Tải bản đầy đủ (.docx) (50 trang)

PHÂN TÍCH VỤ ĐIỀU TRA CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ XUẤT KHẨU VỚI CÁ TRA, BASA VIỆT NAM TẠI HOA KỲ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.02 MB, 50 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

THẢO LUẬN
MƠN: CHÍNH SÁCH KINH TẾ QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH VỤ ĐIỀU TRA CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ XUẤT KHẨU VỚI
CÁ TRA, BASA VIỆT NAM TẠI HOA KỲ

Nhóm thực hiện: 02
Lớp học phần : 2154FECO2051
Giảng viên
: TS Lê Hải Hà

Hà Nội – 2021


MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ............................................................................1
LỜI CẢM ƠN..............................................................................................................2
A. LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................... 3
B. NỘI DUNG ĐỀ TÀI................................................................................................4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT...........................................................................4
1.1. Tổng quan về bán phá giá....................................................................................4
1.1.1. Khái niệm về bán phá giá:.............................................................................4
1.1.2. Đặc điểm về bán phá giá................................................................................4
1.1.3. Mục tiêu của bán phá giá...............................................................................4
1.1.4. Tác động của bán phá giá đối với nước xuất khẩu và nước nhập khẩu......5
1.2. Tổng quan về chống bán phá giá và các biện pháp chống bán phá giá............5
1.2.1. Khái niệm chống bán phá giá........................................................................5
1.2.2. Đặc điểm về chống bán phá giá:....................................................................5


1.2.3. Điều kiện áp dụng biệp pháp chống bán phá giá..........................................6
1.2.4. Mục tiêu của chống bán phá giá....................................................................6
1.2.5. Tác động của chống bán phá giá đối với nước xuất khẩu, nước nhập khẩu
................................................................................................................................... 6
1.2.6. Các biện pháp chống bán phá giá..................................................................7
1.3. Quy trình điều tra chống bán phá giá của WTO...............................................8
1.4. Tổng quan về các vụ điều tra và áp dụng các biện pháp chống bán phá giá
trên thế giới..................................................................................................................8
1.5. Tình hình các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng hóa Việt Nam...........10
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆT NAM TRONG VỤ ĐIỀU TRA CHỐNG
BÁN PHÁ GIÁ...........................................................................................................12
2.1. Thực trạng xuất khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam sang Mỹ........................12
2.1.1. Thị trường sản phẩm tương tự....................................................................12
2.1.2. Chứng minh bán phá giá của CFA..............................................................14
2.1.3. Thiệt hại bán phá giá gây ra........................................................................16
2.2. Quy trình điều tra chống bán phá giá cá tra, cá basa của Việt Nam tại Mỹ. 17
2.2.1. Danh sách các bên trong vụ điều tra...........................................................17
2.2.2. Bối cảnh vụ điều tra.....................................................................................18
2.2.3. Diễn biến vụ điều tra....................................................................................19


Bước 1: Ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu nộp đơn kiện.....................19
Bước 2: Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi xướng điều tra.............19
Bước 3: Điều tra sơ bộ về việc bán phá giá và về thiệt hại..............................20
Bước 4: Kết luận sơ bộ.......................................................................................21
Bước 5: Tiếp tục điều tra về việc bán phá giá và về thiệt hại..........................24
Bước 6: Kết luận cuối cùng................................................................................25
Bước 7: Quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá............................26
Bước 8: Rà soát lại biện pháp chống bán phá giá............................................26
Bước 9: Rà sốt hồng hơn................................................................................27

2.3. Đánh giá tác động của thị trường Mỹ, nhà xuất khẩu Việt Nam khi có kết
luận sơ bộ, kết luận chính thức, rà sốt lại và rà sốt hồng hơn..........................28
2.3.1. Ngành sản xuất nội địa và thiệt hại vật chất:.........................................29
2.3.2. Tác động của việc đánh thuế chống bán phá giá.....................................32
2.3.2.1. Sau khi có kết luận sơ bộ.....................................................................33
2.3.2.2. Sau khi có kết luận chính thức.............................................................36
2.3.2.3. Qua từng lần rà sốt...........................................................................38
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH CHỐNG BÁN
PHÁ GIÁ Ở VIỆT NAM...........................................................................................42
C. KẾT LUẬN............................................................................................................ 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................45
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT.....................................................................................46
BẢNG THÀNH VIÊN NHÓM 2...............................................................................47


DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Số lượng các vụ điều tra chống bán phá giá do các thành viên WTO khởi
xướng............................................................................................................................. 9
Bảng 2. Tình hình các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng hoá Việt Nam............11
Bảng 3. Lập luận của CFA về các chi phí đầu vào và lợi nhuận..................................15
Bảng 4. Điều chỉnh mức thuế chống bán phá giá của DOC.........................................24
Bảng 5. Thống kê thuế chống bán phá giá mà Hoa Kỳ áp dụng với cá da trơn Việt Nam
(Đơn vị: %).................................................................................................................. 27
Bảng 6: Sản lượng xuất khẩu cá da trơn phile đông lạnh của Việt Nam sang Hoa Kỳ
(1996 – 2002)............................................................................................................... 29
Bảng 7. Điều chỉnh mức thuế chống bán phá giá của DOC.........................................33
Bảng 8. Tỷ trọng xuất khẩu cá tra của Việt Nam theo các nước đến (% về số lượng),
1999-2007.................................................................................................................... 37
Bảng 9. Sản lượng xuất khẩu cá tra qua 3 năm 2008-2009-2010 (Đơn vị tính: tấn)....40

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1. Số lượng các vụ điều tra chống bán phá giá do các thành viên WTO khởi
xướng (2008 – 2020)...................................................................................................10
Biểu đồ 2: Sản lượng xuất khẩu cá da trơn phile đông lạnh của Việt Nam sang Hoa Kỳ
(1996 – 2002)............................................................................................................... 29
Biểu đồ 3. Giá trị kim ngạch xuất khẩu cá da trơn phile đông lạnh của Việt Nam sang
Hoa Kỳ (1996 – 2002).................................................................................................30
Biểu đồ 4. Giá cá tra, phi-lê đông lạnh tại Hoa Kỳ và Việt Nam.................................32
Biểu đồ 5. Biểu đồ thể hiện sản lượng xuất khẩu cá tra và cá basa của Việt Nam sang
Hoa Kỳ sau khi có kết luận sơ bộ (1/2003-7/2003)......................................................34
Biểu đồ 6. Biểu đồ so sánh giá cá tra nhập khẩu và giá sản phẩm nội địa tại Hoa Kỳ từ
2001-2004.................................................................................................................... 35
Biểu đồ 7. Biểu đồ thể hiện Giá trị xuất khẩu cá phile đông lạnh của Việt nam sang thị
trường Hoa Kỳ sau khi có kết luận sơ bộ (1/2003-7/2003...........................................35
Biểu đồ 8. Biểu đồ nhập khẩu cá tra và basa vào Hoa Kỳ từ Việt Nam (tính theo tấn) từ
T1/2002 đến T7/2004...................................................................................................36
Biểu đồ 9. Biểu đồ giá cả và số lượng xuất khẩu cá tra, cá basa từ 3/2003 đến 6/2007
..................................................................................................................................... 37
Biểu đồ 10. Giá và sản lượng nhập khẩu cá tra phile đông lạnh từ Việt Nam vào Mỹ. 38
Biểu đồ 11. Khối lượng và giá trị xuất khẩu cá tra vào Mỹ từ 2003 – 2019.................39
1


LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành bài thảo luận này, nhóm 02 xin chân thành gửi lời
cảm ơn đến cô giáo Lê Hải Hà – giảng viên môn Chính sách kinh tế quốc tế quốc tế đã
truyền đạt cho chúng em những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập vừa
qua. Trong thời gian tham gia lớp học của cơ, chúng em đã có thêm cho mình nhiều
kiến thức bổ ích, tinh thần học tập hiệu quả, nghiêm túc. Đây chắc chắn sẽ là những
kiến thức quý báu, là hành trang để chúng em có thể vững bước sau này.

Cảm ơn các thành viên trong nhóm đã đồn kết, có tinh thần làm việc nhóm cao
và hoàn thành bài thảo luận đúng thời hạn.
Tuy nhiên, do vốn kiến thức còn nhiều hạn chế và khả năng tiếp thu thực tế còn
nhiều bỡ ngỡ. Mặc dù chúng em đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn bài thảo luận khó
có thể tránh khỏi những thiếu sót và nhiều chỗ cịn chưa chính xác, kính mong cơ và
các bạn xem xét và góp ý để bài thảo luận của nhóm 02 được hồn thiện hơn.
Kính chúc cơ sức khỏe, hạnh phúc, thành công trên con đường sự nghiệp giảng
dạy.
Nhóm 02 xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 21 tháng 10 năm 2021
Nhóm nghiên cứu
Nhóm 02

2


A. LỜI MỞ ĐẦU
Hoa Kỳ là một thị trường rộng lớn, có tiềm năng khoa học kỹ thuật và cơng nghệ
vào loại bậc nhất trên thế giới, hơn nữa, đồng thời cũng là đối tác quan trọng có khả
năng giúp Việt Nam đạt được mục tiêu hội nhập kinh tế thế giới của mình. Đặc biệt là
sau khi Hiệp định thương mại song phương được ký kết đã mở ra một viễn cảnh tươi
sáng cho nền thương mại của hai nước.
Trong nhiều năm gần đây, cá basa và cá tra Việt Nam được nhập khẩu vào thị
trường Hoa Kỳ dưới dạng philê đơng lạnh đã góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cá
của người dân Hoa Kỳ đồng thời thúc đẩy được nghề nuôi loại cá này ở Việt Nam, tạo
công ăn việc làm cho hàng vạn ngư dân và nhà máy chế biến thuỷ sản. Phát triển buôn
bán cá basa, cá tra giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là nhằm mang lại lợi ích cho cả hai quốc
gia.
Nhưng thật đáng tiếc, Hiệp hội các chủ trại nuôi cá nheo Hoa Kỳ đã sớm lo lắng
cho sự xâm nhập của cá basa và cá tra vào thị trường của họ đến mức đâm đơn kiện

các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá các sản phẩm này vào thị trường Hoa Kỳ.
Như chúng ta đã biết, xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đang từng bước dỡ
bỏ hàng rào thuế quan giữa các thị trường nhưng tạo điều kiện thuận lợi cho chủ nghĩa
bảo hộ mậu dịch phát triển, nhất là ở các nước đang phát triển. Đất nước giàu. Thị
trường Hoa Kỳ rộng mở với những cơ hội đầy hứa hẹn, nhưng nó bị điều chỉnh bởi
một hệ thống luật pháp cực kỳ chặt chẽ và các rào cản thương mại. Luật thuế chống
bán phá giá hiện hành là một công cụ hữu hiệu thường được sử dụng tại thị trường này
để bảo vệ ngành sản xuất trong nước trước làn sóng nhập khẩu từ các nước đang phát
triển, trong đó có Việt Nam
Vụ cá tra, basa của Việt Nam bán phá giá vào thị trường Hoa Kỳ đã đặt ra trở
ngại đầu tiên mà các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải tiếp cận thị trường Hoa Kỳ.
Nhưng khơng vì thế mà các doanh nghiệp Việt Nam có cái nhìn e ngại.
Chính vì tầm quan trọng của vấn đề, nhóm em xin chọn đề tài “Phân tích vụ
điều tra chống bán phá giá xuất khẩu với cá tra, basa Việt Nam tại Hoa Kỳ” với
mong muốn tìm hiểu một cách sâu sắc hơn, sự kiện diễn ra cũng như đề xuất các giải
pháp góp phần hạn chế tác động của Luật thuế chống bán phá giá của Hoa Kỳ đối với
xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường này trong giai đoạn tới.

3


B. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Tổng quan về bán phá giá
1.1.1. Khái niệm về bán phá giá:
 Bán phá giá là một hiện tượng xảy ra khi một hàng hóa của nước này được xuất
khẩu vào một nước khác với mức giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thơng thường của hàng
hóa tương tự tại nước xuất khẩu.
 Theo điều 4 số 40/2002/PL-UBTVQH10 của “Pháp lệnh Giá” của nước Cộng
hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 26/4/2002 định nghĩa:

“Bán phá giá là hành vi bán hàng hoá, dịch vụ với giá quá thấp so với giá thông
thường trên thị trường Việt Nam để chiếm lĩnh thị trường, hạn chế cạnh tranh đúng
pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh
doanh và lợi ích của Nhà nước.”
1.1.2. Đặc điểm về bán phá giá
Bán phá giá phải là hàng hóa lưu thơng trên thị trường và bán với giá thấp hơn
giá thị trường của nước nhập khẩu hoặc một nước thứ ba nào đó, bán phá giá phải làm
phương hại đến nền sản xuất của nước nhập khẩu làm cho các ngành sản xuất bị bán
phá giá phải đình trệ sản xuất, bán phá giá phải kéo theo việc giảm giá của mặt hàng
cùng chủng loại sản xuất trong nước hoặc vùng lãnh thổ đó giảm theo, giá bán tại nước
nhập khẩu phải không đúng với giá chi phí sản xuất thực của mặt hàng đó tại nước
xuất khẩu hoặc một nước thứ ba nào đó, việc bán hàng đó làm phương hại đến các quy
luật của nền kinh tế thị trường .
1.1.3. Mục tiêu của bán phá giá
 Mục tiêu chính trị
Bán phá giá là một trong những biểu hiện trực tiếp nhất của sự can thiệp của Nhà nước
Đế quốc trong lĩnh vực ngoại thương. Ngồi mục tiêu chính là mục tiêu lợi nhuận mục
tiêu chính trị và thao túng các nước khác cũng được coi là khá quan trọng trong hành
động bán phá giá. Một số nước thực hiện bán phá gía để thao túng thị trường. Đối với
các hãng lớn ngoài việc thao túng thị trường cịn có thể với mục đích khác như dành
uy tín, hoặc để tăng sức ép với bạn hàng nhập khẩu về mặt nào đó.
 Mục tiêu lợi nhuận
Thực tế quan sát ở Châu Âu đã chỉ ra rằng, khi mà các hãng cạnh tranh với nhau có
mức chi phí bình qn xấp xỉ như nhau thì họ thường thoả thuận thủ tiêu cạnh tranh,
giảm lượng bán và tăng giá bán. Khi tự do cạnh tranh, sau một khoảng thời gian không
dài thị trường không cân bằng, lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm thoả thuận giảm
4


sản lượng xuống tạo ra mức cần bằng mới của thị trường nhưng vẫn có lợi nhuận cao

hơn cạnh tranh ngang
Còn đối với các nước xuất khẩu khi thực hiện hành động bán phá giá nhằm mục tiêu
lợi nhuận, nước xuất khẩu phải hạn chế tối đa nhập khẩu, các doanh nghiệp trong nước
thỏa thuân với nhau về giá, nâng mức giá trong nước lên.
1.1.4. Tác động của bán phá giá đối với nước xuất khẩu và nước nhập khẩu
 Tác động của bán phá giá đối với nước xuất khẩu
 Tác động tích cực
- Tăng doanh thu, lợi nhuận, thị phần
- Giải phóng hàng tồn kho
- Thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội
 Tác động tiêu cực
- Thiệt hại đối với người tiêu dùng
- Người lao động bị đối xử ngược đãi,
 Tác động của bán phá giá đối với nước xuất khẩu
 Tác động tích cực
-

Người tiêu dùng được tiêu dùng hàng hóa với giá rẻ
Các doanh nghiệp trong nước nhập khẩu có động lực để cạnh tranh
 Tác động tiêu cực
- Ngành sản xuất sản phẩm tương tự bị thiệt hại / nguy cơ thiệt hại đáng kể
- Hàng hóa có thể khơng được đảm bảo về chất lượng
1.2. Tổng quan về chống bán phá giá và các biện pháp chống bán phá giá
1.2.1. Khái niệm chống bán phá giá
Chống bán phá giá là biện pháp được áp dụng trong trường hợp hàng hóa được
xác định bị bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam gây ra thiệt hại đáng kể hoặc đe
dọa gây ra thiệt hại đáng kể của ngành sản xuất trong nước hoặc ngăn cản sự hình
thành của ngành sản xuất trong nước. (Khoản 1 Điều 77 Luật Quản lý ngoại thương
2017)
Hàng hóa được xác định bị bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam với giá thấp hơn

giá thông thường là giá có thể so sánh được của hàng hóa tương tự bán tại nước xuất
khẩu hoặc tại một nước thứ ba trong các điều kiện thương mại thông thường hoặc mức
giá mà Cơ quan điều tra xác định bằng phương pháp tự tính tốn.
1.2.2. Đặc điểm về chống bán phá giá:
Chống bán phá giá là cách thức do cơ có thẩm quyền đặt ra nhằm chống lại các
hành vi bán phá giá, chống bán phá giá phải dựa trên các căn cứ khoa học pháp lý rõ
ràng khi áp dụng các biện pháp chống bán phá giá vào một mặt hàng nào đó, chống
5


bán phá giá phải phù hợp với các quy tắc và thông lệ quốc tế, chống bán phá giá phải
vừa mang tính răn đe và thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ kinh tế lành mạnh,
chống bán phá giá khơng làm mất đi tính lưu thơng một mặt hàng trên thị trường,
chống bán phá giá phải góp phần thúc đẩy sản xuất trong nước, chống bán phá giá phải
là tổng hợp của nhiều biện pháp nhất định nhằm phản ánh một cách trung thực nhất
của hiện tượng vi phạm pháp luật về chống bán phá giá.
1.2.3. Điều kiện áp dụng biệp pháp chống bán phá giá
Theo quy định của WTO thì việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá chỉ có thể
thực hiện nếu cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu, sau khi đã tiến hành điều
tra chống bán phá giá, ra kết luận khẳng định sự tồn tại đồng thời của cả 03 điều
kiện sau:
 Hàng hoá nhập khẩu bị bán phá giá (với biên độ phá giá không thấp hơn 2%);
 Ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu bị thiệt hại đáng
kể hoặc bị đe doạ thiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản đáng kể sự hình thành của ngành sản
xuất trong nước (gọi chung là yếu tố “thiệt hại”);
 Có mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng nhập khẩu bán phá giá và thiệt hại nói
trên;
1.2.4. Mục tiêu của chống bán phá giá
 Để bù đắp lại những thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa phải gánh chịu do
hành vi bán phá giá gây ra

 Việc áp thuế chống bán phá giá sẽ hợp tác hoá được các rào cản kỷ thuật để bảo
vệ sản xuất trong nước trong khi vẫn giữ được danh tiếng chấp hành nghiêm túc các
nguyên tắc mở cửa thị trường, giảm dần hàng rào thuế quan, bảo đảm khả năng tự do
cạnh tranh lành mạnh, trung thực theo đà hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu
1.2.5. Tác động của chống bán phá giá đối với nước xuất khẩu, nước nhập khẩu
 Tác động của chống bán phá giá đối với nước xuất khẩu
 Tác động tích cực
-

Doanh nghiệp xuất khẩu phải đổi mới quy trình, phương pháp sản xuất, cách
thức quản lý,.
- Doanh nghiệp xuất khẩu thay đổi chiến lược cạnh tranh, cạnh tranh bằng chất
lượng và dịch vụ hơn là cạnh tranh bằng giá
- Doanh nghiệp xuất khẩu thực hiện đa dạng hóa thị trường
 Tác động tiêu cực:
-

Hạn chế khả năng tiếp cận thị trường
Giảm khối lượng và kim ngạch xuất khẩu
Giảm thị phần, doanh thu, lợi nhuận
6


 Tác động của chống bán phá giá đối với nước xuất khẩu
 Tác động tích cực
-

Chống lại hành động cạnh tranh không lành mạnh, bảo vệ quyền lợi của các
doanh nghiệp nội địa
- Bảo hộ ngành sản xuất trong nước

 Tác động tiêu cực
- Ngành sản xuất sản phẩm tương tự trong nước có thể bị trì trệ do được bảo hộ
- Người tiêu dùng không được lợi
1.2.6. Các biện pháp chống bán phá giá
 Giải pháp từ phía chính phủ:
 Áp dụng thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, biện pháp tự vệ, các điều
kiện kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ…là những loại “rào cản” đã và đang được các nước nhập
khẩu sử dụng khá phổ biến trong khuôn khổ các nguyên tắc của WTO
 Phát triển một cơ chế cảnh báo sớm
 Mặc dù không có một cơ chế pháp lý để có thể áp dụng cho mọi ngành, nhưng
một cơ chế cảnh báo sớm có thể bao gồm các yếu tố sau: phân tích kinh tế, giám sát
hoạt động của các nhà sản xuất nội địa
 Tiến hành các hoạt động phổ biến kiến thức, nâng cao nhận thức của doanh
nghiệp và công chúng về các vấn đề chống phá giá.
 Cần nhanh chóng tổ chức các khóa đào tạo về áp dụng thuế chống bán phá giá
cho đông đảo các cán bộ ngành.
 Tổ chức các hội thảo hoặc buổi làm việc với các phòng thương mại, các hiệp
hội, các viện nghiên cứu, các doanh nghiệp để phổ biến thông tin và giúp đối tượng
hiểu đầy đủ về bản chất của các biện pháp bồi thường trong thương mại quốc tế.
 Giải pháp từ phía các Hiệp hội ngành hàng:
 Cần tăng cường vai trị hỗ trợ tích cực cho các doanh nghiệp xuất khẩu để giúp
doanh nghiệp ngăn ngừa và ứng phó hiệu quả với các biện pháp chống bán phá giá của
đối tác thương mại.
 Tổ chức cho các doanh nghiệp nghiên cứu những quy định pháp lý của nước
ngoài về chống bán phá giá để có biện pháp né tránh hợp lý.
 Giải pháp từ phía doanh nghiệp:
 Xây dựng thương hiệu mạnh và đa dạng hoá thị trường, đa dạng hoá sản phẩm
 Hệ thống chứng từ sổ sách và hạch toán kế toán theo chuẩn mực quốc tế
 Các doanh nghiệp cần phải có chiến lược về định giá xuất khẩu, xuất khẩu với
giá cao những sản phẩm có chất lượng tốt, đồng thời các doanh nghiệp cần có một

định mức tiêu hao thấp phù hợp với điều kiện thực tế trong doanh nghiệp.
7


 Nâng cao kiến thức về luật chống bán phá giá của WTO cũng như luật chống
bán phá giá của Hoa kỳ
 Các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam cần có tinh thần tích cực theo đuổi
vụ kiện khi bị nước ngồi kiện bán phá giá
1.3. Quy trình điều tra chống bán phá giá của WTO
Bước 1: Ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu nộp đơn kiện (kèm theo chứng cứ ban
đầu)
Bước 2: Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi xướng điều tra (hoặc từ chối đơn
kiện, không điều tra)
Bước 3: Điều tra sơ bộ về việc bán phá giá và về thiệt hại (qua bảng câu hỏi gửi cho
các bên liên quan, thu thập, xác minh thông tin, thông tin do các bên tự cung cấp)
Bước 4: Kết luận sơ bộ (có thể kèm theo quyết định áp dụng biện pháp tạm thời như
buộc đặt cọc, ký quỹ...)
Bước 5: Tiếp tục điều tra về việc bán phá giá và về thiệt hại (có thể bao gồm điều tra
thực địa tại nước xuất khẩu)
Bước 6: Kết luận cuối cùng
Bước 7: Quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá (nếu kết luận cuối cùng
khẳng định có việc bán phá giá gây thiệt hại)
Bước 8: Rà soát lại biện pháp chống bán phá giá (hàng năm cơ quan điều tra có thể sẽ
điều tra lại biên phá giá thực tế của từng nhà xuất khẩu và điều chỉnh mức thuế)
Bước 9: Rà sốt hồng hơn (5 năm kể từ ngày có quyết định áp thuế chống bán phá giá
hoặc rà soát lại, cơ quan điều tra sẽ tiến hành điều tra lại để xem xét chấm dứt việc áp
thuế hay tiếp tục áp thuế thêm 5 năm nữa).
Từ bước 1 đến bước 7 của một vụ điều tra chống bán phá giá thường kéo dài khoảng
18 tháng đến 2 năm. Tuy nhiên, bước 8 và 9 có thể kéo rất dài sau đó.
1.4. Tổng quan về các vụ điều tra và áp dụng các biện pháp chống bán phá giá

trên thế giới
Các vụ kiện chống bán phá giá trên toàn cầu giảm 24% từ 233 vụ khởi xướng
trong giai đoạn từ tháng 7/2017 đến tháng 6/2018 xuống còn 178 vụ trong giai đoạn
tháng 7/2018 đến tháng 6/2019, sau đó tăng 70% lên 303 vụ trong giai đoạn hiện tại
(Bảng 1.4)

8


Bảng 1. Số lượng các vụ điều tra chống bán phá giá do các thành viên WTO khởi
xướng
Nguồn: Dữ liệu WTO
Biểu đồ 1 thể hiện các vụ kiện chống bán phá giá từ năm 2008 đến nửa đầu năm 2020
cho thấy số vụ kiện tăng từ 165 vụ năm 2011 lên 287 vụ năm 2013, giảm xuống 236
vụ năm 2014 và 229 vụ năm 2015, sau đó tăng lên 298 vụ vào năm 2016 – đây là thời
điểm có số vụ việc khởi xướng cao nhất kể từ năm 2002 với 311 vụ. Sau đó, xu hướng
9


này lại có chiều hướng giảm trong năm 2017 – 2018 trước khi có dấu hiệu tăng trở lại
vào năm 2019. Sáu tháng đầu năm 2020 có 188 vụ, cho thấy sự gia tăng đáng kể số vụ
khởi xướng.

Biểu đồ 1. Số lượng các vụ điều tra chống bán phá giá do các thành viên WTO khởi
xướng (2008 – 2020)
Nguồn: Dữ liệu WTO
1.5. Tình hình các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng hóa Việt Nam
Mặc dù khơng phải là mục tiêu lớn của các vụ kiện chống bán phá giá nhưng với năng
lực xuất khẩu ngày càng tăng và với lợi thế cạnh tranh chủ yếu về giá, nhiều loại hàng
hoá Việt Nam đang phải đối mặt ngày càng nhiều hơn với những nguy cơ kiện chống

bán phá giá ở các thị trường.
Sau khi gia nhập WTO, với kỳ vọng về một bước nhảy vọt trong xuất khẩu của hàng
hoá Việt Nam, nguy cơ này cũng tăng lên tương ứng

10


Bảng 2. Tình hình các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng hoá Việt Nam
(Giai đoạn 1994-2012)
Nguồn: Dữ liệu WTO

11


CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆT NAM TRONG VỤ ĐIỀU TRA CHỐNG
BÁN PHÁ GIÁ
2.1. Thực trạng xuất khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam sang Mỹ
2.1.1. Thị trường sản phẩm tương tự



Thị trường sản phẩm tương tự tại Mỹ

Tại thị trường Mỹ, năm 1970 cá da trơn (catfish) là một sản phẩm của một số
vùng ở Mỹ với nhu cầu đối với sản phẩm này không cao. Sản phẩm này dần dần được
tiêu thụ nhiều hơn nhờ các chiến dịch tiếp thị của các trang trại nuôi cá catfish và
doanh nghiệp chế biến thủy sản. Thông điệp được đưa ra là cá catfish ni cho thịt
trắng ít mỡ, ít cholesterol, ít calo, nhưng giàu protein, vitamin và khống; cá catfish
ni hầu như khơng có mui tanh, ít xương và có thể chế biến thành nhiều loại món ăn.
Kết quả cá catfish và thực phẩm chế biến từ catfish dần trở nên phổ biến tại các nhà

hàng thủy sản, xuất hiện hầu hết tại các siêu thị. Sản lượng cá nuôi ở Mỹ tăng từ 2.580
tấn năm 1970 lên 271.000 tấn năm 2001. Mức tiêu thụ cá catfish bình quân đầu người
ở Mỹ tăng từ 0,41 pao vào năm 1985 lên 1 pao năm 2001.

Hình 1. Cá tra, cá basa xuất khẩu sang thị trường Mỹ
Các trại nuôi cá catfish được tập trung chủ yếu ở Đồng bằng sông Mississippi tại
các bang Mississippi, Alabama, Arkansas và Louisiana. Tổng diện tích ao hồ nuôi cá
catfish ở các bang miền Nam nước Mỹ là 70.000 hecta, trong đó chỉ riêng bang
Mississippi đã chiếm tới 58% diện tích. Cá catfish trở thành sản phẩm quan trọng thứ
tư trong số các sản phẩm nông lâm nghiệp tại bang Mississippi.
 Khi sản phẩm cá tra và cá basa vào thị trường Mỹ
12


Năm 1996, Việt Nam xuất khẩu container đầu tiên cá basa sang Hoa Kỳ, đến năm
1998 sản lượng cá basa xuất vào thị trường này đạt 260 tấn.
Cuối năm 1998 Việt Nam gia nhập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình
Dương (APEC) mở rộng quan hệ, hội nhập kinh tế thế giới, ngành công nghiệp sản
xuất cá tra, cá basa đã phát triển nhanh chóng, tổng sản lượng xuất khẩu tăng đáng kể
khi thuế nhập khẩu cá da trơn vào Hoa Kỳ giảm chỉ còn 4,4 cent/kg. Năm 1998, sản
phẩm cá da trơn phi lê đông lạnh của Việt Nam xuất khẩu sang đây mới chỉ đạt 260
tấn, thì đến năm 2000, lượng hàng này tăng vọt lên hơn 3.000 tấn và đến năm 2001 thì
đã đạt con số kỷ lục: xấp xỉ 8.000 tấn.
Nhưng đến năm 2002, số lượng xuất khẩu cá tra basa vào thị trường Hoa Kỳ đã
lên đến gần 20.000 tấn sau khi Hoa Kỳ bỏ cấm vận Việt Nam và ký Hiệp định thương
mại song phương vào tháng 12 năm 2001 (Sengupta, 2003). Việc gia tăng nhanh chóng
này ngồi lý do là hàng rào thuế quan đối với sản phẩm thủy sản gần như đã được bãi
bỏ (khi thuế nhập khẩu chỉ là 0%) cịn có lý do nguồn cung cấp cá tra, cá basa tăng
nhanh chóng sau khi Việt nam đã thành công trong việc ứng dụng kỹ thuật sản xuất
giống nhân tạo trên cả hai đối tượng cá tra, cá basa và kỹ thuật ni cá tra thịt trắng.

Có thể thấy, Sản phẩm cá tra, basa phi lê của Việt Nam được người tiêu dùng
Hoa Kỳ đặc biệt ưa chuộng do chất lượng ngon, giá thành thấp.
 Ảnh hưởng đến ngành sản xuất trong nước ở Mỹ
Giá bình quân một pao mà các nhà nuôi cá catfish nhận được giảm từ 75 xen năm
2000 xuống 66 xen năm 2001 và 50 cent năm 2002. Hiệp hội các nhà nuôi cá catfish
Mỹ (CFA) lập luận rằng giá bán hiện thấp hơn chi phí sản xuất tới 15 cent. Tổng doanh
số cá catfish nội địa bán cho các đơn vị chế biến giảm 20% từ 446 triệu USD năm
2000 xuống 385 triệu USD năm 2001. CFA cho rằng nguyên nhân gây ra sự giảm sút
này là sản phẩm của Việt Nam được bán tại Mỹ với giá thấp hơn 1 USD/pao so với sản
phẩm nội địa.
Sản lượng tiêu thụ cá catfish tại Mỹ giảm, trong năm 2005, các nhà sản xuất cá
nheo Hoa Kỳ đã bán được hơn 56.000 tấn cá phi lê đông lạnh (Harvey, 2006).
 Cạnh tranh tên catfish
Trước tình hình sản phẩm hải sản của Việt Nam được nhập khẩu ồ ạt vào thị
trường Mỹ với giá thấp, làm cho giá cá nheo Mỹ giảm mạnh, Hiệp hội chủ trại nuôi cá
nheo Mỹ (CFA)- đại diện cho giới chủ trại ni cá giàu có ở bang Mi-xi-xi-pi và một
số bang miền nam nước Mỹ những người đã dày công đưa con cá nheo thành một loại
thực phẩm được bán rộng rãi trên thị trường Mỹ, xếp thứ năm trong số các loài thủy
sản được tiêu thụ nhiều nhất. Họ rất tức tối khi những sản phẩm cá da trơn được nhập
từ nước ngồi có phẩm chất tốt hơn, giá bán rẻ hơn, đang vào thị trường Mỹ.
13


=> CFA đã thể hiện phản ứng bằng việc đưa ra chủ trương chống các sản phẩm
cá tra, cá basa của Việt Nam. Cũng chính vào thời điểm này, một "giai đoạn" mới đầy
gay go, phức tạp đã bắt đầu. Trước tiên, Mỹ đã phê chuẩn một đạo luật cấm Việt Nam
sử dụng tên “catfish” cho các sản phẩm cá xuất khẩu của mình.
Mặc dù thắng lợi về quy định về tên gọi catfish nhưng rõ ràng quy định này
không cản trở được cá tra và basa của Việt Nam nhập vào Hoa Kỳ. Minh chứng cho
luận điểm trên là giá cá tra và basa phile đông lạnh ở thị trường Hoa Kỳ tăng lên tới

20-30% so với trước khi đổi tên. Các đơn đặt hàng từ Hoa Kỳ đến tới tấp. Cá tra và
basa phile đông lạnh của Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ trong 6 tháng đầu năm 2002 tăng
tới 24% cả về lượng và giá trị so với cùng kỳ năm năm 2001. Đứng trước lo ngại về thị
phần cá Việt Nam ngày càng gia tăng, các nhà nuôi cá và chế biến cá của Hoa Kỳ đưa
ra địn tấn cơng thứ hai: cáo buộc các doanh nghiệp chế biến thủy sản của Việt Nam
bán phá giá cá tra và basa phile đông lạnh trên thị trường Hoa Kỳ.
2.1.2. Chứng minh bán phá giá của CFA
Những luận điểm của CFA đưa ra cáo buộc Việt Nam bán phá giá cá tra, cá basa
Ngày 28/6/2002, Hoa Kỳ (CFA) đã nộp đơn lên Uỷ ban Thương mại Quốc tế
(ITC) cho là đã có việc bán phá giá cá tra và cá basa nhập khẩu từ Việt Nam. Hành
động này của Việt Nam đã gây thiệt hại vật chất lớn và đe dọa gây thiệt hại vật chất
lớn cho ngành sản xuất trong nước của Hoa Kỳ.
Trong đơn yêu cầu khởi xướng điều tra chống bán phá giá, CFA đã cung cấp các
tính tốn biên độ phá giá dựa trên cơ sở của kinh tế thị trường và kinh tế phi thị
trường.
Dựa trên kinh tế thị trường, CFA chỉ ra quy mô rất nhỏ của thị trường Việt Nam
đối với cá tra, cá basa phile nên không thể căn cứ vào giá nội địa ở Việt Nam để tính
giá trị hợp lý. Khi dữ liệu định giá của Việt Nam khơng có được, CFA đã sử dụng chi
phí sản xuất được cung cấp bởi một nhà sản xuất cá phile đông lạnh tại Hoa Kỳ. CFA
đã đưa ra biên độ bán phá giá là 143,7%
Dựa trên kinh tế phi thị trường, CFA chọn Ấn Độ là quốc gia so sánh vì cho rằng
nền kinh tế thị trường Ấn Độ có trình độ phát triển tương đương với Việt Nam, và là
nhà sản xuất đáng kể cá trê trắng giống cá tra và basa.

14


Theo tính tốn của CFA, như trình bày trong bảng 3, giá trị hợp lý của cá tra và
basa phile đông lạnh là 4.19 USD/pao, trong khi giá xuất khẩu là 1,44 USD/pao. Do
vậy, mức độ bán phá giá là 190,20%.


Bảng 3. Lập luận của CFA về các chi phí đầu vào và lợi nhuận
Trường hợp kinh tế phi thị trường chính là nơi phía nguyên đơn tập trung lập
luận. Sau đây là một số bình luận của CFA gửi cho DOC về việc xác định tính chất
kinh tế phi trường:
- Đồng tiền VND khơng hồn tồn có khả năng chuyển đổi ở cả tài khoản vãng
lai và tài khoản vốn;
15


- Mức lương ở Việt Nam không được xác định trên cơ sở thỏa thuận tự do người
lao động và giám đốc quản lý doanh nghiệp
- Việt Nam duy trì những hạn chế đáng kể đối với liên doanh và các hình thức
đầu tư nước ngồi khác;
- Chính phủ Việt Nam duy trì sở hữu và kiểm sốt các phương thức sản xuất ở
Việt Nam;
- Chính phủ Việt nam kiểm soát việc phân bổ nguồn lực và các quyết định về giá
và sản lượng của doanh nghiệp
2.1.3. Thiệt hại bán phá giá gây ra
- Những cố gắng trước đây của phía Mỹ nhằm hạn chế triệt để mặt hàng cá da
trơn của Việt nam trên thị trường nước này (bằng cách viện cớ rằng cá không đảm bảo
vệ sinh, sau đó là cấm sử dụng tên thương mại catfish) đã làm rất nhiều nông dân Việt
Nam thua lỗ và chịu hậu quả nặng nề. Mặc dù xuất khẩu cá sang Mỹ tăng 10,2% (năm
2002) nhưng xuất khẩu catfish đã giảm mạnh nhất là tới 65% trong tháng 3 và tháng
4/2002 so với cùng kỳ năm 2001.
- Phán quyết cuối cùng của Uỷ ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ hôm 24/7/2003
khiến hàng vạn ngư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long mất nghề và khơng có nghề
sinh nhai do chưa có điều kiện làm nghề khác. Điều này khơng chỉ đúng với các chủ
trại ni cá mà cịn đúng với các lao động làm thuê trong các bè và hầm cá do đây là
nghề truyền thống đã có từ lâu của họ. Đó là chưa kể đến hàng vạn người khác sống

phụ thuộc vào nghề nuôi cá tra và cá basa, như công nhân trong các nhà máy chế biến,
lao động trong khu vực kỹ thuật dịch vụ nghề nuôi, các doanh nghiệp cung cấp thức ăn
và vật liệu nuôi cá. Việc phải giảm sản lượng xuất khẩu cá tra và cá basa sẽ làm cho
các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong q trình giải quyết cơng ăn việc làm
cho hàng vạn cơng nhân của mình cũng như cuộc sống của hàng vạn ngư dân nghèo
sống phụ thuộc vào nghề cá sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi các doanh nghiệp chưa
tìm được thị trường đầu ra mới.
- Sẽ có rất nhiều gia đình trở thành con nợ lâu dài và khó trả. Họ đã vay mượn rất
nhiều để đầu tư vào bè, hầm nuôi cá với mong muốn được thay đổi cuộc sống nên nếu
phải từ bỏ thì rất nhiều gia đình sẽ lâm vào cảnh túng thiếu và nợ nần. Đã có rất nhiều
gia đình, do ảnh hưởng của việc giảm sản lượng xuất khẩu cá vào thời gian tháng 1012 năm 2001 (do lệnh cấm đặt tên cá là catfish của Chính phủ Mỹ), đã phải lao đao
khốn đốn vì nợ nần.
- Kết luận của ITC đã gây ra một tổn thương nặng nề cho quá trình thực hiện
Hiệp định thương mại song phương Việt – Mỹ ký ngày 13/7/2000, có hiệu lực từ tháng
12/2001. Một lần nữa nước lớn lại “đúng” trong buôn bán với nước nhỏ mà không cần
biết đến các cam kết hay thoả thuận mà chính mình đã xây dựng và ký kết, và chẳng
16


biết đến bao giờ nông dân và người nghèo ở các nước đang phát triển mới có thể có
một cơ chế thương mại cơng bằng.
2.2. Quy trình điều tra chống bán phá giá cá tra, cá basa của Việt Nam tại Mỹ
2.2.1. Danh sách các bên trong vụ điều tra
 Bên nguyên đơn: Hiệp hội các chủ trại nuôi cá nheo Hoa Kỳ (CFA)
- Đại diện cho bên nguyên đơn: Liên doanh luật Akin Gump Strauss Hauer &
Field LLP, với nhóm Luật sư Hauer & Field LLP, với nhóm luật sư: Valerie A. Slater;
J. David Park và Thea D. Rozman- Louis Thompson, Chủ tịch Hiệp hội các chủ trại
nuôi cá nheo Hoa Kỳ – CFA; Hugh Warren, Phó Chủ tịch CFA.
- Các thành viên của CFA: Louis Thompson – Chủ tịch CFA; Hugh Warren – Phó
Chủ tịch điều hành CFA

- Các nhà sản xuất cá catfish, gồm:
+ FOng Randy Rhodes, Công ty Southern Pride Catfish;
+ Kim Cox và Bill Dauler, Công ty Consolidated Catfish;
+ Randy Evans, Trai cá nheo Evans Fish;
+ Seymour Johnson, Công ty Marie Planting;
+ Charles Pilkinton, Trai cá nheo Pilkinton Brothers Catfish.
+ Randy Evans, Chủ trại nuôi cá Evans Fish Farm;
- 4 công ty chế biến catfish:
+ David Pearce, Hãng Pearce Catfish Farm;
+ Danny Walker, giám đốc điều hành Công ty Heartland Catfish;
+ Thomas L. Rogers, chuyên viên kinh tế Hãng Capital Trade;
+ Daniel W. Klett, chuyên viên kinh tế Hãng Capital Trade.
 Bên bị đơn: Doanh nghiệp thành viên Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản
Việt Nam (VASEP)
- Đại diễn là. PGS. TS Nguyễn Hữu Dũng Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và
Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam - VASEP. Ơng Ngơ Phước Hậu, Tổng giám đốc công ty
XNK Thủy sản An Giang (Agifish)
- Ơng Nguyễn Hữu Chí, Phó Vụ trưởng Vụ pháp chế Bộ Thương Mại Việt Nam;
Christine Ngo, Giám đốc Công ty Thực phẩm quốc tế H&N; Matthew Fass, Chủ tịch
Tập đoàn Maritime Products International; Robin Rackowe, Chủ tịch tập đoàn
International Marine Fisheries; TS Carl Ferraris, Học viện Khoa học California; Roger
Kratz, Cơng ty Captain's Table; Diệp Hồi Nam, Luật sư của White & Case Vietnam;
Đại diện Đại sử quán Việt Nam tại Mỹ là ơng Nguyễn Hữu Chi,cùng nhóm luật sư
William J. Clinton, K. Minh Dang, Lyle Vander chaafvà Keir A. Whitson.
 Danh sách nhân viên chịu trách nhiệm thi hành nhiệm vụ
17


1/ Điều tra viên: Larry Reavis
2/ Chuyên gia phân tích về hàng hóa: Roger Corey

3/ Chuyên gia kinh tế: John Giamalva
4/ Kế toán/kiểm toán viên: Jim Stewart
5/ Luật sư: Mary Jane Alves
6/ Cán bộ giám sát: George Deyman
2.2.2. Bối cảnh vụ điều tra
Ban đầu, vào cuối năm 2000, CFA tung lên báo chí Mỹ những thơng tin thất
thiệt, bơi xấu hình ảnh cá tra, cá basa Việt Nam. Đến tháng 2/2001, lúc này ở Mỹ khan
hiếm cá nheo, cá Việt Nam nhập khẩu tăng, cuộc chiến lại rộ lên. Họ bắt đầu một chiến
dịch quảng cáo kéo dài 9 tháng, tiêu tốn 5,2 triệu USD do Viện cá nheo Mỹ (TCI) phát
động và được CFA tài trợ để chống lại việc nhập khẩu cá tra và basa của Việt Nam.
Tháng 6/2001, Chủ tịch CFA gửi thư yêu cầu đến Tổng thống Bush đề nghị
Chính phủ Mỹ đàm phán với Việt Nam một hiệp định riêng về vấn đề cá catfish, đồng
thời thuê mướn luật sư, thu thập thông tin, đẩy mạnh tun truyền hạ thấp uy tín cá
Việt Nam. Khơng chỉ dừng lại ở đó, CFA tìm mọi cách thu hút nghị sỹ Quốc hội, nhất
là ở những bang có nghề nuôi cá nheo để cung cấp thông tin một chiều, tạo nên một
hình ảnh chung rất xấu cho sản phẩm cá Việt Nam cùng những nguy cơ mà người ni
cá nheo Mỹ có thể phải gánh chịu nếu khơng siết chặt các quy định nhập khẩu. Sau khi
bắt đầu cuộc cơng kích sản phẩm cá của Việt Nam nhưng không mang lại mấy hiệu
quả, CFA đã quyết định tấn cơng mạnh mẽ hơn bằng một loạt "địn hiểm ác". Mở đầu,
một số Thượng và Hạ nghị sỹ đại diện cho những bang có ni cá nheo cùng ký tên
vào một bức thư gửi Đại diện thương mại Mỹ Robert Zoellick, cho rằng cá tra, cá basa
từ Việt Nam đang gây thiệt hại cho nghề nuôi cá nheo Mỹ, đề nghị chính phủ Mỹ phải
sớm ra tay can thiệp.
Ngày 11/7/2001, một số thượng nghị sỹ bang Mississippi và Arkansas lên tiếng
kêu gọi Quốc hội thông qua một dự luật về ghi nhãn đối với nguồn gốc xuất xứ của cá
nuôi nhập khẩu trong khi bán lẻ, song không được ủng hộ. ¬
Ngày 5/10/2001, Hạ viện Mỹ thơng qua dự luật HR. 2964 chỉ cho phép sử dụng
tên cá "catfish" cho riêng các loài thuộc họ Ictaluridae (họ cá Nheo Mỹ).
Ngày 25/10/2001, Thượng viện Mỹ tiếp tục biểu quyết miệng, thông qua 35 điều
luật bổ sung cho dự án số HR.2330 về phân bổ ngân sách nơng nghiệp năm tài chính

2002, không cho phép FDA sử dụng ngân sách được cấp để làm thủ tục cho phép nhập
khẩu các loài cá da trơn mang tên "catfish" trừ phi chúng thuộc họ cá nheo Mỹ. Tiếp
đó khơng lâu, Quốc hội Mỹ thơng qua Đạo luật An ninh trang trại và Đầu tư nơng thơn
HR.2646 cấm hồn tồn việc dùng tên "catfish" cho cá tra, cá basa Việt Nam, áp dụng
trong tất cả các khâu từ nhập khẩu, bán buôn, bán lẻ, nhà hàng, quảng cáo, thông tin...
18


trong vịng 5 năm và có khả năng sẽ kéo dài vĩnh viễn. CFA khơng chỉ dừng ở đó mà
lại vin tiếp vào điều khoản 10806 của Đạo luật An ninh nông trại và Đầu tư nông thôn
mới nhất xác lập "chủ quyền tuyệt đối" trên thương hiệu catfish. Trước tình hình này,
các doanh nghiệp của ta đã phải từ bỏ cái tên catfish để trở về với cái tên thuần Việt
nam là "cá basa", "cá tra".
2.2.3. Diễn biến vụ điều tra
Bước 1: Ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu nộp đơn kiện
Khi đó, các doanh nghiệp xuất khẩu cá da trơn Việt Nam vào thị trường Mỹ vẫn
sử dụng 6 tên thương mại có từ "basa", tức là những tên gọi khơng có từ "catfish" đi
kèm: Basa, Bocourti, Basa bocourti; cá tra là: Hypo Basa, Sutchi Basa và Trasa.
Ngày 28/6/2002, CFA đã chính thức khởi kiện Việt Nam bán phá giá cá tra và cá
basa vào thị trường Mỹ tại Washington DC. CFA cáo buộc 53 doanh nghiệp Việt Nam
bán phá giá cá tra, basa Việt Nam nhập khẩu vào Mỹ. Đơn kiện gồm 200 trang kèm
theo 37 phụ lục, trong đó phân tích chi tiết về tình hình thị trường cá nheo Hoa Kỳ thị
phần cá da trơn phi-lê đông lạnh của Việt Nam tại Hoa Kỳ. Căn cứ theo:
- Luật thuế 1930
- Luật chống bán phá giá 1916
- Tu chính luật Byrd
- Luật về khả năng cạnh tranh và thương mại 1988
Ngày 29/6/2002, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam VASEP đã
ra tuyên bố bác bỏ cáo buộc của CFA về việc các doanh nghiệp của VASEP bán phá
giá cá tra, cá basa sang thị trường Mỹ. VASEP khẳng định rằng các thành viên của

Hiệp hội đã tuân thủ nghiêm túc quy tắc thương mại của Mỹ và luật pháp quốc tế.
Trong đơn kiện CFA đã đưa ra đề nghị cách tính biểu thuế chống bán phá giá như sau:
+ Nếu Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường thì cách tính giá phải theo kiểu của
Mỹ và nếu Việt Nam bán phá giá thì mức thuế chống bán phá giá sẽ là 144%.
+ Nếu Việt Nam không được công nhận là nước có nền kinh tế thị trường thì sẽ lấy
mức giá cả của Ấn Độ – nước mà CFA cho rằng có trình độ phát triển tương đương để áp vào cách tính giá cá basa của Việt Nam, nếu có bán phá giá, mức thuế áp dụng sẽ
là 191%. Các yếu tố để tính giá sẽ là: giá cá ni sống, giá phế liệu, bao bì, đóng gói,
nhân cơng lao động…
Trước tình hình này, các doanh nghiệp Việt Nam tập hợp trong VASEP (Hiệp hội
Chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam) cũng đã sẵn sàng những biện pháp đối phó,
trong đó có việc ký hợp đồng với Công ty luật White & Case - Công ty Luật lớn đứng
thứ 5 ở Mỹ để tư vấn cho thành viên của hội, chuẩn bị đối phó với khả năng Mỹ mở
cuộc điều tra về việc bán phá giá đối với cá tra, cá basa nhập từ Việt Nam.
Bước 2: Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi xướng điều tra
19


Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) nhận thấy rằng người khởi kiện đã nộp Đơn khởi
kiện đã đáp ứng 2 yêu cầu: đại diện cho số đông những doanh nghiệp trong ngành
hoặc những bên có liên quan; dẫn chứng nội dung về việc ngành sản xuất trong nước
bị thiệt hại hoặc đe dọa thiệt hại theo Đạo luật liên quan đến các cáo buộc điều tra yêu
cầu Bộ khởi xướng.
Bước 3: Điều tra sơ bộ về việc bán phá giá và về thiệt hại
 Giai đoạn hội thẩm và Tiến trình điều tra chống bán phá giá
ITC bắt đầu điều tra: Ngày 3/7/2002, Ủy ban Thương mại quốc tế Mỹ (ITC) đã gửi
đến VASEP một bảng câu hỏi liên quan đến vấn đề cá tra, cá basa, theo đó Uỷ ban này
có kế hoạch tiến hành điều tra xem liệu cá phile đông lạnh nhập khẩu từ Việt Nam vào
Mỹ có được bán phá giá thấp hơn giá trị thực, gây thiệt hại cho ngành nông nghiệp của
Mỹ hay không?
 Giai đoạn hội thẩm

1. Phiên điều trần thứ nhất
 DOC bắt đầu điều tra: vào ngày 18/7/2002 Bộ thương mại Mỹ (DOC) đưa ra
kết luận khởi xướng điều tra và tiến hành các giai đoạn công bố, tập hợp ý kiến các
bên. Bên Nguyên là CFA và Bên Bị (gồm Bị Đơn Bắt Buộc và Bị Đơn Tự Nguyện) là
các nhà sản xuất và chế biến VN được đại diện bởi Hiệp hội chế biến và xuất khẩu
thuỷ sản Việt Nam - VASEP.
 Điều tra sơ bộ của ITC: Vụ kiện phá giá đầu tiên trong thương mại giữa Việt
Nam và Mỹ đã diễn ra tại Washington D.C vào ngày 19/7/2002 và kết thúc vào ngày
20/7/2002 tại Washington DC. Tại buổi điều trần, các doanh nghiệp Việt Nam đã đưa
ra những tài liệu để bảo vệ cho lẽ phải của mình: Việt Nam khơng hề bán phá giá cá
tra, cá basa và các sản phẩm cá da trơn phi lê đông lạnh của Việt Nam chỉ chiếm một
thị phần rất nhỏ khơng thể gây ảnh hưởng tới tình hình ni trồng và chế biến cá nheo
của Mỹ.
=> Phiên điều trần này chỉ mang tính thu thập thơng tin để từ đó ITC có thể đưa ra kết
luận về khả năng bán phá giá của Việt Nam vào Mỹ. Tại đây, Việt Nam đã có những lý
lẽ xác đáng để chứng minh không bán phá giá cá da trơn vào Mỹ. Ngồi ra, chúng ta
cịn được sự ủng hộ của nhiều nhà nhập khẩu, các nhà khoa học nên tiếng nói của các
doanh nghiệp Việt Nam càng có trọng lượng cịn phía CFA thì khá lúng túng trong việc
chứng minh các luận điểm của mình và chuyển sang kêu ca những thiệt hại mà họ cho
rằng do chúng ta gây ra.
 Quyết định sơ bộ của ITC: Tuy nhiên, đến ngày 8/8/2002, ITC đã bỏ phiếu và
thống nhất kết luận: "Dựa trên kết quả điều tra sơ bộ, ITC thấy ngành ni cá da trơn
của Mỹ có thể có nguy cơ bị đe dọa bởi mặt hàng cá da trơn đông lạnh nhập khẩu từ
Việt Nam bán với giá thấp". Đây là kết luận bất lợi, đẩy vụ kiện sang giai đoạn 2 của
20


quá trình tranh tụng – giai đoạn căng thẳng và quan trọng nhất của vụ kiện. (sau 39
ngày kể tuè ngày CFA nộp đơn kiện). Ngày 9/8/2002 Vụ kiện được ITC chuyển sang
DOC để tiến hành điều tra tình trạng bán phá giá.

Ngày 22/8/2002, ITC đã công bố quan điểm về vụ kiện. Theo đó, ITC khơng coi
catfish là sản phẩm cạnh tranh trực tiếp với cá basa và cá tra của Việt Nam và loại 500
chủ nông trại cá nheo Mỹ ra khỏi danh sách nguyên đơn...
2. Phiên điều trần thứ hai: Quá trình tranh tụng căng thẳng và quan trọng nhất
 Điều Tra Sơ Bộ Của DOC: Trước đó, ngày 24/7/2002: DOC quyết định sẽ điều
tra sơ bộ chống bán phá giá đối với Bên Nguyên (CFA) và xác định giai đoạn điều tra
từ ngày 1/10/2001 đến 31/03/2002. (26 ngày kể từ ngày CFA nộp đơn khởi kiện)
 DOC điều tra tình trạng bán phá giá- bảng câu hỏi và giải trình của Việt Nam:
Ngày 12/8/2002, DOC tiếp nhận vụ kiện, tiến hành các bước điều tra tiếp theo và yêu
cầu 53 doanh nghiệp Việt Nam chuẩn bị báo cáo về tình hình chế biến và doanh số
xuất cá basa, cá tra sang Mỹ. Đồng thời, Chính phủ Việt Nam đã giao cho Bộ Thương
mại, phối hợp với Bộ Kế hoạch Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cùng Viện Nghiên cứu
Quản lý kinh tế Trung ương soạn thảo văn bản giải trình đề nghị Mỹ trao cho Việt
Nam quy chế nền kinh tế thị trường. Nội dung của văn bản là làm rõ khả năng chuyển
đổi tự do của đồng nội tệ (VNĐ); sự thỏa thuận tự do giữa chủ doanh nghiệp và lao
động về lương bổng; mức độ mà các công ty liên doanh cũng như các loại hình kinh tế
khác được hoạt động tại Việt Nam; mức độ sở hữu và quyền kiểm sốt của Chính phủ
đối với các phương tiện sản xuất; quyền hạn kiểm sốt của Chính phủ đối với việc
phân phối tài nguyên cũng như giá cả và đầu ra cho các doanh nghiệp; và một vài yếu
tố cần thiết khác... Đây cũng là những tiêu chí mà DOC u cầu Việt Nam phải giải
trình. Theo thơng lệ, ngồi văn bản giải trình, Việt Nam cần có ý kiến ủng hộ của các
tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp nước ngoài đang làm ăn tại Việt Nam... Về phía
mình, Việt Nam đã và đang làm hết sức mình để Việt Nam có thể được cơng nhận là
nước có nền kinh tế thị trường. Việc này có ý nghĩa rất quan trọng đối với vụ kiện cá
basa, đồng thời tạo thuận lợi cho Việt Nam trong các mối quan hệ thương mại quốc tế
sau này.
Bước 4: Kết luận sơ bộ
 DOC hoãn đưa ra kết luận về điều tra sơ bộ
Ngày 26/8/2002, DOC đã cơng bố hỗn thời gian đưa ra kết luận về cuộc điều tra

sơ bộ đến 24/1/2003, chậm 50 ngày so với lộ trình ban đầu.
Ngày 2/10/2002, Đoàn chuyên gia của Bộ Thương mại Mỹ (DOC) do Phó trợ lý
Bộ trưởng Thương mại Mỹ - ông Joseph. A. Spetrini dẫn đầu đã tới Hà Nội và có buổi
làm việc với Bộ Thương mại Việt Nam về vụ kiện này.
21


Việc đoàn DOC của Mỹ sang Việt Nam được xem như bước khởi đầu giai đoạn 3
(giai đoạn xác định sơ bộ của DOC) trong tiến trình vụ kiện bán phá giá cá tra, cá basa
tại Mỹ mặc dù đại diện đồn cơng tác này cho rằng chuyến đi này chỉ nhằm mục đích
là tìm hiểu tình hình ni cá tra, cá basa của một vài tỉnh phía Nam; gặp gỡ các doanh
nghiệp Việt Nam tham gia xuất khẩu cá tra, cá basa vào thị trường Mỹ; hướng dẫn trả
lời các câu hỏi điều tra của DOC liên quan đến vụ kiện này. Nhân đây, DOC sẽ trực
tiếp điều tra tại 4 công ty xuất khẩu lớn nhất (chiếm 60% sản phẩm xuất khẩu) của Việt
Nam gồm: Công ty XNK Thủy sản An Giang (Agifish); Công ty Nông súc sản Cần
Thơ (Cataco); Công ty TNHH Nam Việt Fish và Công ty TNHH Vĩnh Hồn. Về phía
Việt Nam, Bộ Thương mại cho rằng, việc đoàn chuyên gia DOC vào làm việc với các
cơ quan quản lý Nhà nước và doanh nghiệp Việt Nam là hữu ích cho cuộc điều tra,
cũng như tạo điều kiện cho các chuyên gia Mỹ thấy được nền kinh tế Việt Nam đang
vận hành theo nền kinh tế thị trường, bởi khơng có nơi nào có nền kinh tế thị trường
thuần khiết bởi ngay như Mỹ cũng đã thông qua ngân sách trợ cấp cho ngành nông
nghiệp là 190 tỷ USD trong 10 năm. Nền kinh tế Việt Nam nói chung, đặc biệt là các
ngành sản xuất, trong đó có sản xuất cá tra, cá basa ln hoạt động theo cơ chế thị
trường và khẳng định: Chính phủ Việt Nam khơng hề có trợ cấp cho các doanh nghiệp
xuất khẩu. Bộ Thương mại Việt Nam cũng nêu ý kiến phản đối việc khiếu kiện vô lý
của CFA đã ảnh hưởng không tốt tới quan hệ thương mại đang phát triển tốt đẹp giữa
hai nước. Đồng thời đề nghị DOC cần xem xét lại việc điều tra áp dụng thuế chống
bán phá giá đối với các tra, cá basa có xuất xứ từ Việt Nam để vừa bảo đảm phù hợp
với các quy định của luật pháp Mỹ cũng như các quy định trong Luật Thương mại
công bằng trong WTO, không đi ngược với nguyên tắc tự do hóa thương mại đã nêu

trong Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ; không dùng chống bán phá giá để bảo hộ một
cách không hợp lý nền sản xuất cá da trơn của Mỹ.
Ngày 8/11/2002, Phịng Chính sách của Bộ Thương mại Mỹ kiến nghị coi nền
kinh tế Việt Nam là phi thị trường. Nếu xem nền kinh tế của Việt nam là nền kinh tế
phi thị trường thì phía Hoa Kỳ sẽ không dựa trên cơ sở các yếu tố về sản xuất mà Việt
Nam cung cấp để tính giá mà sẽ dùng giá ở một quốc gia thay thế có nền kinh tế phát
triển tương tự như Việt Nam (ví dụ như Ấn Độ, Pakistan…) để áp vào các yếu tố sản
xuất của Việt Nam, và tính ra giá thành giả định của sản phẩm cá. Trên cơ sở giá thành
giả định đó và so sánh với giá bán tại thị trường Hoa Kỳ để tính biên độ bán phá giá
của sản phẩm cá của Việt Nam.
Ngày 14/11/2002, DOC đã phê chuẩn kiến nghị coi Việt Nam là nước có nền
kinh tế phi thị trường và chọn Ấn Độ là nước thứ ba. Kết luận này được công bố trên
mạng Internet mà không thông báo trực tiếp cho Bộ Thương mại Việt Nam là đối tác
của DOC trong quan hệ song phương. Với tư cách là bị đơn, VASEP đã ra thông cáo
22


×