Tải bản đầy đủ (.pdf) (110 trang)

Hiệu quả tuyên truyền thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện củ chi, thành phố hồ chí minh hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (909.86 KB, 110 trang )

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ HẰNG

HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN THỰC HIỆN
QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI – 2014


2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ HẰNG

HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN THỰC HIỆN
QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN


HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Ngành
Chun ngành
Mã số

: Chính trị học
: Cơng tác tư tưởng
: 60 31 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Lương Ngọc Vĩnh

HÀ NỘI - 2014


3

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1. Biểu đồ khảo sát đánh giá nhận thức của đối tượng tuyên truyền
thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở … .........................................51
Biểu đồ 2. Biểu đồ khảo sát thái độ của nhân dân về kết quả thực hiện quy
chế dân chủ ở cơ sở.....................................................................53
Biểu đồ 3. Biểu đồ đánh giá về việc tham gia tuyên truyền thực hiện quy chế
dân chủ ở cơ sở………………………………………………... ..57
Biểu đồ 4. Biểu đồ khảo sát về sự quan tâm lãnh, chỉ đạo của cấp ủy, chính
quyền địa phương trong thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở…... .66
Biểu đồ 5. Biểu đồ khảo sát về nguyên nhân hạn chế thực hiện quy chế dân
chủ ở cơ sở…………………………………………………........69



4

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU....................................................................................................... 5
Chương 1: HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN
CHỦ Ở CƠ SỞ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ......................................... 12
1.1. Quy chế dân chủ ở cơ sở - một thành tựu và bài học kinh nghiệm
quan trọng của sự nghiệp đổi mới....................................................... 12
1.2. Tuyên truyền và hiệu quả tuyên truyền thực hiện quy chế dân chủ ở
cơ sở................................................................................................... 24
1.3. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả tuyên truyền thực hiện quy chế
dân chủ ở cơ sở .................................................................................. 31
Chương 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN THỰC HIỆN
QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CỦ CHI,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ..................................................................... 39
2.1. Những yếu tố tác động đến hiệu quả tuyên truyền thực hiện quy chế
dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh ..... 39
2.2. Hiệu quả tuyên truyền thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở trên địa
bàn huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2007 đến nay..... 47
2.3. Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế trong tuyên truyền thực hiện
quy chế dân chủ cơ sở ở huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh ........... 70
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
TUYÊN TRUYỀN THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ...................... 75
3.1. Phương hướng nâng cao hiệu quả tuyên truyền thực hiện quy chế
dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Củ Chi đến năm 2020 ................. 75
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền thực hiện quy chế dân
chủ cơ sở trên địa bàn huyện Củ Chi .................................................. 80
KẾT LUẬN............................................................................................... 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO

...................................................................105


5

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Dân chủ là khát vọng sâu xa, là thành tựu cuộc đấu tranh lâu dài của
các dân tộc và của cả loài người. Trong xã hội Việt Nam - xã hội do nhân dân
lao động làm chủ thì dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển
kinh tế - xã hội, vừa là cơ chế, phương thức để vận hành quyền lực của nhân
dân trong quản lý nhà nước và tổ chức đời sống xã hội. Trong suốt quá trình
lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta ln khẳng định cách mạng là sự
nghiệp của nhân dân, vì nhân dân và do nhân dân thực hiện. Dựa vào dân,
phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp
của nhân dân là động cơ và mục đích, là tiền đề đảm bảo sự ổn định và phát
triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Xuất phát từ khát vọng trên, Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng việc
mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên nhiều lĩnh vực.
Trước tình hình đó, Đảng xác thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở là việc rất
quan trọng vì cơ sở là nơi đông đảo nhân dân sinh sống hàng ngày. Cơ sở là
nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà
nước. Thực hiện dân chủ ở cơ sở sẽ thúc đẩy cải cách hành chính, sửa đổi
những cơ chế chính sách và thủ tục hành chính khơng phù hợp. Nhân dân ở
cơ sở thực hiện quyền làm chủ, tham gia kiểm tra, giám sát sẽ tích cực xây
dựng Đảng, chính quyền, đồn thể trong sạch, vững mạnh, tích cực đấu tranh
chống các biệu hiện tiêu cực. Tuy nhiên để thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ
sở điều quan trọng nhất là phải tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên và nhân

dân hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình.
Qua nhiều năm thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, nhờ làm tốt công tác
tuyên truyền, nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhiều tầng lớp nhân dân đã
được nâng cao lên một bước, một bầu khơng khí dân chủ, cởi mở đã được tạo
ra, quyền làm chủ của nhân dân được mở rộng lòng tin của nhân dân vào


6
Đảng, chính quyền ngày càng được củng cố. Từ đó, góp phần tăng cường sự
vững mạnh của hệ thống chính trị cơ sở, sự vững mạnh của chính quyền địa
phương, thúc đẩy được sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an
ninh. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình tuyên truyền
thực hiện dân chủ cũng bộc lộ một số hạn chế đó là: một số cấp ủy đảng,
chính quyền chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của quy chế dân chủ trong
trong việc phát huy sức mạnh của quần chúng lao động trong phát triển kinh
tế - xã hội và quản lý nhà nước. Ngoài ra, một bộ phận nhân dân do chưa ý
thức đầy đủ về quyền dân chủ của mình trong xã hội nên chưa tham gia tích
cực vào các hoạt động thể hiện quyền dân chủ của chính mình.
Huyện Củ Chi là một huyện ngoại thành của thành Phố Hồ Chí Minh.
Trong q trình tun truyền thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, huyện đã thu
được những thành quả to lớn, đồng thời cũng gặp khơng ít những khó khăn,
vướng mắc. Trước yêu cầu của thời kỳ cách mạng mới, trong xu thế dân chủ
hóa đời sống chính trị ngày càng cao. Nhiệm vụ cách mạng rất nặng nề, phức
tạp. Xu hướng tồn cầu hóa, hội nhập quốc tế địi hỏi cả nước nói chung,
huyện Củ Chi nói riêng càng phải đẩy mạnh hơn nữa q trình thực hiện quy
chế dân chủ ở cơ sở. Những vấn đề này đặt ra cho chúng ta nhu cầu tìm hiểu,
phân tích thực trạng của q trình tun truyền thực hiện quy chế dân chủ ở
cơ sở trên địa bàn huyện Củ Chi, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và xây
dựng giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả tuyên truyền thực hiện quy chế
dân chủ ở cơ sở. Đó chính là lý do tơi chọn đề tài “Hiệu quả tuyên truyền

thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Củ Chi, thành phố
Hồ Chí Minh hiện nay”.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Tuyên truyền thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở là một vấn đề có tầm
quan trọng trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta. Vấn đề này đã được nhiều cơ
quan khoa học, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ,
phạm vi và mức độ khác nhau.


7
Các cơng trình, tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài có thể chia làm
hai nhóm như sau:
- Nhóm cơng trình, tài liệu nghiên cứu về dân chủ và thực hiện quy chế
dân chủ ở cở sở.
Những năm qua, có nhiều bài phát biểu của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà
nước đã nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện quy chế dân
chủ ở cơ sở như : Đỗ Mười (1998), “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở
cơ sở”, Tạp chí Cộng sản, số 20, tr.3-8. Lê Khả Phiêu (1998) “Phát huy quyền
làm chủ của nhân dân, xây dựng thực hiện thiết chế dân chủ ở cơ sở”, Tạp chí
Cộng sản, số 3, tr 3-7.
Các bài viết của các tác giả phân tích, lý giải về yêu cầu, cách thức tổ
chức để thực hiện tốt qui chế dân chủ ở cơ sở như: “Một số vấn đề về quy chế
thực hiện dân chủ ở xã” của Vũ Anh Tuấn, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 9,
1998, tr.54-56. Nguyễn Đình Tấn (1998) “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện
thiết chế dân chủ ở nước ta”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 10, tr.37-39.
Các đề tài đã được xuất bản như: “Cơ chế thực hiện dân chủ xã hội chủ
nghĩa trong hệ thống chính trị nước ta” (đề tài cấp nhà nước KX.05.05 Viện
Mác – Lênin – Hồ Chí Minh) do PGS.TS Hồng Chí Bảo làm chủ đề tài.
“Thực trạng việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở xã”, Đề tài khoa học cấp
bộ, đăng ký năm 1998, do PGS.TS Dương Xuân Ngọc chủ trì, hồn thành và

bảo vệ vào tháng 7 năm 2000. “ Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ hóa
đời sống xã hội ở nơng thơn miền núi, vùng dân tộc tiều số các tỉnh miền núi
phía bắc nước ta” do Nguyễn Quốc Phẩm chủ biên, Nxb. Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2000. “Các đồn thể nhân dân với việc đảm bảo dân chủ ở cơ sở hiện
nay” của TS. Phan Xuân Sơn – Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002. “Thực
hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện
nay”.TS. Nguyễn Văn Sáu, GS Hồ Văn Thông – Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 2003.


8
Liên quan đến vấn đề này cịn có nhiều luận văn nghiên cứu như :
“Những đặc điểm cơ bản của hệ thống chính trị đảm bảo tốt dân chủ cơ sở”,
luận văn Thạc sỹ chính trị học của Hồng Đức Sơn, năm 2000. “Những biện
pháp nhằm tăng cường việc thực hiện quy chế DCCS cấp xã của tỉnh Sơn
La”, luận văn Thạc sỹ quản lý nhà nước của Lò Hồng Lâm, năm 2000.
“Chính quyền phường đảm bảo thực hiện quy chế thực tiễn dân chủ ở cơ sở
(từ thực tiễn thành phố Hà Nội), luận văn Thạc sỹ quản lý hành chính cơng
của Nguyễn Tân Huyền, năm 2005. “Xây dựng các biện pháp thực hiện Quy
chế dân chủ cơ sở ở nông thôn” Luận văn Thạc sỹ quản lý hành chính cơng
của Lê Hồng Cậy, năm 2006.
- Nhóm cơng trình, tài liệu nghiên cứu về tuyên truyền.
Về lĩnh vực tuyên truyền quy chế dân chủ ở cơ sở có rất nhiều cơng
trình, bài viết. “ Đổi mới cơng tác tun truyền vận động quần chúng” của Hà
Đăng, Tạp chí Tuyên giáo, số 1, 2013,tr.15; “Học tập và làm theo cách tuyên
truyền của Hồ Chí Minh” của TS. Bùi Hồng Vạn, Tạp chí Tuyên giáo, số 3,
2013, tr.25; “Một số giải pháp nâng cao chất lượng tuyên truyền” của Phan
Xuân Trường, Tạp chí Tuyên giáo, số 1, 2012, tr.34; “Nâng cao tính thuyết
phục của cơng tác tun truyền miệng trong tình hình mới” của TS. Trương
Minh Tuấn, Tạp chí Tun giáo, số 8, 2012, tr.17; “Các loại hình tuyên truyền

và tiêu chuẩn đánh giá các loại hình tuyên truyền” của TS. Phạm Huy Kỳ,
Tạp chí Lý luận Chính trị truyền thơng, số 10, 2009; “Học tập phương pháp
tuyên truyền cách mạng Hồ Chí Minh”, TS. Hồng Quốc Bảo, Nxb. Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2006; Luận án tiến sĩ của tác giả Lương Ngọc Vĩnh về “
Hiệu quả giáo dục chính trị - tư tưởng trong học viên các học viện quân sự ở
nước ta hiện nay”, Thư viện Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Luận văn
thạc sỹ chính trị học của Lâm Hương Huệ về “Hiệu quả tuyên truyền thực
hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”, Thư
viện Học viện Báo chí và Tuyên truyền.


9
Như vậy trong thời gian qua đã có nhiều cơng trình, bài viết của các tác
giả đề cập đến vấn đề thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và hiệu quả của công
tác tuyên truyền. Tuy nhiên, các cơng trình đều tập trung nghiên cứu về tình
hình thực hiện quy chế dân chủ cấp cơ sở nói chung. Mặc dù, hiện nay đã có
luận văn của Lâm Hương Huệ nghiên cứu về hiệu quả của công tác tuyên
truyền trong thực hiện dân chủ ở xã phường, thị trấn nhưng cơng trình này
thiên về nghiên cứu kết quả thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, chưa làm rõ
được khía cạnh tuyên truyền, đặc biệt là hiệu quả tun truyền dưới góc độ
của khoa học cơng tác tư tưởng.
Nhìn chung đến nay, chưa có cơng trình nào nghiên cứu về hiệu quả
tuyên truyền thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở huyện Củ Chi, thành phố Hồ
Chí Minh. Đề tài hy vọng sẽ thể hiện được những điểm mới, sáng tạo để có
thể nâng cao hiệu quả việc thực hiện dân chủ ở cơ sở thông qua việc tuyên
truyền vận động trên địa bàn huyện Củ Chi nói riêng và cả nước nói chung.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích
Nghiên cứu, hệ thống hố cơ sở lý luận về hiệu quả tuyên tuyền thực
hiện qui chế dân chủ ở cơ sở, khảo sát đánh giá thực trạng và đề xuất phương

hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền thực hiện quy chế dân chủ ở
cơ sở trên địa bàn huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
- Nhiệm vụ
- Làm rõ cơ sở lý luận về hiệu quả truyên truyền thực hiện quy chế dân
chủ ở cơ sở .
- Phân tích, đánh giá thực trạng tuyên truyền thực hiện dân chủ ở cơ sở
trên địa bàn huyện Củ Chi - thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất phương hướng, các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tuyên
truyền thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Củ Chi, thành
phố Hồ Chí Minh.


10
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Hiệu quả tuyên truyền thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn
các xã, thị trấn ở huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động tuyên truyền thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thị
trấn trên địa bàn huyện Củ Chi từ 2007 đến nay.
Thời gian nghiên cứu khảo sát từ khi có Pháp lệnh 34/PL-UBTVQH11
về thực hiện dân chủ ở cơ sở có hiệu lực (ngày 01/7/2007) đến nay.
Đề tài tiến hành nghiên cứu các số liệu thống kê và nghiên cứu ở các xã
trên địa bàn huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời tham khảo thông
tin về tuyên truyền thực hiện dân chủ ở các địa phương khác để đối chứng.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận
Lý luận về công tác tuyên truyền, về dân chủ và dân chủ cơ sở, trên các
quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các
quan điểm của Đảng và Nhà nước.

- Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, phương pháp
logic và lịch sử, phương pháp so sánh, chú trọng sử dụng phương pháp điều
tra xã hội học, phương pháp định tính, định lượng trong q trình phân tích,
đánh giá hiệu quả tuyên truyền thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện
Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.
6. Cái mới của luận văn
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiển hiệu quả tuyên
truyền thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Củ Chi, thành
phố Hồ Chí Minh, luận văn có những đóng góp cụ thể :


11
- Luận văn trình bày có hệ thống dưới góc độ khoa học chuyên ngành
công tác tư tưởng về hiệu quả tuyên truyền thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
trên địa bàn huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh
- Đánh giá thực trạng và đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát
huy hiệu quả tuyên truyền thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đối với huyện
Củ Chi
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần vào việc phát triển và
hồn thiện các căn cứ khoa học và thực tiễn để giúp tiếp tục nâng cao hiệu
quả tuyên truyền thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Củ
Chi, thành phố Hồ Chí Minh.
Kết quả luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho huyện Củ Chi, các
huyện khác và các xã, thị trấn tuyên truyền thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương, 8 tiết.



12
Chương 1
HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN THỰC HIỆN QUY CHẾ
DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1. Quan niệm về dân chủ và quy chế dân chủ ở cơ sở
1.1.1. Quan niệm về dân chủ
Ban đầu thuật ngữ “dân chủ” có nghĩa chung là quyền lực của người
bình dân, quyền làm chủ xã hội, và làm chủ bản thân con người, là quyền làm
chủ của nhân dân trong xã hội. Càng ngày, khái niệm dân chủ càng được mở
rộng nhiều hơn, mang nội dung mới mẻ hơn, nó được gắn với ý thức chính trị,
gắn với chính quyền của nhân dân, gắn với tiến trình lịch sử của xã hội lồi
người. Đồng thời, nó cịn là giá trị xã hội nhân văn, đánh dấu nấc thang tiến
bộ của xã hội loài người.
Chủ nghĩa Mác - Lênin kế thừa những nhân tố hợp lý, những hoạt
động thực tiễn và nhận thức của nhân loại về dân chủ, đặc biệt tán thành quan
điểm: Dân chủ là một nhu cầu khách quan của nhân dân lao động, dân chủ là
quyền lực thuộc về nhân dân. Khi xã hội có giai cấp và nhà nước – tức là một
chế độ dân chủ thể hiện chủ yếu qua nhà nước thì khi đó khơng có dân chủ
chung chung, phi gia cấp, siêu giai cấp, “dân chủ thuần túy”. Trái lại, mỗi chế
độ dân chủ gắn với nhà nước đều mang bản chất giai cấp thống trị xã hội. Nên
dân chủ trong xã hội có giai cấp nó mang tính giai cấp, gắn liền với các giai
cấp đã thiết lập nên nền dân chủ đó, như: dân chủ chủ nơ, dân chủ tư sản, dân
chủ vô sản (dân chủ xã hội chủ nghĩa). Do đó từ khi có chế độ dân chủ thì dân
chủ luôn luôn tồn tại với tư cách một phạm trù lịch sử, phạm trù chính trị. Với
một chế độ dân chủ và nhà nước tương ứng đều do một giai cấp thống trị cầm
quyền chi phối tất cả các lĩnh vực của tồn xã hội, do vậy, tính giai cấp thống
trị cũng gắn liền và chi phối tính dân tộc, tính chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội… ở mỗi quốc gia, dân tộc cụ thể.



13
Trong tư tưởng của V.I. Lênin, phạm trù dân chủ được triển khai dưới
rất nhiều cấp độ và rất cụ thể. V.I. Lênin cũng như bất kỳ nhà mácxít nào đều
quan niệm quần chúng nhân dân là người làm nên lịch sử chứ không phải
những cá nhân anh hùng hoặc thần thánh nào. Từ góc độ này, V.I.Lênin cho
rằng: dân chủ là sự thống trị của đa số. Cũng cần nhấn mạnh rằng, sự thống trị
của đa số theo cách nói của V.I. Lênin là một "chế độ", khơng nên hiểu như là
"sự cai trị, sự áp bức, sự áp đặt..." một cách thô thiển và đơn giản, mà cần
hiểu rằng đó là sự quyết định của đa số mà thiểu số phải phục tùng các quyết
định đó.
Quan niệm về dân chủ trên đây của V.I. Lênin không những không mâu
thuẫn với các quan niệm tiến bộ về dân chủ trong lịch sử tư tưởng nhân loại
mà còn là bước kế thừa và phát triển trong điều kiện mới, tức là trong điều
kiện cần phải giáo dục cho giai cấp cơng nhân và đảng của nó hiểu được bản
chất của dân chủ và nhiệm vụ của mình trong quá trình thiết lập một nền dân
chủ mới, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Để có nền dân chủ xã hội chủ nghĩa,
giai cấp cơng nhân và đảng của nó khơng chỉ giác ngộ về "dân chủ" mà phải
xây dựng một "chế độ dân chủ". Phát triển dân chủ đến cùng, tìm ra những
hình thức của sự phát triển ấy, đem thí nghiệm những hình thức ấy trong thực
tiễn đó là một trong những nhiệm vụ cấu thành của cuộc đấu tranh vì cách
mạng xã hội. Dân chủ xã hội chủ nghĩa hình thành và phát triển cùng với sự
ra đời của chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Đây chính là
hình thức phát triển cao nhất của chế độ dân chủ, trong đó quyền lực thực tế
thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động, quyền lực đó được thực
hiện thơng qua nhà nước và các tổ chức xã hội khác dưới sự lãnh đạo của
chính đảng của giai cấp cơng nhân. Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa,
quyền công dân và quyền con người không chỉ được đảm bảo về mặt pháp lý
mà còn được đảm bảo cả trên thực tế. Xét về quy mô, dân chủ xã hội chủ
nghĩa là nền dân chủ rộng rãi dành cho đa số quần chúng nhân dân lao động



14
và được thể hiện trên các mặt của đời sống xã hội. Xét về nội dung cốt lõi, dân
chủ xã hội chủ nghĩa mang bản chất của giai cấp công nhân, nhân đạo và tiến
bộ. Xét trên bình diện tổng thể, dân chủ xã hội chủ nghĩa kế thừa những giá trị
nhân đạo của các nền dân chủ trước đó và biến những giá trị đó thành hiện
thực. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có những điểm mới so với các nền dân
chủ trước đó, thể hiện rõ nét qua các điểm sau: Thứ nhất, dân chủ xã hội chủ
nghĩa là nền dân chủ cho số đông, là sự đảm bảo quyền, lợi ích của nhân dân,
do giai cấp công nhân đại diện. Thứ hai, tiền đề đầu tiên của dân chủ xã hội
chủ nghĩa là quần chúng phải được giải phóng và đạt được một bước ngoặc
lịch sử là tự do về chính trị, là chủ thể lịch sử, là quyền dân tộc tự quyết. Thứ
ba, giai cấp công nhân là đại diện tiêu biểu nhất cho quyền lực xã hội. Cơ sở
kinh tế sâu xa của dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ sở hữu xã hội. Cơ sở
chính trị là nhà nước kiểu mới, là Đảng Cộng sản cầm quyền và thực hiện
nhiệm vụ lãnh đạo xã hội và nhà nước. Thứ tư, lần đầu tiên trong lịch sử, chế
độ nhà nước mới trùng hợp, phù hợp, thống nhất với chế độ dân chủ. Thứ
năm, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ra đời dẫn đến sự ra đời của nguyên tắc
tập trung dân chủ. Đây là nguyên tắc chính trị của Đảng Cộng sản, vừa là
nguyên tắc và cơ chế quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa nhằm mục đích
thực hiện và đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân lao động.
Như vậy, dân chủ hiểu theo nghĩa rộng nhất như là một giá trị xã hội,
được biểu hiện qua sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau,
thể hiện quyền làm chủ của con người trước tự nhiên và xã hội. Dân chủ được
hình thành và phát triển không ngừng, biểu hiện trong các chế độ dân chủ
nhất định trong lịch sử.
Kế thừa quan điểm dân chủ của chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ
Chí Minh ln coi dân chủ là khát vọng mn đời của con người. Quan niệm
về dân chủ của Người được diễn đạt qua hai mệnh đề: “Dân là chủ” và “Dân

làm chủ”. Cả hai vấn đề đó đi đơi với nhau, thể hiện vị trí, vai trị, quyền và


15
trách nhiệm của dân. Người nói :“Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nhà
nước do nhân dân làm chủ”[10,tr.452]; “Chế độ ta là chế độ dân chủ. Tức là
nhân dân làm chủ”;“Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân
là chủ”[63,tr.515]. Phản ánh đúng nội dung bản chất về dân chủ. Quyền hành
và lực lượng đều thuộc về nhân dân. Xã hội đảm bảo điều đó được thực thi thì
đó là một xã hội thực sự dân chủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chế
độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân lao động làm chủ ”[59,tr.251]. Sau
thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ
cộng hồ đã ra đời, đó là nhà nước công nông đầu tiên được thiết lập ở Đông
Nam Á. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước ta là nhà
nước của dân, do dân và vì dân, chế độ ta là chế độ do nhân dân ta làm chủ.
Mỗi cơng dân đều có quyền và nghĩa vụ tham gia làm chủ đất nước, làm chủ
xã hội, và làm chủ bản thân mình. Những luận điểm cơ bản ấy đã được nêu rõ
trong các Nghị quyết của Đảng, trong Hiến pháp của Nhà nước, và được thể
hiện trong nhiều văn bản pháp luật, nhiều chính sách đã được ban hành từ
trước đến nay. Những điều đó khẳng định dân chủ là vấn đề thuộc bản chất
của chế độ xã hội chủ nghĩa nói chung, của Nhà nước ta nói riêng.
Qua hơn tám mươi năm lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành độc lập
dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta bao giờ cũng coi dân chủ là
một nội dung quan trọng trong đường lối cách mạng của mình. Mở rộng dân
chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vừa là mục tiêu,
vừa là động lực để nhân dân ta vượt qua khó khăn, thực hiện thắng lợi nhiệm
vụ chiến lược-vừa là bản chất, vừa là đặc trưng của chế độ mới. Sợi chỉ đỏ
xuyên suốt cách mạng Việt Nam mà Đảng ta đã vạch ra và lãnh đạo đó chính
là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Giai đoạn đầu là cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân, trong đó hai mục tiêu dân tộc và dân chủ gắn bó

với nhau từ buổi đầu sự nghiệp cách mạng. Nội dung dân chủ trong giai đoạn
cách mạng trước chủ yếu là đem lại ruộng đất cho dân cày – thành phần đông


16
đảo nhất trong dân cư. Sau cách mạng dân tộc, dân chủ thành công, Đảng ta
lãnh đạo đất nước chuyển sang giai đoạn cách mạng mới - cách mạng xã hội
chủ nghĩa - đó chính là cuộc cách mạng giải phóng xã hội, giải phóng con
người, phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở trình độ hồn thiện và toàn
diện hơn, tiến tới thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh”.
1.1.2. Khái niệm và nội dung quy chế dân chủ ở cơ sở
1.1.2.1. Khái niệm quy chế dân chủ ở cơ sở
Thuật ngữ quy chế được sử dụng trong các lĩnh vực hành chính, tư
pháp, lập pháp, trong một cộng đồng nhỏ như làng, xã, hợp tác xã, cộng đồng
lớn như quốc gia. Quy chế là loại văn bản thuộc các văn bản quy phạm pháp
luật nếu cơ quan ban hành là cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cịn nếu khơng
phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành thì quy chế đó chỉ là văn
bản có tính quy định nội bộ.
Tuy nhiên, giới hạn trong phạm vi hành chính, “quy chế là thuật ngữ
dùng để chỉ một hay những văn bản về quy tắc xử sự do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ban hành hoặc tuy khơng ban hành nhưng thừa nhận tính hợp
pháp của qui chế đó, có hiệu lực bắt buộc mọi người có liên quan trong một
cộng đồng (một cơ quan, một tổ chức, tại một địa điểm, một vùng) phải tuân
theo” [28,tr.157]. Như vậy quy chế dân chủ cũng là một trong những loại văn
bản mang tính chất pháp lý của từng quốc gia, của tổ chức qui định nhằm thực
hiện dân chủ trong quốc gia, tổ chức, cơ quan đơn vị và tùy thuộc vào hình
thức ban hành mà có nội dung và hình thức khác nhau.
Dân chủ ở cơ sở là mối quan hệ giữa dân và chính quyền cơ sở mà ở
đó chính quyền phải lắng nghe dân, phải tạo điều kiện để người dân được

quyết định hoặc tham gia quyết định những vấn đề liên quan đến cuộc sống
và sự phát triển của mỗi người dân, của cả cộng đồng. Cơ sở là đơn vị ở cấp
dưới cùng, nơi trực tiếp thực hiện các hoạt động của một hệ thống tổ chức


17
trong quan hệ với các bộ phận lãnh đạo cấp trên. Cơ sở là nơi sản xuất, kinh
doanh, lao động, học tập, sinh sống hàng ngày; nơi nảy sinh nhiều yêu cầu
bức xúc trong đời sống kinh tế, văn hóa xã hội, chính trị; nơi trực tiếp thực
hiện mọi chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước. Cơ sở là nơi nhân
dân đang có nhiều địi hỏi về làm chủ là cũng là nơi có điều kiện thực hiện
quyền dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi nhất. Cấp cơ sở là cấp xã
(phường, thị trấn và tương đương) trong quan hệ với cấp địa phương (cấp
huyện và cấp tỉnh) và với cấp trung ương. Chính quyền cấp cơ sở là chính
quyền cấp xã - cấp chính quyền cuối cùng, gần và sát dân nhất. Cịn thơn
(làng, ấp, bản, khu phố, tổ nhân dân và tương đương) là theo đơn vị dân cư với tư cách là những cộng đồng người nhỏ nhất mà sinh hoạt dân cư diễn ra tự
quản là chính. Dân chủ ở cơ sở chủ yếu là thực hiện hình thức dân chủ trực
tiếp và các hình thức tự quản của cộng đồng dân cư. Dân chủ ở cơ sở cũng
được hiểu là dân chủ ở cơ quan hành chính của Nhà nước, đơn vị sự nghiệp,
doanh nghiệp Nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn và cơng ty cổ phần.
Từ đó có thể hiểu quy chế dân chủ ở cơ sở là hệ thống các văn bản qui
phạm pháp luật về thực hành dân chủ trực tiếp và gián tiếp ở từng loại hình cơ
sở và hình thức tự quản của cộng đồng dân cư nhằm phát huy quyền làm chủ
của nhân dân.
1.1.2.2. Sự ra đời của qui chế dân chủ ở cơ sở
Ở nước ta, pháp luật về thực hiện dân chủ trực tiếp đã hình thành rất
sớm ngay từ Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Theo quy định tại Điều 32, Hiến pháp 1946, những việc quan hệ đến vận
mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết. Các Hiến pháp sửa đổi, bổ
sung sau này đều quy định việc nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý

xã hội và biểu quyết khi nhà nước trưng cầu ý dân; ghi nhận nhiều nội dung
quan trọng thể hiện quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân như: chế độ bầu cử
và bãi miễn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, tổ chức đời
sống cộng động dân cư. Sự ra đời của pháp luật về dân chủ ở cơ sở là một


18
bước đột phá quan trọng trong việc hiện thực hóa bản chất dân chủ của chế độ
và nhà nước ta. Nó cụ thể hóa quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở. Dân chủ
cơ sở là nội dung cơ bản nhất của dân chủ trực tiếp có ý nghĩa thiết thực và
quan trọng đối với toàn bộ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; là một phần của tiến
trình mở rộng và thực hiện quyền dân chủ trên cả hai hình thức dân chủ đại
diện và dân chủ trực tiếp.
Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là đất nước của dân, do dân, vì dân. Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm
2011) đã khẳng định: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân xây dựng là một
xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm
chủ…” [23,tr.70]. Dân chủ còn được hiểu như mục tiêu phấn đấu của dân
tộc. Những mục tiêu đó đều có mối liên hệ gắn bó với nhau: dân có giàu thì
nước mới mạnh, có dân chủ thì mới có cơng bằng xã hội, có dân chủ thực sự
thì dân mới giàu và nước mới mạnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng dạy:
“Dễ mười lần khơng dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”
[55,tr.212]. Đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng và dân chủ là những yếu tố
không thể thiếu được của một nền văn minh. Với mục tiêu phấn đấu như vậy, việc
phát huy dân chủ, nhất là dân chủ cơ sở là chủ trương, biện pháp, là hành động tất
yếu của nhân dân và chính quyền trong q trình phát triển của đất nước ta.
Sau hơn một thập kỷ tiến hành cơng cuộc đổi mới, đất nước đã có
những bước chuyển mình nỗ lực từ một nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung bao cấp, nay chúng ta chuyển sang nền kinh tế hàng hoá, nhiều thành phần,
theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh những thành

công bước đầu về phát triển kinh tế, đổi mới xã hội, Đảng và Nhà nước ta
cũng rút ra nhiều bài học trong công tác quản lý điều hành nền kinh tế như:
việc thu chi sai nguyên tắc, lợi dụng chiếm đoạt và tham ô, tham nhũng đã
xảy ra làm thất thoát tài sản Nhà nước, làm suy yếu nền kinh tế, làm nghèo


19
cho đất nước. Đối với xã hội thì việc thực hiện pháp luật còn chưa nghiêm, kỷ
cương xã hội bị buông lỏng kéo dài, một số cán bộ trung, cao cấp của Nhà
nước bị thoái hoá, biến chất, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự xã hội.
Ở một số nơi cán bộ ở cơ sở đã lợi dụng chức quyền, nhũng nhiễu nhân dân,
do đó đã gây mất lịng tin trong nhân dân, phát sinh ra mâu thuẫn nội bộ, gây
mất đoàn kết trong một số địa phương, gây ra tình trạng khiếu kiện tập thể
lan rộng nhiều địa phương trong cả nước. Tiêu biểu là vụ khiếu kiện tập thể
kéo dài ở Thái Bình, Nam Định, Hà Tây… những năm 90 của thế kỷ XX.
Đứng trước thực trạng mất dân chủ ở một số nơi, Đảng ta đã nhận thức được
vai trò của việc thực hiện dân chủ ở cơ sở trong sự ổn định kinh tế chính trị xã
hội có một tầm quan trọng to lớn đối với sự phát triển đất nước. Tại hội nghị
Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 3 (khoáVIII), Đảng đã yêu cầu phát huy
mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia quản lý nhà nước,
quản lý xã hội. Đảng nhận định: phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra” chưa được cụ thể hoá, chưa được thể chế hoá thành pháp luật,
cho nên phương châm đó đã chậm đi vào cuộc sống, quyền làm chủ của nhân
dân chưa được thực hiện, thậm chí bị xâm phạm.
Để triển khai đồng bộ, toàn diện và cụ thể việc phát huy quyền làm chủ
của nhân dân, ngày 18 tháng 02 năm 1998, Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Cộng Sản Việt Nam ra Chỉ thị 30/CT-TƯ về xây dựng và thực hiện quy chế
dân chủ ở cơ sở. Tiếp đó, ngày 11 tháng 5 năm 1998, Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 29/1998/NĐ-CP về thực hiện quy chế dân chủ ở xã. Ngày 8
tháng 9 năm 1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 71/1998/ NĐ-CP về

“Quy chế dân chủ trong hoạt động cơ quan”. Tiếp sau đó là Nghị định số
07/1999/NĐ-CP về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp Nhà
nước; Nghị định số 87/2007/NĐ-CP về ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở
công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Ngày 20/04/2007, Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội khóa XI đã ban hành Pháp lệnh số 34 về thực hiện dân chủ


20
ở xã, phường, thị trấn thay cho Nghị định 29/CP và Nghị định 79/CP của Chính
phủ nhằm thực hiện phương châm “ dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
Quy chế dân chủ ra đời là bước đột phá quan trọng trong việc thực hiện
bản chất dân chủ của Nhà nước ta. Quy chế dân chủ ở cơ sở ra đời là địi hỏi
tất yếu của q trình thực hiện dân chủ hoá trên các lĩnh vực đời sống xã hội.
Quy chế dân chủ là nội dung cơ bản nhất của dân chủ trực tiếp, nó có ý nghĩa
thiết thực và quan trọng đối với nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, mở
rộng và thực hiện quyền dân chủ ở hai hình thức dân chủ đại diện và dân chủ
trực tiếp. Qua thực hiện quy chế dân chủ, căn cứ vào Chỉ thị 30, Nghị định 71
và Pháp lệnh 34, các bộ ngành đã xây dựng và ban hành các quy chế dân chủ
phù hợp với đặc thù cơ quan mình. Các văn bản quy phạm pháp luật trên thể
hiện tập trung ở những quy định về biện pháp làm chủ trực tiếp của nhân dân
ở từng loại hình cơ sở, những điều nhân dân phải được biết, những việc nhân
dân được bàn để cấp có thẩm quyền quyết định hoặc nhân dân được quyết
định và những việc nhân dân được giám sát, kiểm tra, nhằm phát huy quyền
làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân.
1.1.2.3. Nội dung quy chế ở cơ sở
Quy chế dân chủ ở cơ sở xã phường, thị trấn quy định rõ quyền và trách
nhiệm của người dân trong thực hiện quyền làm chủ, cụ thể trên các nội dung sau:
- Những việc thơng báo để dân biết: Đó là quy định quyền của mọi người
được thông tin về những chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các
vấn đề liên quan trực tiếp tới đời sống hàng ngày của người dân tại cơ sở

Quy chế quy định các vấn đề, cơng việc cụ thể mà chính quyền cần
thơng tin kịp thời và công khai cho nhân dân biết; cùng các vấn đề khác mà
chính quyền thấy cần thiết và nhân dân yêu cầu được thông báo.
Nội dung công khai để nhân dân biết: (1) Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế và dự toán, quyết toán ngân
sách hằng năm của xã; (2) Dự án, cơng trình, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái
định cư liên quan đến dự án, cơng trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế


21
hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư
trên địa bàn cấp xã; (3) Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã
trực tiếp giải quyết các công việc của nhân dân; (4) Việc quản lý và sử dụng
các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo chương trình, dự án đối với cấp xã; các
khoản huy động nhân dân đóng góp; (5) Chủ trương, kế hoạch vay vốn cho
nhân dân để phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo; phương thức và bình
xét hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà
tình thường, cấp thẻ bảo hiểm y tế; (6) Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị
hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã; (7)
Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của
cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy phiếu tín
nhiệm chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã; (8) Nội dung và kết quả tiếp thu ý
kiến của nhân dân đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp
xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy ý kiến nhân dân; (9) đối tượng, mức thu
các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền cấp xã trực tiếp
thu; (10) Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các
cơng việc liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện;
(11) Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết.
- Những nội dung dân bàn: Dân có quyền bàn và quyền quyết định
trực tiếp, dân có quyền bàn và tham gia ý kiến với hội đồng nhân dân và ủy

ban nhân dân xã quyết định.
Các việc dân bàn và quyết định trực tiếp là các loại việc có huy động
sự đóng góp của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng quy ước,
hương ước. Đây là những quy định rất mới, khơng những thực hiện quyền
làm chủ mà cịn chống lại tệ tham nhũng, lãng phí.
Quy chế quy định những công việc nhất thiết phải bàn bạc và do dân
trong xã quyết định trực tiếp gồm có các việc sau: (1) Chủ trương, phương án,
mức đóng góp để xây dựng cơ sở hạ tầng, các cơng trình phúc lợi cơng cộng


22
trong phạm vi cấp xã, thôn, ấp, tổ nhân dân, tổ dân phố do nhân dân đóng góp
tồn bộ hoặc một phần và các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư
phù hợp với quy định của pháp luật; (2) Xây dựng các hương ước, quy ước về
nếp sống văn minh đơ thị, giữ gìn trật tự an tồn xã hội; bầu, bãi nhiệm, miễn
nhiệm trưởng thơn, ấp, tổ trưởng nhân dân, tổ dân phố; (3) Dân bàn và quyết
định trực tiếp bằng các hình thức: họp đồn thể cử tri hay cử tri đại diện hộ
gia đình ở tổ dân phố, thảo luận và biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín;
phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình.
Những việc dân bàn, tham gia ý kiến, các cấp chính quyền quyết định.
Nội dung nhân dân tham gia ý kiến: (1) Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của cấp xã; phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề
án định canh, định cư, vùng kinh tế mới và phương án phát triển ngành nghề
của cấp xã; (2) Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương
án điều chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã. Dự thảo kế hoạch
triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấp xã; chủ trương, phương án
đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng, tái định cư;
phương án quy hoạch khu dân cư; (3) Dự thảo đề án thành lập mới, nhập, chia
đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp đến cấp
xã; (4) những nội dung khác cần phải lấy ý kiến nhân dân theo quy định của
pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính

quyền cấp xã thấy cần thiết.
- Những việc dân làm: Dân thực hiện đúng đắn và nghiêm chỉnh các
quy định của Hiến pháp và pháp luật, những chủ trương chính sách của Đảng
và Nhà nước, hồn thành tốt các nghĩa vụ cơng dân .
- Những việc dân giám sát, kiểm tra: nhân dân giám sát những việc
cần thông báo để dân biết, những việc cần dân bàn và quyến định trực tiếp,
những việc dân bàn, tham gia ý kiến, các cấp chính quyền quyết định của nội
dung thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Quy chế quy định dân
giám sát, kiểm tra các loại công việc, từ hoạt động của Hội đồng nhân dân,


23
Ủy ban nhân dân đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơng dân, kết quả
quyết tốn cơng trình do dân đóng góp, việc quản lý sử dụng đất đai, thu chi
các quỹ, thực hiện chính sách về người có cơng với đất nước.... Dân thực hiện
quyền kiểm tra giám sát là thực hiện quyền lực chính trị của mình trong việc
tham gia quản lý đất nước, quản lý xã hội .
Phương thức thực hiện dân chủ đại diện ở cơ sở. Dân chủ đại diện
được thực hiện thông qua hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân ở cơ sở
là những người do cử tri bầu ra, đại diện cho ý chí và nguyện vọng, lợi ích
của cử tri. Trong các phương thức thực hiện dân chủ, phương thức thực hiện
thông qua hoạt động của hội đồng nhân dân có vai trị quyết định. Trong hoạt
động của mình, đại biểu hội đồng nhân dân phải gần gũi nhân dân, tìm hiểu
tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu của họ, nắm bắt những vấn đề đặt ra trong thực
tế của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh trật tự của địa
phương cơ sở. Trên cơ sở tập hợp ý chí, nguyện vọng ý kiến của nhân dân địa
phương và những vấn đề đặt ra trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, căn cứ
vào quy định của pháp luật, đại biểu hội đồng nhân dân tham gia xây dựng
nghị quyết của hội đồng nhân dân, nhằm quyết định những chủ trương, biện
pháp thể hiện tập trung ý chí của nhân dân, ủy ban nhân dân cấp trên. Chất

lượng hoạt động trong và ngoài kỳ họp của đại biểu hội đồng nhân dân sẽ
quyết định tính chất, hiệu quả đại diện của hội đồng nhân dân.
Hội đồng nhân dân thực hiện chức năng giám sát hoạt động của Ủy ban
nhân dân, cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân - đảm bảo cho hoạt động
của Ủy ban nhân dân phù hợp với Hiến pháp và pháp luật, thực hiện tốt các
nghị quyết của Hội đồng nhân dân; đồng thời hoạt động giám sát của Hội
đồng nhân dân được thực hiện theo sự phản ánh và nguyện vọng của nhân dân
đối với tổ chức hoạt động của Ủy ban nhân dân.
Dân chủ đại diện cịn được thực hiện thơng qua hoạt động của các đoàn
thể, tổ chức xã hội như: Mặt trận Tổ quốc, cơng đồn, Đồn Thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội


24
Cựu chiến binh…Đây là những tổ chức quần chúng theo giai cấp, giới tính,
nghề nghiệp, sở thích…nhằm tập hợp vận động quần chúng thực hiện đường
lối, chính sách pháp luật, tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước, quản lý nhà
nước, quản lý xã hội, giúp đỡ nhau học tập, sản xuất kinh doanh, đời sống
sinh hoạt, hoạt động xã hội…Đồng thời, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng,
hợp pháp của đồn viên, hội viên của mình và ngược lại, tính chất đại diện
của quần chúng lại được thể hiện cụ thể trong nội dung, mục đích tơn chỉ,
hoạt động của các tổ chức này.
Dân chủ ở cơ sở chỉ thực chất khi được đảm bảo bằng sự kết hợp chặt
chẽ giữa dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, trong đó có 3 vấn đề quan
trọng cần chú ý: (1) thu hút sự tham gia trực tiếp của đông đảo quần chúng
vào việc giải quyết những vấn đề bức xúc trên địa bàn dân cư, các tập thể
cộng đồng, nhất là đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng; (2) nâng cao trách
nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc đảm bảo quyền dân chủ của nhân dân;
(3) xây dựng thể chế, luật pháp bảo đảm cho quyền dân chủ trực tiếp của nhân
dân, phát huy đúng hướng tạo thành phong trào quần chúng; đồng thời, xây

dựng cơ chế để các cơ quan đại diện thực sự hoạt động theo ý chí của nhân
dân, chống tha hóa quyền lực.
1.2. Tuyên truyền và hiệu quả tuyên truyền thực hiện quy chế dân
chủ ở cơ sở
1.2.1. Tuyên truyền thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
1.2.1.1. Quan niệm về tuyên truyền
Tuyên truyền là thuật ngữ đã được đạo Công giáo sử dụng từ mấy trăm
năm về trước, dùng chỉ hoạt động của các nhà truyền giáo với sứ mệnh thuyết
phục lôi kéo những người khác theo đức tin của đạo. Về sau thuật ngữ này
được sử dụng rộng rãi nhằm biểu đạt các hoạt động cụ thể như ngôn ngữ, hình
ảnh, đạo cụ…nhằm tác động đến suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm của người khác,
hướng họ hành động theo một khuynh hướng nhất định.


25
Theo quan niệm của các học giả tư sản, tuyên truyền thường có nghĩa
khơng lành mạnh, là hành động truyền bá thơng tin với mục đích đưa đẩy thái
độ, suy nghĩ, tâm lý và ý kiến của quần chúng theo chiều hướng có lợi cho
một phong trào hay tập đồn, thường lồng sau mục tiêu chính trị. Thơng tin
tun truyền có thể khơng thực, hoặc có thể có thực nhưng được thổi phồng
để làm nổi bật mục đích, đồng thời có thể cố tình che giấu một số dữ kiện liên
hệ nhưng phản tác dụng khác. Mục tiêu tối thượng của tuyên truyền không
dừng lại ở thay đổi suy nghĩ hay thái độ của quần chúng, mà cần phải tạo
hành động trong quần chúng. Tuyên truyền không chỉ lôi kéo cá nhân ra khỏi
sự tin tưởng cũ, mà phải làm cá nhân đó tin mù quáng vào suy nghĩ mới và
đưa đến hành động có lợi cho thế lực tuyên truyền. Cá nhân bị tuyên truyền sẽ
mất khả năng lựa chọn và phản xạ tự nhiên và từ đó sẽ làm những hành động
với sự tin tưởng không cần bằng chứng cụ thể.
Khác với quan điểm tư sản, quan điểm của V.I.Lênin cho rằng, cơng tác
tư tưởng có ba hình thái gồm công tác lý luận, công tác tuyên truyền, cơng tác

cổ động. Ba hình thái đó tương ứng với các quá trình tư tưởng gồm: sản xuất
ra hệ tư tưởng; phổ biến truyền bá hệ tư tưởng; cổ vũ, động viên quần chúng
thực hiện. Công tác tuyên truyền là hoạt động tiếp nối công tác lý luận, nhằm
phổ biến, truyền bá các nguyên lý, lý luận, đường lối, chủ trương, chính sách
vào quần chúng. Mục đích cao nhất của công tác tuyên truyền là làm cho hệ
tư tưởng chiếm địa vị thống trị trong xã hội. Chỉ có tiến hành cơng tác tun
truyền, cổ động mới có thể chứng minh trên một phạm vi rộng rãi tâm trạng
thực sự của quần chúng, chỉ có tiến hành cơng tác tun truyền, cổ động mới
có thể thiết lập mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và tồn thể giai cấp cơng
nhân, mới siết chặt được hàng ngũ của giai cấp vô sản cách mạng và mới
cung cấp được tài liệu xác thực để phán đốn xem những điều kiện chín muồi
của những trận đánh mới có tính chất quyết định hơn với tốc độ nhanh chóng
như thế nào.


×