Tải bản đầy đủ (.pdf) (233 trang)

Khí hậu và thủy văn tỉnh quảng bình

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (8.17 MB, 233 trang )

SỞ KHOA HỌC VÀ CƠNG NGHỆ TỈNH QUẢNG BÌNH
TS.Nguyễn Đức Lý, KS.Ngơ Hải Dương, KS.Nguyễn Đại
(Đồng Chủ biên)

KHÍ HẬU VÀ THUỶ VĂN

TỈNH QUẢNG BÌNH
Sách được biên hội, biên tập từ các kết quả nghiên cứu khoa học
trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC KỸ THUẬT
HÀ NỘI - 2013


LỜI NĨI ĐẦU
Quảng Bình là tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ, chiếm vị trí quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân và an ninh quốc phòng của cả nước. Dải đất Quảng Bình như một
bức tranh hồnh tráng, có rừng, có biển, có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, có nhiều
loại tài ngun khống sản...
Tuy nhiên, do vị trí địa lý nên Quảng Bình là nơi chịu hoạt động giao tranh của
các khối khơng khí mùa đơng, khối khơng khí mùa hè, khối khơng khí biển, khối khơng
khí lục địa, mặt khác do có cấu trúc địa hình phức tạp, mật độ sông suối dày, độ dài
sông suối ngắn, độ dốc sơng suối và độ dốc lưu vực lớn vì vậy điều kiện khí hậu, thuỷ
văn khắc nghiệt cực đoan, nắng nóng, bão, lũ, rét đậm rét hại hầu như năm nào cũng
xảy ra gây nhiều kìm hãm cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Nghiên cứu đặc điểm khí hậu - thuỷ văn Quảng Bình để phục vụ cho các hoạt
động kinh tế - xã hội, nhất là đối với sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, xây dựng, thủy
lợi... đang là nhu cầu cấp thiết đặt ra. Tập sách này cung cấp những đặc điểm và số
liệu cơ bản nhất về khí hậu và thuỷ văn tỉnh Quảng Bình trên cơ sở tập hợp các kết
quả điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học của các tác giả trong và ngoài tỉnh từ các
cơ quan Trung ương đến địa phương.


Do có nhiều điều kiện giới hạn cũng như khả năng của nhóm biên soạn cịn hạn
chế, tập sách chắc chắn còn một số khiếm khuyết, mong nhận được sự đóng góp của
các nhà khoa học, các tổ chức quản lý và nghiên cứu khoa học, các bạn đọc gần xa để
tiếp tục bổ sung ngày càng hồn thiện.
NHĨM TÁC GIẢ


MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ
TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI

10

1.1. Vị trí địa lý

10

1.2. Dân số và lao động

10

1.3. Địa hình, địa mạo

12

1.4. Khái qt về khí hậu

20


CHƯƠNG 2: CHẾ ĐỘ KHÍ ÁP VÀ GIĨ

27

2.1. Khí áp

27

2.2. Gió

36

CHƯƠNG 3: CHẾ ĐỘ NHIỆT

46

3.1. Biến đổi nhiệt độ theo không gian

46

3.2. Biến đổi nhiệt độ theo thời gian

49

3.3. Biến động của nhiệt độ

53

3.4. Biến động nhiệt độ qua các thời kỳ


54

3.5. Chế độ bức xạ, nắng

58

CHƯƠNG 4: CHẾ ĐỘ MƯA, ẨM, BỐC HƠI

61

4.1. Chế độ mưa

61

4.2. Độ ẩm của khơng khí

105

4.3. Bốc hơi

108

CHƯƠNG 5: CÁC LOẠI THỜI TIẾT NGUY HIỂM

115

5.1. Bão và áp thấp nhiệt đới

115


5.2. Gió mùa Đơng Bắc

124

5.3. Gió Tây Nam khơ nóng

126

5.4. Dơng, gió lốc, mưa đá

129

5.5. Sương mù

131

5.6. Mây

134

5.7. Mưa phùn

135

CHƯƠNG 6: BIẾN ĐỘNG VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

136

6.1. Elnino và Lanina


136

6.2. Ảnh hưởng của Elnino và Lanina

137

6.3. Biến động một số yếu tố khí hậu ở Quảng Bình

137

CHƯƠNG 7: PHÂN VÙNG KHÍ HẬU

139

7.1. Mục tiêu phân vùng khí hậu

139

7.2. Nguyên tắc phân vùng khí hậu

139

7.3. Các quy luật phân hố khí hậu ở Quảng Bình

140

7.4. Phân vùng khí hậu Quảng Bình

143



7.5. Đánh giá điều kiện khí hậu và tài nguyên khí hậu đối với cơ cấu mùa vụ,
giống cây trồng và bảo vệ môi trường

146

CHƯƠNG 8: ĐẶC ĐIỂM THỦY VĂN VÀ ĐỊA CHẤT THỦY VĂN

148

8.1. Tình hình nghiên cứu thuỷ văn, địa chất thủy văn và mạng lưới quan trắc

148

8.2. Đặc điểm thủy văn

151

8.3. Đặc điểm nguồn nước

160

8.4. Đặc điểm thủy văn mùa lũ

168

8.5. Đặc điểm thủy văn mùa cạn

188


8.6. Đặc điểm thuỷ văn vùng sông ảnh hưởng triều

198

8.7. Phân vùng thuỷ văn

208

8.8. Điều kiện địa chất thuỷ văn

214

CHƯƠNG 9: PHÂN LOẠI KHÍ HẬU NƠNG NGHIỆP

220

9.1. Khí hậu nhiệt đới gió mùa (NĐGM), nóng có mùa đơng khơng lạnh.
Mưa nhiều, mùa ít mưa trung bình và khơ

220

9.2. Khí hậu NĐGM, nóng có mùa đơng khơng lạnh. Mưa vừa, mùa ít mưa
trung bình và khơ

221

9.3. Khí hậu NĐGM, nóng có mùa lạnh ngắn. Mưa rất nhiều, mùa ít mưa
ngắn và hơi ẩm

221


9.4. Khí hậu NĐGM, nóng có mùa lạnh ngắn. Mưa rất nhiều, mùa ít mưa
ngắn và hơi khơ

222

9.5. Khí hậu NĐGM, nóng có mùa lạnh ngắn. Mưa nhiều, mùa ít mưa ngắn và
hơi ẩm

222

9.6. Khí hậu NĐGM, nóng có mùa lạnh ngắn. Mưa nhiều, mùa ít mưa ngắn và
hơi khơ

223

9.7. Khí hậu NĐGM, nóng có mùa lạnh ngắn. Mưa nhiều, mùa ít mưa trung
bình và khơ

223

9.8. Khí hậu NĐGM, nóng có mùa lạnh ngắn. Mưa vừa, mùa ít mưa trung
bình và hơi khơ

224

9.9. Khí hậu NĐGM, ấm có mùa lạnh trung bình. Mưa rất nhiều, mùa ít mưa
ngắn và hơi ẩm

224


9.10. Khí hậu NĐGM, ấm có mùa lạnh trung bình. Mưa nhiều, mùa ít mưa
ngắn và hơi khơ

225

9.11. Khí hậu NĐGM, mát có mùa lạnh trung bình. Mưa rất nhiều, mùa ít
mưa ngắn và hơi ẩm

225

9.12. Khí hậu NĐGM, lạnh có mùa lạnh dài. Mưa rất nhiều, mùa ít mưa ngắn
và hơi ẩm

226

KẾT LUẬN

227

TÀI LIỆU THAM KHẢO

229

PHỤ LỤC

230




CÁC KÝ TỰ VIẾT TẮT
Ký hiệu
X (mm)
Xo (mm)
Cv
Cvo
Cs
Cso
P (milibar)
Ptb (milibar)

Giải thích
Lượng mưa đơn vị tính là mm
Lượng mưa trung bình nhiều năm
Hệ số phân tán
Hệ số phân tán trong chuổi số liệu nhiều năm
Hệ số đối xứng
Hệ số đối xứng trong chuổi số liệu nhiều năm
Áp suất khí quyển
Áp suất khí quyển trung bình của một thời đoạn
tính tốn, đơn vị là milibar
P (%)
Tần suất tính tốn
ATNĐ
Áp thấp nhiệt đới
HTNĐ
Hội tụ nhiệt đới
KKL
Khơng khí lạnh
KTTV

Khí tượng thuỷ văn
TBNN
Trung bình nhiều năm
SLXH
Số lần xuất hiện
0
T ( C)
Nhiệt độ, đơn vị là độ C
Ttb (0C)
Nhiệt độ trung bình, đơn vị là độ C
0
Tx ( C)
Nhiệt độ tối cao tuyệt đối, đơn vị là độ C
0
Tn ( C)
Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối, đơn vị là độ C
Txtb (0C)
Nhiệt độ tối cao trung bình, đơn vị là độ C
0
Tntb ( C)
Nhiệt độ tối thấp trung bình, đơn vị là độ C
H (cm)
Mực nước
Htb (cm)
Mực nước trung bình
Hx (cm)
Mực nước cao nhất
Hn (cm)
Mực nước thấp nhất
2

F (km )
Diện tích lưu vực
3
Q (m /s)
Lưu lượng nước
3
Qo (m /s)
Lưu lượng nước trung bình nhiều năm
3
Qx (m /s)
Lưu lượng nước lớn nhất
3
Qn (m /s)
Lưu lượng nước nhỏ nhất
2
M (l/s.km ) Moduyn dòng chảy
Mo (l/s.km2 ) Moduyn dòng chảy trung bình nhiều năm
Y (mm)
Độ sâu lớp dịng chảy mặt
Yo (mm)
Độ sâu lớp dịng chảy mặt trung bình nhiều năm
3
W (m )
Tổng lượng nước
Wo (m3)
Tổng lượng nước trung bình nhiều năm
3
Wx (m )
Tổng lượng nước lớn nhất
3

Wn (m )
Tổng lượng nước nhỏ nhất


N
W
S
E
NE
NW
SW
SE

Hướng Bắc
Hướng Tây
Hướng Nam
Hướng Đông
Hướng Đông Bắc
Hướng Tây Bắc
Hướng Tây Nam
Hướng Đông Nam


Chương 1
TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ
TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI
1.1. Vị trí địa lý
Quảng Bình là tỉnh ven biển Bắc Trung bộ Việt Nam với diện tích tự nhiên
8.065,27km2, có vị trí địa lý được giới hạn bởi các tọa độ địa lý ở phần đất liền là:
Điểm cực Bắc: 18005'12'' vĩ độ Bắc

Điểm cực Nam: 17005'02'' vĩ độ Bắc
Điểm cực Đông: 106059'37'' kinh độ Đông
Điểm cực Tây: 105036'55'' kinh độ Đơng
Tỉnh Quảng Bình có bờ biển dài 116,04km ở phía Đơng, có vịnh và cảng Hịn La,
cảng Gianh, cảng Nhật Lệ; có chung biên giới với nước CHDCND Lào 201,87km ở phía
Tây, phía Bắc tiếp giáp tỉnh Hà Tĩnh với chiều dài địa giới 136,5km, phía Nam giáp tỉnh
Quảng Trị với địa giới 78,8km.
Trên địa bàn Quảng Bình có quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường sắt Bắc Nam.
Các đường quốc lộ 12A, đường xuyên Á và tỉnh lộ TL10, TL11, TL16 và TL20 chạy từ
Đông sang Tây gián tiếp hoặc trực tiếp qua cửa khẩu Quốc tế Cha Lo và một số cửa khẩu
phụ khác nối liền với nước CHDCND Lào.
1.2. Dân số, lao động và xã hội

Dân số Quảng Bình năm 2009 là 858.802 người. Phần lớn cư dân địa phương là
người Kinh. Dân tộc ít người thuộc hai nhóm chính là Chứt và Bru-Vân Kiều gồm những
tộc người chính là: Khùa, Mã Liềng, Rục, Sách, Vân Kiều, Mày, Arem,... sống tập trung ở
hai huyện miền núi Tuyên Hoá, Minh Hoá và một số xã miền Tây huyện Bố Trạch,
Quảng Ninh, Lệ Thuỷ. Dân cư phân bố không đều, 85,5% sống ở vùng nông thôn và
14,5% sống ở thành thị.
Theo dự báo dân số của tỉnh Quảng Bình tính theo mức tăng dân số tự nhiên bình
quân hàng năm cả thời kỳ 2006 - 2010 là 1,44% so với dân số trong độ tuổi lao động và
tăng 1,54% so với số lao động tham gia hoạt động kinh tế. Phần lớn lao động chủ yếu tập
trung ở khu vực nơng nghiệp, nơng thơn.
Quảng Bình có nguồn lao động dồi dào với 423.044 người năm 2008, chiếm khoảng
49,26% dân số. Lực lượng lao động qua đào tạo và đào tạo nghề ước thực hiện đến năm
2008 là 147.000 người, chiếm tỷ lệ 34,75% so với lao động trong độ tuổi. Riêng số lao
động qua đào tạo nghề 76.261 người, chiếm tỷ lệ 18,03%. Lao động qua đào tạo nghề chủ
yếu được phân bổ trong lĩnh vực sản xuất vật chất như các ngành công nghiệp - tiểu thủ
cơng nghiệp, xây dựng cơ bản, khai khống, chế biến nông lâm thuỷ sản và ngành dịch
vụ, du lịch, phục vụ cộng đồng.



Về cán bộ khoa học và công nghệ, theo điều tra đến cuối năm 2007 tồn tỉnh Quảng
Bình có trên 17.000 cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ đại học và cao đẳng, 367 cán bộ
khoa học kỹ thuật có trình độ sau đại học và tương đương.
Quảng Bình đang phấn đấu đến năm 2010 đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề là 22%,
đạt mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đề ra; đến năm 2015 đạt 35%. Nâng tỷ lệ học
sinh vào các trường trung học chuyên nghiệp dạy nghề đạt 15% đến năm 2010 và 20% năm
2015. Cụ thể: Đến năm 2010, lao động cần đào tạo nghề phục vụ trong ngành cơng nghiệp xây dựng, đóng tàu, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến, khai khoáng: 14.550 người, chiếm
tỷ lệ 37%; ngành nông, lâm, ngư nghiệp: 12.000 người, chiếm tỷ lệ 30,5%; ngành dịch vụ:
12.750 người, chiếm tỷ lệ 32,5%; đến năm 2015, lao động cần đào tạo nghề phục vụ trong
ngành cơng nghiệp - xây dựng, đóng tàu, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến, khai khoáng:
31.400 người, chiếm 41,4%; ngành nông lâm ngư nghiệp: 19.500 người, chiếm 25,6%; ngành
dịch vụ: 25.100 người, chiếm 33%.
Dải đất Quảng Bình như một bức tranh hồnh tráng, có rừng, có biển với nhiều cảnh
quan thiên nhiên đẹp, thắng cảnh nổi tiếng như đèo Ngang, đèo Lý Hoà, cửa biển Nhật Lệ,
phá Hạc Hải, Cổng Trời… và Di sản Thiên nhiên thế giới Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ
Bàng.
Quảng Bình là vùng đất văn vật, có di chỉ Văn hố Bàu Tró, các di chỉ thuộc nền
Văn hố Hồ Bình và Đơng Sơn, nhiều di tích lịch sử như Quảng Bình Quan, luỹ Thầy,
rào Sen, thành Nhà Ngo, thành quách của thời Trịnh - Nguyễn cùng nhiều địa danh nổi
tiếng trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc như Cự Nẫm, Cảnh Dương,
Cha Lo, Cổng Trời, Xuân Sơn, Long Đại, đường Hồ Chí Minh... Trong q trình lịch sử,
vùng đất Quảng Bình đã hình thành nhiều làng văn hoá nổi tiếng và được truyền tụng từ
đời này sang đời khác như “Bát danh hương”: “Sơn - Hà - Cảnh - Thổ - Văn - Võ - Cổ Kim”. Nhiều danh nhân tiền bối học rộng, đỗ cao, nổi tiếng xưa và nay trên nhiều lĩnh vực
quân sự, văn hóa - xã hội như Dương Văn An, Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Hàm Ninh,
Hoàng Kế Viêm, Võ Nguyên Giáp...

1.3. Địa hình, địa mạo
1.3.1. Tính phân bậc địa hình theo cấu trúc vùng lãnh thổ

Địa hình Quảng Bình nhìn chung khá phức tạp, hẹp và thấp dần từ phía Tây sang
phía Đơng. Phía Tây là sườn Đơng của dãy Trường Sơn hùng vĩ được nâng cao qua các
thời kỳ vận động kiến tạo tạo núi, tạo ra hàng loạt các đỉnh núi cao trên 1.000m. Càng về
phía Đơng, địa hình thấp dần, nhưng do hẹp chiều ngang nên độ dốc tương đối lớn. Vùng
đồi mở rộng với nhiều nhánh núi tiến ra sát biển đã làm thu hẹp một phần đáng kể diện
tích của đồng bằng duyên hải.
Về mặt cấu trúc có thể chia Quảng Bình thành 4 khu vực có địa hình khác nhau:
1.3.1.1. Vùng núi
- Vùng núi có độ cao từ 250 - 2.000m, với tổng diện tích khoảng 5.236,16km2 chiếm
65% diện tích tự nhiên, thấp dần từ Tây sang Đơng và từ Bắc vào Nam. Địa hình núi này
thuộc sườn Đơng của dãy Trường Sơn có độ cao dao động từ 250 - 1.500m, trong đó diện
tích núi có độ cao chủ yếu là 500 - 600m chiếm phần lớn được cấu tạo bởi các loại đá
phiến, đá biến chất, đá cát bột kết có hình thái đường chia nước mềm mại, sườn tương đối


thoải. Ngược lại các núi trung bình có độ cao trên 1.000m thường được cấu tạo bởi đá
xâm nhập tạo nên các đỉnh Co Ta Run (1.624m), Ba Rền (1.137m), U Bị (1.009m)… Các
núi này có bề mặt đường chia nước phức tạp, đỉnh nhọn, sườn dốc. Nhìn chung, độ dốc
bình quân của vùng núi là 250 và mức độ chia cắt sâu trung bình 250 - 500m. Một trong
những nét tiêu biểu của vùng núi Quảng Bình là sự phân bố rộng rãi địa hình Karst với
khối đá vơi Kẻ Bàng và Khe Ngang đồ sộ nằm sát biên giới Việt - Lào có hệ thống sơng
ngầm rất phát triển. Địa hình Karst Quảng Bình ẩn giấu trong mình nhiều hang động dài
nhất, đẹp nhất nước ta và có giá trị đặc biệt đối với du lịch như động Phong Nha là động
đẹp nhất Việt Nam, có chiều dài 7.729m, ở độ sâu trung bình 83m. Ngồi ra cịn có hàng
loạt các hang động khác như hang Tối (dài 5.258m), hang Vịm (5.050m), hang Thung
(3.351m), hang Tiên Ơng (2.500m)…
Vùng núi được chia thành 3 loại: vùng núi cao trung bình, vùng núi trung bình thấp
và vùng núi thấp.
- Vùng núi cao trung bình: Là vùng núi có độ cao từ 1.500 đến hơn 2.000m, chiếm
1,05% diện tích lãnh thổ, phân bố chủ yếu ở phần Tây Bắc thuộc huyện Minh Hố, Bố

Trạch, được cấu tạo bởi đá trầm tích thô và mịn, bị chia cắt sâu trên 700m, đường sống
núi sắc, nhọn, sườn dốc lớn 20 - 300, hiểm trở, khó qua lại, cao nhất là đỉnh Phu Cơ Pi
2.017m, chỉ có đèo Mụ Giạ là cửa ngõ thuận lợi nhất thơng thương sang Lào.
- Vùng núi trung bình thấp (từ 800 - 1.500m), chiếm 19,4% diện tích lãnh thổ, phân
bố ở các huyện Tuyên Hoá, Minh Hoá, Quảng Trạch, Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thuỷ,
được hình thành trên macma axit biến chất, trầm tích hạt thơ và cacbonát, sống núi dạng
răng cưa lượn sóng, độ chia cắt sâu (500 - 250m), sườn khá dốc (20 - 250), thường xảy ra
hiện tượng sụt lở.
- Vùng núi thấp (250 - 800m), chiếm 33% diện tích lãnh thổ, khá phổ biến ở các địa
phương trong tỉnh, được cấu tạo từ đá macma axit, đá trầm tích hạt thơ, hạt mịn, sườn núi
có độ dốc 250, có khả năng qua lại thuận lợi.
- Đặc biệt trong khu vực địa hình núi Quảng Bình có hệ Karst Phong Nha - Kẻ Bàng
chiếm phần lớn diện tích rừng hai huyện Bố Trạch và Minh Hố với tổng diện tích trên
2.000km2. Khu vực Karst này chứa đựng nhiều hệ thống hang động kỳ thú được các nhà
khoa học thuộc các tổ chức quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN), tổ chức Văn hóa,
Khoa học và Giáo dục của Liên Hợp quốc (UNESCO), Hội hang động Hoàng gia Anh,
Quỹ quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF), đánh giá có giá trị tồn cầu.
1.3.1.2. Vùng gị đồi trung du
Vùng gị đồi có độ cao từ 50 - 250m, độ dốc trung bình từ 3 0 trở lên, có diện tích
1.677,95km2, chiếm 19,7% tổng diện tích đất tự nhiên.
Vùng gị đồi Quảng Bình nằm trong địa giới 87 xã kéo dài theo chiều dọc của tỉnh.
Địa hình vùng gị đồi hẹp và dốc, dịng chảy các sơng đều chạy theo hướng cắt ngang địa
hình, nhiều dãy núi vươn ra tận bờ biển nên địa hình vùng gị đồi phức tạp và bị chia cắt
tương đối mạnh. Do đặc điểm bị chia cắt nên vùng gò đồi Quảng Bình tuy có kết dải


nhưng không thuần nhất. Trong từng tiểu vùng đồng thời tồn tại cả khu vực bồi tích và
bào mịn. Các tính chất hố lý của đất chênh lệch nhau rất xa.
Dưới tác động của kiến tạo địa chất và quá trình phong hố, vùng gị đồi Quảng
Bình có thể chia làm 3 khu vực:

- Khu vực Lệ Thuỷ, Quảng Ninh có đặc trưng vùng bazan thối hố, địa hình chia
cắt mạnh, tầng đất mỏng và không đều. Sự chênh lệch giữa đồi và núi thấp không đáng
kể nhưng sự chênh lệch giữa đồi và đồng bằng khá xa.
- Khu vực Bố Trạch giới hạn từ phía Tây sơng Long Đại đến phía Nam sơng Gianh
bao gồm một phần đất huyện Quảng Ninh, Tuyên Hoá và thành phố Đồng Hới, trung
tâm là huyện Bố Trạch. Khu vực này có địa hình liền dải, rộng, tầng đất dày, ít chia cắt.
- Khu vực Bắc sơng Gianh bao gồm địa hình Quảng Trạch và một phần huyện
Tun Hố. Khu vực này có 2 tiểu vùng: tiểu vùng Tun Hố đất gị đồi xen núi thấp,
tầng dày; tiểu vùng Quảng Trạch đất liền dải nhưng phong hố mạnh.
1.3.1.3. Vùng đồng bằng
Vùng đồng bằng có độ cao từ 50m trở xuống với diện tích khoảng 866,90km 2,
chiếm 10,95% diện tích đất tự nhiên. Đây là các đồng bằng có nguồn gốc mài mịn, bồi
tụ, phân bố chủ yếu ở các huyện Lệ Thủy, Quảng Ninh, Bố Trạch, Quảng Trạch và
thành phố Đồng Hới, là địa bàn tập trung đơng dân cư của tỉnh Quảng Bình và thuận lợi
cho phát triển cây lương thực, nhất là cây lúa.
Nhìn chung dải đồng bằng Quảng Bình hẹp, nơi rộng nhất 26km bề ngang, nơi hẹp
nhất khoảng 10km. Các đồng bằng liền dải chủ yếu là đồng bằng Lệ Thuỷ, Quảng Ninh
248km2, đồng bằng Quảng Trạch 161km2.
- Đồng bằng đồi có độ cao 25 - 50m, chiếm 4% diện tích lãnh thổ, được hình thành
trong q trình san bằng các đá trầm tích hạt thơ, bị phong hố mạnh bởi quá trình ngoại
sinh.
- Đồng bằng ở độ cao dưới 25m tương đối bằng phẳng, chiếm 8% diện tích lãnh
thổ được tạo thành bởi bồi tích sơng và trầm tích biển, thường gặp ở các huyện Lệ Thuỷ,
Quảng Ninh, Quảng Trạch và thành phố Đồng Hới. Trong đó, vùng đồng bằng ven biển
có độ cao dưới 10m phân bố chủ yếu ở hạ lưu các con sông lớn trong tỉnh, tạo thành
những bình nguyên và bồn trũng thuộc các huyện Lệ Thuỷ, Quảng Ninh, Bố Trạch,
Quảng Trạch, có tổng diện tích 54.000ha, chiếm 6% diện tích tồn tỉnh. Vùng này bao
gồm 2 tiểu vùng:
+ Tiểu vùng đồng bằng phù sa có diện tích khoảng 44.000ha, chiếm gần 80% diện
tích dải đồng bằng ven biển, phân bố chủ yếu ở lưu vực trung lưu và hạ lưu các nhánh

sông Kiến Giang, sông Long Đại, sông Gianh tạo nên 2 đồng bằng chính là Quảng Ninh,
Lệ Thủy và Nam Quảng Trạch.
+ Tiểu vùng đất nhiễm mặn và phèn nằm ở các cửa sơng giáp với biển, có khoảng
10.000ha, chiếm 20% diện tích dải đồng bằng ven biển, một phần diện tích bị nhiễm mặn
do thuỷ triều, một phần diện tích nhiễm phèn do vật liệu sinh phèn phát triển trong môi
trường yếm khí và mặn mạch, có nhiều ở các vùng thuộc hạ lưu sơng Nhật Lệ, sơng Gianh
và sơng Rn.


1.3.1.4. Vùng ven biển
Chủ yếu là dải cát nội đồng hình lưỡi liềm hay hình rẽ quạt có tổng diện tích
358,40km2, chiếm 4% tổng diện tích đất tự nhiên, phân phối suốt chiều dài bờ biển từ
chân Đèo Ngang (Quảng Trạch) đến Mũi Lạy (Lệ Thủy) trên chiều dài 116,04km, trong
đó tập trung nhiều nhất tại 2 huyện Quảng Ninh và Lệ Thủy. Diện tích dải cát khoảng
32.140ha, chiếm 4% diện tích tự nhiên tỉnh Quảng Bình. Dải cồn cát này có độ cao thay
đổi từ 2 - 3m đến 30 - 40m, nơi rộng nhất đạt 7km, độ dốc lớn, chịu tác động mạnh bởi
quá trình hoạt động của gió và nước dẫn đến hiện tượng cát bay, cát lấp vào đồng ruộng,
đường giao thơng gây khó khăn cho sản xuất và đi lại. Đây cũng là vùng cần có đầu tư
trồng rừng chắn cát và phát triển mơ hình kinh tế vùng cát vốn được coi là khắc nghiệt
nhưng lại đầy tiềm năng kinh tế của tỉnh. Địa hình bờ biển Quảng Bình chủ yếu là kiểu bờ
biển hở, thuộc loại mài mòn, bồi tụ xen kẽ với nhau. Phía xa ngồi khơi cịn có 5 đảo nhỏ:
Hịn La, Hịn Gió, Hịn Nấm, Hịn Cọ và Hịn Chùa.
Vùng ven biển có chiều rộng và chiều cao tăng dần từ Bắc vào Nam, ở phía Bắc
dải cát hẹp và thấp, có chiều rộng từ 300 - 400m, độ cao từ +5 đến +10m, càng về phía
Nam dải cát càng mở rộng (từ 1 - 6km), có độ cao 17 - 20m, có đỉnh đạt đến độ cao
50m. Địa hình mặt dải cát rất phức tạp. Có thể phân chia thành 4 vùng chính:
- Vùng phía Bắc tỉnh, giới hạn từ Mũi Dốc đến sông Gianh, là vùng kém phát triển,
bề rộng dải cát từ 600 - 1.500m, độ cao phổ biến 5m. Địa hình đơn giản, hình sống trâu,
dốc về 2 phía.
- Vùng từ sơng Gianh đến Lý Hịa, bề rộng dải cát khoảng từ 600 - 1.000m, độ cao

phổ biến +10, địa hình dạng sống trâu, độ dốc có nơi 30 - 400.
- Vùng từ cửa Lý Hồ đến Nhật Lệ, độ rộng tăng dần từ 1.000 - 1.800m, độ cao phổ
biến tăng từ 10 - 20m. Địa hình, địa mạo khá phức tạp, có nhiều đồi cát cao và dài, mái
dốc 50 - 600, có nhiều bậc lở về phía biển.
- Vùng từ cửa Nhật Lệ đến giáp Vĩnh Linh, bề rộng 4 - 6km, độ cao 30 - 40m, có
đỉnh cao 50m, nhiều dải cát dài nối liền nhau xen lẫn nhiều khối cát cao và bồn trũng. Địa
hình phức tạp và thường xuyên biến động do tác động ngoại lực của thời tiết khí hậu.
Sự xuất hiện hệ thống cồn cát ven biển là yếu tố địa hình bất lợi nhiều mặt. Dưới tác
động của gió, hiện tượng cát bay, cát chảy đã làm cho các cồn cát tiến dần về phía lục địa,
thu hẹp đồng bằng ven biển vốn dĩ đã nhỏ bé lại càng nhỏ bé hơn, làm tăng tình trạng
úng lụt vùng cửa sơng, nhất là cửa sơng Nhật Lệ.
1.3.2. Tính phân bậc theo độ cao địa hình
Đặc điểm chung của địa hình Quảng Bình là hẹp, nơi hẹp nhất (tại thành phố
Đồng Hới) theo chiều Đông - Tây dưới 50km, thấp dần khơng đều từ phía Tây sang
phía Đơng nhưng khơng theo tuyến tính. Vùng đồng bằng, vùng cửa sơng có khi chỉ
cao hơn mặt nước biển 2 - 3m, có nơi thấp hơn mực nước biển, trong khi đó dải cồn
cát ven biển lại cao hơn, thậm chí cao tới 40 - 50m.


Cùng với sự phân hố địa hình theo hướng Tây - Đơng, địa hình theo hướng Tây
- Nam cũng phân dị rõ rệt.
Các dạng địa hình thấp dần từ Tây đến Đơng, từ Bắc vào Nam. Từ Bắc Quảng
Bình là dãy Hồnh Sơn với vùng núi Minh Hóa cao 2.000m, đến Quảng Ninh núi cao
nhất chỉ có 1.257m. Sự phân hố địa hình Quảng Bình theo hướng Đơng - Tây và Bắc
- Nam, nhất là sự phân hoá theo độ cao và hướng núi Á vĩ tuyến đã trực tiếp ảnh
hưởng đến sự phân bố vật chất và năng lượng, ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ khí hậu
(nhiệt ẩm), sự phân hóa lớp thực bì, tạo nên sự đa dạng sinh thái đặc sắc của Quảng
Bình.
Tính phân bậc theo độ cao của địa hình Quảng Bình được thể hiện rõ nét qua các
bậc địa hình sau đây:

- Bậc cao nhất 1.500 - 2.000m: bậc địa hình này phát triển rất hạn chế, chỉ quan
sát thấy ở khu vực phía Tây Bắc tỉnh (thuộc địa phận huyện Minh Hóa) trong phạm vi
khối núi Phu Cô Pi dưới dạng các đỉnh núi đơn độc hoặc đường chia nước dạng răng
cưa của khối núi này và ở phía Tây Nam huyện Bố Trạch trong phạm vi khối núi Co
Ta Run. Trong đó, đỉnh núi Phu Cô Pi (2.058m) là đỉnh cao nhất tỉnh Quảng Bình và
đỉnh Co Ta Run cao 1.623m.
- Bậc địa hình 800 - 1.200m: bậc địa hình khá phổ biến ở phía Tây thượng nguồn sơng
Kiến Giang và sơng Long Đại. Ở thượng nguồn sông Long Đại bậc địa hình này kéo dài
từ đỉnh Phu Phu Re (990m) theo hướng Tây Bắc - Đông Nam xuống tới đỉnh núi Ca
Ay (1.145m) nằm giáp với biên giới CHDCND Lào và là nơi bắt đầu của khối núi đá
vôi Kẻ Bàng, chúng tạo mực địa hình khá rộng và đẹp với độ cao trung bình 900 1.100m. Tới khối núi đá vơi Kẻ Bàng, mực địa hình nhường chỗ cho khối núi đá vơi
(có độ cao trung bình 500 - 600m) cho đến khi kết thúc khối đá vôi này ở phía Tây
Nam, mực địa hình này lại bắt gặp ở thượng nguồn sơng Long Đại phân bố ở phía Tây
Nam của Quảng Bình tạo thành đường chia nước giữa Quảng Bình với CHDCND Lào
và ranh giới giữa Quảng Bình và Quảng Trị. Các đỉnh cao bắt gặp của mực địa hình
này là Động Vàng Vàng (1.250m), Động Tri (1.001m), núi Thù Lù (928m), đỉnh Ba
Rền (1.137m), đỉnh U Bò (1.009m). Mực địa hình này trong địa hình hiện tại là các
đường chia nước chính của các hệ thống sơng suối cấp III và IV.
- Bậc địa hình 400 - 700m: phân bố rộng rãi nhất ở miền núi Quảng Bình. Ở phía
Bắc Quảng Bình, bậc địa hình này kéo dài dọc theo hai bên thung lũng sông Rào N ậy
thuộc địa phận các huyện Tuyên Hóa, Minh Hóa xuống tới thị trấn Ba Đồn, huyện
Quảng Trạch. Ở phía Nam, chúng phân bố thượng nguồn sông Kiến Giang và dọc theo
trung lưu thung lũng sông Long Đại tạo thành mực địa hình khá rộng lớn. Ngồi ra, bề
mặt đỉnh của khối núi đá vơi Kẻ Bàng phân bố phía Tây huyện Bố Trạch và bề mặt
đỉnh của các khối đá vôi sót phân bố phía Tây huyện Quảng Ninh, Lệ Thủy cũng được
xếp vào mực địa hình này.
- Bậc địa hình cao 100 - 250m: phân bố rộng rãi tạo thành dải liên tục bao quanh
rìa phía Tây của đồng bằng Ba Đồn, Đồng Hới, Lệ Thủy. Trong địa hình hiện tại nó là



những bề mặt san bằng của địa hình đồi cao, bề mặt chia nước của các lưu vực cấp II
được liên hệ với nhau bằng các chỏm đồi, dãy đồi hoặc bề mặt của các đồi dãy đồi thấp.
- Bậc địa hình cao 40 - 60m: phân bố hạn chế ở phía Tây của các đồng bằng
Quảng Trạch, Đồng Hới, Lệ Thủy dưới dạng các bề mặt thềm mài mòn biển bậc IV,
thềm sơng bậc III.
- Bậc địa hình cao 20 - 30m: phân bố lẻ tẻ nằm tiếp giáp với các bề mặt đồng
bằng thấp của Đồng Hới, Lệ Thủy. Đây là các bề mặt thềm mài mòn biển bậc III, thềm
sơng bậc II.
- Bậc địa hình cao <10m: bao gồm tồn bộ địa hình đồng bằng thấp Quảng Bình
có nguồn gốc tích tụ sơng, sơng - biển, biển, biển - đầm lầy. Trong bậc địa hình này có
thể phân ra 2 phụ bậc địa hình: 5 - 10m và <5m.
Như vậy, địa hình lãnh thổ Quảng Bình có sự phân bậc địa hình khá rõ nét từ Tây
sang Đông (hay từ vùng núi xuống vùng đồi và vùng đồng bằng ven biển) gồm 7 bậc địa
hình theo các thứ tự độ cao: 1.500 - 2.000m, 800 - 1.200m, 400 - 700m, 100 - 250m, 40 60m, 20 - 30m và <10m. Mỗi bậc địa hình đều có liên hệ chặt chẽ với nguồn gốc thành
tạo của chúng. Bốn bậc địa hình trước liên quan chủ yếu tới nguồn gốc bóc mịn. Ba bậc
địa hình sau được hình thành với vai trò chủ đạo của biển diễn ra trong kỷ Đệ Tứ.
1.4. Khái quát về khí hậu
1.4.1. Khái quát chung về khí hậu Quảng Bình
Quảng Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ln bị tác động bởi khí
hậu của phía Bắc, phía Nam và được chia làm hai mùa rõ rệt.
Mùa mưa từ tháng IX đến tháng III năm sau. Lượng mưa trung bình từ 1.600 2.800 mm/năm, thời gian mưa tập trung vào các tháng IX, X, XI. Mùa khô từ tháng IV
đến tháng VIII với nhiệt độ trung bình 24 - 250C, ba tháng có nhiệt độ cao nhất là các
tháng VI, VII, VIII. Nhiệt độ tối cao nhất tuyệt đối lên đến 41,6 0C (trạm Tuyên Hóa,
V/1992), 40,60C (trạm Ba Đồn, VII/1998), 40,7 0C (trạm Đồng Hới, IV/1980); nhiệt độ
thấp nhất tuyệt đối là 5,0 0C (trạm Tuyên Hóa, XII/1999), 7,6 0C (trạm Ba Đồn,
XII/1975) và 7,80C (trạm Đồng Hới, XII/1975).
Nhiệt độ trung bình năm của Quảng Bình tăng dần từ Bắc vào Nam, từ Tây sang
Đông. Cân bằng bức xạ đạt 70 - 80 kcal/cm2. Số giờ nắng bình quân năm khoảng 1.700
- 2.000 giờ.
Đặc điểm khí hậu tỉnh Quảng Bình 50 năm qua được trình bày cụ thể trong các

chương tiếp theo.
1.4.2. Yếu tố hồn lưu tác động đến khí hậu
Hệ thống khí áp chính chi phối thời tiết Việt Nam nói chung và thời tiết Quảng Bình nói
riêng bao gồm các trung tâm khí áp vĩnh cửu và các trung tâm khí áp hoạt động theo mùa.
1.4.2.1. Các trung tâm khí áp vĩnh cửu từ xích đạo đến vĩ độ trung bình
- Hồn lưu khí quyển trên đới vĩ độ thấp và tín phong:


Hồn lưu khí quyển ở vĩ độ thấp được đặc trưng bằng chuyển động thăng lên ở xích đạo
và chuyển động giáng xuống ở khoảng vĩ tuyến 30 độ; vì xích đạo là nơi tiếp nhận được nhiều
năng lượng mặt trời nhất, khơng khí ở đây bị đốt nóng và thăng lên cao tạo thành một vùng áp
thấp ở mặt đất. Khơng khí từ hai phía của xích đạo di chuyển đến vùng áp thấp này. Một vùng
áp cao được hình thành ở phía trên xích đạo. Khơng khí ở đây chuyển động về cực của mỗi
bán cầu và chuyển động giáng xuống ở khoảng vĩ tuyến 30 độ, tạo thành vùng áp cao. Từ
vùng áp cao này khơng khí lại dịch chuyển về phía xích đạo và tạo thành một vịng khép kín.
Tuy nhiên, do tác dụng của sự quay quanh trục của trái đất (lực Coriolis) khơng khí dịch
chuyển từ xích đạo về phía cực ở tầng cao, cũng như khơng khí dịch chuyển từ vĩ tuyến 30 độ
về xích đạo ở tầng thấp, chúng khơng theo hướng Bắc Nam thẳng góc với vĩ tuyến mà ln
lệch về phía phải (nếu ở bán cầu Bắc) và lệch về phía trái (nếu ở bán cầu Nam). Như vậy, ở
Bắc bán cầu từ vĩ tuyến 30 độ đến xích đạo, ở mặt đất có gió hướng Đơng Bắc; cịn Nam bán
cầu có gió hướng Đơng Nam; trên cao gió thổi ngược lại về phía hai cực tạo thành vịng hồn
lưu khép kín và được gọi là hồn lưu Hadley.
Như vậy, trên vùng biển nhiệt đới ln có gió Đơng Bắc hoặc Đơng thổi quanh năm và
được gọi là tín phong. Tín phong bao phủ từ xích đạo đến vĩ tuyến 20 độ ở Bắc bán cầu trong
mùa đông và trải rộng đến vĩ tuyến 30 độ trong mùa hạ.
- Áp cao cận nhiệt đới Thái Bình Dương nói riêng và áp cao cận nhiệt đới nói chung:
Khoảng vĩ độ 30 độ ở mỗi bán cầu, do có các luồng khơng khí giáng xuống, khí áp tăng
cao tạo thành các trung tâm khí áp trên các đại dương, nên ở vùng vĩ độ này được gọi là dải
áp cao cận nhiệt đới, tại đây gió tương đối yếu. Áp cao này tồn tại quanh năm trên biển với
khí áp trung tâm khoảng trên 1.035 milibar (viết tắt là mb: đơn vị đo áp suất khí quyển), ở

khoảng vĩ độ 30 độ Bắc. Mùa hè, áp cao này phát triển mạnh và lấn sâu về phía Tây, mùa
đơng áp cao này yếu đi một ít và dịch về phía Đơng.
- Áp thấp Aleutian:
Áp thấp Aleutian tồn tại quanh năm trên vùng biển cực đới phía Đơng lục địa châu Á,
mùa đơng phát triển mạnh, mùa hè suy yếu đi một ít. Chính sự tồn tại và phát triển của áp
thấp này có liên quan trực tiếp đến sự xâm nhập xuống phía Nam của các luồng khơng khí
cực đới trong mùa đơng, cũng như xâm nhập về phía Tây Bắc của áp cao Thái Bình Dương
trong mùa hè.
- Dải hội tụ nhiệt đới:
Khu vực gặp nhau của hai luồng tín phong đơng bắc ở Bắc bán cầu và tín phong đơng
nam ở Nam bán cầu được gọi là dải hội tụ nhiệt đới. Trong dải hội tụ nhiệt đới, khơng khí
nóng ẩm ở dưới thấp chuyển động lên cao tạo thành mây và mưa. Dải hội tụ nhiệt đới thường
dịch chuyển theo những vùng nước ấm. Trong các tháng mùa đông, dải hội tụ nhiệt đới dịch
chuyển về phía Nam. Đến mùa hè, dải hội tụ nhiệt đới dịch chuyển về phía Bắc và xa xích
đạo nhất vào tháng VI hoặc tháng VII. Ở phía Bắc dải hội tụ nhiệt đới trong vùng tín phong
đơng bắc, khơng khí chuyển động đi lên bị ngăn chặn bởi nghịch nhiệt tín phong. Ở phía
Nam, chuyển động thăng của khơng khí gây nhiễu động trong miền tín phong đơng nam.
- Rãnh thấp xích đạo:


Ở xích đạo ln tồn tại một dải áp thấp và được gọi là rãnh thấp xích đạo. Trong rãnh
thấp xích đạo, khơng khí chuyển động đi lên kèm theo các nhiễu động khác của khí quyển,
nhất là các xốy thuận, trong đó gió thổi ngược chiều kim đồng hồ và hướng vào trung tâm.
Các xốy thuận này đơi khi phát triển mạnh thành những áp thấp nhiệt đới hoặc bão. Vị trí
trung bình của dải áp thấp này ở vùng xích đạo (từ vĩ độ 5 độ Bắc đến vĩ độ 5 độ Nam của hai
bán cầu). Dải thấp này cũng dịch chuyển theo mùa, trong đó vào mùa hè nó dịch chuyển về
Bắc bán cầu, trái lại sang mùa đơng nó lùi về phía xích đạo và Nam bán cầu.
1.4.2.2. Các trung tâm khí áp hoạt động theo mùa
Ngồi các trung tâm tác động quanh năm nói trên, vùng Đơng Nam Á nói chung và Việt
Nam nói riêng cịn chịu tác động của các trung tâm khí áp hình thành và duy trì trong các

mùa.
- Mùa đơng: Trung tâm tác động lớn nhất là áp cao lục địa châu Á với một trung tâm
khí áp trên 1.035mb trong tháng I ở vùng hồ Baikan. Khối khơng khí này dịch chuyển về phía
Đơng Nam đến Việt Nam theo hướng chủ yếu là Đông Nam và Nam Đông Nam, là gió mùa
Đơng Bắc ở nước ta trong các tháng mùa đông, thịnh hành nhất từ tháng XI đến tháng IV năm
sau.
- Mùa hè: Do lục địa châu Á nóng lên, áp cao lục địa suy yếu và dần dần mất đi, thay
thế vào nó là áp thấp rộng lớn có tâm ở lãnh thổ Iran với trị số khí áp trung bình tháng dưới
1.000mb. Áp thấp này khống chế tồn bộ châu Á và thu hút các luồng khơng khí từ các áp
cao trên vùng Bắc Ấn Độ Dương, áp cao châu Úc ở Nam bán cầu và áp cao cận nhiệt đới
Thái Bình Dương.
1.4.2.3. Các khối khơng khí chính hoạt động theo mùa
- Các khối khơng khí chính hoạt động trong mùa đông (tháng XI - tháng IV)
+ Khối khơng khí cực đới
Đây là khối khơng khí có nguồn gốc lục địa, trong q trình di chuyển xuống phía Nam
phải đi qua lục địa châu Á rộng lớn nên bị bề mặt đệm làm cho biến tính (nhiệt độ và độ ẩm
khối khơng khí tăng cao so với nguồn gốc ban đầu). Mỗi khi trung tâm cao áp lục địa mạnh
lên, di chuyển về phía Đơng Nam theo hai hướng hoặc đi theo hướng Đông Đông Nam qua
lục địa Trung Quốc đổ ra vùng biển Trung Hoa - Nhật Bản, hoặc dịch chuyển theo hướng
Nam Đông Nam đến vùng Đông Nam Trung Quốc rồi tràn đến Việt Nam.
Riêng hướng di chuyển thứ 2 của khối khơng khí này đến Việt Nam có thể tiến theo
hai hướng. Hướng thứ nhất tràn đến Việt Nam không qua biển, trong trường hợp này
khơng khí khá khơ và lạnh, mỗi lần khơng khí này tràn về thường gây ra giảm nhiệt mạnh
và hầu như ít mưa, thời tiết khơ hanh. Hướng thứ hai trước khi đến Việt Nam, luồng
khơng khí này đã tràn qua vùng biển phía Nam Đơng Nam Trung Hoa. Đối với luồng khí
này khi đến Việt Nam thì đã biến tính nhiều: nhiệt độ và độ ẩm tăng khá cao so với nguồn
gốc ban đầu. Vì vậy, khi bị khơng khí này chi phối, thời tiết thường mưa, mưa vừa đến
mưa to, đôi khi kèm theo dông và lốc tố, nhiệt độ giảm nhưng khơng mạnh.
Khơng khí cực đới lục địa dù biến tính theo đường nào cũng là nguyên nhân dẫn đến sự
hạ thấp nhiệt độ trong mùa lạnh. Dĩ nhiên khơng khí cực đới biến tính qua đất liền thường có

nhiệt độ và độ ẩm thấp hơn biến tính qua biển. Tần suất giảm nhiệt khi có gió mùa Đông Bắc


tràn về tại Quảng Bình thường cho suất giảm nhiệt từ 3 - 50C, có khi cho suất giảm nhiệt từ 5
- 70C, thậm chí cho suất giảm nhiệt trên 100C. Trung bình hàng năm tỉnh Quảng Bình có
khoảng 22 đợt gió mùa Đơng Bắc chi phối.
+ Khối khơng khí nhiệt đới biển
Ngồi khối khơng khí cực đới nói trên, mùa đơng cịn có một khối khơng khí thịnh hành
đó là khối khơng khí nhiệt đới biển. Khối khơng khí này di chuyển từ rìa phía Nam của áp cao
cận nhiệt đới Thái Bình Dương hay vùng biển phía Đơng Trung Quốc. Tính chất cơ bản của
khối khơng khí này là nóng và ẩm, nhưng khi đi vào lục địa lạnh hơn, khối khơng khí này ổn
định hơn và độ ẩm tiến tới trạng thái bão hòa nên hay gây ra sương mù và mưa phùn.
Từ vĩ tuyến 16 độ Bắc trở ra khối khơng khí nhiệt đới biển thường bị gián đoạn trong
thời gian khối khơng khí cực đới lấn về phương Nam. Từ vĩ tuyến 16 độ Bắc trở vào nó
chiếm ưu thế trong mùa lạnh.
- Các khối khơng khí chính hoạt động trong mùa hè (từ tháng V - tháng X)
Trong mùa hè, thịnh hành có ba khối khơng khí chính bao gồm: khối khơng khí xích
đạo, khối khơng khí nhiệt đới biển Thái Bình Dương và khối khơng khí nhiệt đới biển vịnh
Bengan.
+ Khối khơng khí xích đạo: khối khơng khí này đến nước ta khi dải hội tụ nhiệt đới dịch
lên phía Bắc. Khối khơng khí này mang thuộc tính nóng ẩm, khi đi qua vùng lục địa Nam và
Đơng Nam Á, khối khơng khí này nóng lên và rất mất ổn định, các nhiễu động nhiệt đới như
bão, áp thấp nhiệt đới... thường hình thành trong khối khơng khí này. Đây là khối khơng khí
cung cấp lượng hơi nước chủ yếu, gây ra mưa trong mùa khơ.
+ Khối khơng khí nhiệt đới biển Thái Bình Dương: khối khơng khí này đến Việt Nam từ
rìa phía Nam của áp cao cận nhiệt đới khi lưỡi áp cao này lấn sâu vào lục địa Nam Trung Quốc
và Bắc Việt Nam. Khối khơng khí này có tầng kết khá ổn định, mang tính chất nóng ẩm
nhưng so với khơng khí xích đạo thì nóng hơn và khơ hơn.
+ Ngồi các khối khơng khí trên, từ vịnh Bengan có một khối khơng khí nhiệt đới biển
nữa, song về nguồn gốc khối khơng khí này chưa được xác định rõ rệt, nó có thể hình thành

ngay trên vịnh Bengan hoặc có thể bắt nguồn từ áp cao Ấn Độ Dương vượt qua xích đạo đến
vịnh Bengan. Nghĩa là có thể có hai nguồn gốc, hình thành từ khơng khí nhiệt đới biển biến
tính hay hình thành ngay trên vịnh Bengan.
Dù có nguồn gốc ở đâu, khối khơng khí này cũng mang thuộc tính nóng ẩm và thường
ảnh hưởng đến nước ta từ đầu đến giữa mùa nóng (tháng V đến tháng VIII). Khi ảnh hưởng
đến thời tiết Quảng Bình cũng như các tỉnh ven biển miền Trung, khối không khí này đã bị
biến tính mạnh sau khi vượt qua dải Trường Sơn (hiệu ứng phơn), nên khi sang phía Đơng
Trường Sơn khơng cịn giữ được thuộc tính nóng ẩm như ở nơi xuất phát nữa mà trở nên khơ
nóng.
Khối khơng khí vịnh Bengan sau khi vượt Trường Sơn gây mưa ở sườn Tây nhưng gây
khơ nóng ở sườn Đơng, những tỉnh thuộc Bắc và Trung Trung Bộ là những địa phương
thường chịu ảnh hưởng của hiệu ứng này trong các tháng đầu và giữa mùa hè, gây nên thời
tiết khơ nóng (gió Tây Nam khơ nóng).



Chương 2
CHẾ ĐỘ KHÍ ÁP VÀ GIĨ
Khơng khí bao quanh trái đất một lớp không dày lắm, tuy nhiên về mặt vật lý học, khí
quyển tác động lên mọi vật và mọi q trình của sự sống thơng qua các nhân tố như áp suất,
nhiệt độ, gió, độ ẩm và các hiện tượng nhưng kết như mây, mưa…
Tại mặt đất, khí áp duy trì từ 1.000 - 1.020mb. Áp suất khơng khí giảm theo độ
cao, trung bình cứ lên cao 100m khí áp giảm từ 12 - 13mb.
Do khả năng hấp thụ bức xạ mặt trời của khí quyển giảm dần từ xích đạo về hai cực,
vì thế nhiệt độ lớp khơng khí bao quanh bề mặt trái đất khơng đều, do vậy áp lực của khí
quyển khơng đồng nhất. Đi từ xích đạo về hai cực tới khoảng 35 vĩ độ Bắc khí áp tăng
dần, từ 35 đến 65 vĩ độ Bắc khí áp giảm dần để rồi tăng dần từ 65 đến 90 vĩ độ Bắc.
Chính nhờ sự chênh lệch khí áp trên mặt đất làm cho khơng khí ln chuyển động, sự
chuyển động ngang của khơng khí trên mặt đất gọi là gió.
2.1. Khí áp

2.1.1. Hệ thống khí áp
Hệ thống khí áp chính chi phối thời tiết Việt Nam nói chung và thời tiết Quảng Bình nói
riêng bao gồm các trung tâm khí áp vĩnh cửu và các trung tâm khí áp hoạt động theo mùa.
2.1.1.1. Các trung tâm khí áp vĩnh cửu từ xích đạo đến vĩ độ trung bình
- Hồn lưu khí quyển trên đới vĩ độ thấp và tín phong:
Hồn lưu khí quyển ở vĩ độ thấp được đặc trưng bằng chuyển động thăng lên ở xích đạo
và chuyển động giáng xuống ở khoảng vĩ tuyến 30 độ; vì xích đạo là nơi tiếp nhận được nhiều
năng lượng mặt trời nhất, khơng khí ở đây bị đốt nóng và thăng lên cao tạo thành một vùng
áp thấp ở mặt đất. Khơng khí từ hai phía của xích đạo di chuyển đến vùng áp thấp này.
Một vùng áp cao được hình thành ở phía trên xích đạo. Khơng khí ở đây chuyển động về
cực của mỗi bán cầu và chuyển động giáng xuống ở khoảng vĩ tuyến 30 độ, tạo thành
vùng áp cao. Từ vùng áp cao này khơng khí lại dịch chuyển về phía xích đạo và tạo thành
một vịng khép kín.
Tuy nhiên, do tác dụng sự quay quanh trục của trái đất (lực Coriolis) khơng khí dịch
chuyển từ xích đạo về phía cực ở tầng cao, cũng như khơng khí dịch chuyển từ vĩ tuyến
30 độ về xích đạo ở tầng thấp, chúng khơng theo hướng Bắc Nam thẳng góc với vĩ tuyến
mà ln lệch về phía phải (nếu ở bán cầu Bắc) và lệch về phía trái (nếu ở bán cầu Nam).
Như vậy, ở Bắc bán cầu từ vĩ tuyến 30 độ đến xích đạo, ở mặt đất có gió hướng Đơng
Bắc; cịn Nam bán cầu có gió hướng Đơng Nam; trên cao gió thổi ngược lại về phía hai
cực tạo thành vịng hồn lưu khép kín và được gọi là hồn lưu Hadley.


Như vậy, trên vùng biển nhiệt đới ln có gió Đông Bắc hoặc Đông thổi quanh năm
và được gọi là tín phong. Tín phong bao phủ từ xích đạo đến vĩ tuyến 20 độ ở Bắc bán cầu
trong mùa đông và trải rộng đến vĩ tuyến 30 độ trong mùa hạ.
- Áp cao cận nhiệt đới Thái Bình Dương nói riêng và áp cao cận nhiệt đới nói chung:
Khoảng vĩ độ 30 độ ở mỗi bán cầu, do có các luồng khơng khí giáng xuống, khí áp
tăng cao, tạo thành các trung tâm khí áp trên các đại dương, nên ở vùng vĩ độ này được
gọi là dải áp cao cận nhiệt đới, tại đây gió tương đối yếu. Áp cao này tồn tại quanh năm
trên biển với khí áp trung tâm khoảng trên 1.035 milibar (viết tắt là mb: đơn vị đo áp suất

khí quyển), ở khoảng vĩ độ 30 độ Bắc. Mùa hè áp cao này phát triển mạnh và lấn sâu về
phía Tây; mùa đơng áp cao này yếu đi một ít và dịch về phía Đơng.
- Áp thấp Aleutian:
Áp thấp Aleutian tồn tại quanh năm trên vùng biển ơn đới phía Đơng lục địa châu
Á, mùa đông phát triển mạnh, mùa hè suy yếu đi một ít. Chính sự tồn tại và phát triển
của áp thấp này có liên quan trực tiếp đến sự xâm nhập xuống phía Nam của các luồng
khơng khí cực đới trong mùa đơng, cũng như xâm nhập về phía Tây Bắc của áp cao Thái
Bình Dương trong mùa hè.
- Dải hội tụ nhiệt đới:
Khu vực gặp nhau của hai luồng tín phong đơng bắc ở Bắc bán cầu và tín phong
đơng nam ở Nam bán cầu được gọi là dải hội tụ nhiệt đới. Trong dải hội tụ nhiệt đới,
khơng khí nóng ẩm ở dưới thấp chuyển động lên cao tạo thành mây và mưa. Dải hội tụ
nhiệt đới thường dịch chuyển theo những vùng nước ấm. Trong các tháng mùa đơng, dải
hội tụ nhiệt đới dịch chuyển về phía Nam. Đến mùa hè, dải hội tụ nhiệt đới dịch chuyển
về phía Bắc và xa xích đạo nhất vào tháng VI hoặc tháng VII.
- Rãnh thấp xích đạo:
Ở xích đạo ln luôn tồn tại một dải áp thấp và được gọi là rãnh thấp xích đạo.
Trong rãnh thấp xích đạo, khơng khí chuyển động đi lên kèm theo các nhiễu động khác
của khí quyển, nhất là các xốy thuận, trong đó gió thổi ngược chiều kim đồng hồ và
hướng vào trung tâm. Các xốy thuận này đơi khi phát triển mạnh thành những áp thấp
nhiệt đới hoặc bão. Vị trí trung bình của dải áp thấp này ở vùng xích đạo (từ vĩ độ 5 độ
Bắc đến vĩ độ 5 độ Nam của hai bán cầu). Dải thấp này cũng dịch chuyển theo mùa;
trong mùa hè nó dịch chuyển về Bắc bán cầu, trái lại sang mùa đơng nó lùi về phía xích
đạo và Nam bán cầu.
2.1.1.2. Các trung tâm khí áp hoạt động theo mùa
Ngoài các trung tâm tác động quanh năm nói trên, vùng Đơng Nam Á nói chung và
Việt Nam nói riêng cịn chịu tác động của các trung tâm khí áp hình thành và duy trì
trong các mùa.
- Mùa đông: Trung tâm tác động lớn nhất là áp cao lục địa châu Á với một trung tâm
khí áp trên 1.035mb trong tháng I ở vùng hồ Baikan. Khối khơng khí này dịch chuyển về

phía Đơng Nam đến Việt Nam theo hướng chủ yếu là Đông Nam và Nam Đơng Nam, đó


chính là gió mùa Đơng Bắc ở nước ta trong các tháng mùa đơng, gió mùa này thịnh hành
nhất từ tháng XI đến tháng IV năm sau.
- Mùa hè: Do lục địa châu Á nóng lên, áp cao lục địa suy yếu và dần dần mất đi,
thay thế vào nó là áp thấp rộng lớn có tâm ở lãnh thổ Iran với trị số khí áp trung bình
tháng dưới 1.000mb. Áp thấp này khống chế toàn bộ châu Á và thu hút các luồng khơng
khí từ các áp cao trên vùng Bắc Ấn Độ Dương, áp cao châu Úc ở Nam bán cầu và áp cao
cận nhiệt đới Thái Bình Dương
2.1.1.3. Các khối khơng khí chính hoạt động theo mùa
a. Các khối khơng khí chính hoạt động trong mùa đơng (tháng XI - IV)
- Khối khơng khí cực đới:
Đây là khối khơng khí có nguồn gốc lục địa, trong q trình di chuyển xuống phía
Nam phải đi qua lục địa châu Á rộng lớn nên bị bề mặt đệm làm cho biến tính (nhiệt độ và
độ ẩm khối khơng khí tăng cao so với nguồn gốc ban đầu). Mỗi khi trung tâm cao áp lục
địa mạnh lên, khối khơng khí này di chuyển về phía Đơng Nam theo hai hướng hoặc đi
theo hướng Đông Đông Nam qua lục địa Trung Quốc đổ ra vùng biển Trung Hoa - Nhật
Bản, hoặc dịch chuyển theo hướng Nam Đông Nam đến vùng Đông Nam Trung Quốc rồi
tràn đến Việt Nam.
Riêng hướng di chuyển thứ 2 của khối khơng khí này đến Việt Nam có thể tiến theo
hai hướng. Hướng thứ nhất tràn đến Việt Nam khơng qua biển, trong trường hợp này
khơng khí khá khơ và lạnh, mỗi lần khơng khí này tràn về thường gây ra giảm nhiệt mạnh
và hầu như ít mưa, thời tiết khô hanh. Hướng thứ hai trước khi đến Việt Nam, luồng
khơng khí này đã tràn qua vùng biển phía Nam Đơng Nam Trung Hoa. Đối với luồng khí
này khi đến Việt Nam thì đã biến tính nhiều, nhiệt độ và độ ẩm tăng khá cao so với nguồn
gốc ban đầu. Vì vậy, khi bị khơng khí này chi phối, thời tiết thường mưa, mưa vừa đến
mưa to, đôi khi kèm theo dông và lốc tố, nhiệt độ giảm, nhưng khơng mạnh.
Khơng khí cực đới lục địa dù biến tính theo đường nào cũng là nguyên nhân dẫn đến
sự hạ thấp nhiệt độ trong mùa lạnh. Dĩ nhiên khơng khí cực đới biến tính qua đất liền

thường có nhiệt độ và độ ẩm thấp hơn biến tính qua biển. Tần suất giảm nhiệt khi có gió
mùa Đơng Bắc tràn về tại Quảng Bình thường cho suất giảm nhiệt từ 3 - 50C, có khi cho
suất giảm nhiệt từ 5 - 70C, thậm chí cho suất giảm nhiệt trên 100C. Trung bình hàng năm
tỉnh Quảng Bình có khoảng 22 đợt gió mùa Đơng Bắc chi phối.
- Khối khơng khí nhiệt đới biển:
Ngồi khối khơng khí cực đới nói trên, mùa đơng cịn có một khối khơng khí thịnh
hành đó là khối khơng khí nhiệt đới biển. Khối khơng khí này di chuyển từ rìa phía Nam
của áp cao cận nhiệt đới Thái Bình Dương hay vùng biển phía Đơng Trung Quốc. Tính
chất cơ bản của khối khơng khí này là nóng và ẩm, nhưng khi đi vào lục địa lạnh hơn,
khối khơng khí này ổn định hơn và độ ẩm tiến tới trạng thái bão hoà nên hay gây ra sương
mù và mưa phùn.


Từ vĩ tuyến 16 độ Bắc trở ra khối không khí nhiệt đới biển thường bị gián đoạn
trong thời gian khối khơng khí cực đới lấn về phương nam. Từ vĩ tuyến 16 độ Bắc trở vào
nó chiếm ưu thế trong mùa lạnh.
b. Các khối khơng khí chính hoạt động trong mùa hè (từ tháng V - X)
Trong mùa hè, thịnh hành ba khối khơng khí chính: khối khơng khí xích đạo, khối
khơng khí nhiệt đới biển Thái Bình Dương và khối khơng khí nhiệt đới biển vịnh Bengan.
- Khối khơng khí xích đạo: khối khơng khí này đến nước ta khi dải hội tụ nhiệt đới
dịch lên phía Bắc. Khối khơng khí này mang thuộc tính nóng ẩm, khi đi qua vùng lục địa
Nam và Đông Nam Á, khối khơng khí này nóng lên và rất mất ổn định, các nhiễu động
nhiệt đới như bão, áp thấp nhiệt đới... thường hình thành trong khối khơng khí này. Đây là
khối khơng khí cung cấp lượng hơi nước chủ yếu, gây ra mưa trong mùa khơ.
- Khối khơng khí nhiệt đới biển Thái Bình Dương: khối khơng khí này đến Việt
Nam từ rìa phía Nam của áp cao cận nhiệt đới khi lưỡi áp cao này lấn sâu vào lục địa Nam
Trung Quốc và Bắc Việt Nam. Khối khơng khí này có tầng kết khá ổn định và mang tính
chất nóng ẩm, nhưng so với khơng khí xích đạo thì nóng hơn và khơ hơn.
- Ngồi ra từ vịnh Bengan có một khối khơng khí nhiệt đới biển nữa, song về nguồn
gốc khối khơng khí này chưa được xác định rõ rệt, nó có thể hình thành ngay trên vịnh

Bengan hoặc có thể bắt nguồn từ áp cao Ấn Độ Dương vượt qua xích đạo đến vịnh
Bengan. Nghĩa là có thể có hai nguồn gốc, hình thành từ khơng khí nhiệt đới biển biến
tính hay hình thành ngay trên vịnh Bengan.
Dù có nguồn gốc ở đâu, khối khơng khí này cũng mang thuộc tính nóng ẩm, khối
khơng khí này thường ảnh hưởng đến nước ta từ đầu đến giữa mùa nóng (tháng V đến
tháng VIII). Khi ảnh hưởng đến thời tiết Quảng Bình cũng như các tỉnh ven biển miền
Trung, khối khơng khí này đã bị biến tính mạnh mẽ sau khi vượt qua dải Trường Sơn
(hiệu ứng phơn), nên khi sang phía Đơng Trường Sơn khơng cịn giữ được thuộc tính
nóng ẩm như ở nơi xuất phát nữa mà trở nên khơ nóng.
Khối khơng khí vịnh Bengan sau khi vượt Trường Sơn gây mưa ở sườn Tây nhưng
gây khơ nóng ở sườn Đơng, Quảng Bình là những địa phương thường chịu ảnh hưởng của
hiệu ứng này trong các tháng đầu và giữa mùa hè, gây nên thời tiết khơ nóng (gió Tây
Nam khơ nóng).
2.1.2. Biến thiên hàng năm của khí áp
Khí áp trung bình hàng năm của Quảng Bình khoảng 1.010,2mb. Từ hè sang đơng
khí áp trung bình tăng và đạt giá trị trung bình lớn nhất (1.017,6mb) vào tháng XII. Tiếp
đến khí áp trung bình giảm dần và đạt giá trị trung bình thấp nhất (1.003,5mb) vào tháng
VII và tháng VIII.
Khí áp cao nhất xuất hiện khi có khơng khí lạnh mạnh xâm nhập sâu xuống phía
Nam (khí áp cao nhất tuyệt đối đạt giá trị 1.030,5mb vào ngày 05 tháng III năm 2005), khí
áp thấp nhất xuất hiện khi có bão ảnh hưởng trực tiếp vào Quảng Bình (khí áp thấp nhất
tuyệt đối đo được tại Quảng Bình là 987,0mb ngày 29 tháng VIII năm 1990). Mức độ tăng
và giảm khí áp ở các tháng là khác nhau. Từ tháng IV đến tháng VI khí áp giảm rất nhanh.


Có hai khoảng thời gian mức giảm khí áp chậm là tháng II, III và từ tháng VI, VII. Quá
trình khí áp tăng chậm vào tháng VIII đến tháng IX, từ tháng IX đến tháng X tăng khá
nhanh. Trong mùa đơng (khí áp thường cao), nếu đi từ vĩ độ cao (21 vĩ độ Bắc đến 11 vĩ
độ Bắc) thì khí áp giảm dần, mức giảm trung bình cho mỗi vĩ độ là 0,48mb. Mức giảm
mạnh mẽ nhất xảy ra trong tháng XII hoặc tháng I hàng năm. Điều này có thể lý giải trong

mùa đơng, lãnh thổ nước ta chịu ảnh hưởng của trung tâm cao áp phía Bắc vì vậy càng lên
vĩ độ cao khí áp càng lớn. Ngược lại, trong mùa hạ, khí áp giảm dần nếu đi từ vĩ độ thấp
đến vĩ độ cao, mức giảm trung bình khoảng 0,37mb. Mức giảm mạnh nhất vào tháng VII
và yếu nhất vào tháng V, vì trong mùa hạ thường tồn tại những trung tâm khí áp thấp ở
phía Bắc và Tây Bắc nước ta.
Ở Quảng Bình, khí áp mặt biển trung bình năm ở vùng đồng bằng dao động trong
khoảng từ 1.004 - 1.019mb. Khí áp mặt biển có giá trị lớn nhất vào tháng XII và tháng
I, nhỏ nhất vào tháng VII và tháng VIII, chênh lệch tháng cao nhất và tháng thấp nhất
khoảng 14mb.
Bảng 2.1: Các đặc trưng khí áp tại trạm Đồng Hới
Các đặc trưng khí áp (mb)
Tháng
Ptb
I

1.016

Pmax

Ngày xuất hiện

Pmin

Ngày xuất hiện

1.029

22/1/1983

1.004


29/1/1980

II

1.015

1.027

22/2/1977

1.002

08/2/1985

III

1.012

1.030

05/3/2005

1.001

18/3/1999

IV

1.009


1.022

02/4/1991

1.000

21/4/1999

1.018

02/5/1977

997

1.011

02/6/1980

996

V
VI

1.006
1.004

22/5/1987
20/6/1984


VII

1.003

1.011

20/7/1977

995

30/7/1984

VIII

1.003

1.011

31/8/1993

987

16/8/1987

IX

1.007

1.015


28/9/1997

996

10/9/2000

X

1.012

1.021

25/10/1977

996

13/10/1989

XI

1.015

1.025

30/11/1989

1.003

06/11/1999


XII

1.017

1.028

10/12/1987

1.008

20/12/2002

Năm

1.011

1.028

10/12/1987

987

16/8/1987

Ghi chú: - Bảng trên được tính từ chuỗi số liệu từ năm 1956-2005
- P là ký hiệu viết tắt của khí áp
Bảng 2.2: Các đặc trưng khí áp tại trạm Ba Đồn
Các đặc trưng khí áp (mb)
Tháng
I


Ptb

Pmax

Ngày xuất hiện

Pmin

1.017

1.029

22/1/1983

1.003

Ngày xuất hiện
27/1/1980


II

1.015

1.028

22/2/1977

1.001


08/2/1985

III

1.013

1.031

05/3/2005

1.002

19/3/1999

IV

1.009

1.023

02/4/1991

1.001

21/4/1999

V

1.007


1.016

04/5/1981

999

28/5/2003

VI

1.004

1.011

02/6/1980

997

20/6/1984

VII

1.004

1.011

14/7/2005

995


31/7/1982

VIII

1.004

1.011

27/8/1996

987

29/8/1990

IX

1.008

1.016

28/9/1997

997

19/9/1990

X

1.012


1.022

31/10/1993

996

13/10/1989

XI

1.016

1.026

30/11/1989

1.005

13/11/1996

XII

1.018

1.028

22/12/1999

1.009


20/12/2002

Năm

1.010

1.031

05/3/2005

987

29/8/1990

Ghi chú: - Bảng trên được tính từ chuỗi số liệu từ năm 1956-2005
- P là ký hiệu viết tắt của khí áp
Bảng 2.3: Khí áp trung bình mực biển
(= giá trị trong bảng + 1.000mb)
Tháng

I

II

III

IV

V


VI

VII

VIII

IX

X

XI

XII

Năm

Ba Đồn

018

015

013

009

007

005


004

004

008

013

016

019

011

Đồng Hới

017

016

013

010

007

004

004


004

008

012

016

018

011

2.1.3. Biến thiên hàng ngày của khí áp
Thơng thường biến thiên ngày có dạng hình sin với hai cực đại và hai cực tiểu.
Cực đại thứ nhất xảy ra vào lúc 10 giờ, cực đại thứ hai vào lúc 22 g iờ hàng ngày.
Cực tiểu thứ nhất xảy ra lúc 4 giờ sáng, cực tiểu thứ hai xảy ra lúc 16 giờ hàng
ngày. Hiệu số giữa cực đại thứ nhất với cực tiểu thứ hai gọi là biên độ ngày, giữa
cực đại thứ hai với cực tiểu thứ nhất gọi là biên độ đêm. Thường thì biên độ n gày
lớn hơn biên độ đêm. Trong những ngày có thời tiết đặc biệt xảy ra như gió mùa
Đơng Bắc mạnh, bão, áp thấp nhiệt đới đổ bộ... thì biến thiên theo ngày của khí áp
sẽ khơng theo quy luật.
2.2. Gió
Quảng Bình nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên có hai mùa gió chính là
gió mùa mùa đơng và gió mùa mùa hè. Do địa hình chi phối nên hướng gió khơng
phản ánh đúng cơ chế của hồn lưu. Tuy nhiên, hướng gió thịnh hành vẫn biến đổi
theo mùa rõ rệt. Gió được xác định chủ yếu theo hai đại lượng: hướng gió và tốc đ ộ
gió.
2.2.1. Hướng gió
2.2.1.1. Hướng gió trong mùa đông (từ tháng XI - IV)



Trong mùa đơng, thời kỳ hoạt động của hồn lưu gió mùa Đơng Bắc, trên đại bộ
phận lãnh thổ của tỉnh các hướng gió thịnh hành là Tây Bắc với tần suất dao động trong
khoảng 20 - 53%, sau đó tuỳ nơi là Bắc hoặc Tây với tần suất đạt khoảng 12 - 20%. Riêng
khu vực vùng thấp nằm khuất ở phía Nam dãy Hồnh Sơn có hướng gió thịnh hành là Tây
(22 - 30%), sau đó là Tây Bắc và Đông Bắc với tần suất mỗi hướng dao động trong
khoảng 10 - 22%.
Trên đất liền, hướng thịnh hành chủ yếu của gió mùa đơng là hướng Tây Bắc, trừ
vùng Ba Đồn thịnh hành hướng Tây do ảnh hưởng của các dãy núi chắn gió ở phía Bắc và
thung lũng của hạ lưu sơng Gianh, gió thổi hướng Tây Bắc theo thung lũng đến đây đổi
thành hướng Tây.
Trên biển, do ít chịu sự chi phối của địa hình nên gió trên biển thường giữ nguyên
hướng ban đầu và tốc độ cũng ít thay đổi.
Trong cơ chế gió mùa đơng, ngay những tháng giữa mùa thỉnh thoảng cũng xuất
hiện các hướng gió trái mùa như hướng gió Nam hoặc hướng Tây Nam, xen kẻ giữa hai
đợt gió mùa Đơng Bắc là những ngày gió Đơng hoặc Đơng Nam.
2.2.1.2. Hướng gió trong mùa hè (từ tháng V - X)
Vào mùa hè, các hướng gió thịnh hành là Tây Nam hoặc Đơng và Đông Nam với tần
suất đạt khoảng 14 - 35%, sau đó là các hướng Nam, Tây với tần suất mỗi hướng dao
động trong khoảng 12 - 22%.
Gió trong mùa hè bắt đầu từ tháng V khi lục địa châu Á bị đốt nóng, cao hơn nhiều
so với nhiệt độ trên Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Trong thời gian này, nhiệt độ
nước biển dao động quanh giá trị 27˚C thì nhiệt độ lục địa có thể lên đến 34 - 35˚C, thậm
chí cịn cao hơn. Do đó trên lục địa hình thành những vùng khí áp thấp, gió từ Ấn Độ
Dương thổi mạnh vào lục địa. Gió này nguyên là tín phong Đơng Nam ở Nam bán cầu
vượt qua xích đạo lên Bắc bán cầu, dưới tác dụng của lực Coriolis nó đổi hướng thành gió
Tây Nam và thổi vào lục địa châu Á. Gió này bản chất là khối khơng khí nóng ẩm khi
vượt qua dải Trường Sơn gây mưa ở sườn Tây nên khi tới Quảng Bình lớp dưới thấp của
khối khơng khí này đã mất hẳn tính chất ban đầu của nó và trở thành luồng gió khơ nóng

hay cịn gọi là gió Lào.
2.2.1.3. Tín phong Bắc bán cầu
Loại gió này xuất phát từ áp cao cận nhiệt đới hay còn gọi là áp cao Thái Bình
Dương (áp cao vĩnh cửu) thổi quanh năm khi mạnh lên thì lấn về phía Tây.
Tần suất xuất hiện các hướng gió chính theo tháng được tính tốn cho một số nơi
được thể hiện ở bảng 2.4 đến 2.6.
Bảng 2.4: Tần suất (%) xuất hiện các hướng gió chính
ở Tun Hoá
[][

Tháng

N

NE

E

SE

S

SW

W

NW

Lặng


I

4.4

5.9

5.4

7.6

0.3

0.0

18.4

35.0

23.0

II

2.6

2.1

10.5

11.3


0.3

0.8

13.2

40.2

19.0


×