Tải bản đầy đủ (.pdf) (45 trang)

THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP THÚC đẩy XUẤT KHẨU HÀNG MAY mặc VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (721.71 KB, 45 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: KINH TẾ QUỐC TẾ 1
ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY
XUẤT KHẨU HÀNG MAY MẶC VIỆT NAM
SANG THỊ TRƯỜNG EU

Lớp học phần: 2160FECO1711
Nhóm: 16
Giảng viên giảng dạy: Nguyễn Thùy Dương


MỤC LỤC
Lời mở đầu .................................................................................................................... 3
Chương I. Cơ sở lí luận về Xuất khẩu........................................................................ 4
I. Một số khái niệm ................................................................................................. 4
II. Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu .................................................................... 4
III. Vai trị của xuất khẩu ........................................................................................ 5
IV. Hình thức Xuất khẩu ......................................................................................... 6
V. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu .............................................. 7
VI. Hiệp định EVFTA và tác động của Hiệp định EVFTA đến xuất khẩu ............ 9
Chương 2: Vài nét về thị trường Châu Âu (EU) ...................................................... 12
I. Sự hình thành và phát triển của Liên minh Châu Âu (EU) ............................... 12
II. Các quy định, tiêu chuẩn kĩ thuật để xuất khẩu ngành hàng may mặc
vào EU ................................................................................................................... 13
Chương 3: Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam sang EU ngành may mặc ............. 18
I.Khái quát về ngành hàng may mặc của Việt Nam ............................................. 18
II. Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam


sang thị trường EU ................................................................................................ 22
III.Tầm quan trọng của việc xuất khẩu mặt hàng may mặc sang thị trường
EU.......................................................................................................................... 26
IV. Khả năng cung ứng của Việt Nam trong ngành may mặc .............................. 27
V. Thực trạng xuất khẩu ngành hàng may mặc của Việt Nam sang thị
trường EU trong thời gian qua. ............................................................................. 28
VI. Tác động của hiệp định EVFTA đến hoạt động xuất khẩu hàng may
mặc của nước ta..................................................................................................... 31
VII. Lợi thế và thách thức thu được từ hiệp định EVFTA trong hoạt động
xuất khẩu ngành may mặc của Việt Nam sang EU............................................... 35
Chương 4: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam sang EU trong xuất
khẩu hàng may mặc .................................................................................................. 39
I. Định hướng ngành dệt may Việt Nam ............................................................... 39
II. Định hướng Thương mại Dệt may Việt Nam – EU ......................................... 41
III. Các giải pháp nhằm thúc đẩy thương mại Việt Nam – EU ............................ 42
Kết luận ....................................................................................................................... 44
Nguồn tham khảo tài liệu: ........................................................................................... 45


Lời mở đầu
Dệt may là một trong những ngành sản xuất vật chất có truyền thống lâu đời. Từ xa xưa,
ông cha ta đã biết trồng dâu nuôi tằm để ươm tơ dệt lụa. Con người Việt Nam lại thông minh,
sáng tạo, với đôi bàn tay khéo léo đã tạo ra những sản phẩm dệt may đậm đà bản sắc dân tộc.
Là hàng hóa tiêu dùng thiết yếu, hàng năm ngành dệt may có những đóng góp đáng kể
trong nguồn thu ngân ngân sách đặc biệt là nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu.
Ngày nay ngành may mặc đang có xu hướng chuyển dịch từ các nước công nghiệp phát
triển sang các nước đang phát triển, đặc biệt là Châu Á có nhân cơng rẻ. Khối lượng hàng may
mặc mà các nước phát triển nhập khẩu từ các nước châu Á đang tăng lên rõ rệt trong thời gian
gần đây. Việt Nam lại nằm trong khu vực có kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc lớn nhất thế
giới, đồng thời có nhiều ưu thế về nguồn nhân cơng, về vị trí địa lý có thể phát triển mạnh

hoạt động xuất khẩu hàng may mặc. Trong các thị trường nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam
thì châu Âu được đánh giá là một trong những thị trường rộng lớn, tiềm năng cho phát triển
xuất khẩu hàng may mặc Việt Nam. Việc xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường
này trong những năm gần đây đã có những bước tiến mạnh mẽ.
Tuy nhiên, việc xuất khẩu hàng may mặc Việt Nam vào thị trường EU còn tồn tại nhiều
hạn chế và khó khăn. Để phát triển hơn nữa việc xuất khẩu ngành may mặc Việt Nam vào thị
trường EU cần các giải pháp phù hợp với hội nhập quốc tế nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu
hàng may mặc đối với các doanh nghiệp trong nước.
Do vậy, nhóm chúng em chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng
may mặc Việt Nam sang thị trường EU” làm đề tài thảo luận.
Bài thảo luận của chúng em khó tránh khỏi thiếu xót, hạn chế trong q trình nghiên cứu
do trình độ và kinh nghiệm thực tiễn cịn hạn chế. Vì thế nhóm em mong nhận được sự đóng
góp ý kiến q báu của Cơ và của các bạn trong lớp để bài thảo luận của chúng em được hồn
thiện hơn.
Cuối cùng, nhóm 16 chúng em xin chân thành cảm ơn Cô cùng các bạn trong lớp.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: (1) Xác định khung lý thuyết cho nghiên cứu; (2) Phân
tích thực xuất khẩu hàng may mặc Việt Nam sang thị trường EU; (3) Đề xuất giải pháp thúc
đẩy hoạt động xuất khẩu hàng may mặc Việt Nam sang thị trường EU.


Chương I. Cơ sở lí luận về Xuất khẩu
I. Một số khái niệm
* Khái niệm xuất khẩu
“Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào
khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy
định của pháp luật” (Theo quy định tại Điều 28 Luật Thương mại Việt Nam 2005).
Xuất nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế. Xuất khẩu là
hoạt động bán hàng hoá ra nước ngồi, nó khơng phải là hành vi bán hàng riêng lẻ mà là hệ
thống bán hàng có tổ chức cả bên trong lẫn bên ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy sản
xuất hàng hóa phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bước nâng cao mức sống

của nhân dân.
* Khái niệm thúc đẩy xuất khẩu
Thúc đẩy xuất khẩu là một phương thức thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa mà trong đó nó bao
gồm tất cả các biện pháp, chính sách, cách thức… của Nhà nước và các doanh nghiệp xuất
khẩu nhằm tạo ra các cơ hội và khả năng để tăng giá trị cũng như sản lượng của mặt hàng
được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.
II. Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu
Thứ nhất: khách hàng trong hoạt động xuất khẩu là người nước ngồi. Do đó, khi muốn
phục vụ họ, nhà xuất khẩu không thể áp dụng các biện pháp giống hoàn toàn như khi chinh
phục khách hàng trong nước bởi vì giữa hai loại khách hàng này có nhiều điểm khác biệt về
ngôn ngữ, lối sống, mức sống, phong tục tập quán… Điều này sẽ dẫn đến những khác biệt
trong nhu cầu và cách thức thỏa mãn nhu cầu. Vì vậy nhà xuất khẩu cần phải có sự nghiên
cứu sâu hơn để tìm hiểu nhu cầu khách hàng nước ngồi để đưa ra những hàng hóa phù hợp.
Thứ hai: thị trường trong kinh doanh xuất khẩu thường phức tạp và khó tiếp cận hơn thị
trường kinh doanh trong nước bởi vì thị trường xuất khẩu vượt ra ngồi phạm vi biên giới
quốc gia nên về mặt địa lý thì nó ở cách xa hơn phức tạp hơn và có nhiều nhân tố ràng buộc
hơn.


Thứ ba: hình thức mua hàng trong hoạt động xuất khẩu thường là mua bán qua hợp đồng
xuất khẩu với khối lượng mua lớn mới có hiệu quả.
Thứ Tư: các nghiệp vụ liên quan đến hoạt động xuất khẩu như thanh toán vận chuyển ký
kết hợp đồng đều phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro hơn.
➢ Nói tóm lại hoạt động xuất khẩu là sự mở rộng quan hệ bn bán trong nước ra ngồi
nước, điều này thể hiện sự phức tạp của nó hoạt động xuất khẩu có thể đem lại hiệu quả cao
hơn hoạt động kinh doanh trong nước nhưng cũng chứa đựng nhiều rủi ro hơn.
III. Vai trò của xuất khẩu
* Vai trò đối nền kinh tế quốc gia:
Xuất khẩu là một trong những hoạt động thương mại góp phần thúc đẩy tăng trưởng, phát
triển kinh tế của quốc gia. Tại các quốc gia đang phát triển có nguồn tài nguyên thiên phong

phú, nguồn nhân lực dồi dào, xong lại thiếu vốn, kỹ thuật công nghệ thấp, lạc hậu. Do đó
ngồi việc tăng cường thu hút đầu tư từ bên ngồi, các quốc gia cịn đẩy mạnh các hoạt động
xuất nhập khẩu, trong đó hoạt động xuất khẩu đóng vai trị lớn, cụ thể:
- Xuất khẩu góp phần làm tăng nguồn dự trữ ngoại tệ đất nước, đặc biệt đối với các quốc
gia phát triển nó góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế . Xuất khẩu giúp cải thiện thanh
toán quốc tế quốc gia. Khi cán cân thương mại một quốc gia thặng dư chứng tỏ dự trữ ngoại
tệ quốc gia hoặc hoạt động bình ổn hối đối quốc gia tốt. Hoạt động xuất khẩu diễn ra mạnh
mẽ hơn hoạt động nhập khẩu. Điều này làm tăng khả năng cạnh tranh của quốc gia trên thị
trường, nâng cao khả năng sản xuất và tăng trưởng kinh tế quốc gia.
- Xuất khẩu giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển sản xuất đất nước. Dưới tác
động của hoạt động xuất khẩu, cơ cấu sản xuất, tiêu dùng của quốc gia thay đổi mạnh mẽ.
- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy quan hệ giữa các quốc gia. Xuất khẩu làm
cho các nước xích lại gần nhau hơn. Khi xuất khẩu phát triển sẽ tạo điều kiện cho các quan hệ
khá phát triển theo như: Du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế, vận tải hàng hóa quốc tế…Khơng
những vậy xuất khẩu cịn tạo điều kiện cho quốc gia có thể phát huy tối đa lợi thế và tiềm năng
của mình, đồng thời trên cơ sở đó quốc gia sẽ sử dụng hiệu quả nguồn lực, khai thác các lợi
thế của mình, từ đó tăng vị thế quốc gia trên thị trường thế giới.


- Ngồi ra xuất khẩu cịn đóng vai trị trong việc tạo công ăn việc làm, tạo nguồn thu cho
nguời lao động trong ngành. Xuất khẩu tạo nguồn vốn để quốc gia nhập khẩu phục vụ cho q
trình cơng nghiệp hóa đất nước.
* Vai trị đối với doanh nghiệp xuất khẩu:
Hoạt động xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ đem lại cho doanh nghiệp nhiều lợi ích: Tạo
nguồn thu cho doanh nghiệp, đặc biệt là đối với doanh nghiệp xuất khẩu. Các doanh nghiệp
này sau khi thực hiện hoạt động sản xuất sẽ xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ ra bên ngồi. Doanh
nghiệp có cơ hội tham gia vào cạnh tranh trên thị trường, thậm chí tăng khả năng cạnh tranh
của mình trên thị trường về giá, về chất lượng sản phẩm. Xuất khẩu giúp mở rộng ra cho doanh
nghiệp thị trường tiêu thụ. Khi bước vào kinh doanh trên thị trường doanh nghiệp cần phải
không ngừng đổi mới về công nghệ, công tác quản lý, đồng thời cải thiện nguồn vốn đầu tư,

mở rộng hoạt động sản xuất. Nhiều doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu lâu đời, thông
qua hoạt động xuất khẩu sẽ mở rộng thị trường xuất khẩu, mở rộng mặt hàng xuất khẩu.
IV. Hình thức Xuất khẩu
Xuất khẩu hàng hóa là một hoạt động phong phú, đa dạng và phức tạp. Mỗi hình thức
xuất khẩu có những đặc điểm khác nhau. Dưới đây là một số hình thức mà các doanh nghiệp
thường lựa chọn:
Xuất khẩu trực tiếp: đây là hình thức mà người bán (các doanh nghiệp xuất khẩu) trực
tiếp giao dịch bán hàng cho người mua (các doanh nghiệp nhập khẩu). Với hình thức này, các
doanh nghiệp có thể liên hệ trực tiếp với khách hàng, tận dụng hết được tiềm năng lợi thế nên
có thể chủ động trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đồng thời cũng phải tự tiến hành thực
hiện tất cả các khâu. Vì vậy doanh nghiệp có thể thu về lợi nhuận lớn do không phải phân chia
cho các trung gian nhưng đồng nghĩa với việc phải chịu rủi ro lớn hơn.
Xuất khẩu gián tiếp: đây là hình thức xuất khẩu mà doanh nghiệp xuất khẩu ủy thác cho
các thương nhân là các trung gian xuất khẩu làm thay mình một số thủ tục cần thiết để xuất
khẩu hàng hóa. Hình thức này có mức độ rủi ro thấp, giúp cho giao dịch diễn ra nhanh vì hầu
hết các trung gian là những người có trình độ chuyên môn cao trong hoạt động xuất khẩu;
nhưng lợi nhuận sẽ bị chia nhỏ vì có sự tham gia của trung gian.


Buôn bán đối lưu: đây là phương thức giao dịch mà xuất khẩu gắn liền với nhập khẩu,
người xuất cũng đồng thời là người nhập trong một lần giao dịch. Mục đích là tạo sự cân bằng
về ngoại tệ của mỗi bên, cùng tạo cân bằng trong cán cân thanh toán. Ưu điểm là mức độ rủi
ro thấp, khai thác được nguồn lao động nguyên vật liệu phụ trợ trong nước. Nhược điểm là lợi
nhuận thấp, khả năng tiếp cận thị trường mới hạn chế.
Tạm nhập tái xuất: đây là hình thức xuất khẩu mà hàng hóa đi từ nước xuất khẩu sang
nước tái xuất rồi từ nước tái xuất được chuyển sang nước nhập khẩu, ngược với luồng đi của
hàng hóa là luống đi của dịng tiền. Quốc gia tái xuất có thể coi là quốc gia kinh doanh dịch
vụ xuất khẩu mặc dù họ không trực tiếp sản xuất hàng hóa.
Xuất khẩu tại chỗ: hàng hóa khơng cần nhất thiết phải đi qua biên giới lãnh thổ mà bán
ngay cho các cá nhân, tổ chức có quốc tịch nước ngoài ngay trên lãnh thổ của quốc gia xuất

khẩu. Hình thức này sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được một khoản chi phí rất lớn do khơng
phải làm các thủ tục hải quan, mua bảo hiểm, thuê giao nhận vận tải và giảm thiểu được rủi
ro cho nhà xuất khẩu do tránh được sự khác biệt về văn hóa, ngơn ngữ.
Gia cơng xuất khẩu: đây là hình thức xuất khẩu mà một bên (bên nhận gia công) nhận
nguyên liệu, bán thành phẩm, có thể là máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất và sản xuất xuất
khẩu lại cho bên kia (bên đặt gia cơng). Hình thức này tận dụng được lao động, mang tính phổ
thơng, tính rủi ro thấp; nhưng mang về lợi nhuận ít.
V. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu
* Nhân tố khách quan
Nhân tố khách quan là những nhân tố bên ngồi mà doanh nghiệp khơng kiểm sốt được.
Do đó để đạt được kết quả cao trong hoạt động xuất khẩu, doanh nghiệp cần tìm ra những biện
pháp nhằm thích ứng với những thay đổi, những tác động từ nhân tố này. Nhóm nhân tố này
bao gồm: nhân tố quốc tế và nhân tố quốc gia.
Nhân tố quốc tế
+ Rào cản thương mại tại các thị trường: Rào cản thương mại thị trường bao gồm hệ
thống thuế quan, và hệ thống phi thuế quan. Hai hệ thống này không chỉ ngăn hàng hóa từ bên
ngồi tràn vào thị trường, mà cịn phù hợp trong bảo hộ nền kinh tế cùng các doanh nghiệp
sản xuất trong nước. Hiện nay, trong quá trình hội nhập, tồn cầu hố, mậu dịch tự do là chính
sách kinh tế mà các quốc gia ưu tiên nhằm mở cửa, phát triển kinh tế đất nước. Sự phối hợp


giữa các quốc gia trong việc giảm bớt rào cản đối với hàng hóa từ các quốc gia khác. Xong
khơng vì thế mà doanh nghiệp xuất khẩu dễ dàng thâm nhập thành công vào thị trường quốc
tế. Bên cạnh những quốc gia đã mở cửa hồn tồn vẫn cịn rất nhiều thị trường mà rào cản
thương mại tồn tại khá nặng. Xu hướng hiện nay các quốc gia cắt giảm, miễn thuế, xong lại
dựng nên các rào cản về tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn an toàn sử dụng…Đồng thời thế giới
ngày càng có nhiều liên minh kinh tế tại các châu lục, khu vực. Một khi doanh nghiệp tại quốc
gia khơng phải là thành viên sẽ gặp nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh trên các thị
trường. Chính vì thế mà khi doanh nghiệp quyết định mở rộng thị trường xuất khẩu cần phải
tính tới sự tác động, ảnh hưởng của nhóm nhân tố này.

+ Tính cạnh tranh trên thị trường: Khi tiến hành kinh doanh trên bất kỳ thị trường nào,
doanh nghiệp phải đối phó với sự cạnh tranh từ nhiều phía. Trước tiên, phải nói tới các doanh
nghiệp trong nước đang hoạt động trên thị trường. Những doanh nghiệp này có lợi thế khi
được chơi trên sân nhà, nhận được sự hậu thuẫn từ các doanh nghiệp khác trong nước, từ phía
nhà nước...Tiếp theo là các doanh nghiệp xuất khẩu đến từ các quốc gia khác kinh doanh trên
thị trường. Những doanh nghiệp này có tiềm lực về tài chính cũng như các mặt về nhân
lực…Đây là những đối thủ cạnh tranh hiện tại đang kinh doanh, hiện diện trên thị trường.
Doanh nghiệp cũng sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh từ doanh nghiệp đang xúc tiến thâm
nhập vào thị trường trong tương lai.
+ Nhu cầu và yêu cầu về sản phẩm trên thị trường: Nhân tố này ảnh hưởng tới quyết
định cung ứng số lượng sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường, đồng thời ảnh hưởng trực
tiếp tới hoạt động mở rộng thị trường xuất khẩu doanh nghiệp. Nhu cầu về sản phẩm ở từng
thị trường có mức độ khác nhau. Tại từng thị trường, thị hiếu của khách hàng cũng khác nhau.
Với những thị trường có nhu cầu sử dụng lớn, doanh nghiệp cần lưu tâm bởi đây là những thị
trường nằm trong chiến lược thị trường của doanh nghiệp. Một khi nắm bắt tốt nhu cầu, thị
hiếu, yêu cầu cùng những thông tin khác về khách hàng doanh nghiệp sẽ chủ động và hoạt
động mở rộng thị trường xuất khẩu cũng như cung ứng sản phẩm.
+ Các nhân tố khác: Ngoài những nhân tố trên cịn có những yếu tố về mơi trường chính
trị, luật pháp, tình hình kinh tế quốc gia cũng như những biến động chung trên thị trường.
Nhân tố văn hoá ảnh hưởng lớn tới hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp.

Nhân tố quốc gia


+ Quy định quốc gia về xuất khẩu: Nhân tố này tác động tới hoạt động xuất khẩu của
doanh nghiệp theo nhiều hướng khác nhau. Đây là khung pháp lý ràng buộc các doanh nghiệp
phải tuân theo trong quá trình kinh doanh. Một khi những quy định rườm rà, chồng chéo, phức
tạp sẽ gây cản trở tới doanh nghiệp khi tham gia mở rộng thị trường xuất khẩu. Một số quy
định liên quan tới xuất khẩu: quy định về thuế xuất khẩu (nhiều quốc gia đang trong tiến trình
cắt giảm thuế nhằm khuyến khích xuất khẩu), chính sách tài chính, tín dụng, quy định về quy

hoạch vùng nguyên liệu, quy định về sử dụng lao động…)
+ Chiến lược phát triển của ngành: Với những doanh nghiệp hoạt động trong ngành
nằm trong chiến lược phát triển ngành sẽ được tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động xuất
khẩu và các hoạt động khác. Bởi mỗi ngành xuất khẩu luôn chú trọng tới việc nâng cao sức
cạnh tranh của ngành trên thị trường. Muốn vậy ngành đó phải xây dựng những chiến lược
phát triển ngành, thực hiện chiến lược một cách hiệu quả.
+ Tiềm năng của ngành: Đó là những nhân tố về nguyên, nhiên liệu, yếu tố về khí hậu
ảnh hưởng tới việc cung ứng nguyên liệu, những nhân tố này ảnh hưởng tới việc cung ứng
cho sản xuất. Chất lượng nguyên, nhiên liệu ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng sản phẩm.
Từ đó, ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Ngoài ra các yếu tố về cơ sở hạ
tầng, kỹ thuật, kiến trúc thượng tần, thông tin ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động xuất khẩu của
doanh nghiệp. Bởi nó ảnh hưởng tới phản ứng của doanh nghiệp trước thay đổi, biến động
trên thị trường.
* Nhân tố chủ quan
Nhân tố chủ quan là những nhân tố bên trong doanh nghiệp, đây là những nhân tố phản
ánh khả năng về sản xuất, kinh doanh, cạnh tranh của doanh nghiệp. Nhóm nhân tố này ảnh
hưởng và tác động lớn tới hoạt động mở rộng thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp.
VI. Hiệp định EVFTA và tác động của Hiệp định EVFTA đến xuất khẩu
- EVFTA là một Hiệp định tồn diện, chất lượng cao, cân bằng về lợi ích cho cả Việt
Nam và EU, đồng thời phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
- Hiệp định gồm 17 Chương, 2 Nghị định thư và một số biên bản ghi nhớ kèm theo với
các nội dung chính là: thương mại hàng hóa (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị
trường), quy tắc xuất xứ, hải quan và thuận lợi hóa thương mại, các biện pháp vệ sinh an toàn


thực phẩm (SPS), các rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT), thương mại dịch vụ (gồm các
quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), đầu tư, phòng vệ thương mại, cạnh tranh,
doanh nghiệp nhà nước, mua sắm của Chính phủ, sở hữu trí tuệ, thương mại và Phát triển bền
vững, hợp tác và xây dựng năng lực, các vấn đề pháp lý-thể chế.
- Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) là một FTA thế hệ mới giữa Việt

Nam và 27 nước thành viên EU. EVFTA, cùng với Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ
Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), là hai FTA có phạm vi cam kết rộng và mức độ cam kết
cao nhất của Việt Nam từ trước tới nay. Ngày 01/12/2015, EVFTA đã chính thức kết thúc
đàm phán và đến ngày 01/02/2016, văn bản hiệp định được công bố. Ngày 26/06/2018, một
bước đi mới của EVFTA được thống nhất. Theo đó, EVFTA được tách làm hai Hiệp định,
một là Hiệp định Thương mại (EVFTA), và một là Hiệp định Bảo hộ Đầu tư (EVIPA); đồng
thời chính thức kết thúc quá trình rà sốt pháp lý đối với Hiệp định EVFTA. Tháng 08/2018,
q trình rà sốt pháp lý đối với EVIPA cũng được hoàn tất. Hai Hiệp định được ký kết ngày
30/06/2019. EVFTA và EVIPA được phê chuẩn bởi Nghị viện châu Âu vào ngày 12/2/2020,
và được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn vào ngày 8/6/2020. Ngày 30/3/2020, Hội đồng châu
Âu cũng đã thông qua EVFTA. Đối với EVFTA, do đã hồn tất thủ tục phê chuẩn, Hiệp định
này đã chính thức có hiệu lực từ ngày 1/8/2020. Đối với EVIPA, về phía EU, Hiệp định sẽ
cịn phải được sự phê chuẩn tiếp bởi Nghị viện của tất cả 27 nước thành viên EU (sau khi
Vương quốc Anh hoàn tất Brexit) mới có hiệu lực.
- Hiệp định EVFTA cũng bao gồm các Chương liên quan tới hợp tác và xây dựng năng
lực, pháp lý- thể chế, chính sách cạnh tranh và trợ cấp. Các nội dung này phù hợp với hệ thống
pháp luật của Việt Nam, tạo khuôn khổ pháp lý để hai bên tăng cường hợp tác, thúc đẩy sự
phát triển của thương mại và đầu tư giữa hai bên.
* Cơ hội đối với xuất khẩu của Việt Nam khi hiệp định EVFTA có hiệu lực.
1. Thứ nhất, EVFTA có tác động tích cực đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh và
công tác phát triển thị trường xuất khẩu:
- Hiệp định EVFTA được lí kết sẽ giúp hàng xuất khẩu của Việt Nam có sức cạnh tranh
lớn so với hàng hóa cùng chủng loại từ các nước đối thủ cạnh tranh.


- Hiệp định EVFTA sẽ là cú hích rất lớn cho xuất khẩu của Việt Nam, giúp đa dạng hóa
thị trường và mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là các mặt hàng Việt Nam vốn có lợi thế cạnh tranh.
Những cam kết dành đối xử cân bằng, bình đẳng, bảo hộ an toàn và đầy đủ cho các khoản đầu
tư và nhà đầu tư của nhau trong hiệp định IPA cũng sẽ góp phần tích cực vào việc xây dựng
mơi trường pháp lí và đầu tư minh bạch, từ đó Việt Nam sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư hơn đến

từ EU và các nước khác.
2. Thứ hai, EVFTA đảm bảo an ninh kinh tế của Việt Nam:
Xét về tổng thể, EVFTA sẽ góp phần giúp đa dạng hóa thị trường để không bị phụ thuộc
quá nhiều vào một thị trường nào, từ đó giúp bảo đảm an ninh kinh tế của Việt Nam
3. Thứ ba, EVFTA tạo điều kiện cơ cấu lại thị trường xuất khẩu, nhập:
EVFTA sẽ giúp doanh nghiệp có điều kiện thâm nhập, khai thác các thị trường mới, thị
trường có nhiều tiềm năng cho xuất khẩu Việt Nam.
4. Thứ tư, EVFTA tạo cơ hội tham gia chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu:
+ EVFTA là điều kiện quan trọng để nâng tầm trình độ phát triển của nền kinh tế, tăng
năng suất lao động, giảm dần việc gia công lắp ráp, tham gia vào các cơng đoạn sản xuất có
giá trị gia tăng cao hơn, từ đó bước sang giai đoạn phát triển các ngành điện tử, công nghệ
cao, sản phẩm nông nghiệp xanh…
+ Hiệp định EVFTA khơng chỉ xóa bỏ thuế quan, Hiệp định cịn có cơ chế hiệu quả giúp
xúc tiến xuất khẩu của Việt Nam như:
✓ Cam kết về thương mại hàng hóa: EVFTA có cam kết về mở cửa thị trường thơng qua
cắt giảm hoặc xóa bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan.
✓ Cam kết về quy tắc xuất xứ: Cam kết của EVFTA liên quan đến nội dung này gồm có
2 phần chính là (i): Các quy định chung về quy tắc xuất xứ và (ii): Quy tắc cụ thể mặt hàng
(PSR: Product specific rules). Đối với các quy định chung về quy tắc xuất xứ: trong mục này
EVFTA có điều khoản đáng lưu ý về cơ chế tự chứng nhận xuất xứ. Ngoài cấp Giấy chứng
nhận truyền thống (C/O: Certificate of Origin), hai bên cho phép nhà xuất khẩu được tự chứng
nhận xuất xứ với mẫu C/O được sử dụng chung cho cả hai bên.
+ Nguồn vốn đầu tư nước ngoài để tận dụng EVFTA hứa hẹn mang lại cơ hội hợp tác về
vốn, chuyển giao công nghệ và phương thức quản lý hiện đại, hiệu quả hơn cho doanh nghiệp
Việt Nam.


5. Thứ năm, tăng cường vị thế của các DN Việt Nam trên thị trường thế giới.
Đối với xuất khẩu của Việt Nam, ngay khi EVFTA có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập
khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt

Nam sang EU. Sau 7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối
với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đối với
khoảng 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế
quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%.
* Thách thức từ EVFTA đối với xuất khẩu.
Thứ nhất, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải vượt qua các yêu cầu bắt buộc về rào cản
kĩ thuật như an tồn thực phẩm, dán nhãn, mơi trường…của EU. Các quy định này rất chặt
chẽ, yêu cầu cao, do vậy hàng hóa Việt Nam phải hồn thiện nhiều về chất lượng để có thể
vượt qua các rào cản này.
Thứ hai, hàng hóa Việt Nam cần đáp ứng tiêu chí xuất xứ mới có thể được hưởng thuế

nhập khẩu ưu đãi theo EVFTA. Tuy nhiên, cũng nhưu sức ép cạnh tranh, đây vừa là thách
thức cũng vừa là động lực để thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, giá trị gia tăng
trong sản xuất xuất khẩu.
Thứ ba, có nhiều thể chế pháp lý quy định hơn và phức tạp hơn: Hiệp định EVFTA bao
gồm những quy định, quy tắc chặt chẽ về thủ tục đầu tư, hải quan, thuận lợi hóa thương mại,
tiêu chuẩn kỹ thuật, các biện pháp kiểm dịch động, thực vật, sở hữu trí tuệ… địi hỏi các DN
Việt Nam cần nắm rõ và áp dụng linh hoạt, trung thực theo quy định.

Chương 2: Vài nét về thị trường Châu Âu (EU)
I. Sự hình thành và phát triển của Liên minh Châu Âu (EU)
Liên minh Châu Âu hay còn gọi là Liên hiệp Châu Âu – European Union, “là một liên
minh chính trị và kinh tế”, thành lập bởi 27 quốc gia tại Châu Âu.
Ban đầu, ngày 18 tháng 4 năm 1951 “Cộng đồng than và thép Châu Âu” (ECSC) được
thành lập với sáu nước thành viên là Pháp, Đức, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg, và Italia. Đây là


cột mốc đầu tiên đánh dấu Châu Âu bắt đầu tập họp lại một cách lành mạnh về tổ chức. Tuy
nhiên tiến trình liên kết Châu Âu chỉ thực sự bắt đầu khi đại diện sáu nước thành viên ECSC
ký các hiệp định Roma vào năm 1957 chính thức thành lập “Cộng đồng kinh tế Châu Âu”

(EEC) và “Cộng đồng năng lượng nguyên tử Châu Âu” (Euratom) với tư tưởng trung tâm là
hình thành một thị trường rộng lớn ở Châu Âu coi như một công cụ phối hợp và hồ nhập các
chính sách kinh tế của các nước thành viên. Đến năm 1967, ba tổ chức trên hợp nhất thành
“Cộng đồng Châu Âu” (EC). Tháng 12 – 1991 các nước EC đã kí tại Hà Lan bản Hiệp ước
Maastricht mở đầu cho sự thống nhất kính tế - tiền tề, chính trị, an ninh quốc phịng giữa các
thành viên EU. Ngày 01/01/1993, hiệp ước Maastricht bắt đầu có hiệu lực, cũng chính là ngày
thị trường chung Châu Âu được chính thức hình thành thơng qua việc hủy bỏ các đường biên
giới nội bộ trong liên minh. Ngày 01/01/1999 đồng tiền chung châu Âu chính thức ra đời và
hiện nay được sử dụng ở 19 trong số 27 nước thành viên.
Chính vì sự ra đời và ngày càng phát triển mạnh mẽ như vậy nên Liên minh châu Âu là
tổ chức liên kết khu vực lớn nhất thế giới hiện nay.
Khi bỏ qua ranh giới quốc gia và nghiên cứu về EU là một nền kinh tế thống nhất. Trong
khi tổng diện tích các nước EU chỉ chiếm 2.2% diện tích lục địa. Và tổng dân số khu vực này
chiếm 7.1% tổng dân số thế giới, thế nhưng đóng góp 30,9% GDP của thế giới năm 2004,
đứng đầu toàn cầu vào thời gian này. Đến năm 2020, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ở Liên
minh châu Âu trị giá 15192,65 tỷ USD, theo dữ liệu chính thức từ Ngân hàng Thế giới. Giá
trị GDP của Liên minh Châu Âu chiếm 13,46% nền kinh tế thế giới.
II. Các quy định, tiêu chuẩn kĩ thuật để xuất khẩu ngành hàng may mặc vào EU
Dưới đấy là các quy định, tiêu chuẩn hiện hành:
✓ Tính an tồn sản phẩm
Mọi sản phẩm lưu hành tại châu Âu phải đảm bảo tuân thủ các quy định trong Chỉ thị
chung về An toàn Sản phẩm (The European Union General Product Safety Directive) số
2001/95/EC, ngày 03/12/2001. Ngoài ra, một số sản phẩm dệt may cụ thể có áp dụng các yêu
cầu an toàn riêng. Nếu sản phẩm của doanh nghiệp bị coi là khơng an tồn sẽ bị từ chối hoặc
rút khỏi thị trường châu Âu.
✓ Quy định về Đăng ký, đánh giá, cấp phép và hạn chế hóa chất (REACH)
Châu Âu áp dụng Quy định pháp lý phổ biến nhất cho các sản phẩm may mặc xuất khẩu
sang EU REACH số 1907/2006 ngày 18/12/2006. Quy định này hạn chế sử dụng nhiều loại



hóa chất trong dệt may và da. Việc sử dụng các hóa chất trong may mặc bị hạn chế bởi các
giới hạn về lượng (mg hoặc kg) hoặc bị cấm hồn tồn.
Tại một số nước EU có quy định quốc gia bổ sung về các hóa chất cụ thể. Ví dụ: Áo,
Phần Lan, Đức, Na Uy và Hà Lan có các quy định cụ thể đối với formaldehyd trong hàng dệt
may; Áo, Đan Mạch, Đức và Hà Lan cũng có các quy định cụ thể đối với PCP; trong khi Đức
cũng có các quy định về phân tán thuốc nhuộm trong dệt may; Thụy Sĩ có quy định riêng về
hóa chất ORRChem.
Quy định REACH được cập nhật hai lần một năm. Bản cập nhật mới nhất của REACH
sẽ hạ thấp giới hạn hạn chế của 33 hóa chất được coi là gây ung thư, gây đột biến hoặc gây
độc cho sinh sản. Quy định mới có hiệu lực vào ngày 01/11/ 2020.
✓ Hạn chế sử dụng một số chất hóa học trong sản phẩm
Quy định EC số 1907/2006, ngày 18/12/2006 nghiêm cấm hoặc hạn chế các chất sau
trong quá trình sản xuất hoặc thành phẩm dệt may: Tris (2,3 dilbromopropyl) phosphate, Tris
(aziridinyl) phosphinoxide, PBB, mercury, Dioctyltin (DOT), Nickel, Azodyes, Nonylphenol
ethoxylates, Chromium VI, PAH, PFOA và một vài chất khác.
Quy định EU số 2019/1021, ngày 20/6/2019 cũng cấm các chất ô nhiễm môi trường
nghiêm

trọng

trong

các

sản

phẩm

dệt


may

như

Tetrabromodiphenyl

ether,

Pentabromodiphenyl ether... Ngoại trừ những sản phẩm diệt khuẩn được cho phép trong Quy
định EU số 528/2012, ngày 22/5/2012, khơng có chất diệt khuẩn nào khác được dùng trong
sản phẩm.
Ngoại trừ những sản phẩm diệt khuẩn được cho phép trong Quy định EU số 528/2012,
ngày 22/5/2012, khơng có chất diệt khuẩn nào khác được dùng trong sản phẩm.
✓ Chất diệt khuẩn
Nếu doanh nghiệp thêm chất diệt khuẩn vào đồ may mặc để bảo vệ con người, động vật
nhằm ngăn chặn các sinh vật gây hại như vi khuẩn, sâu bệnh thì phải tuân thủ Quy định sản
phẩm chất diệt khuẩn sinh vật châu Âu (BPR), cũng như REACH.
✓ Các hợp chất hữu cơ bền
Việc sử dụng các hợp chất hữu cơ bền (POPs) cũng bị cấm, mặc dù trong đa số trường
hợp không được quy định trong REACH mà được quy định trong Công ước Stockholm (Quy
định EU số 2019/1021). POPs đôi khi được sử dụng để làm vải chống nước hoặc chống cháy,
hoặc trong công đoạn cuối cùng trong quá trình sản xuất da.
✓ Danh sách các chất hạn chế sử dụng (RSLs)


Ngoài quy định REACH, nhiều thương hiệu thời trang và nhà bán lẻ đã tự xây dựng danh
sách các chất hạn chế sử dụng (RSL) nghiêm ngặt hơn REACH. RSL dành riêng cho người
mua, thường được lấy từ Chương trình Mức thải hóa chất nguy hiểm bằng khơng về sử dụng
hóa chất an tồn (ZDHC). ZDHC là một nền tảng ra đời từ năm 2011 từ “Chiến dịch giảm
thiểu tối đa các chất nguy hại cho môi trường” bởi Greenpeace, nhằm mục đích thực hành

quản lý hóa chất an tồn hơn trong ngành may mặc.
✓ Yêu cầu đặc biệt về đồ may mặc cho trẻ con
EU có tiêu chuẩn cụ thể về an toàn trong đồ may mặc cho trẻ con bao gồm quy định nhằm
đảm bảo dây và dây rút được đặt một cách an toàn vào quần áo dành cho trẻ dưới 14 tuổi.
✓ Công ước CITES
Một số động thực vật được loại trừ hoàn toàn trong việc sử dụng đối với ngành may mặc;
một số khác bị hạn chế nhập khẩu.
Quy định EC số 338/97, ngày 09/12/1996 về bảo vệ động vật hoang dã, dựa trên Công
ước về bn bán quốc tế các lồi động vật và thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng
(CITES).
Cấm nhập khẩu các sản phẩm làm từ bộ phận da, lông hoặc da thú thô của con hải cẩu
theo Quy định EC số 1007/2009, ngày 16/9/2009.
Doanh nghiệp cần kiểm tra danh mục động vật thực vật nào bị hạn chế sử dụng trên trang
web của Văn phòng Trợ giúp Thương mại của Liên minh châu Âu- EU Trade Helpdesk.
✓ Yêu cầu riêng đối với vật liệu cơ sở
Việc sản xuất vật liệu cơ bản (sợi và phi dệt như da, lông) có tác động đến việc sử dụng
nước, hóa chất, năng lượng và ảnh hưởng tiêu cực đến yếu tố phúc lợi. Để giảm thiểu những
rủi ro này, nhà nhập khẩu có thể yêu cầu doanh nghiệp lấy nguồn nguyên liệu cơ bản từ nhà
cung cấp được chứng nhận. Các tiêu chuẩn và chứng nhận riêng sau đây là phổ biến nhất ở thị
trường châu Âu:
- BCI (Sáng kiến Bông Bền vững – Better Cotton Initiative): sáng kiến giúp cải thiện điều
kiện trồng bơng trên tồn cầu.
- GRS (Tiêu chuẩn Tái chế Toàn cầu): tiêu chuẩn về vật liệu tái chế, bao gồm các tiêu chí
trách nhiệm xã hội và mơi trường cũng như quản lý hóa chất.
- RDS (Responsible Down Standard) và RWS (Responsible Wool Standard): tiêu chuẩn
đảm bảo các tiêu chí bảo vệ động vật.
✓ Yêu cầu riêng cho việc sản xuất hàng may mặc


Một số tiêu chuẩn và chứng chỉ trong ngành dệt may nhằm khuyến khích đối xử cơng

bằng với người lao động trong ngành sản xuất hàng may mặc. Dưới đây là một số tiêu chuẩn
được yêu cầu phổ biến nhất bởi người mua châu Âu:
- BSCI (Sáng kiến Tuân thủ trách nhiệm xã hội trong kinh doanh). Đối với nhiều người
mua ở châu Âu, BSCI là chứng nhận phổ biến nhất và là một hệ thống quản lý chuỗi cung ứng
giúp các nhà sản xuất thúc đẩy tuân thủ trách nhiệm xã hội.
- Các tiêu chuẩn phổ biến khác đảm bảo quyền của người lao động là SA8000, ISO 26000,
FWF (Quỹ May mặc bình đẳng - Fair Wear Foundation) và Fairtrade.
- Một tiêu chuẩn quản lý môi trường phổ biến là ISO 14001.
✓ Giới hạn chất lượng ở mức chấp nhận (Acceptable Quality Limit)
Để đảm bảo chất lượng sản phẩm, người mua có thể đặt ra giới hạn về mức chất lượng
có thể được chấp nhận. Chẳng hạn: AQL 2.5 có nghĩa là người mua sẽ từ chối một lơ hàng
nếu hơn 2,5% tổng số lượng đặt hàng trong một số lần sản xuất bị lỗi. Khách hàng cũng đặt
tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm xác định mức độ của các tiêu chuẩn vật lý như: độ vón xơ
trên mặt vải, độ bền màu, lực xé, độ co dãn.
✓ Gắn nhãn CE (CE marking)
Một sản phẩm nếu gắn nhãn CE đồng nghĩa với việc nó có thể lưu thơng tự do trong thị
trường châu Âu, được pháp luật của EU cơng nhận. Khi một sản phẩm có dấu CE có nghĩa là
sản phẩm đó đáp ứng được các yêu cầu về an tồn, sức khoẻ, và bảo vệ mơi trường của EU.
Thiết bị bảo hộ cá nhân (PPE) như quần áo bảo hộ hay găng tay, cần phải tuân thủ theo
tiêu chuẩn an toàn của EU về thiết kế, sản xuất, sử dụng vật liệu, thử nghiệm và hướng dẫn sử
dụng liên quan đến PPE. Việc gắn nhãn CE vào các sản phẩm là dấu hiệu cho biết sản phẩm
phù hợp với các tiêu chuẩn an toàn cũng như hướng dẫn Blue Guide về việc phê duyệt chất
lượng đối với các sản phẩm gắn nhãn CE.
✓ Ghi nhãn
Việc giám sát và kiểm tra thành phần của sản phẩm phù hợp với thơng tin trên nhãn mác
có thể diễn ra ở bất kỳ giai đoạn nào của chuỗi tiếp thị. Nhãn mác phải bền, dễ đọc, dễ nhìn
và có ngơn ngữ của nước mà mặt hàng được bán cho người tiêu dùng.
Thuật ngữ “cotton linen union” được dành riêng cho các sản phẩm chỉ có sợi dọc bơng
ngun chất và sợi ngang lanh nguyên chất, trong đó tỷ lệ vải lanh chiếm không dưới 40%
tổng trọng lượng của vải.



Ghi nhãn nguồn gốc xuất xứ “Được sản xuất tại” (“Made in”) hoặc Nhãn chăm sóc (Care
label) chưa được yêu cầu theo quy định pháp luật tại EU. Tuy vậy, việc bổ sung Nhãn chăm
sóc vào sản phẩm may mặc rất được khuyến khích. Theo quy định của EU, các nhà sản xuất
chịu trách nhiệm đối với các sản phẩm bị lỗi theo Chỉ thị Trách nhiệm Sản phẩm (Product
Liability Directive) nếu doanh nghiệp không cung cấp thông tin này.
Tiêu chuẩn ISO 3758: 2012 là tiêu chuẩn phổ biến về nhãn chăm sóc. Các biểu tượng
Nhãn chăm sóc thuộc sở hữu của công ty GINETEX. Trong trường hợp xuất khẩu sang các
nước như Bỉ, Lúc-xăm-bua, Pháp và Thụy Sỹ, doanh nghiệp cần phải trả một khoản tiền cố
định cho GINETEX nếu muốn sử dụng các biểu tượng này.
✓ Quyền Sở hữu trí tuệ
Việc sử dụng bất hợp pháp các thương hiệu và mẫu thiết kế trong ngành may mặc được
coi là một mối đe dọa nghiêm trọng cho ngành thời trang châu Âu. Nếu doanh nghiệp bán các
thiết kế của mình tại thị trường châu Âu, họ phải đảm bảo khơng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ
(QSHTT). Các quyền này có thể áp dụng cho thiết kế của sản phẩm, thương hiệu hoặc bản vẽ
thiết kế được sử dụng. Nếu bên mua cung cấp mẫu thiết kế thì sẽ phải chịu trách nhiệm nếu
mặt hàng liên quan bị phát hiện vi phạm QSHTT.
Doanh nghiệp cần kiểm tra các trang web của Cơ quan Sở hữu trí tuệ của châu Âu
(EUIPO) và cập nhật các mẫu thiết kế, thương hiệu và kho dữ liệu lưu trữ các thiết kế được
bảo hộ sở hữu trí tuệ của châu Âu. Đối với dữ liệu về các thiết kế được bảo hộ ngoài EU,
doanh nghiệp có thể truy cập trang web của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO).
✓ Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
Hiện nay, nhiều nhà nhập khẩu ở châu Âu đang gia tăng yêu cầu của họ về trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp (CSR). Yêu cầu tối thiểu là doanh nghiệp sẽ ký một bộ quy tắc ứng
xử, trong đó tun bố rằng doanh nghiệp tơn trọng luật lao động, môi trường địa phương và
tránh tham nhũng. Ngồi ra, người mua có thể u cầu doanh nghiệp cung cấp chứng nhận
liên quan đến nguồn gốc của sản phẩm, tiền lương trả cho lao động nhà máy và cách thức xử
lý chất thải nhà máy. Các công ty từ Bắc Âu và Tây Âu được coi là tương đối nghiêm ngặt về
CSR và chất lượng sản phẩm.



Chương 3: Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam sang EU ngành may
mặc
I. Khái quát về ngành hàng may mặc của Việt Nam
1. Tổng quan ngành may mặc Việt Nam
Thời gian qua, ngành may mặc của Việt Nam đã liên tục phát triển với tốc độ tăng trưởng
cao. Cùng với đó, kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam cũng liên tục gia tăng
với mức tăng trưởng cao, thâm nhập vào nhiều thị trường lớn trên thế giới.
Trong giai đoạn 2016 – 2020, khả năng cạnh tranh của hàng may mặc Việt Nam không
ngừng được nâng cao, trong khi xuất khẩu hàng may mặc của toàn thị trường thế giới giảm
bình quân 0.26%/ năm thì xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam vẫn tăng trưởng bình quân
6.13%/ năm trong giai đoạn này. Trong bối cảnh đó, xuất khẩu hàng may mặc Trung Quốc
giảm bình quân 4.11%/ năm, Ấn Độ giảm 7.12%/ năm, Indonesia giảm 0.39%/ năm và xuất
khẩu của các thị trường cạnh tranh khác như Thổ Nhĩ Kỳ tăng bình quân 0.45%/ năm,
Bangladesh tăng 2.47%. Nhờ khả năng cạnh tranh của các sản phẩm may mặc Việt Nam không
ngừng được nâng lên, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam trong tổng
kim ngạch xuất khẩu của tồn thế giới khơng ngừng được tăng cao và tăng bền vững trong
giai đoạn 2016 – 2020. Năm 2020, tuy phải chịu ảnh hưởng từ đại dịch Covid 19 nhưng đây
vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, và trở thành quốc gia xuất khẩu mặt hàng
may mặc lớn thứ hai thế giới chỉ đứng sau Trung Quốc.
Thành quả trên là nhờ Việt Nam có nguồn lao động dồi dào, khéo tay, chi phí thấp tạo
nên lợi thế cạnh tranh trong sản phẩm may mặc; các doanh nghiệp Việt Nam đã xây dựng và
giữ được chữ tín trong kinh doanh với nhiều nhà nhập khẩu lớn; máy móc ngày càng được
đầu tư, cải tiến (hơn 90%), làm giảm công đoạn và nâng cao chất lượng để đáp ứng thị trường
khó tính như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản,... Tuy nhiên nếu phân tích sâu hơn thì ngành may mặc
Việt Nam cịn nhiều bất lợi, như phương thức gia công, công tác thiết kế mẫu, mốt chưa phát
triển, ngành dệt và các ngành phụ trợ còn yếu, phát triển chưa tương xứng với ngành may, cho
thấy ngành may mặc còn phụ thuộc nhiều vào nguyên phụ liệu nhập khẩu. Bên cạnh đó, hầu
hết các doanh nghiệp dệt may là vừa và nhỏ, khả năng huy động vốn đầu tư còn thấp, hạn chế.



Làm doanh nghiệp chưa đạt được hiệu quả nhờ quy mô, chỉ cung ứng được một thị trường
nhất định.
2. Doanh nghiệp và lao động trong ngành may mặc
Năm 2019 số doanh nghiệp trong ngành may mặc là 8655 doanh nghiệp, trong đó doanh
nghiệp FDI chỉ chiếm khoảng 25% về lượng nhưng đóng góp tới 60% kim ngạch xuất khẩu.
Thị phần xuất khẩu của doanh nghiệp may mặc Việt Nam chiếm tỉ trọng nhỏ. Trước thực tế
này, nhiều doanh nghiệp dệt may nội cho rằng, các cơ quan chức năng cần chọn lọc thu hút
đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực may mặc. Theo đó, cần ưu tiên thu hút đầu tư sản xuất
nguyên liệu để tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước hoàn thiện chuỗi cung ứng may
mặc, tận dụng tối đa lợi thế thuế xuất khẩu. Đồng thời, giúp doanh nghiệp may mặc trong
nước giảm nguy cơ cạnh tranh đối kháng với doanh nghiệp FDI đang đầu tư tại Việt Nam trên
thị trường xuất khẩu.
Năm 2019 số lao động trong ngành may mặc khoảng 1.598.372, trong đó khoảng 85% là
nữ với hơn 1,2 triệu lao động. Theo khảo sát từ bộ công thương, chất lượng lao động vẫn cịn
thấp chủ yếu là trình độ phổ thơng và trung cấp. Vì vậy, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực là yêu cầu cần thiết hiện nay để tăng năng lực sản xuất và cung ứng trên thị trường khi
Việt Nam đang được hưởng rất nhiều những ưu đãi về thuế khi tham gia các hiệp định như
EVFTA.
3. Tình hình sản xuất và xuất khẩu ngành may mặc
Là một ngành công nghiệp nhẹ, ngành may mặc xuất khẩu đã đem lại cho đất nước những
nguồn thặng dư đáng kể. Do vậy việc tăng cường xuất khẩu hàng may mặc là rất cần thiết,
phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới và yêu cầu của hoạt động xuất khẩu trong
nước.
Ngành may mặc góp phần đảm bảo nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, giải quyết một số
lượng lớn công ăn việc làm. Ở Việt Nam hiện nay, nhu cầu về may mặc đang ngày càng được
nâng cao; từ ăn chắc, mặc bền đang chuyển dần sang ăn ngon, mặc đẹp, hợp thời trang và hiện
đại. Do vậy việc phát triển ngành may mặc đang là một trong những ngành có triển vọng mang
lại hiệu quả cao. Mặt khác ngành may mặc cũng thu hút được một lượng nhân công lớn, tạo

việc làm, tạo phúc lợi cho xã hội.


Xu hướng chuyển dịch các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động trong đó có ngành
may mặc từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển. Lợi thế của ngành may mặc là
đòi hỏi một lượng vốn đầu tư tương đối ít (so với các ngành cơng nghiệp khác), phát huy hiệu
quả tương đối nhanh, giải quyết lao động xã hội phù hợp với bước đi ban đầu của các nước
đang phát triển.
Ngành may mặc Việt Nam có rất nhiều lợi thế như: Giá nhân cơng rẻ, trình độ tay nghề
của người lao động ở vào mức khá so với ở nơi khác. Điều này rất quan trọng vì nước ta hiện
nay có một lực lượng lao động nhàn rỗi khá lớn (nhất là lao động nữ) rất phù hợp với ngành
công nghiệp nhẹ, ngành sử dụng nhiều lao động này. Thêm vào đó, trong sản xuất hàng dệt
may chúng ta đảm bảo cung ứng được một phần nguyên liệu phụ do sản xuất trong nước,
không phụ thuộc hoàn toàn vào nhập khẩu.
3.1. Sản xuất hàng may mặc
Các sản phẩm ngành may mặc: sản phẩm của ngành rất đa dạng, đáp ứng nhu cầu xuất
khẩu. Những sản phẩm này được xuất khẩu sang các thị trường chính của Việt Nam như Mỹ,
EU, Nhật Bản là quần dài, quần short, áo jacket, áo sơ mi, áo bông, áo thun...
Theo báo cáo từ Bộ Công Thương, trong 6 tháng đầu năm 2021 chỉ số sản xuất của may
mặc tăng 9,1% (trong đó quần áo mặc thường ước đạt 1.882,9 triệu cái, tăng 9,7%)...
Ngành may mặc Việt Nam phụ thuộc và đơn đạt hàng từ nước ngoài: sở hữu lợi thế về
nguồn lao động dồi dào giá rẻ, thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài...
Ngành may mặc Việt Nam hiện nay đang gặp khó khăn về vấn đề lao động: nhiều cơng
nhân đã tìm được việc mới sau khi thất nghiệp, nhiều các khu công nghiệp mở ra đã thu hút
lao động ngành may mặc chuyển việc.
Một số doanh nghiệp tiêu biểu ngành may mặc:
STT

Doanh nghiệp


1

Tập đoàn dệt may Việt Nam

2

CTCP Đầu tư Và Thương mại TNG

3

CTCP Đầu tư – Dệt may – Thương mại Thành Công

4

CTCP sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu BÌnh Thạnh

5

CTCP dệt may Huế


3.2.Xuất khẩu ngành may mặc
Hàng may mặc sản xuất trong nước bao gồm 90% phục vụ xuất khẩu và 10% tiêu thụ
trong nước.
Theo thống kê mới nhất của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), năm 2020 các sản
phẩm may mặc “made in Vietnam” chiếm 6,4% thị phần thế giới, chỉ xếp sau Trung Quốc
31,6%, vượt trên Bangladesh (6,3%).
Trong thập kỷ qua, thị phần của Việt Nam trên thị trường xuất khẩu hàng may mặc toàn
cầu đã tăng mạnh, chỉ mười năm trước Bangladesh vẫn còn chiếm ưu thế lớn hơn 85%, vào
năm 2020 thị phần của quốc gia này đã giảm từ 6,8% xuống còn 6,3%, xếp sau Việt Nam,

trang Fashionunited của Anh khẳng định.
Theo đánh giá thống kê thương mại Thế giới năm 2021 của WTO, hàng may mặc “made
in Vietnam” chiếm 6,4%, tăng rất nhanh so với mức 2,9% của năm 2010.
Năm 2018, kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc đạt 28,78 tỷ USD, tăng 14,45%, đạt
31,48 tỷ USD vào năm 2019, nhưng đến năm 2020 còn 28,59 tỷ USD (giảm 9,19%) do đại
dịch COVID-19.
Giá trị xuất khẩu hàng may mặc thị trường thế giới
2020 (tỷ USD)
160

142

140
120
100
80
60
40

20

29

28
15

13

10


8

8

8

0

Trong nửa đầu năm 2021, xuất khẩu đạt 14,96 tỷ USD so với mức trung bình hàng tháng
là 2,49 tỷ USD, tăng 4,65% so với mức trung bình hàng tháng vào năm 2020.
Hàng may mặc của Việt Nam được xuất khẩu chủ yếu sang Mỹ (chiếm đến 45%-50% giá
trị xuất khẩu hàng may mặc), chiếm 15%- 19% thị phần nhập khẩu hàng may mặc vào Mỹ,


sau Trung Quốc. Năm 2020, giá trị xuất khẩu sang Mỹ đạt 14 tỷ USD, trong khi hết 7T.2021,
con số này là 7,6 tỷ USD. Hàng may mặc của Việt Nam xuất khẩu chủ yếu vào 3 thị trường
là Mỹ, EU, Nhật Bản. Điều này cho thấy hàng may mặc Việt Nam trong tương lai cần duy trì
mức độ thâm nhập tại thị trường này, đồng thời mở rộng thâm nhập vào các thị trường khác
để tránh rủi do từ các thị trường chính. Hiện nay, thị trường xuất khẩu may mặc có xu hướng
phân hóa đa dạng hơn, trong đó tỷ trọng xuất khẩu xuất khẩu sang Eu, Trung Quốc, Úc… tăng
nhẹ.
Hiện nay, hàng dệt may của Việt Nam đã có mặt tại trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ,
tăng mạnh so với con số 150 của năm 2016. Bên cạnh việc giữ vững, đạt mức tăng trưởng tốt
ở những thị trường xuất khẩu chính như: Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, ngành dệt may Việt
Nam đã nỗ lực, bứt phá tại các thị trường khác như: Trung Quốc, Nga, Campuchia, Indonesia,
Thái Lan.
II. Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang thị trường
EU
1. Nhóm nhân tố thuộc về thị trường xuất khẩu
Đây là nhóm nhân tố có ảnh hưởng hàng đầu đến sự phát triển xuất khẩu. Tìm hiểu rõ

được nhu cầu của thị trường xuất khẩu sẽ giúp doanh nghiệp nắm bắt kịp thời các cơ hội,
phòng tránh rủi ro, nâng cao hiệu quả.
- Nhu cầu của thị trường EU:
Theo Liên đoàn Dệt may EU (EURATEX), với mức tiêu thụ hộ gia đình gần 500 tỷ Euro,
EU-27 được đánh giá là thị trường có dung lượng lớn nhất thế giới và còn nhiều tiềm năng
cho các sản phẩm dệt may. EU là thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất, chiếm 34%
tổng kim ngạch nhập khẩu dệt may thế giới. Theo số liệu của Cơ quan Thống kê châu Âu
(Eurostat), trong năm 2020, nhập khẩu hàng may mặc (HS 61, HS 62) của EU đạt 6,1 triệu
tấn, trị giá 137,8 tỷ Euro (162,4 tỷ USD), giảm 12,59% về lượng và giảm 10,73% về trị giá so
với năm 2019. Nhập khẩu nội khối đạt 2,45 triệu tấn, trị giá 81,19 tỷ USD, giảm 7,75% về
lượng và giảm 7,47% về trị giá. Nhập khẩu ngoại khối đạt 3,72 triệu tấn, trị giá 81,22 tỷ USD,
giảm 15,52% về lượng và giảm 13,76% về trị giá.
Thị trường may mặc của EU là một thị trường sành điệu, thời trang. Bởi vậy hàng may
mặc xuất khẩu sang EU cần phải có mẫu mã đẹp, thiết kế thời trang và phù hợp với mùa vụ.


Một đặc điểm quan trọng khác thuộc về nhu cầu của thị trường EU đó là yêu cầu rất cao về
các tiêu chuẩn sản phẩm như chất lượng, bảo vệ sức khỏe và an toàn cho người tiêu dùng,
thương hiệu sản phẩm
Những đặc điểm thuộc về nhu cầu của thị trường EU nói trên có ảnh hưởng rất lớn đến
quá trình phát triển xuất khẩu hàng may mặc. Đó thực sự là một thách thức không dễ vượt
qua. Nhưng nếu đáp ứng được thị hiếu và yêu cầu này sẽ mở ra một thị trường vô cùng rộng
lớn cho ngành my mặc nước ta.
- Quy định tiêu chuẩn về hàng may mặc xuất khẩu vào EU.
- Thị hiếu, xu hướng tiêu thụ
Thị trường EU có nhu cầu tiêu dùng hàng may mặc rất đa dạng và chú trọng nhiều đến
giá cả, tính thời trang, chất lượng…; đồng thời ngày càng quan tâm đến các sản phẩm mang
yếu tố bảo vệ môi trường, phát triển bền vững.
Kết quả khảo sát mới đây của Chương trình xúc tiến nhập khẩu Thụy Sỹ (SIPPO) cho
thấy hậu dịch Covid-19, người dân EU có 2 xu hướng tiêu dùng: (1) Một số muốn bù đắp thời

gian giãn cách do dịch bệnh sẽ mua sắm nhiều hơn (xu hướng này sẽ kéo thị trường nhanh trở
về thời điểm trước dịch bệnh); (2) Số khác tiêu dùng một cách thận trọng và quan tâm nhiều
hơn tới yếu tố môi trường và trách nhiệm xã hội. Tuy nhiên, các chuyên gia nhận định xu
hướng tiêu dùng thứ hai nhiều khả năng xảy ra hơn bởi công việc của người dân EU bị ảnh
hưởng, thu nhập kém đi, tiêu dùng thận trọng là điều tất yếu. Ngoài ra, ngành dệt may vẫn bị
đánh giá ảnh hưởng khơng tích cực tới mơi trường; theo đó thời trang nhanh, thời trang giá rẻ
không chú trọng môi trường đang bị người tiêu dùng đánh giá thấp hơn, thậm chí hạn chế mua
những sản phẩm như vậy. Thống kê mới đây cho thấy 77% người tiêu dùng EU quan tâm đến
điều kiện môi trường, 72% chú trọng đến các dịch vụ liên quan sản phẩm và 51% chú ý đến
chất lượng.
Ngoài ra, trong bối cảnh nhu cầu thay đổi sản phẩm thời trang cao và xu hướng cá nhân
hóa sản phẩm, việc liên tục thay đổi kiểu dáng và mẫu mã sản phẩm trở nên cần thiết. Phương
thức sản xuất đại trà dần thay đổi theo hướng giảm thiểu về quy mô mỗi lô hàng để tránh tồn
kho cao. Hiện nay, người tiêu dùng đã có thể thiết kế riêng sản phẩm dệt may theo phong cách
cá nhân của riêng mình như lựa chọn màu sắc, họa tiết, chất liệu, chiều dài, độ rộng, thiết kế,
mẫu mã và đặt hàng trực tiếp từ nhà sản xuất.


Nhà sản xuất cần nhanh chóng thay đổi phương thức sản xuất để bắt kịp xu hướng tiêu
dùng mới. Thay vì chờ đợi những đơn hàng lớn, doanh nghiệp cần chú trọng sản xuất đơn
hàng nhỏ có tính khác biệt, thời gian giao hàng nhanh. Đồng thời, linh hoạt trong sản xuất và
quản lý để đáp ứng đa dạng nhu cầu của khách hàng.
2. Năng lực cạnh tranh của ngành hàng may mặc
Năng lực cạnh tranh của ngành hàng may mặc chính là thước đo nội lực của ngành được
thể hiện thông qua năng lực của đội ngũ lao động, trình độ cơng nghệ, cơ sở vật chất hạ tầng,
mạng lưới phân phố, năng lực tài chính
Có thể thấy năng lực cạnh tranh của ngành hàng may mặc nước ta vừa mạnh lại vừa yếu.
Đó chính là vì sự phát triển không đồng đều giữa các nguồn lực trong ngành:
– Điểm mạnh
+ Ngành dệt may nước ta có lợi thế rất lớn về lao động. Đó là chúng ta có một nguồn lao

động dồi dào, khéo léo, cần cù, chịu khó trong khi tiền gia cơng sản phẩm lại rẻ, chi phí nhân
cơng thấp. Điều này làm cho chi phí sản xuất thấp, giá thành sản phẩm rất cạnh tranh.
+ Ngoài ra chất lượng sản phẩm may mặc của Việt nam được các nước nhập khẩu đánh
giá khá cao, ngày càng nhận được sự tín nhiệm của bạn hàng. Đặc biệt hiện tại khi Việt Nam
đã trở thành thành viên của WTO sẽ được hưởng những ưu đãi thuế quan về thuế suất khi xuất
khẩu hàng may mặc vào các nước khác. Điều này tạo ra nhiều lợi thế cạnh tranh cho ngành
hàng may mặc nước ta.
– Điểm yếu:
+ Sức cạnh tranh của ngành còn hạn chế. Cụ thể lao động có tay nghề cao, giàu kinh
nghiệm cịn chiếm tỷ lệ nhỏ. Bên cạnh đó, mức độ ổn định của nguồn lao động trong ngành
may mặc không cao khiến cho các doanh nghiệp may mặc thường xuyên phải quan tâm đến
việc tuyển dụng lao động mới. Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển xuất khẩu hàng may mặc
gây ra tính bất ổn định trong hoạt động xuất khẩu.


+ Ngoài ra các doanh nghiệp dệt may trong nước hiện nay chủ yếu là thực hiện gia công
cho các doanh nghiệp nước ngoài nên giá trị gia tăng của ngành may còn thấp. Ảnh hưởng
đến hiệu quả phát triển.
3. Luật pháp
Phát triển hàng may mặc xuất khẩu tất yếu chịu ảnh hưởng từ luật pháp của nước nhập
khẩu. Tuy nhiên, luật pháp trong nước cũng có những tác động nhất định đến sự phát triển
này:
– Luật pháp trong nước:
Tác động mạnh nhất đến phát triển xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường EU là những
điều luật liên quan đến cấp phép xuất- nhập khẩu. Bởi vì, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
vẫn phải thường xuyên nhập khẩu nguyên phụ liệu từ bên ngoài. Một hệ thống luật pháp khắt
khe sẽ cản trở trực tiếp đến hoạt động xuất- nhập khẩu của doanh nghiệp. Ngược lại, hệ thống
luật pháp thơng thống, cởi mở sẽ có tác dụng hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh được hoạt động
xuất-nhập khẩu của mình, qua đó ảnh hưởng tích cực đến phát triển xuất khẩu.Ngoài ra, các
bộ luật doanh nghiệp, luật thương mại…cũng có những ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển

xuất khẩu hàng may mặc thông qua chức năng điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp trong
phạm vi cho phép, phòng chống gian lận thương mại, tạo ra sân chơi bình đẳng cho các doanh
nghiệp dệt may nâng cao sức cạnh tranh.
– Luật pháp quốc tế: Các doanh nghiệp xuất khẩu hàng may mặc đặc biệt phải chú trọng
đến hệ thống pháp luật của EU, bởi chính sách của bất kỳ nước nào cũng đều có xu hướng bảo
hộ nền sản xuất trong nước và hạn chế nhập khẩu. Nếu không hiểu rõ pháp luật nước nhập
khẩu thì các doanh nghiệp dệt may nước ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
Ngồi việc phải nắm bắt rõ luật pháp chung của thị trường EU thì mỗi nước trong khu
vực EU lại có những điểm khác biệt về luật pháp riêng. Điều này thực sự gây khó khăn cho
doanh nghiệp xuất khẩu.
4. Chính sách của nhà nước:
Các ưu đãi của nhà nước trong ngành may mặc:
– Ưu đãi lớn nhất của Chính phủ đó là chính sách về thuế: Mức thuế suất áp dụng cho
các doanh nghiệp xuất khẩu hàng may mặc trung bình là 10-15% thấp hơn mặt bằng chung


×