Tải bản đầy đủ (.pdf) (133 trang)

Tư tưởng hồ chí minh về nhân văn, đạo đức giá trị lý luận và thực tiễn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (7.54 MB, 133 trang )

HOC VIEN BAO CHÍ & TUYEN TRUYEN
KHOA TU TUONG HO CHI MINH

DE TAI KHOA HOC TRONG DIEM
CAP CO SO NAM 2014
TU TUONG HO CHI MINH VE
NHAN VAN, DAO DUC: GIA TRI LY LUAN
VA THUC TIEN
HỌC VIÊN BẢO CHÍ & TUYỂN TRUYỆN
⁄⁄%

[ZOU

|

Chủ nhiệm đề tài : TS. Doãn Thi Chin
Thư ký đềtài — : ThS. Lê Thị Thảo
Đơn vị chủ trì
: Khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh

Hà Nội - 2014


NHÓM TÁC GIẢ THAM GIA THỰC HIỆN ĐÈ TÀI

YP

ThS. Lê Thị Thảo — Thư ký đề tài

9.


ThS. Lê Đình Năm

è

ThS. Nguyễn Thị Mai Lan

8h

ThS. Nguyễn Thị Minh Thùy

6

ThS. Lê Thị Thúy Bình

m

TS. Vũ Quang Ánh

FP

PGS,TS. Nguyễn Quốc Bảo

yo

TS. Dỗn Thị Chín ( Chủ nhiệm đề tài)

TS. Trần Thị Minh Tuyết


MỤC LỤC

¡67 1

1

.,.........

Chương 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỎ CHÍ MINH VÈ

\)):£ 000827011

1.1. Cơ sở tư tưởng, lý luận............... ch

............,ĨƠ 8

Htettrrrrrree 8.

1.2. Nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh............................-----2-¿-c2+veeertrerrtrerrrrrrrertiie 18

Chương 2: TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HỊ CHÍ MINH................................. 25

DI GHỮHdididi............ƠỎ 25
¬

2.2. Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người ¬

28

2.3. Yêu thương, quỹ trọng con người.......................- "................. 32
2.4. Tin vào phẩm chất tốt đẹp và sức mạnh to lớn của con người...................... 35
2.5. Lòng khoan dung, độ lượng ........................------‹----- —.........

2.6. Chăm lo phát triển con người toàn diện ..................... TH Hy

HT

38
42

Chương 3: TƯ TƯỞNG HỊ CHÍ MINH VẺ ĐẠO ĐỨC............................. 49
3.1. Một số vấn đề chung về đạO ỔỨC. . . . . . . - .

5c ctxcExEExEEETEEritrerkeereerkerreerie 49.

3.2. Vị trí, vai trị của đạo đức cách mạng.................. _¬

"—

61

3.3. Những chuẩn mực đạo đức cách mạng .............................--+--e-+ccstetreerre 65

VN HN

`

mu,

t

3.4. Những nguyên tắc xây dựng đạo đức cách mạng..........................--------csevvee 75


Chương 4: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN, ĐẠO ĐỨC HỖ CHÍ
MINH VÀO XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY ............. 86
4.1. Vai trò nhân tố con người và đạo đức của con người Việt Nam hiện nay ... 86
4.2. Con người và đạo đức của con người Việt Nam hiện nay — Ưu điểm và hạn

CHE Ắ

......................Ô

88

43. Giải pháp nhằm xây dựng con người Việt Nam hiện nay theo tư tưởng nhân

văn, đạo đức Hồ Chí Minh ........................... &Ũ .......

103

TÀI LIỆU THAM KHẢO............................----5-- neo

127

KẾT LUẬN ........................... Hari

—...... 125


MO DAU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Sống nhân văn, có đạo đức là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt


Nam. Trên cơ sở kế thừa truyền thống nhân văn, đạo đức của dân tộc kết hợp
với chọn lọc và tiếp thu tỉnh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là tinh than nhân
văn cộng sản của chủ nghĩa Mác

— Lénin, Chu tich Hồ

Chí Minh

đã làm

phong phú thêm tư tưởng nhân văn, đạo đức truyền thống, nâng tư tưởng ấy
lên một tầm cao mới — văn hóa Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân
văn, đạo đức là bài học lớn đôi với nhân dân ta trong q trình đơi mới, thực

hiện cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hịa nhập vào xu thế phát triển
chung của nhân loại.
Thế kỷ XX - một thế kỷ đầy biến động với các cuộc cách mạng rung
chuyên thế giới, làm thay đổi số phận các dân tộc. Thế kỷ XX cũng là thế kỷ

của hàng trăm cuộc chiến tranh lớn nhỏ mà tiêu biểu là hai cuộc đại chiến thế
giới, trong đó lần đầu tiên bom nguyên tử được đưa ra sử dụng để hủy diệt
loài người. Cơn hãi hùng trước vũ khí giết người hàng loạt chưa qua thì lồi
người lại đang phải đối phó với một đe dọa mới: sự kích động và trỗi dậy của
những tư tưởng cực đoan, phát xít, chủ nghĩa khủng bố, chiến tranh sắc tộc,
tơn giáo, nạn kỳ thị chủng tộc có nguy cơ kéo lồi người vào vịng xốy của
một cơn lốc bạo lực mới.

Trong bối cảnh ấy, bước vào thế kỷ XXI, nhân loại khơng có khát vọng


nào khác hơn, lớn hơn là được sống trong hịa bình, hữu nghị, hiểu biết và
a OUR

thông cảm lẫn nhau, chấp nhận sự khác biệt để cùng hợp tác và phát triển. Vì
vậy, nâng cao hơn nữa lối sống nhân văn, đạo đức là nhiệm vụ của tồn nhân

loại trong đó có Việt Nam. Sự phát triển của kinh tế thị trường cùng với q
trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam ngày
càng sâu rộng đã và đang đặt ra nhiệm vụ làm sao cân bằng được định hướng

những giá trị khác nhau giữa các cá nhân, giữa các nhóm xã hội, giữa các tơn
1


giáo, giữa các vùng miền để giữ được sự ổn định kinh tế - xã hội. Việc tiếp
tục nghiên cứu để làm rõ hơn nữa nội dung và giá trị tư tưởng nhân văn, đạo

đức của Hồ Chí Minh là một yêu cầu cấp thiết.
Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, giáo dục và tuyên truyền tư
tưởng Hồ Chí Minh trong xã hội và nhất là yêu cầu về giáo trình, tài liệu phục vụ

cho đào tạo bậc đại học, chuyên ngành Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Học viện Báo
chí và Tun truyền địi hỏi cần có sự đi sâu nghiên cứu và làm sáng rõ giá trị ly
luận và thực tiền của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân văn, đạo đức trên nhiều nội

dung quan trọng.

Xuất phát từ tính cấp thiết đó chúng tơi lựa chọn đề tài “Tw tưởng Hồ
Chi Minh


~
eA

về nhân văn, đạo đức: giá trị lý luận và thực tiễn”

99

làm đề tài

nghiên cứu khoa học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Tư tưởng nhân văn, đạo đức Hồ Chí Minh đã được nhiều nhà khoa học

nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Trên thực tế, nhiều bài viết, cơng
trình nghiên cứu về tư tưởng nhân văn, đạo đức Hồ Chí Minh và đã được xuất

bản thành sách và công bồ trên các báo, tạp chí trong và ngồi nước.
*Các cơng trình nghiên cứu về tư trồng nhân văn Hồ Chi Minh
Sách “Hồ Chí Minh — Nhà văn hóa kiệt xuất” của GS. Song Thành, Nxb.
CTQG, Hà Nội, 1999. Cuốn sách gồm XIV bài viết, chủ yếu tập trung những

vấn đề làm rõ tỉnh thần Nghị quyết “Xây đựng và phát triển nền văn hóa Việt
Nam tiên tiễn, đậm đà bản sắc dân tộc” của Hội nghị Ban chấp hành Trung
ương Đảng lần thứ năm (Khóa VII). Trong đó có bài viết IX đề cập đến
“Văn hóa khoan dung Hỗ Chí Minh với nhiệm vụ xây dựng văn hóa và con
người Việt Nam hiện nay”. Bài viết đã phản ánh được những nội dung cơ bản
về khoan dung, cũng như những đặc trưng chủ yếu trong tư tưởng khoan dung
Hồ Chí Minh, qua đó thấy được yêu cầu cấp bách trong việc bồi dưỡng, phát
triển tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh vào viêc xây dựng những đặc trưng


văn hóa Việt Nam của thế kỷ XXI.


“Bao dung Hỗ Chí Minh” của TS. Nguyễn Văn Khoan, Nxb Lao Động,
Hà Nội, 2001. Cuốn sách đã đề cập những mẫu chuyện, những bài viết mang
nội dung tư tưởng nhân ái Hồ Chí Minh, qua đó góp phần bồi dưỡng, giáo dục:
lịng nhân ái, khoan dung cho tồn Đảng, tồn dân ta. Cuốn sách trình bày
một cách cơ bản vấn đề

“Bao dụng Hồ Chí Minh”, có nguồn gốc từ lòng

“Nhân”, nhân từ, nhân ái, nhân đạo, nhân văn; mang nhiều cung bậc, màu sắc

về sự dung thứ, độ lượng, khoan hồng, khoan dung. Việc tim hiéu “Bao đụng

Hồ Chí Minh” chính là đắp xây cho nền tảng đạo đức của dân tộc ta, góp
phần xây đắp cho nền đạo đức của cả lồi người.
“Tự tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với việc giáo dục đội ngũ cán bộ,

dang vién hién nay” cia PGS, TS. Hoang Trang — PGS, TS. Pham Ngoc Anh

(Đồng chủ biên), Nxb. CTQG, Hà Nội, 2008. Cuốn sách gồm ba chương.
Trong đó chương II, tác giả có đề cập đến “T7 tưởng Khoan dung Hé Chi
Minh ” — một trong những nội dung quan trọng trong tư tưởng nhân văn. Qua
đó, tác giả làm rõ tầm quan trọng cấp bách của việc giáo dục, hình thành văn
hóa khoan dung cho thế hệ trẻ hiện nay.

|

“Khoan dụng Hỗ Chí Minh” của PGS.TS. Phùng Đức Thắng, Học viện

Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Tạp chí Báo Điện tử Đảng
Cộng sản Việt Nam, số 6/ 2012. Tác giả đã khái qt hóa nguồn gốc hình
thành, cũng như những biểu hiện tư tưởng Khoan dung Hồ Chí Minh, qua đó

giúp bạn đọc thấy rõ hơn Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng sáng ngời của
lịng khoan dung, nhân ái, của việc thực hành lối sống nhân văn.
“Đơng thuận xã hội và tình thân khoan dung Hồ Chi Minh” cha GS.
Song Thanh, Tap chi Mat tran, số 10/2003. Bài viết của tác giả đã chỉ ra việc

xây dựng đồng thuận là một nội dung mới của đại đoàn kết dân tộc. Tác giả
cũng nhắn mạnh rằng, để xây dựng đồng thuận xã hội cần phát triển tỉnh thần
khoan dung Hồ Chí Minh.
“Tự tưởng Hà Chí Minh về đại đoàn kết với vấn đề phát huy sức mạnh

đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới” Viện Hồ Chí Minh và các lãnh
3


tụ của Đảng của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Nxb. CTQG, Ha
Nội, 2004. Cuốn sách được tuyển chọn từ những bài tham luận trong Hội thảo
khoa học có chủ đề tư tưởng đại đồn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được
kết cấu gồm hai phần,

phần một: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đồn kết —

Những vấn đề chung, và phần hai: Vẫn đề đoàn kết các dân tộc thiểu số trong.
đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Trong phần một, cuốn sách đã giới thiệu
bài tham luận “Xây đựng động thuận xã hội và phát triển tỉnh thần Khoan
dung Hồ Chí Minh — nhân tổ cơ bản để thực hiện đại đoàn kết tồn dân tộc”


của GS. Song Thanh, qua đó tác giả đề cập nội dung Khoan dung Hồ Chí
Minh với vấn đề xây dựng đồng thuận xã hội và đại đoàn kết dân tộc; trên cơ

sở đó bồi dưỡng và phát triển tỉnh thần khoan dung Hồ Chí Minh để tạo ra sự
đồng thuận xã hội, thực hiện đại đoàn kết.
“Kế thừa và phát huy tỉnh thần khoan dung Hỗ Chí Minh trong xây
dựng đồng thuận xã hội và đại đoàn kết dân tộc ” của TS. Nguyễn Tấn Hưng,

Tạp chí Báo Điện tử, Viện Triết học, số 4/ 2009. Bài viết của tác giả đã trình
bày được cơ bản những đặc trưng trong tư tưởng Khoan dung Hồ Chí Minh,
khái quát vấn đề xây dựng đồng thuận xã hội và đại đoàn kết dân tộc trên tỉnh
thần khoan dung Hồ Chí Minh; qua đó giúp người đọc thấy được tầm quan
trọng của việc kế thừa và phát triển tỉnh thần khoan dung Hồ Chí Minh là

nhân tố cơ bản để xây dựng đồng thuận xã hội và đại đoàn kết dân tộc ở Việt
Nam hiện nay.
*Các cơng trình nghiên cứu về tư trởng đạo đức Hồ Chí Minh
"Hồ Chí Minh

về đạo đức cách mạng"

(Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976);

"Chủ tịch Hỗ Chí Minh với vấn đề đạo đức cách mạng" (Nxb Thơng tin lý luận,

Hà Nội, 1986); "Hồ Chí Minh về đạo đức" (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1993); "7

tưởng đạo đức Hồ Chí Minh - Tì ruyen thong đân tộc và nhân loại"


(GS Vũ Khiêu (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

1993);

“Đạo đức,

phong cách, lẻ lối làm việc của cán bộ, công chức theo tư tưởng đạo đức Hồ
_ Chí Minh" (PTS. Thang Văn Phúc (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà
4


Nội, 1998) v.v... Ngồi ra, cịn có đề tài cấp nhà nước: KX02-08 mang tên: "7
tưởng Hồ Chi Minh về đạo đúc" (Do PGS.PTS Nguyễn Văn Truy, Trung tâm
Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia làm chủ nhiệm đề tài); Đề tài cấp nhà
nước: KX02-05 mang tên: "T71 zưởng Hồ Chí Minh về con người và chính sách

xã hội đối với con người" (Do PGS.PTS Lê Sỹ Thắng, Trung tâm Khoa học xã

hội và Nhân văn Quốc gia làm chủ nhiệm đề tài); Dé tài cấp bộ: "S% biến đổi
của thang giá trị đạo đức trong nên kinh tế thị trường với xây dựng đạo đức
mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay" (Do PGS.PTS Nguyễn Chí Mỳ,
Khoa triết học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm đề

tài); Đề tài cấp cơ sở: "Vấn đề nâng cao phẩm chất đạo đức cán bộ trong tình
hình hiện nay" (Do PTS Đàm Văn Thọ, Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính

trị Quốc gia Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm đề tài) v.v...
Bên cạnh đó, cuộc vận động "Học tập và làm theo tam guong dao duc Hỗ

Chí Minh" đã được đơng đảo tầng lớp nhân dân tham gia hướng ứng, trong đó có

thanh niên, sinh viên. Bàn về cuộc vận động này trong thanh niên, sinh viên đã

có một số cơng trình khoa học nghiên cứu như: "Hà Chí Minh về giáo dục, bồi
dưỡng thanh niên, thiếu niên nhì đồng — Học tập và làm theo tắm gương đạo

đức Hồ Chí Minh" do Trung ương Đồn kết hợp với Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng biên soạn (Nxb. Lao động xã hội, Hà Nội, 2007) đã nêu lên

những quan niệm cơ bản của Hồ Chí Minh về thế hệ trẻ và tập hợp những bài
viết của các nhà nghiên cứu, các đồng chí cán bộ đồn chủ chốt về việc giáo dục

tư tưởng Hồ Chí Minh đối với thế hệ trẻ và thế hệ trẻ Việt Nam học tập và hành
động theo tắm gương đạo đức Hồ Chí Minh...
Như vậy, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân văn, đạo đức Hồ
Chí Minh để làm rõ giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng nhân văn đạo đức
của Người hiện nay đã được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau. Đối với
chúng tơi, xuất phát từ yêu cầu của công tác tuyên truyền, giáo dục và đào tạo
sinh viên nói chung và chuyên nghành tư tưởng Hồ Chí Minh của Học viện
Báo chí và Tuyên truyền nói riêng chúng tơi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Tư
5


tưởng nhân văn, đạo đức Hồ Chí Minh: giá trị lý luận và thực tiễn” nhằm góp
một phần nhỏ vào u cầu nói trên. Những cơng trình, tài liệu nêu trên sẽ là
sơ sở, nguồn tư liệu quý phục vụ cho đề tài nghiên cứu của đề tài.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu cơ sở hình thành, nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về
nhân văn, đạo đức, từ đó đề tài làm rõ sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về


nhân văn, đạo đức trong xây dựng con người mới Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiÊn cứu:
- Phân tích cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân văn, đạo đức.
- Phân tích những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về
nhân văn, đạo đức.

- Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân văn, đạo đức trong xây

._ dựng con người mới Việt Nam hiện nay.

|

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân văn, đạo đức và sự
vận dụng vào xây dựng con người mới Việt Nam hiện nay.

4.2. Phạm vỉ nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân văn, đạo

đức thơng qua các tác phẩm, bài nói, bài viết và thơng qua tấm gương mẫu

mực của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Co sé ly luận:
Đề tài được triển khai trên nền tảng lý luận cơ bản là chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
nhân văn, đạo đức.

3.2. Phương pháp nghiên cứu:


Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử. Ngồi ra đề tài cịn sử dụng các phương pháp kết hợp lịch
sử - lơgic, phân tích- tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, đối chiếu, so sánh...

6. Đóng góp mới của đề tài
- Đề tài góp phần hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân văn, đạo
đức, từ đó đánh giá giá trị lý luận và thực tiễn tư tưởng nhân văn, đạo đức Hồ
Chí Minh đối với việc xây dựng con người mới Việt Nam hiện nay

|

- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và
học tập môn Tư tưởng Hồ Chí Minh

ở các trường Đại học nói chung, Học

viện Báo chí Tun truyền nói riêng và cho những ai quan tâm đến tư tưởng
và tắm gương Hồ Chí Minh về nhân văn, đạo đức.

7. Kết cầu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tải liệu tham khảo, dé tài có kết
cầu gồm 4 chương, 15 tiết.

_


Chương 1


CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG
HỊ CHÍ MINH VỀ NHÂN VĂN, ĐẠO ĐỨC
1.1. Cơ sở tư tưởng, lý luận
1.1.1.Truyén thống nhân văn, đạo đức của dân tộc, quê hương và
gia đình
Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người trước hết bắt nguồn từ việc tiếp
thu, lựa chọn, bổ sung và phát huy các giá trị truyền thống trong điều kiện
mới của cuộc cách mạng vơ sản. Nó biểu hiện ở chính cuộc đời, tư tưởng và

hoạt động của Hồ Chí Minh, biểu tượng cao đẹp nhất của tâm hồn, tính cách
và văn hóa Việt Nam.

- Truyền thơng đạo đức, nhân ái của gia đình và quê hương
Từ buổi thiếu thời, Nguyễn Sinh Cung (Hồ Chí Minh) đã sống trong
một gia đình nhà nho u nước, mọi người đều có lịng nhân ái, thương
người, thương dân, chuộng đạo lý, có tâm huyết với nền độc lập tự do của dân
tộc, khơng chịu khuất phục chế độ thống trị, bóc lột, áp bức của bọn thực dân

phong kiến. Ảnh hưởng sâu sắc nhất của Người là thân phụ và thân mẫu.
Những đức tính q báu đó của ơng Sắc và bà Loan đã có tác động mạnh mẽ,

ảnh hưởng quyết định tâm hồn, tình cảm của Người. Có thể nói, đó là những
sợi tơ dệt nên nhân cách của Hồ Chí Minh thời thơ ấu.

Ông Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ Hồ Chí Minh là một người yêu nước,
thương dân sâu sắc, đậu Phó bảng nhưng ơng từ chối khơng ra làm quan, vì

triều đình phong kiến làm tay sai cho giặc. Chỉ đến khi bị thúc ép nhiều lần,
ông buộc phải nhận một chức quan nhỏ trong triều đình. Ơng cho rằng, quan

trường nô lệ trong những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn. Cũng như một số
nhà nho tiến bộ, quan điểm “trung quân ái quốc” của ông đã đổi khác. Ông
phủ nhận thuyết trung quân một cách mù qng, trung qn khơng phải là
phục tùng triều đình phong kiến, mà phải yêu nước thương dân. Ông ủng hộ
cải cách Duy tân và chủ trương lẫy dân chúng làm hậu thuẫn cho các phong
8


trào cải cách chính trị xã hội. Vì có lịng yêu nước thương dân, khi ra làm
quan ông luôn đứng về phía nhân dân, che chở cho dân, chống lại bọn mọt
dân, hại nước. Dù ở đâu, bất cứ cương vị nào, ông đều thông cảm với dân

nghèo, luôn dành những tình cảm ưu ái nhất cho những trẻ mồ cơi, cho những
gia đình gặp cảnh éo le, những người bị bọn địa chủ, phong kiến và thực dân,

đề quốc đẩy vào cảnh điều đứng, khổ ải, lầm than.
Chính tắm lịng và tình cảm đó đã nhen nhóm lịng u nước, tình thương
đồng bào bị đọa đày trong tâm hồn trẻ tuổi của Nguyễn Tat Thanh. Ảnh hưởng

của ông đối với Hồ Chí Minh khơng chỉ ở tắm lịng u nước, thương dân mà
điều quan trọng hơn là ông đã hướng cho các con mình yêu lao động, học tập

những kiến thức và văn hóa tiên tiến để biết “đạo lý làm người”.
Bà Hồng Thị Loan, thân mẫu Hồ Chí Minh

là một phụ nữ cần mẫn,

đảm đang, thương yêu chồng con vơ hạn, nhân hậu với bà con hàng xóm. Bà
luôn giáo dục con cái biết yêu thương, biết chia sẽ với những người nghèo
khổ trong làng, sống có đạo lý, tình làng nghĩa nước. Chính những phẩm chất


đạo đức tốt đẹp đó đã có ảnh hưởng rất sâu sắc đến Hồ Chí Minh.
Quê hương Nghệ Tĩnh là một vùng quê nghèo. Người dân xứ Nghệ luôn
phải vật lộn, chiến đấu gian khổ với thiên nhiên. Họ cần cù lao động, thức

khuya dậy sớm, một nắng hai sương. Trong cuộc đấu tranh với thiên tai là

địch họa, người dân xứ Nghệ sớm biết yêu thương, đùm bọc, đoàn kết với
nhau và có tỉnh thần đấu tranh kiên cường bắt khuất. Tình u thương, lịng vị
tha, sẵn sàng hi sinh cho người khác, cho gia đình, cho q hương, làng xóm,
cho đời sống cộng đồng, truyền thống đó đã góp phần tạo nên trong con người
Nguyễn Tất Thành tình cảm yêu thương người lao động, coi trọng tình làng
nghĩa xóm, sống với nhau có tình có nghĩa và những đức tính tốt đẹp khác.
Nghệ Tĩnh còn là nơi giàu truyền thống yêu nước. Từ lúc thiếu thời,
Nguyễn Tất Thành đã khâm phục tỉnh thần chống giặc của nhân dân ta, thấm
thía nỗi lo cứu nước của các bậc cha chú. Những tắm gương nghĩa liệt của họ
đã hun đúc trong tâm trí Người lịng u nước thiết tha và chí hướng đi tìm
9


đường cứu nước cứu dân. Nghệ Tĩnh còn là nơi giàu bản sắc văn hóa, là mảnh
đất “địa linh nhân kiệt”, là quê hương của những câu hát dặm, hát phường vải,

những câu thơ “dậy sóng” của Phan Bội Châu, phản ánh khát vọng độc lập tự
do và ý chí đấu tranh chống cường bạo của quần chúng nhân dân. Truyền
thống lịch sử văn hóa đó đã ni dưỡng tâm hồn tuổi trẻ của Nguyễn Tất
Thành, tình thương yêu con người bi doa day dau khé, tình thân ái và lòng
yêu quê hương đất nước.
- Truyên thống đạo đúc, nhân ái của dân tộc Việt Nam
Sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng, ở một miền quê nỗi tiếng là


“địa linh nhân kiệt”, cộng với tư chất thông minh hiếm có, đặc biệt là sự u
thích mơn lịch sử, đã giúp cho Hồ Chí Minh hiểu biết sâu sắc truyền thống
lịch sử về con người và đất nước Việt Nam. Theo cách nói của Mác, muốn

hiểu con người, sự vật thì phải hiểu lịch sử của nó. Chính sự hiểu biết sâu sắc
con người Việt Nam mà Hồ Chí Minh thấy được sức mạnh của các giá trị
truyền thống nếu được phát huy. Vì thế, trong khi vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác — Lênin để vạch ra con đường cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh
ln địi hỏi phải dựa trên những giá trị truyền thống. Xem xét cơ sở, củng cố
bằng dân tộc học phương Đông, phải thấy được chủ nghĩa dân tộc là động lực
lớn, vĩ đại, thậm chí là duy nhất của các dân tộc thuộc địa, gan kết chủ nghĩa

dân tộc với chủ nghĩa quốc tế vơ sản. Đây là vấn đề vừa có tính nguyên tắc,
vừa có ý nghĩa là một phương pháp cách mạng.
Hồ Chí Minh đề cao truyền thống yêu nước, yêu độc lập tự do lên thang
giá trị cao nhất của con người. Đó là một truyền thống quý báu, bắt nguồn từ sự
hình thành sớm của dân tộc và sự trải qua nhiều cuộc chiến tranh. Truyền thống

đó được Hồ Chí Minh nâng lên một tầm cao mới: yêu nước là thà hy sinh tất cả

chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Những giá trị đạo đức nhân sinh hay còn gọi là đạo lý làm người được
hình thành từ rất sớm. Đó là hệ thống các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo
đức trong lối sống, nếp sống, giao tiếp của người Việt Nam, được biểu hiện ở
10


nên văn hóa dân gian, truyền miệng, những kinh nghiệm và hành vi đạo đức.
Nội dung đạo làm người rất phong phú: quan trọng nhất là đạo thờ tổ tiên, thờ

những người có cơng với nước, “uống nước nhớ nguồn”; nhân ái, tiết kiệm,
cần cù, hiếu học, sự hòa đồng, thủy chung, tình nghĩa giữa vợ chồng, anh em,
bạn bè, hiếu thảo với cha mẹ; trung thực, mưu trí, dũng cảm... Tất cả những

giá trị truyền thống đó đã được tiếp thu và phát huy trong tư tưởng Hồ Chí
Minh về con người.

|

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc trọng đạo đức. Nhân dân ta ln ln

địi hỏi mỗi người phải luôn tu dưỡng đạo đức để giữ làng giữ nước. Trong
q trình đó đã hình thành nên đạo lý làm người của dân tộc Việt Nam, thành
lương tri của người Việt Nam.
Truyền thống đạo đức Việt Nam là truyền thống gắn kết cộng đồng, yêu
thương con người, đề cao đức tính cần cù, giản dị, tiết kiệm.. .đồng thời cũng
phê phán gay gắt, đả kích khơng thương tiếc các thói: tham ăn, lười biếng,
khốc lác...Những kinh nghiệm ứng xử đó được đúc kết trong các bài vè, ca
dao, tục ngữ, gia huấn ca, các truyện khôi hài, tiểu lâm.. .

Lòng nhân ái là truyền thống nỗi bật, cốt lõi của dân tộc Việt Nam trong
lao động và chiến đấu để dựng nước và giữ nước. Dân tộc Việt Nam đã trải
qua một chặng đường dài hàng nghìn năm lịch sử trong một môi trường thiên
nhiên khắc nghiệt của vùng nhiệt đới âm ướt với mưa nguồn,

nước lũ, bão tố,

phong ba, nắng hạn, sâu keo, dịch bệnh...thiên tai thường xuyên đe dọa cuộc

sống của nhân dân ta, một cư dân nông nghiệp trồng lúa nước mà công cuộc

dựng nước gắn liền với công cuộc khai hoang mở đất. Cuộc đấu tranh trong
lao động gian khổ và lâu dài đòi hỏi nhân dân ta khơng những phải có nghị
lực phi thường mà còn phải thương yêu, đùm bọc, liên kết với nhau, chung

lưng đấu cật, đồng cam chịu khổ.
Nước ta lại ở vào một vị trí có ý nghĩa chiến lược của vùng Đơng Nam

Á, lại có tài ngun phong phú nên từ rất sớm đã trở thành mục tiêu xâm lược
của các để chế phương Bắc, rồi đến bọn thực dân để quốc phương Tây. Công
11


cuộc lao động gian khổ để dựng nước và chống ngoại xâm để giữ nước trở
thành hoạt động thường xuyên, nội tại, có tác động mạnh mẽ đến mọi hoạt
động chính trị, kinh tế văn hóa, xã hội, làm nảy sinh và hun đúc nên những

truyền thống tươi đẹp của nhân dân Việt Nam, trong đó nổi là truyền thống

nhân ái. Truyền thống nhân ái của dân tộc Việt Nam có thể khái qt ở mấy
nội dung sau đây:

|

Sống hịa thuận, đoàn kết, yêu thương đồng bào, đồng loại, “thương
người như thê thương thân”, nhất là đối với những người gặp hoạn nạn, khốn
khổ. Nét đẹp truyền thống đó được phản ánh trong nội dung của biết bao câu
chuyện cổ trong nền văn hóa truyền thống dân tộc trong hàng loạt quy chế của
phe, giáp, họ, làng, trong những quỹ nghĩa thương, hội tương tế... được hình
thành khắp mọi nơi để giúp đỡ lẫn nhau. Nhiều tục lệ cũng hướng vào việc
củng cố, thắt chặt tình làng nghĩa nước. Tình cảm mặn nồng đó cịn được thể

hiện trong hành vi ứng xử trong quan hệ cộng đồng người Việt Nam suốt

chiều dài lịch sử.
Cam thù giặc ngoại xâm, sẵn sàng hy sinh tính mạng và tài sản vì sự
nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc lập, tự do của Tổ quốc là một khía cạnh sắc nét

truyền thống nhân ái của người Việt Nam. Lòng nhân ái đã gắn chặt vận mệnh
của mỗi người vào vận mệnh của cả dân tộc. Vĩnh dự, hạnh phúc, tiền đồ của

mỗi người Việt Nam, yêu nước gắn liền với sự sống còn, hùng cường, thịnh
vượng của đất nước. Càng yêu con người, yêu thương mọi người, nhất là những
con người lao khổ, càng căm thù giặc ngoại xâm, càng có thêm ý chí kiên cường,
bất khuất sẵn sàng xả thân vì độc lập tự do của đất nước, dân tộc. Tình yêu

thương dân tộc, đất nước bị lầm than, bị xâm lược và đơ hộ chính là điểm xuất
phát của tỉnh thần xả thân của con người Việt Nam trải qua bao thế hệ.
Sống thủy chung, biết ơn, tơn kính, noi gương những anh hùng, nghĩa sĩ
có cơng đức với dân với nước. Nhân dân Việt Nam luôn hướng về tương lai
nhưng không bao giờ lãng quên quá khứ, quên tổ tông, vong ơn bội nghĩa. Từ
hàng ngàn năm nay nhân dân ta vẫn luôn ghi nhớ câu “uỗng nước nhớ
12


nguồn”,

99

Ge

“ăn quả nhớ người trồng cây”. Có thê thấy hầu khắp các làng xã Việt


Nam xưa kia không đâu là khơng có những ngơi đình, mái đền cổ kính được
xây dựng ở nơi tôn nghiêm, trung tâm để thờ các vị thành hồng, tiên cơng,

các bậc anh hùng có cơng mở đất, dựng làng đánh giặc giữ nước. Tại những
nơi này hàng ngàn năm đều có tơ chức lễ hội để tưởng nhớ đến công ơn các

bậc tiền bối.

|

Tư tưởng nhân văn Việt Nam, tiêu biểu là lòng nhân ái, “lá lành đùm lá

rách”, “thương người như thể thương thân”, quý trọng con người... là những
giá trị tỉnh thần cao quý của con người Việt Nam. Truyền thống nhân ái đó
được nảy sinh từ đời sống cố kết cộng đồng lâu đời của dân tộc ta trong lao
động sản xuất, trong đấu tranh chống thiên tai, địch họa. Chính

điều kiện

thiên nhiên khác nghiệt và những thử thách ngặt nghèo của cuộc sống đã làm
nảy sinh trong mỗi người dân Việt Nam ý thức thương yêu, đùm bọc, liên kết
hiệp đoàn, chung lưng đấu cật, đồng cam cộng khô để duy trÌ sự tồn tại và

phát triển. Tình cảm tốt đẹp đó ngày càng phát triển, trở thành lối sống vị tha,
nhân ái của dân tộc, lối sống “nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một |
nước phải thương nhau cùng”, “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại
nên hòn núi cao”.

Nét đặc trưng của lòng nhân ái Việt Nam là lấy cái thiện trị cái ác, “lấy

đại nghĩa dé thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, là đánh kẻ chạy đi
không đánh người chạy lại. Nét đặc trưng đó chứa đựng lịng khoan dung, độ
lượng, một nội dung nhân văn cao cả của dân tộc. Một dân tộc chịu nhiều đau

khổ, mất mát do chiến tranh gây nên, đã lập nhiều chiến công hiển hách trong
lịch sử chống ngoại xâm, nhưng chúng ta cũng rất tự hào là dân tộc rất u
hịa bình, nhân ái, một dân tộc rất đỗi nhân hậu, khoan dung.

Điều đó được

thể hiện ở ý chí hịa bình mãnh liệt xuất hiện sớm trong đời sống của dân tộc
ta. Truyền thuyết “Thạch Sanh” đã phản ánh tinh thần yêu chuộng hòa bình,
truyền thống nhân ái, nhân văn của dân tộc Việt Nam. Vua tôi nhà Trần, nhà

Lê đánh thắng giặc vẫn mở lượng hiếu sinh, chẳng những để địch rút lui an
tồn về nước mà cịn cấp cho chúng lương thực, thuyền và ngựa, thể hiện cử
13


chỉ cao thượng của dân tộc. Lòng nhân ái Việt Nam, không chỉ thể hiện ở sự
yêu mến nhân dân mình, Tổ quốc mình, mà cịn thể hiện

ở sự tơn trọng độc

lập, chủ quyền lãnh thổ của dân tộc khác.
Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trên quê hương giàu truyền thống nhân
ái của dân tộc Việt Nam, nên thường căn đặn chúng ta phải biết giữ gìn và
phát huy truyền thống nhân ái của dân tộc trong đối nhân xử thế. Người dạy:

“nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa... Hiểu chủ nghĩa Mác Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà

sống khơng có tình, có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác

- Lênin

được”'. Trong cử chỉ, lời nói, hành động của Hồ Chí Minh chúng ta thấy rất
rõ dấu ấn truyền thống nhân ái của dân tộc Việt Nam “đem đại nghĩa thắng
_ hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”.
1.1.2. Tỉnh hoa văn hóa phương Đơng, văn hóa phương Tây
Tình hoa văn hóa phương Đơng và văn hóa phương Tây có vai trị quan
trọng đối với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng
nhân văn, đạo đức Hồ Chí Minh nói riêng, trong đó đạo đức Nho giáo ảnh
hưởng sâu sắc nhất.
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà Nho, từ thủa thiếu thời, Hồ
Chí Minh đã được học chữ Hán và văn học cổ điển Trung Quốc ở cụ Phó

bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của Người cùng với các nhà Nho học có tâm
huyết, giàu lịng u nước, thương dân. Vốn văn hóa cổ điển Trung Quốc đã
trang bị một vốn tri thức nhất định đủ để Người tiếp nhận được tính hoa của
đạo Không Mạnh về đạo làm người, về sự tu thân, về cách ứng xử trong nhà,

trong họ và một phần đối với xã hội, đến con người và tỉnh thần “tứ hải giai
huynh đệ”. Trên cơ sở đó, Người đã xây dựng quan điểm tư tưởng về một thế
giới rộng lớn cho mọi con người sống trên trái đất, nhất là những người lao
khé bi doa day dau khổ, bị áp bức bóc lột ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.

' Hồ Chí Minh: Tồn ráp, Nxb CTQG, Hà Nội 2011, tập 15, tr. 668.
14


Đó là nội dung của tình hữu ái giai cấp mà Người nêu lên: “Dù màu đa có

khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống,
người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thơi: tình hữu

ái vơ sản”.

Khơng chỉ tiếp thu Nho giáo, Hồ Chí Minh cịn tiếp nhận phần tích cực
trong tư tưởng nhân ái của các tôn giáo. Đối với đạo Phật, Người tiếp nhận
tinh hoa, phần tích cực nhân văn của đạo Phật, Người nhắn mạnh tư tưởng
của Đức Thích Ca muốn xây dựng một cuộc sống “thuần mỹ, chí thiện, bình

đẳng, yên vui, no ấm cho chúng sinh, xây dựng một xã hội hạnh phúc và an
lạc”, xóa bỏ nỗi khổ đau của con người trên trái đất.

Trên con đường tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã chủ động tiếp
xúc, tìm hiểu văn hóa phương Tây với một ý thức cầu thị sâu sắc. Từ những
năm còn là học sinh của trường Quốc học Huế, được làm quen với những
khẩu hiệu Tự do, Bình đẳng, Bác ái của cách mạng tư sản Pháp, Hồ Chí Minh

có ý định sang phương Tây để tìm hiểu tường tận cội nguồn và bản chất của

nền văn hóa đó. Người cho biết: “Khi tơi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi đã
được nghe ba chữ Pháp: Tự do, bình đẳng, bác ái... Và từ thủa ấy, tôi rất
muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ân giấu đẳng.
sau những từ ấy”. Trong 30 năm hoạt động cách mạng ở nước ngoải, qua

sách vở và tiếp xúc với nhân dân các nước, Hồ Chí Minh đã tiếp nhận thêm
những tinh hoa của văn hóa phương Tây, tìm thấy ở chủ nghĩa nhân văn, thoát
thai từ thời đại phục hưng, được thê hiện trong Tuyên ngôn độc lập của Hoa

kỳ (1776), Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng tư sản Pháp

(1789). “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Báo Le Paria (Người cùng khổ)...
phần nào có dấu ấn của tỉnh hoa chủ nghĩa nhân văn trong văn hóa phương
Tây mà người chịu ảnh hưởng và tiếp nhận.

? Hồ Chí Minh: Tồn tdp, tap 1, sd, tr. 461.

? Xem: Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987.

15


1.1.3. Lý luận Mác — Lênin — chủ nghĩa nhân đạo cộng sản
Cũng trong thời gian tiếp xúc với văn hóa phương Tây, Hồ Chí Minh đã
khám phá ra Lênin và chủ nghĩa Lênin, xác định con đường đúng đắn để giải
phóng các dân tộc thuộc địa mà Người hằng khao khát, mong ước. Doc “So
thảo luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa”, Người rất xúc

động, phần khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao, “vui mừng đến phát khóc lên”...
vì đã tìm thấy chủ nghĩa nhân đạo cộng sản trong cơng cuộc giải phóng

triệt

để các dân tộc bị áp bức, bị nơ dịch, giải phóng giai cấp, giải phóng con
người, xây dựng một thế giới, một xã hội tự do, bình đẳng, bác ái. Chủ nghĩa

Mác - Lênin không chỉ ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng Hồ Chí Minh mà cịn
là nguồn gốc quan trọng nhất trong việc hình thành tư tưởng nhân văn và tư
tưởng đạo đức của Người. Bởi vì, như Người nói: “Từng bước một, trong
cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác — Lênin, vừa làm công tác thực tế


dần dần tơi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới
giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới

khỏi ách nô lệ”" .
Chủ nghĩa Mác không có nhiều tác phẩm chuyên nghiên cứu về con
người, nhưng trong ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác là: triết học, kinh tế
chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, lại luôn xuất phát từ những vấn đề
của con người và nhằm mục tiêu cuối cùng là con người.
Học thuyết mác xít về con người bao gồm nhiều nội dung: mối quan hệ
giữa con người với tự nhiên; bản chất xã hội của con người; cá nhân và xã

hội, vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử; bản chất ý
thức; vấn đề nhận thức của con người; vai trò của hoạt động thực tiễn đối với
nhận thức và sự phát triển xã hội; về sự tha hóa của con nguoi; con ngudi

trong các tổ chức và trong các q trình xã hội...
Có thể khái quát bản chất học thuyết mác xít về con người là: giải
phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người.
! Hồ Chí Minh: Tồn tập, tập 12, sdd, tr.563.

16


Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác — Lênin như là một “sự gặp gỡ”,
“sự tìm thấy” những chân lý của thời đại. Trước khi đọc Sơ £bảo lần thứ nhát
những luận cương về các vấn đè dân tộc thuộc địa của Lênin, Hồ Chí Minh

vẫn cịn là nhà yêu nước. Sự phát triển nhanh chóng về mặt nhận thức do tích
cực tham gia hoạt động xã hội đã giúp Hồ Chí Minh thấy những giá trị của
tỉnh thần nhân văn phương Tây chưa đem lại con đường thực sự cho giải


phóng con người. Những giá trị tự do, dân chủ, bình đẳng, bác ái, thực chất là
phản ánh ý thức hệ tư sản. Hồ Chí Minh cho rằng các cuộc cách mạng tư sản
đó là “chưa phải cách mạng đến nơi”. “Chủ nghĩa Uynsơn chỉ là trò bịp lớn”.

Khẩu hiệu tự do, bình đẳng, bác ái trên thực tế đã khơng cịn ý nghĩa đối với
nhân dân lao động.
Hồ Chí Minh tự nhận mình là học trị của những nhà sáng lập chủ nghĩa

Mác. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người là sự tiếp thu sáng tạo học thuyết
mác xít về con người trong hồn cảnh Việt Nam, được thể hiện ở một số nội

dung chủ yếu sau:
- Hồ Chí Minh đã nhận thức và giải quyết vấn đề con người theo quan
điểm của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng duy vật.
- Tiếp thu tỉnh hoa truyền thống dân tộc và nhân loại, trong đó cốt lõi là
chủ nghĩa Mác — Lênin đã cho phép tư tưởng Hồ Chí Minh về con người tiếp
cận tới bản chất của vấn đề con người với nội dung rộng lớn hơn về kinh tế,
chính trị, xã hội, văn hóa.

- Vạch rõ mối quan hệ giữa giải phóng con người với giải phóng dân

tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội.
- Chủ nghĩa Mác — Lênin coi sự nghiệp giải phóng con người là sự
nghiệp tự giải phóng của giai cấp lao động. Hồ Chí Minh cho rằng cuộc đấu
tranh để giải phóng con người “chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của
bản thân anh em”, “chủ nghĩa xã hội

là do nhân dân tự xây dựng lay”. Con


người là chủ thê tích cực, tự giác và sáng tạo của sự nghiệp ay....

17



×