BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
PHAN THỊ HỊA
ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU ĐỐI VỚI
ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NHÂN DÂN
Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
PHAN THỊ HỊA
ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU ĐỐI VỚI
ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NHÂN DÂN
Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN ĐỨC LUẬN
HÀ NỘI - 2018
Luận văn đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng
chấm luận văn thạc sĩ.
Hà Nội, ngày……tháng…..năm 2018
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
(Ký và ghi rõ họ tên)
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được cơng bố trong bất
kỳ cơng trình nào khác.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2018
Tác giả luận văn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU ĐỐI VỚI ĐỜI
SỐNG TINH THẦN CỦA NHÂN DÂN .................................................... 10
1.1.Tín ngưỡng thờ Mẫu ..................................................................... 10
1.2.Đời sống tinh thần ......................................................................... 30
1.3.Ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu đối với đời sống tinh thần của
nhân dân.............................................................................................. 34
Chương 2. ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU ĐỐI VỚI
ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NHÂN DÂN Ở TỈNH BẮC NINH
HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ............................. 43
2.1. Khái quát về tỉnh Bắc Ninh và tính đặc thù của tín ngưỡng thờ Mẫu
ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay .................................................................... 43
2.2. Ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của tín ngưỡng thờ Mẫu đối với
đời sống tinh thần của nhân dân tỉnh Bắc Ninh hiện nay .................... 54
2.3. Một số giải pháp phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh
hưởng tiêu cực của tín ngưỡng thờ Mẫu đối với đời sống tinh thần của
nhân dân tỉnh Bắc Ninh hiện nay ........................................................ 87
KẾT LUẬN ................................................................................................. 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................. 100
PHỤ LỤC.................................................................................................. 104
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ bao đời nay, ở mọi vùng quê trên đất nước Việt Nam thường diễn ra
những ngày lễ hội gắn với các truyền thuyết và sự tích về các Nữ thần. Tín
ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian mang sắc thái nguyên thủy và có
chiều dài lịch sử hàng ngàn năm, nó phát triển theo sự phát triển đa dạng của
tín ngưỡng dân gian mà không theo một qui luật định sẵn nào. Tín ngưỡng
thờ Mẫu được bảo tồn qua lễ hội, qua niềm tin và qua đời sống tâm linh để
tồn tại lâu dài trong đời sống tinh thần của người dân đất Việt. Tín ngưỡng
thờ Mẫu ở Việt Nam là một tín ngưỡng dân gian có nguồn gốc bản địa và bắt
nguồn từ nền văn minh nông nghiệp lúa nước và là một hình thức tơn vinh
người phụ nữ, coi trọng và tôn sùng tự nhiên,... Người ta đến với tín ngưỡng
thờ Mẫu để tìm chỗ dựa về tinh thần, tìm được sự che chở của Mẫu, của
người mẹ.
Ở Việt Nam nói chung, tỉnh Bắc Ninh nói riêng, tín ngưỡng thờ Mẫu đã
trở thành một bộ phận cấu thành đời sống tinh thần của nhân dân. Trong
những năm thực hiện đường lối, tín ngưỡng thờ Mẫu và các tơn giáo, tín
ngưỡng khác có điều kiện thuận lợi nên đã có sự phát triển mạnh mẽ, có tác
động tích cực đến đời sống tinh thần và trở thành một bộ phận quan trọng
trong sinh hoạt văn hóa tinh thần của nhân dân ta, qua đó có những đóng góp
nhất định trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Văn kiện hội nghị lần thứ
năm Ban chấp hành trung ương Đảng (khóa VIII), đưa ra quan điểm chỉ đạo
cơ bản: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là
động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ” và “Nền văn hóa mà chúng
ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Ngày nay,
trong xu thế quốc tế hóa, tồn cầu hóa đang diễn ra trên tồn thế giới. Việt
Nam cũng đang hịa nhập, tham gia tích cực vào q trình quốc tế hóa, tồn
2
cầu hóa. Tuy nhiên, q trình quốc tế hóa và tồn cầu hóa mà chúng ta đang
tham gia hiện nay nảy sinh những vấn đề mới liên quan đến vấn đề giữ gìn và
phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Với tính cách là một trong những
bộ phận cấu thành đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ta, tín ngưỡng thờ
Mẫu cũng như những giá trị văn hóa tinh thần gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu
cũng cần được quan tâm giữ gìn và phát huy.
Bắc Ninh là một trong những cái nơi văn hóa của đồng bằng Bắc Bộ.
Hầu hết các làng, xã ở Bắc Ninh đều có đình, đền, miếu làng cùng với các lễ
hội truyền thống diễn ra hàng năm. Trên mảnh đất Bắc Ninh - Kinh Bắc vẫn
còn lưu giữ được kho tàng di sản văn hóa vơ cùng phong phú và đặc sắc trong
đó có hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa và sinh hoạt lễ hội truyền thống,
sinh hoạt văn hóa dân gian. Đó là giá trị tinh thần vơ giá cần phải được duy trì
và phát huy. Trong những năm gần đây, các lễ hội liên quan đến tín ngưỡng
thờ Mẫu đã và đang có xu hướng phát triển và có những diễn biến mới ở trên
địa bàn tỉnh. Hiện nay, tín ngưỡng thờ Mẫu ở tỉnh Bắc Ninh đang có những
đóng góp, ảnh hưởng tích cực đối với đời sống văn hóa tinh thần của nhân
dân trong tỉnh. Tuy nhiên, ngồi những ảnh hưởng tích cực, tín ngưỡng thờ
Mẫu cũng đang có những ảnh hưởng tiêu cực đối với đời sống tinh thần của
người dân nơi đây; các hiện tượng tiêu cực, mê tín dị đoan,... gắn với tín
ngưỡng thờ Mẫu có xu hướng ngày càng phổ biến, lan rộng, ảnh hưởng đến
hoạt động lao động sản xuất của người dân địi hỏi phải có sự quan tâm
nghiên cứu để đưa ra các giải pháp khắc phục kịp thời.
Xuất phát từ tình hình trên, tác giả chọn vấn đề “Ảnh hưởng của tín
ngưỡng thờ Mẫu đối với đời sống tinh thần của nhân dân ở tỉnh Bắc Ninh
hiện nay” làm đề tài luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Triết Học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tín ngưỡng thờ Mẫu là mảng đề tài nhận được nhiều sự quan tâm của
các nhà nghiên cứu. Cho đến nay, khá nhiều cơng trình tiếp cận dưới nhiều
3
góc độ khác nhau như: tơn giáo học, triết học, sử học, văn hóa học, khảo cổ
học, dân tộc học, mỹ thuật học,... đã nghiên cứu tín ngưỡng Thờ Mẫu ở Việt
Nam nói chung, tỉnh Bắc Ninh nói riêng. Có thể chia các cơng trình nghiên
cứu ấy thành ba nhóm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, nhóm cơng trình nghiên cứu tơn giáo, tín ngưỡng Việt Nam:
- GS Vũ Ngọc Khánh, tác giả của cuốn sách “ Tín ngưỡng dân gian
Việt Nam ” (tái bản có sửa chữa, bổ sung) (2001), tác giả có viết về các tín
ngưỡng dân gian Việt Nam hiện nay, trong đó có cả tín ngưỡng thờ Mẫu, tín
ngưỡng Tam phủ - Tứ phủ, nhưng khơng nghiên cứu sâu từng loại hình tín
ngưỡng mà chỉ nêu khái qt từng loại hình tín ngưỡng dân gian mà thơi.
- “Các hình thái tín ngưỡng tơn giáo ở Việt Nam”, Nguyễn Đăng Duy,
NXB Văn Hóa Thơng tin, 2001. Cuốn sách giới thiệu một cách hệ thống
những khái niệm và thực chất của tín ngưỡng và tơn giáo ở Việt Nam. Sách
gồm 7 chương, trong đó chương III viết về: Tín ngưỡng thờ Mẫu.
- “Văn hoá tâm linh” , Nguyễn Đăng Duy, NXB Văn Hóa Thơng Tin,
2002. Tác giả đã khẳng định văn hoá tâm linh là một phần của văn hố tinh
thần. Nó biểu hiện ở nhiều mặt trong đời sống tinh thần của con người, trong
đó tín ngưỡng, tơn giáo chiếm một phần quan trọng. Cuốn sách gồm 3 luận về
văn hoá tâm linh (Tâm linh trong đời sống cá nhân, gia đình , cộng đồng làng
xã). Phần thứ hai: Tâm linh trong tín ngưỡng tơn giáo ở người Việt miền Bắc
(Đặc điểm văn hoá xã hội người Việt miền Bắc; Tâm linh trong tín ngưỡng
thần thánh trời đất; Tâm linh trong tín ngưỡng thờ Mẫu; Tâm linh trong tang
ma và thờ cúng tổ tiên; Tâm linh trong Phật giáo; Tâm linh trong Đạo giáo;
Tâm linh trong Thiên chúa giáo. Phần thứ ba: Những điều kết luận.
- Cuốn “Di sản văn hóa dân tộc trong tín ngưỡng và tơn giáo ở Việt
Nam”, tác giả Lê Quang Trứ (2000) , tác giả giới thiệu dàn đều bốn loại hình tín
ngưỡng chủ yếu tại Việt Nam, trong đó có tín ngưỡng thờ Mẫu.
4
- “Góp phần nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam”, Nguyễn Chí
Bền, NXB Khoa học Xã hội, 2006. Tác giả đã nghiên cứu về văn hóa dân
gian người Việt qua những hằng số của văn hóa, thiên nhiên văn hóa miệt
vườn, những đặc trưng truyện dân gian của người Việt, tổng quan về kho tàng
lễ hội cổ truyền Việt Nam; tục thờ cũng các nữ thần, tín ngưỡng thờ Mẫu,
biến đổi tín ngưỡng thờ nhân vật lich sử …
Thứ hai, nhóm cơng trình tập trung nghiên cứu tín ngưỡng thờ Mẫu
ở Việt Nam:
- “Đạo Mẫu ở Việt Nam” năm 1996 hay cuốn “Đạo Mẫu và các hình
thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và Châu Á ” năm 2004 của tác
giả Ngô Đức Thịnh (chủ biên). Ở đây, tác giả đã đưa ra những luận chứng
khẳng định tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam đã trở thành Đạo Mẫu. Quan
điểm này hiện nay có nhiều nhà khoa học chưa đồng tình.
- “Văn hóa tâm linh Nam Bộ” của Nguyễn Đăng Duy (1997), tác giả
có viết một chương về tín ngưỡng thờ Mẫu, nhưng là thờ Mẫu ở Nam Bộ.
- Cuốn “Lịch sử tín ngưỡng Đơng Nam Á ” xuất bản năm 2000, tái bản
năm 2003 của TS Trương Sĩ Hùng (chủ biên), trong đó có bài viết: Thờ Mẫu
Việt Nam một tín ngưỡng điển hình ở Đơng Nam Á. Tác giả giới thiệu về lễ
hội thờ Mẫu và bước đầu đưa ra kết luận tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam
mang sắc thái điển hình ở Đơng Nam Á.
- Phân viện nghiên cứu văn hóa nghệ thuật thành phố Huế (2001) viết
cuốn “Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Miền Trung” do Nguyễn Hữu Thông (chủ biên)
lại một lần nữa khẳng định về tục thờ Mẫu và diễn trình của tục thờ Mẫu, các
tác giả đi sâu vào các nữ thần ở Miền Trung, đặc biệt là Thần Nữ YANA.
- “Tín ngưỡng thờ Mẫu trong tâm thức lồi người nói chung, người
Việt Nam nói riêng và lễ hội Phủ Dày ”, Trịnh Quang Khanh, 2001. Cuốn
sách gồm 2 chương: 1- Sự tơn vinh hình tượng bà Mẹ và tín ngưỡng thờ Mẫu
5
ở Việt Nam; 2- Lễ hội Phủ Dầy.
- Cuốn “Lễ hội dân gian ở Nam Bộ” (2003) của TS Trương Quốc
Thắng có bài viết: Lễ hội thờ Mẫu - Nữ thần nguyên gốc từ sinh hoạt dân gian
Bắc Bộ. Tác giả chủ yếu giới thiệu con đường đưa tín ngưỡng thờ Mẫu ở
miền Bắc vào miền Nam như thế nào.
- Cũng trong năm 2003, tác giả Nguyễn Chí Bền viết cuốn “Văn hóa
dân gian những phác thảo”. Cuốn sách này tác giả đề cập đến tục thờ Mẫu
của người Việt nhưng ở vùng Nam Bộ.
- Cuốn “Văn hóa Thánh Mẫu ” của Đặng Văn Lung (2004), tác giả đã
rất tâm huyết với vấn đề “Mẫu ” nên đưa ra rất nhiều các tư liệu về các “Mẫu”
nhưng lại viết dưới góc đến độ văn hóa, văn học và lịch sử chứ chưa xét dưới
góc độ tín ngưỡng và tơn giáo.
- Năm 2005, Mai Thanh Hải là tác giả cuốn sách “Tìm hiểu tín
ngưỡng truyền thống Việt Nam ”. Tác giả đưa ra quan điểm thờ Mẫu ở Việt
Nam có cội nguồn bản địa và thờ Mẫu bắt nguồn từ triết lý nhân sinh.
- “Thờ Mẫu - tín ngưỡng truyền thống bản địa Việt Nam” , Đặng
Việt Bích, NXB Viện Dân Tộc Học, 2005. Nội dung bài viết nhằm trả lời cho
câu hỏi: “Đâu là tín ngưỡng truyền thống của dân tộc Việt” trên một đất nước
đa tơn giáo và có nhiều tôn giáo lớn, song lại không thể chỉ ra đâu là quốc
đạo. Tác giả nêu lên các nguyên nhân và giải thích truyền thống thờ nữ thần đời sống tâm linh của cư dân nông nghiệp. Trả lời và giải thích “Tại sao hiện
tượng Mẫu Liễu lại xuất hiện vào thế kỷ 16? Tiếp đến là Man Nương, Mỵ
Nương rồi đến Liễu Hạnh, chính là sự tương ứng với thời kỳ Phục Hưng của
truyền thống thờ Nữ Thần của cư dân bản địa Việt. Rồi đến lễ hội Phủ Giầy,
cũng chính là tín ngưỡng thờ Mẫu. Như vậy có thể nói rằng truyền thống thờ
Nữ Thần có thể coi như hằng số văn hóa của người Việt.
- “Nữ thần và thánh Mẫu Việt Nam”, Vũ Ngọc Khánh, Mai Ngọc
Chúc, Phạm Hồng Hà, NXB Thanh niên, 2002. Cuốn sách giúp bạn đọc có
6
một cái nhìn hệ thống, khái quát về nguồn gốc, sự tích của phần lớn các vị nữ
thần và thánh mẫu đã và đang được thờ phụng ở Việt Nam. Các vị là những
con người có thật, những vị anh hùng có cơng chống giặc ngoại xâm hoặc là
các bà chúa của các làng nghề truyền thống. Việc thờ phụng những cịn người
thực này nhằm tơn vinh, làm giàu thêm truyền thống văn hóa, lịch sử của dân
tộc Việt Nam.
Thứ ba, nhóm cơng trình nghiên cứu về văn hóa, tín ngưỡng ở tỉnh
Bắc Ninh:
- “Địa lý hành chính Kinh Bắc”, Sở Văn hóa Thơng tin Bắc Giang,
1997, của các tác giả Nguyễn Văn Huyên và Nguyễn Khắc Đạm dịch từ
nguyên bản tiếng Pháp “Tableau de Geographie Administrative d”une
Anciene Province Vietnamienne: Le Bắc Ninh (ou Kinh Bắc)”; giới thiệu về
văn hóa truyền thống và các di tích lịch sử của vùng đất Bắc Ninh xưa và nay.
- Cuốn “Bắc Ninh làng cũ - q xưa - Chiếc nơi của văn hóa Việt
Nam”, Trung tâm văn hóa ngơn ngữ Đơng Tây, 2000, của tác giả Ngô Thế
Thịnh, đã được dịch giả Việt Tân dịch sang tiếng Anh.
- “Chuyện kể ở đền Đô”, Nxb. Văn hóa dân tộc, 2003 của các tác giả
Nguyễn Đức Thìn, Phạm Thuận Thành đã tập hợp những câu chuyện kể dân
gian có tính chất dã sử về đền Đô, về nhà Lý, về những phong tục tập quán
của người Đình Bảng, quê hương đã hun đúc nên vương triều thịnh trị trong
lịch sử. Giới thiệu về các danh nhân lịch sử xuất thân ở Kinh Bắc như: Lạc
Long Quân, Âu Cơ, Phù Đổng Thiên Vương, Trương Chi, Cao Lỗ...
- “Danh nhân lịch sử Kinh Bắc”, Nxb. Lao động, 2004, của tác giả
Trần Quốc Thịnh.
- Cuốn “Văn hiến Kinh Bắc T1,2”, năm 2002, Sở Văn hóa Thơng tin
Bắc Ninh, nghiên cứu về tục thờ thần tự nhiên liên quan tới đời sống nông
nghiệp trồng lúa nước ở Việt Nam, đặc biệt là vùng Bắc Ninh - Kinh Bắc.
- “Chùa Dâu và Nghệ thuật tứ pháp”, Nxb. Mỹ thuật, 2002, của tác
giả Phan Cẩm Thượng.
7
- Trong “Các di tích lịch sử văn hóa Bắc Ninh”, năm 2004, Bảo tàng
Bắc Ninh đã giúp người đọc có những thơng tin về đa số các cơ sở thờ tự:
đình, miếu, nghè..,
- Tác giả Nguyễn Quang Khải, “Vấn đề quản lý nhà nước đối với tôn
giáo ở Bắc Ninh trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn tốt nghiệp Cao cấp
chính trị, năm 2004...
- Cuốn: “Làng xã tỉnh Bắc Ninh” của tác giả Nguyễn Quang Khải,
NXB Thanh Niên, 2011 cung cấp những thông tin cơ bản của tất cả các làng
xã, khu phố ở tỉnh Bắc Ninh về dân số, diện tích, nghề nghiệp, đặc điểm cư
trú, dịng họ, tên các đền, miếu, hội làng của mỗi làng.
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, chúng tơi nhận thấy chưa có cơng
trình nào tập trung nghiên cứu về “Ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu đối
với đời sống tinh thần của nhân dân ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay”. Điều đó càng
thơi thúc chúng tơi thực hiện đề tài này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích
- Mục đích của đề tài luận văn là làm rõ những ảnh hưởng của tín
ngưỡng thờ Mẫu đối với đời sống tinh thần của nhân dân ở tỉnh Bắc Ninh
hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp để phát huy những ảnh hưởng
tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng thờ Mẫu đối với đời
sống tinh thần của nhân dân ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn tập trung giải quyết
những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về tín ngưỡng thờ Mẫu, đời sống tinh
thần và ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu đối với đời sống tinh thần của
nhân dân
- Làm rõ những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của tín ngưỡng thờ
8
Mẫu đối với đời sống tinh thần của nhân dân ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay.
- Đề xuất những giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế
ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng thờ Mẫu đối với đời sống tinh thần của
nhân dân ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng:
Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu đối với đời
sống tinh thần của nhân dân ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay.
4.2.
Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài luận văn nghiên cứu tín ngưỡng thờ Mẫu tại
tỉnh Bắc Ninh.
- Về thời gian: Đề tài luận văn nghiên nghiên cứu tín ngưỡng thờ Mẫu
ở tỉnh Bắc Ninh từ năm 2004 đến nay (thời điểm Nhà nước ta ban hành Pháp
lệnh số 18/2004/L/CTN của Chủ Tịch Nước về Tín ngưỡng, tơn giáo).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Pháp luật của
Nhà Nước về tín ngưỡng, tơn giáo.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn quán triệt những nguyên tắc phương pháp của chủ nghĩa duy
vật biện chứng, duy vật lịch sử trong nghiên cứu; đồng thời sử dụng những
phương pháp khác như: điều tra xã hội học, phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn
dịch, so sánh, kết hợp lịch sử - lơgíc, phỏng vấn, điền dã,…
6. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu đối với
đời sống tinh thần của nhân dân ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay; đề xuất những giải
pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của tín
9
ngưỡng thờ Mẫu đối với đời sống tinh thần của nhân dân ở tỉnh Bắc Ninh
trong thời gian tới.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu đối với
đời sống tinh thần của nhân dân.
- Luận văn góp phần làm rõ ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu đối với
đời sống tinh thần của nhân dân ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay; đề xuất những giải
pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của tín
ngưỡng thờ Mẫu đối với đời sống tinh thần của nhân dân ở tỉnh Bắc Ninh
trong thời gian tới.
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cấp chính
quyền tỉnh Bắc Ninh trong q trình hoạch định chính sách và trong cơng tác
quản lý về tơn giáo, tín ngưỡng. Ngồi ra, luận văn có thể sử dụng làm tài liệu
cho việc nghiên cứu, giảng dạy những vấn đề có liên quan.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài Lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 02 chương, 06 tiết.
10
Chương 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU ĐỐI VỚI
ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NHÂN DÂN
1.1. Tín ngưỡng thờ Mẫu
1.1.1. Quan niệm tín ngưỡng thờ Mẫu
Để tìm hiểu về tín ngưỡng thờ Mẫu trước hết ta đi tìm hiểu về khái niệm
“tín ngưỡng dân gian”. Hiện nay vẫn cịn rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn
đề này tùy từng góc độ tiếp cận, nhưng dù có vẻ trái chiều nhưng đều chứa đựng
những yếu tố hợp lý nhất định. Tóm lại, tín ngưỡng dân gian (hay cịn gọi là tín
ngưỡng dân tộc) là loại hình tín ngưỡng ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với
quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của các cộng đồng dân cư, của từng dân tộc
hoặc quốc gia dân tộc. Xét theo các dấu hiệu đặc thù về tên gọi, về tính liên kết
cộng đồng, người ta có thể chia tín ngưỡng dân gian thành tín ngưỡng vùng, địa
phương, tín ngưỡng dân tộc và thậm chí có cả tín ngưỡng khu vực (bao gồm
không chỉ một dân tộc, một quốc gia dân tộc….), được lưu truyền trong dân
gian, gắn bó chặt chẽ với văn hóa dân gian, được con người tự nguyện tham gia,
khơng có sự bắt buộc đối với con người. Tín ngưỡng dân gian thường đã trở
thành một dấu hiệu đặc trưng văn hóa, thể hiện trong tập quán phong tục và lối
sống của các cộng đồng cư dân và của dân tộc nói chung.
Ở Việt Nam, tín ngưỡng dân gian bao gồm nhiều loại hình tín ngưỡng
đã có từ lâu đời như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, anh hùng dân tộc, thờ thành
hoàng, thờ mẫu, tín ngưỡng phồn thực….
Hiện nay, chưa có đánh giá thống nhất về tín ngưỡng thờ Mẫu nhưng
nổi bật lên có bốn khuynh hướng chủ yếu đánh giá về vấn đề này của cả nhà
khoa học trong nước và nước ngoài.
11
Thứ nhất, xem thờ Mẫu đã và đang trở thành một tơn giáo sơ khai:
Theo Hồng Lương khi nói về thờ Mẫu đã có quan điểm cho rằng:
“Đạo Mẫu trong quá trình nảy sinh, vận động và biến đổi đã và đang chuyển
hóa từ tín ngưỡng ngun thủy để trở thành một tôn giáo sơ khai” [25, tr.88].
Cùng quan niệm như trên, tác giả Đặng Văn Lung cho rằng thờ Mẫu:
“đã là một tơn giáo chứ khơng cịn là một tín ngưỡng, kiểu như thờ cúng tổ
tiên trong gia đình hay thờ cúng anh hùng ở một đền riêng lẻ. Đạo Mẫu đã có
những hoạt động mang tính đặc trưng tôn giáo” [24, tr.502].
Xem xét thờ Mẫu trong cội nguồn và q trình phát triển thì lại có quan
điểm cho rằng: “Về phương diện thần của Đạo Mẫu bước đầu đã được hệ
thống hóa, tiến từ đa thần của tín ngưỡng nguyên thủy đến thần điện của tôn
giáo, mà Mẫu giữ vị trí trung tâm như Đức Phật hay Chúa Jesu” [39, tr.22].
Sở dĩ có quan điểm như vậy bởi vì trong lịch sử thờ Mẫu đã từng hình
thành một cộng đồng các tín đồ với các thứ bậc khác nhau. Từ những năm
1975 trở về trước, ở miền Nam đã hình thành một cộng đồng mang tính giáo
hội mang tên “Tiên Thiên Thánh Mẫu Giáo”, tập hợp các tín đồ tồn miền
Nam (sau năm 1975 tổ chức này khơng cịn nữa). Cịn ở miền Bắc tuy hình
thức thờ Mẫu có từ rất sớm nhưng cũng chỉ hạn chế trong phạm vi đền, phủ
(Đền Sòng, Phủ Dầy, Phủ Tây Hồ) dù những nơi đó đã trở thành những trung
tâm thờ Mẫu, hoặc là được phối thờ ở các chùa chiền.
Thứ hai, xem tín ngưỡng thờ Mẫu là tín ngưỡng, là tập tục truyền thống:
Một số tác giả cho rằng thờ Mẫu chưa phải là một tín ngưỡng hay một tơn
giáo mà chỉ là một tục lệ. Mai Thanh Hải cho rằng: “Tục thờ Mẫu có sức lan
truyền mạnh tới mức nhiều nơi đã lan tỏa mạnh mẽ...”[12, tr.151].
Tác giả Trương Sĩ Hùng thì quan niệm: “Trường hợp tục thờ Mẫu ở
Việt Nam biểu hiện rất rõ, phát triển đến mức gần như một tôn giáo của người
Kinh” [14, tr.78].
12
Giáo sư Vũ Ngọc Khánh trong tác phẩm “Tục thờ Đức Mẫu Liễu Đức
Thánh Trần” thì cho rằng:
Tại sao người Việt Nam lại tin tưởng vào đức mẹ (vào các Thánh
Mẫu)? Bảo rằng đó là một thứ tín ngưỡng hồn nhiên, rồi sau đó chuyển thành
một dạng như là mê tín, huyễn hoặc, có lẽ là một điều cạn nghĩ. Vấn đề phải
được hiểu theo cách triết học (trên cơ sở tâm linh) thì sẽ thấy có sự mầu
nhiệm hơn nhiều [19, tr.16].
Thứ ba, xem thờ Mẫu như là một loại hình dân gian.
Khác với quan điểm thứ nhất coi tín ngưỡng thờ Mẫu là một tơn giáo
sơ khai hay có thể trở thành một tơn giáo, nhóm tác giả theo quan điểm thứ ba
này chỉ xem thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian. Như tác giả Nguyễn Hữu
Thơng cho rằng tín ngưỡng thờ Mẫu tuy là sản phẩm bản địa chịu nhiều ảnh
hưởng của các loại hình tơn giáo chính thống như: Phật, Nho, Lão nhưng các
tơn giáo này đều bị dân gian hóa rồi mới bồi đắp vào tịa điện Mẫu. Ơng viết:
“Hình tượng Mẫu hồn tồn là sản phẩm của loại hình tín ngưỡng dân gian
chứ khơng phải là một tơn giáo chính thống. Xu thế biến Mẫu thành tơn giáo
chính thống như hiện nay của một số cá nhân là việc làm trái quy luật, khơng
đúng với tiến trình phát triển...” [42, tr.53-54].
Cùng quan điểm đó, Giáo sư Đính Gia Khánh cho rằng: “Thờ Mẫu là
một tín ngưỡng có nguồn gốc dân gian, một tín ngưỡng bản địa, khác với các
tôn giáo phổ quát” [18, tr.8].
Ngồi ra cịn có ý kiến cho rằng thờ Mẫu ở Việt Nam chưa thể trở
thành một tơn giáo hồn chỉnh: “Về mặt tâm linh, cũng như quy mơ tín đồ nó
đầy đủ yếu tố một tơn giáo, nhưng nó lại thiếu hẳn một triết thuyết để đủ sức
trở thành một tơn giáo hồn chỉnh” [12, tr.276].
Thứ tư, xem thờ Mẫu là một Đạo nhưng “Đạo” là con đường, cách
thức chứ không mang nghĩa tôn giáo.
13
Tác giả Ngơ Đức Thịnh khi phác họa về tín ngưỡng của các dân tộc
Việt Nam trong tác phẩm “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng Việt Nam” đã
đưa ra nhận định: “ Trong cơng trình này, đây đó chúng tôi sử dụng thuật ngữ
“Đạo” như Đạo Mẫu, Đạo Tổ Tiên...khái niệm dùng ở đây theo nghĩa là “con
đường”, “cách thức” đưa con người đạt tới niềm tin vào cái thiêng liêng, siêu
nhiên” [40, tr.17]. Quan niệm này được sự đồng tình của một số các nhà
nghiên cứu tơn giáo khác, coi thờ Mẫu là “Đạo Mẫu”, chữ “Đạo” ở đây khơng
có nghĩa là một tơn giáo như đạo Phật, đạo Kitoo, đạo I-xlam... mà phải hiểu
“đạo” ở đây như đạo trong làm người, đạo hiếu, đạo làm con...
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Duy khẳng định thờ Mẫu không phải là
một tôn giáo: “Ở đây cũng vẫn hiểu đạo thờ Mẫu chưa phải là tơn giáo vì nó
chưa có tín điều giáo lý, giáo chủ, đạo là con đường, là cách theo” [6, tr.141].
Như vậy, từ những quan niệm tương đồng và khác biệt trên đây, tôi cho
rằng việc thờ Mẫu của người Việt là một tín ngưỡng dân gian với những lập
luận sau:
Một là, thờ Mẫu được hình thành ngay trong chế độ mẫu hệ, nó có
nguồn gốc sâu xa, là xuất phát từ nguyên lý Mẹ.
Hai là, việc thờ Mẫu thiếu những tiêu chí cơ bản để cấu thành một tôn
giáo theo nghĩa đầy đủ.
Ba là, trong thờ Mẫu yếu tố niềm tin vào Mẫu được hóa thân vào các
nhận vật truyền thuyết, huyền thoại, lịch sử, chưa mang tính hệ thống mà cịn
dựa vào cảm nhận của chủ thể.
Bốn là, trong các văn bản pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam hiện nay chưa thừa nhận tín ngưỡng thờ Mẫu là một tôn giáo.
Với những lý do trên, trong luận văn này tơi xin sử dụng thuật ngữ “tín
ngưỡng thờ Mẫu”.
14
Mẫu là gọi theo tiếng Hán, tiếng Việt Nam gọi là Mạ, Mụ, Mệ, Mẹ.
Nghĩa ban đầu, Mẫu hậu, Mẹ đều chỉ người phụ nữ đã sinh ra một người nào
đó, là tiếng xưng hơ của người con đối với người sinh ra mình. Mở rộng ra,
người ta cịn dùng danh từ “Mẫu” để chỉ sự sinh sôi nảy nở, sinh hóa khơng
ngừng. Trong cuộc sống danh từ này cịn biểu thị sự tôn vinh, tôn quý một
nhân vật nữ nào đó, chẳng hạn như: Mẫu Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh... Với ý
nghĩa đó, tín ngưỡng thờ Mẫu là một hình thức tín ngưỡng dân gian để tơn
vinh các vị nữ thần hiển linh, tôn phong là Mẫu như: Quốc Mẫu, Thánh Mẫu,
đến Vương Mẫu... qua các hình thức sinh hoạt tín ngưỡng mà dường như
người ta có được sự che chở, giúp đỡ của các Thánh Mẫu.
Sau khi tìm hiểu các quan niệm trên tôi đi đến nhận định, tín ngưỡng
thờ Mẫu là một bộ phận của ý thức xã hội được hình thành từ chế độ thị tộc
mẫu hệ, để tơn vinh những người phụ nữ có cơng với nước, với cộng đồng,
tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội làm
Thánh Mẫu, Vương Mẫu... và qua đó người ta gửi gắm niềm tin vào sự che
chở, cứu giúp của các lực lượng siêu nhiên thuộc nữ thần. Tín ngưỡng thờ
Mẫu là một loại hình tín ngưỡng bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ Nữ thần, thờ
Mẫu thần và thờ Tam phủ - Tứ phủ với niềm tin thiêng liêng vào quyền năng
của Mẫu, đấng sáng tạo, bảo trợ cho sự tồn tại và sinh thành của vũ trụ, đất
nước, con người,...
- Thờ Nữ thần là lớp thờ nằm trong tín ngưỡng thờ mẫu xuất hiện sớm
nhất, có đối tượng được thờ cúng là những vị thần có tính nữ.
- Thờ Mẫu thần là lớp thờ nằm trong tín ngưỡng thờ Mẫu xuất hiện
muộn hơn lớp thờ Nữ thần, có đối tượng được thờ cúng là những vị thần có
tính nữ nhưng được dân gian tôn xưng là Mẫu thần. Thờ Mẫu thần là sự phát
triển từ thờ Nữ thần.
15
- Thờ Tam phủ - Tứ phủ là lớp thờ ra đời khoảng thế kỷ XVI thể hiện
sự phát triển tương đối hồn thiện của tín ngưỡng thờ Mẫu. Từ rất nhiều vị
Nữ thần và Mẫu thần, người Việt đã khái quát và trưng cất lên còn ba (Tam),
bốn (Tứ) vị Thánh Mẫu cai quản ba hay bốn vùng (phủ) gồm: Mẫu Thượng
Thiên cai quản vùng trời (Thiên phủ), Mẫu Thượng Ngàn cai quản vùng Rừng
( Nhạc phủ), Mẫu Thoải cai quản vùng Nước (Thoải phủ) và Mẫu Địa cai
quản vùng Đất (Địa phủ).
Trong ba lớp thờ của tín ngưỡng thờ Mẫu thì lớp thờ Tam phủ - Tứ phủ
là lớp thờ đã thể hiện khá tương đối rõ nét những quan niệm về nhân sinh, về
thế giới cũng như những mối liên hệ giữa con người với tự nhiên, với cộng
đồng xã hội.
1.1.2. Nguồn gốc của tín ngưỡng thờ Mẫu
Tín ngưỡng, tơn giáo nối chung và tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng là một
bộ phận của ý thức xã hội ra đời từ nguồn gốc kinh tế - xã hội, được hình
thành trong quá trình lịch sử - văn hóa. Cho nên, nó có quy luật hình thành và
phát triển riêng chịu sự quy định của tồn tại xã hội đã sinh ra nó. Do đó, tìm
nguồn gốc của nó khơng phải trong “ý thức” mà là trong lịch sử hoạt động
thực tiễn của con người. Tín ngưỡng thờ Mẫu có nhiều nguồn gốc khác nhau,
song trong luận văn này chúng tôi đề cập tới hai nguốn gốc cơ bản hình thành
tín ngưỡng thờ Mẫu: điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội.
Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam xuất phát từ nền văn minh nơng
nghiệp lúa nước điển hình. Đối với cư dân nơng nghiệp thì hình ảnh người mẹ
từ việc hái lượm đã tìm ra được hạt lúa để từ đó trở thành hồn lúa như Tạ Đức
từng nhận xét: “Trong các loại cây trồng, lúa là cây duy nhất trong thời kỳ
làm địng được các dân tộc người ở Đơng Dương gọi nó là chửa (Việt) = bun
(Cơ ho) = mtian (Giarai) như người mẹ, là cây duy nhất được coi có hồn
(Việt) = soan (Cơ ho)...” [10, tr.196].
16
Trong tâm thức cũng như trong thực tế cuộc sống của người Việt người dân sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước, chăn ni thì người phụ
nữ có vai trị đặc biệt quan trọng. Khơng chỉ trong cuộc sống sản xuất, người
phụ nữ đảm nhiệm hầu hết các công việc từ nội trợ, chăm lo công việc đồng
áng lại kiêm luôn là người tiểu thương chạy chợ lo toan chi tiêu cho gia
đình... mà ngay cả trong việc chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, người
phụ nữ cũng là một lực lượng đáng kể, góp phần tạo nên những chiến thắng
của dân tộc.
Truyền thống coi trọng phụ nữ trong đời sống tâm linh được thể hiện
qua hệ thống nhờ nữ thần rất phong phú của người Việt. Theo sách “Di tích
lịch sử văn hóa Việt Nam” của viện Hán Nơm cho biết, trong số 1000 di tích
văn hóa có đến 250 di tích thờ cúng các vị thần hay danh nhân là nữ. Điều đó
cho thấy, tín ngưỡng nữ thần ở nước ta có một vị trí quan trọng [36, tr.141].
Do trình độ sản xuất của người Việt cổ cịn thấp kém, con người phải
sống lệ thuộc hồn toàn vào thiên nhiên. Thiên nhiên đã cung cấp những sản
vật tự nhiên một cách trực tiếp để nuôi dưỡng con người và che chở cho con
người giống như người mẹ. Từ đó đã sớm hình thành ở người Việt lịng biết
ơn thiên nhiên và tơn thiên nhiên, rừng núi lên làm Mẫu, thể hiện rõ nét qua
Mẫu Thượng Ngàn,….
Kết quả của q trình sản xuất nơng nghiệp của người Việt cổ lệ thuộc
rất lớn vào tự nhiên. Mưa thuận, gió hịa hay thiên tai, bão lũ nhiều khi quyết
định việc được mùa hay mất mùa. Trước sức mạnh đó của tự nhiên, con người
vừa kính phục vừa sợ hãi và đã thần thánh hóa nó gán cho nó một sức mạnh
siêu nhiên . Điều đó làm xuất hiên tín ngưỡng thờ các thần, trong đó có các nữ
thần như: tín ngưỡng thờ mặt trời, mặt trăng, tín ngưỡng thờ tứ Pháp: Pháp
Vân, Pháp Vũ, Pháp Lơi, Pháp Điện. Chính sự phát triển của truyền thống thờ
nữ thần là một trong những nguồn gốc hình thành nên tín ngưỡng thờ Mẫu.
17
So với kinh tế du mục, trong nền sản xuất nơng nghiệp trồng lúa nước, vai
trị của người phụ nữ được đề cao hơn bởi lẽ, họ tham gia hầu hết các cơng việc
đồng áng và gia đình, ni dạy con cái. Hơn nữa, trong lịch sử đấu tranh dựng
nước và giữ nước của dân tộc, xuất hiện nhiều người phụ nữ tài, đức xuất chúng,
đứng ra giúp dân, giúp nước và đã lập cơng to lớn, điển hình là: Hai Bà Trưng,
Thái hậu Dương Văn Nga, Nguyên Phi Ỷ Lan, bà Chúa Kho, bà hàng nước ở
bến Rừng (Qảng Ninh), bà bán dầu ở Lam Sơn (Thanh Hóa),…. Chính vai trị và
cơng lao to lớn đó của người phủ nữ đã được nhân dân ta tôn lên làm Mẫu, thần
thánh hóa Mẫu đến mức gán cho Mẫu những sức mạnh siêu nhiên.
Cũng như nhiều tơn giáo, tín ngưỡng khác, sự ra đời của tín ngưỡng thờ
Mẫu cịn có nguồn gốc từ sự bất lực của con người trước tình trạng áp bức,
bất cơng, đói khổ,…trong xã hội. Sự bất lực của con người trước những tình
trạng đó khiến con người ta phải cầu cứu, nương tựa vào các lực lượng siêu
nhiên, trong đó có các Mẫu. Họ cầu mong các lực lượng này che trở và phán
bảo cánh thức vượt qua những khó khăn trong cuộc sống.
Những nguyên nhân nói trên, như vai trị của người phụ nữ trong lao
động sản xuất và đấu tranh xã hội thì có ở nhiều dân tộc, Âu, phi, Tây Á,
Đông Nam Á….Những ở những nơi này khi Thiên chúa giáo (như Kitô giáo,
Hồi giáo) tràn đến thì những tơn giáo đa thần, tín ngưỡng bản địa vì các
ngun nhân khác nhau bị buộc phải đến “cải đạo”. Ở Việt Nam thì các tơn
giáo ngoại nhập đó cũng có thể mang tham vọng bá chủ, độc tôn nhưng không
thực hiện được. Do vậy tín ngưỡng thờ Mẫu có điều kiện tồn tại và phát triển
hơn về phạm vi cũng như về sự phong phú, phức tạp trong nghi lễ thờ cúng.
Trên đây là những nguyên nhân cơ bản để dẫn đến sự ra đời của tín
ngưỡng, tơn giáo nói chung, tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng. Đối với tín
ngưỡng thờ Mẫu của người Việt cịn được ra đời trong một hồn cảnh mang
nhiều sắc thái đặc thù riêng.
18
Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt là một tín ngưỡng có nguồn gốc
bản địa “có thể là tín ngưỡng sớm nhất của người Việt trước khi du nhập Tam
giáo Phật, Nhao và Đạo” [12, tr.145].
Cho tới nay, tín ngưỡng thờ Mẫu ở nước ta chưa biết chính xác có từ
khi nào, nhưng có ý kiến cho rằng: “Người ta tin mẹ thần linh này đã xuất
hiện từ buổi hồng hoang hay ít nhất là từ lúc người Việt khai thác đồng bằng
Bắc Bộ” [13,tr,100].
Người Việt xưa cũng như ngày nay phải sống nhờ vào thiên nhiên rất
nhiều nhưng cũng ln phải gồng mình lên chống trọi với thiên nhiên. Do đó,
con người ln cầu mong sựu phù hộ, che chở của các “Mẹ” thiên nhiên và
các Mẫu có nguồn gốc nhiên thần và nhân thần lần lượt ra đời. Đặc điểm nổi
bật của tín ngưỡng thờ Mẹ của người Việt mà người ta gọi là Tam phủ hay Tứ
phủ. Trong các vị thần linh thuộc tín ngưỡng Tứ phủ, Thánh Mẫu Liễu Hạnh
đã được tơn thờ ở ngơi chính vị. Mẫu Liễu Hạnh là người có thực, nhưng
được tơn vinh trở thành một đấng siêu trần. Vị trí của bà rất đặc biệt, bà có thể
hóa thân thành các mẫu khác, các thần khác. Nhiều nơi, dù thờ Cô, Cậu hay
ơng Hồng, quan lớn gì thì bà vẫn được dành riêng ở một vị trí tơn kính trong
đền, điện hay phủ. Không một vị thần linh nào trong Tứ phủ có được sự hịa
nhập đặc biệt như thế. Sự ra đời của tín ngưỡng thờ Tứ phủ của Việt Nam có
thể được khái quát bởi những nguyên nhân trực tiếp sau:
Một là, người Việt từ bao giờ đã tin theo Phật, Lão, đã sống theo khuôn
mẫu đạo đức Nho giáo, lấy đó làm niềm tin thiêng liêng, đi cùng với chế độ
phong kiến, đưa nó lên đỉnh cao vào thế kỷ XV. Sang thế kỷ XVI, do tư tưởng
bảo thủ của Nho “dĩ nông vi bản”, “trọng nông ức thương” làm cho đất nước
cứ quẩn quanh trong kinh tế nông nghiệp tự cấp tựu túc, dẫn đến triền miên
khủng hoảng kinh tế xã hội. Mở đầu là nhà Mạc thốn ngơi nhà Lê (1527),
sau đó gây ra chiến tranh liên minh Trịnh - Mạc (1527-1570), rồi chiến tranh
19
Trịnh - Nguyễn (1600-1697), đất nước phân đơi Đàng ngồi, Đàng trong, dân
tình lầm than, đói khổ cùng cực. Họ cảm thấy bế tắc trong cuộc sống và họ đã
tìm đến tín ngưỡng, tơn giáo. Tuy nhiên, hiệu lực khn mẫu đạo đức Nho,
cũng như hiệu lực thiêng liêng Phật, Lão, thực tế đã khơng cứu họ khỏi đói
khổ, bởi thế họ phải tìm thêm một niềm tin thiêng liêng ở tín ngưỡng khác.
Bấy lâu nay, có một niềm tin đang thường trực trong tâm thức họ, đó là biểu
tượng Mẹ, lòng Mẹ bao dung, bao giờ cũng thương những đứa con thơ dại.
Thờ Mẫu với những đối tượng tự nhiên (Mẫu Nhiên) lâu nay chưa đủ, họ cho
xuất hiện thêm Mẫu Nhân từ trên trời giáng xuống, đó là Mẫu Liễu Hạnh
nhằm đáp ứng niềm tin thiêng liêng đang cần trong họ. Hơn nữa, từ thực tế
lịch sử nước ta vào thế kỷ XVI, XVII văn hóa dân gian phát triển rầm rộ về
nhiều mặt. Vị thế của người nông dân được nâng lên, bởi vậy trong thờ Mẫu
không thể khơng có vai trị của Mẫu Nhân. Cho nên Mẫu Liễu Hạnh được
sinh ra và lập tức trở thành Mẫu Nhân đứng đầu hàng ngũ Mẫu.
Hai là, cùng với đấu tranh chống phong kiến trên đây, Mẫu Liễu Hạnh xuất
hiện cịn hàm ý đấu tranh giữa văn hóa bản địa chống văn hóa phương Tây du
nhập vào nước ta lúc bấy giờ, đó là văn hóa Thiên Chúa Giáo. Thiên Chưa Giáo
bắt đầu xâm nhập vào nước ta từ năm 1533 tại vùng Ninh Cường - Quần Anh,
huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Thiên chúa giáo chỉ độc nhất tôn thờ Đức mẹ
Maria và Chúa Jêsu, không chấp nhận mọi tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, Thần,
Mẫu và cả Phật nữa. Vì thế một phản ứng mãnh liệt về tín ngưỡng, tơn giáo đã
diễn ra lúc bấy giờ. Hiện tượng Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện ở Vụ Bản - Nam Định
vào năm 1556 là để đáp ứng, thể hiện sự phản ứng tín ngưỡng mãnh liệt ấy.
Ba là, Mẫu Liễu xuất hiện là để hoàn thiện triết lý thờ Mẫu trong tín
ngưỡng thờ cúng Tổ tiên và tín ngưỡng thờ Thần. Theo cách tư duy thiêng
liêng Thánh Mẫu cũng gắn liền với tư duy triết học phương Đơng, đó là
“Thiên - Địa - Nhân hợp nhất” và âm dương ngũ hành hịa hợp, biến hóa sinh
thành tất cả.
20
Như vậy, từ những nguồn gốc sâu xa hình thành nên nguyên lý thờ
Mẫu nói chung đến việc thờ Mẫu của người Việt và được kết tinh trong thờ
Mẫu Liễu Hạnh đã khái quát lên cả quá trình hình thành, phát triển của tín
ngưỡng thờ Mẫu gắn liền với những điều kiện hồn cảnh thực tiễn ở Việt
Nam. Nó càng biểu hiện một cách sáng tỏ và sinh động hơn quy luật về tồn tại
xã hội quyết định ý thức xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Tuy tín ngưỡng thờ Mẫu xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, nhưng trong
q trình tồn tại và phát triển của nó, tín ngưỡng này cũng chịu nhiều ảnh hưởng
từ các tín ngưỡng, tôn giáo khác, đặc biệt là Đạo Giáo (Trung Quốc). Trong tín
ngưỡng thờ Mẫu ta thấy có nhiều yếu tố của Đạo giáo: Con người có xu hướng
vơ vi, hịa đồng với tự nhiên, các vị thần của Đạo giáo được thờ cúng trong phủ
như: Ngọc Hoàng, Thái Thượng Lão Quân, Nam Tào, Bắc Đẩu và rất nhiều
chuyện thần tiên huyền ảo, các pháp thuật phù thủy, lên đồng.
1.1.3. Bản chất của tín ngưỡng thờ Mẫu
Thứ nhất, tín ngưỡng thờ Mẫu là tín ngưỡng dân gian của người Việt,
đề cao vai trò của các điều kiện tự nhiên và vai trò của người phụ nữ, người
mẹ trong đời sống xã hội, đây là sản phẩm tinh thần tất yếu của nền sản xuất
nơng nghiệp ở trình độ thấp.
Như các tơn giáo khác, tín ngưỡng thờ Mẫu trước hết là sự phản ánh
hoang đường, hư ảo vai trò của thiên nhiên trong đời sống của người Việt.
Trong điều kiện trình độ của lực lượng sản xuất còn thấp kém, nền sản xuất
nơng nghiệp cịn lạc hậu, thì cuộc sống của con người phải dựa nhiều vào
thiên nhiên, được thiên nhiên che chở đến và cung cấp các sản vật nuôi sống
con người giống như người mẹ, từ đó họ đã thần thánh hóa thiên nhiên thành
những lực lượng siêu nhiên thong qua hình tượng Mẫu.
Tín ngưỡng thờ Mẫu cịn là sự phản ánh vai trị, vị trí và cơng lao to lớn
của người phụ nữ trong đời sống thường ngày (do nền sản xuất nông nghiệp