Khmer dù ở gần
hay xa đều trở về ngôi chùa để lễ Phật và thắp hương tưởng nhớ ông bà tổ tiên.
Lễ hội
Lễ hội là một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người Khmer vì lễ hội
thường gắn với tín ngưỡng dân gian và các lễ nghi tơn giáo.
Người Khmer Tây Nam Bộ có khoảng 15 lễ hội thu hút sự tham gia của cả cộng đồng,
trong đó có 10 lễ hội có nguồn gốc từ Phật giáo và do các sư sãi tổ chức trong khuôn viên
chùa.
Lễ hội của người Khmer gồm 2 loại là lễ hội dân tộc và lễ hội tôn giáo:
Lễ hội dân tộc là những ngày lễ bắt nguồn từ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày cũng như
cuộc sống lao động của dân chúng, tuy nhiên, trong quá trình phát triển thì những lễ hội
này thường bị pha trộn với những yếu tố tôn giáo. Những lễ hội dân tộc lớn trong năm
của người Khmer gồm:
- lễ Vào năm mới (Chôl chnam thmây) - thường tổ chức vào giữa tháng 4 Dương lịch tức
đầu tháng Chét của người Khmer,
- lễ cúng ông bà (Đôn - ta) - tổ chức vào 3 ngày từ 29-8 đến 1-9 Âm lịch,
- lễ cúng trăng hay lễ cúng cốm dẹp (Ók om bok) - tổ chức ngày 15-10 Âm lịch.
Lễ hội tôn giáo của người Khmer ngày nay đều gắn với Phật giáo Nam tông. Những lễ
hội tôn giáo định kỳ hàng năm đó là:
- Lễ phật đản của người Khmer tổ chức vào rằm tháng 5 Âm lịch khác với ngày lễ phật
đản của Phật giáo đại thừa: 8-4 âm lịch
- lễ đặt cơm vắt từ ngày 15 đến 30-8 Âm lịch
- lễ ra hạ vào14 và 15-9 âm lịch
- lễ dâng y từ 14-9 đến 15-10 Âm lịch
- Ngoài ra cịn có những ngày lễ khơng định kỳ như lễ an vị tượng Phật và lễ kết giới.
Các giá trị văn hóa, phong tục, tập quán được người dân, sư sãi Khmer giữ gìn và phát
huy. Tuy nhiên, trong q trình giao lưu văn hóa, một số nét đẹp văn hóa tinh thần của họ
đang phải đối mặt với nguy cơ mai một.
Việc giữ gìn, bảo tồn chữ viết Khmer gặp nhiều khó khăn do cơng tác bảo tồn, dạy học
chưa được đồng bộ, thiếu sách giáo khoa. Một số lễ hội bị biến tướng; một số sắc thái
văn hóa cổ truyền chưa được khơi phục hoặc khơi phục chưa tương xứng, mới chỉ chú
trọng đến hình thức mà chưa phát huy giá trị giáo dục… Bên cạnh đó, các loại hình nghệ
thuật biểu diễn chưa được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng dân tộc, không đủ nghệ sỹ,
nghệ nhân và nhạc cụ để bảo tồn, phát huy…