TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC
TRANG BỊ KỸ NĂNG MỀM VỚI CƠ HỘI VIỆC LÀM CỦA
SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI HIỆN NAY.
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Mã số đề tài: ĐTSV.2021.08
Chủ nhiệm đề tài : Hoàng Bách Việt
Lớp
: 1905CTHA
Cán bộ hướng dẫn : ThS. Lê Thị Tươi
Hà Nội, tháng 5 năm 2021
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC
TRANG BỊ KỸ NĂNG MỀM VỚI CƠ HỘI VIỆC LÀM CỦA
SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI HIỆN NAY.
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Mã số đề tài: ĐTSV.2021.08
Chủ nhiệm đề tài
: Hoàng Bách Việt
Thành viên tham gia : Nguyễn Thị Ngọc
Trần Ngô Thùy Linh
Lớp
: 1905CTHA
Hà Nội, tháng 5 năm 2021
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đề tài nghiên cứu khoa học: “Trang bị kỹ năng
mềm với cơ hội việc làm của sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội hiện nay.
Thực trạng và giải pháp” là công trình do nhóm nghiên cứu chúng tơi viết và
thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Cô giáo hướng dẫn ThS. Lê Thị Tươi,
các kết quả, nội dung được trình bày trong đề tài là nghiên cứu đảm bảo tính trung
thực và chưa từng được ai cơng bố dưới bất kỳ hình thức nào, các tư liệu sử dụng
trong đề tài nghiên cứu khóa học này là trung thực, có xuất xứ rõ ràng.
Tơi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
Hoàng Bách Việt
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, tơi xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc và
lời cảm ơn chân thành nhất tới Cô giáo hướng dẫn ThS. Lê Thị Tươi– người đã
hướng dẫn và giúp đỡ tận tình chúng em trong suốt quá trình thực hiện nghiên
cứu và hoàn thành đề tài.
Chúng em xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Khoa, sự giúp đỡ của quý Thầy,
Cơ trong khoa Khoa học chính trị, trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã tận tình dạy
bảo, truyền đạt những kiến thức quý báu trong thời gian nghiên cứu vừa qua. Với
các kết quả đạt được trong bài nghiên cứu này sẽ là nền tảng quan trọng để chúng
em tiếp tục có những nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề thực tiễn có thể áp dụng
ngay vào cuộc sống đặc biệt là vào trong Trường.
Trong quá trình làm đề tài nghiên cứu nhóm đã rất có nhiều cố gắng nhưng
khơng thể tránh khỏi một số sai sót do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực
tiễn còn hạn chế nên rất mong quý Thầy, Cô xem xét kĩ lưỡng và đưa ra những ý
kiến hợp lý nhất cho đề tài. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của q Thầy,
Cơ để đề tài hồn thiện hơn.
Cuối cùng, chúng em xin kính chúc q Thầy, Cơ dồi dào sức khỏe và thành
công trong sự nghiệp cao quý.
Thay mặt nhóm nghiên cứu, chúng em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
Hoàng Bách Việt
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ nguyên gốc
Chữ Tiếng Việt
OECD
Organization for
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
Economic Cooperation and
Development
ATD
Association
for
Talent Hiệp hội Phát triển Tài năng
Development
US – DOL
United
States
Department
of Bộ Lao động Hoa Kỳ
Labor
AI
Artificial Intelligence
Trí tuệ nhân tạo
EQ
Emotional Quotient
Trí tuệ cảm xúc
KNM
Sofl skills
Kỹ năng mềm
CLB
Câu lạc bộ
SV
Sinh viên
Tr.
Trang
H.
Hình
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1. Số lượng sinh viên đang theo học tại trường là sinh viên năm thứ.
33
Bảng 2.2. Số lượng sinh viên đã từng hoặc trang bị những kỹ năng mềm.
34
Bảng 2.3. Tại thời điểm này, sinh viên đã trang bị cho bản thân thêm kỹ năng
mềm khác nào khác.
34
Bảng 2.4. Số lượng sinh viên đã đi làm thêm ở Cơ quan hoặc Tổ chức.
35
Bảng 2.5. Số sinh viên nhận thấy Cơ quan hoặc Tổ chức thuộc Nhà nước hay
Doanh nghiệp tư nhân dễ xin việc hơn.
35
Bảng 2.6. Mức độ quan trọng các yêu cầu kỹ năng mềm việc trang bị
36
Bảng 2.7. Nguồn mà các bạn sinh viên học kỹ năng mềm đến từ.
37
Bảng 2.8. Số lượng sinh viên khảo sát trang bị kỹ năng mềm giúp ích trong việc
gì.
37
Bảng 2.9. Số lượng sinh viên chọn thấy mơi trường giúp họ phát triển kỹ năng
mềm hiệu quả hơn.
38
Bảng 2.10. Số lượng sinh viên hài lòng với đào tạo kỹ năng mềm trong Nhà
trường.
38
Bảng 2.11. Số lượng sinh viên biết và hiểu rõ nhất kỹ năng mềm nhất.
39
Bảng 2.12. Số lượng sinh viên chỉ nghe qua nhưng chưa thực sự hiểu rõ các kỹ
năng mềm.
40
Bảng 2.13. Số lượng sinh viên đã trang bị cho bản thân các kỹ năng mềm.
41
Bảng 2.14. Số lượng sinh viên biết Khoa hoặc Chuyên Ngành đang theo học cần
các Thấy cần cho việc học tập trên giảng đường.
42
Bảng 2.15. Số lượng sinh viên thấy cần các kỹ năng mềm cần cho việc học tập
trên giảng đường.
42
Bảng 2.16. Số lượng sinh viên thấy kỹ năng mềm cần thiết cho xin việc nhất. 43
Bảng 2.17. Số lượng sinh viên cho thấy kỹ năng mềm nào khó học nhất.
44
Bảng 2.18. Số lượng sinh viên muốn các kỹ năng mềm đào tạo trong tương lai.
44
Bảng 2.19. Tự đánh giá mức độ thành thạo của sinh viên với kỹ năng mềm.
45
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài:
1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu:
2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3
5. Phương pháp nghiên cứu khoa học
3
6. Giả thiết nghiên cứu
4
7. Đóng góp đề tài
4
8. Cấu trúc của đề tài
4
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRANG BỊ KỸ
NĂNG MỀM VỚI CƠ HỘI VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN
1
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1
1.1.1. Khái niệm kỹ năng và kỹ năng mềm
1
1.1.1.1. Khái niệm kỹ năng
1
1.1.1.2. Kỹ năng mềm
4
1.1.2. Khái niệm trang bị kỹ năng mềm
9
1.1.3. Cơ hội việc làm
10
1.2. Sự cần thiết phải trang bị kỹ năng mềm với cơ hội việc làm của sinh
viên
12
1.2.1. Trang bị kỹ năng mềm có ảnh hưởng rất lớn tới cơ hội việc làm của
sinh viên
12
1.2.2. Sinh viên phải được trang bị những nhóm kỹ năng mền để hồn thiện
bản thân xử lý các tình huống tốt trong công việc và cuộc sống.
16
1.3. Một số những kỹ năng mềm cần thiết phải trang bị cho sinh viên
18
1.3.1. Nhóm kỹ năng xã hội tổng quan
18
1.3.2. Nhóm kỹ năng quản lý cá nhân
20
1.3.3. Nhóm kỹ năng cá nhân/cá thể hóa
22
Tiểu kết chương 1
25
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VIỆC TRANG BỊ NHỮNG KỸ NĂNG MỀM
ĐẾN CƠ HỘI VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI
VỤ HÀ NỘI.
26
2.1. Những nhân tố ảnh hưởng tới cơ hội việc làm cho sinh viên Trường
Đại học Nội vụ Hà Nội.
26
2.1.1. Đặc điểm sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
26
2.1.2. Chất lượng tuyển dụng đầu vào của Trường
27
2.1.3. Chương trình đào tạo của các ngành học
28
2.1.4. Yêu cầu của nhà tuyển dụng
29
2.1.5. Các phong trào hoạt động Đoàn – Hội nhằm rèn luyện kỹ năng cho
sinh viên
32
2.2. Những kết quả đạt được về vai trò của trang bị những kỹ năng mềm
đến cơ hội việc làm của sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
33
2.2.1. Thực trạng về nhận thức của sinh viên Trường Đại học Nội vụ về vai
trò của kỹ năng mềm lên cơ hội việc làm của sinh viên Trường Đại học Nội
vụ Hà Nội.
33
2.2.2. Thực trạng về ý thức rèn luyện của sinh viên đối với các kỹ năng
mềm cụ thể
39
2.3. Những hạn chế trong việc trang bị những kỹ năng mềm đến cơ hội việc
làm của sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội và nguyên nhân của hạn
chế đó
46
2.3.1. Hạn chế
46
2.3.2. Nguyên nhân
46
Tiểu kết chương 2
48
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VIỆC TRANG
BỊ NHỮNG KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI
VỤ HÀ NỘI ĐỂ TẠO NHIỀU CƠ HỘI VIỆC LÀM
49
3.1. Nhóm giải pháp từ việc hồn thiện chương trình đào tạo phù hợp với
thực tiễn nhu cầu nhà tuyển dụng
49
3.2. Giải pháp từ việc nâng cao các câu lạc bộ học thuật, các phong trào
Đoàn – Hội
50
3.3. Giải pháp nhằm nâng cao ý thức rèn luyện kỹ năng mềm của sinh viên
51
Tiểu kết chương 3
53
KẾT LUẬN
54
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
55
PHỤ LỤC
58
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Cùng với sự phát triển tiến lên của thành tựu khoa học công nghệ, kinh tế
và văn hóa đã tạo ra một lượng tri thức khổng lồ cũng như các kinh nghiệm, kỹ
thuật mới trong việc làm đòi hỏi nhân sự phải sử dụng nhiều kỹ năng hơn trong
công việc, đặc biệt yêu cầu phải có một mức độ thành thạo lớn, vận dụng hiệu quả
nhất, mà ít hoặc khơng cần thiết phải bổ sung. Đối với sinh viên – nguồn nhân lực
góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, là chủ nhân của đất nước, là
lực lượng đông đảo nòng cốt trong tất cả các vấn đề. Tuy nhiên gần đây có một
số vấn đề được đặt ra đối với nguồn nhân lực trong việc làm là thiếu đi kỹ năng
mềm trong quá trình lao động.
Kỹ năng mềm chiếm vị trí quan trọng trong việc hình thành các kỹ năng
khác. Kỹ năng mềm không đơn thuần là một kỹ năng mà có thể đạt được dễ dàng
nhưng khi đã thành thạo ở mức độ nhất định nó trở thành một cơng cụ bổ trợ
những thiếu sót khác của cá nhân như bổ trợ kỹ năng cứng, kỹ năng chuyên môn
trong công việc thông qua những tương tác cơ bản hằng ngày, đồng thời giúp con
người thích nghi hơn với biến đổi của xã hội.
Trên mặt bằng chung thực tiễn ở nước ta hiện nay đã xuất hiện rất nhiều
khái niệm và định nghĩa thế nào là kỹ năng mềm và thực chất của nó là gì, đáng
chú ý là được quan tâm rất nhiều theo một số bài báo, bài viết, bài luận đăng trên
các diễn đàn phản ánh số lượng học sinh, sinh viên thiếu đi các kỹ năng mềm
khi đang đi học hoặc đã ra trường, đặc biệt là khả năng trang bị cho bản thân khi
đi học cao hơn hoặc đi làm. Minh chứng rõ ràng nhất là hình thức đào tạo và bổ
túc các kỹ năng cũng cho thấy các bạn sinh viên không hoặc có một số kỹ năng
và cũng từ chính các bạn sinh viên cũng nhận thấy trang bị cho bản thân những
kỹ năng mềm này là chưa đầy đủ và nhận thức chưa rõ ràng về vai trò của những
kỹ năng này trong xin việc.
Đại học Nội Vụ Hà Nội là trường đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao
cho thị trường việc làm tại các cơ quan hành chính nhà nước các cấp; làm việc
1
trong các doanh nghiệp, tư nhân trong nước và nước ngoài về các lĩnh vực như
quản lý về kinh tế, quản trị văn phòng, văn thư lưu trữ, quản trị nhân lực, luật,
quản lý văn hóa, quản lý nhà nước, chính trị học, chính sách cơng,... Chính vì vậy,
những kỹ năng mềm cũng trở thành những học phần quan trọng chương trình đào
tạo cho sinh tồn Trường nói chung và sinh viên các chuyên ngành nói riêng. Việc
nâng cao nhận thức và hiểu biết về kỹ năng mềm nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho
sinh viên Đại học Nội vụ Hà Nội có nhiều cơ hội tiếp cận những giá trị đích thực
của các kỹ năng áp dụng trong đời sống, bắt kịp với xu hướng của thời đại toàn
cầu hiện nay.
Đối với sinh viên thì kỹ năng mà sinh viên thiếu nhiều nhất nằm ở kỹ
năng mềm, kỹ năng mềm với tập thể hoặc kỹ năng mềm trong làm việc nhóm,
kỹ năng tổ chức nhóm, kỹ năng giao tiếp, … Điều này đã là phổ biến trong môi
trường sư phạm hiện nay. Trên thực tế, rất nhiều bạn học sinh, sinh viên có thể
tự làm tốt, thậm chí xuất sắc nhưng khi làm việc nhóm thì lại đùn đẩy hoặc
không làm hoặc cho rằng là không cần thiết dẫn tới hiện tượng nhóm đi xuống
và tình trạng “người làm, người chơi”.
Tuy nhiên, một bộ phận sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội nói chung
và sinh viên chuyên ngành Chính trị học nói riêng ít quan tâm hoặc không chú ý
về kỹ năng mềm. Nguyên nhân dẫn tới thực trạng đó ở một bộ phận sinh viên là
do ảnh hưởng của các nền văn hóa ngoại lai, dẫn tới sự thờ ơ với tình hình chính
trị trong nước và quốc tế. Nhưng lại tiếp cận rất nhanh văn hóa phẩm độc hại,
những tư tưởng chính trị phản động, đề cao cái tôi, ý thức cá nhân. Điều này ảnh
hưởng không nhỏ tới chất lượng đào tạo nguồn nhân lực của Đại học Nội Vụ Hà
Nội đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng và của xã hội.
Từ ý kiến của những người làm nghiên cứu đề tài nhận thấy: Việc nghiên
cứu và chỉ rõ trang bị của kỹ năng mềm trong nâng cao cơ hội việc làm cho sinh
viên là một vấn đề rất cần thiết, không chỉ sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà
Nội mà còn đối với tất cả các bạn sinh viên đang theo học tại các trường đại học
khác trên khu vực Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung.
2
Xuất phát từ lý do trên, nhóm nghiên cứu nhận thấy sự cần thiết nghiên cứu
đề tài này.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Có nhiều cơng trình nghiên cứu về lĩnh vực trang bị kỹ năng mền cho sinh
viên, xung quanh vấn đề lý luận và thực tiễn như:
Báo cáo Khoa học cấp trường của Đại học Lâm nghiệp Hà Nội, Thực trạng
và nhu cầu đào tạo kỹ năng mềm của sinh viên khoa kinh tế và quản trị kinh doanh
Trường Đại học Lâm nghiệp Hà Nội của tác giả Nguyễn Bá Huân và Bùi Thị
Ngọc Thoa đã trình bày khái quát những nội dung lý luận về trang bị kỹ năng mền
cho sinh viên và khảo sát một số vấn đề thực tiễn của sinh viên trường Lâm nghiệp.
Sách self-help đã cung cấp những kiến thức về những kỹ năng mềm như:
Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng tổ chức quản lý thời gian, kỹ
năng thu thập thơng tin, kỹ năng thuyết trình,... với những kiến thức về khái niệm,
nội dung yêu cầu, và vận dụng kiến thức ở những tình huống cụ thể cho sinh viên
những kiến thức về kỹ năng mền để vận dụng trong học tập và công việc sau khi
ra trường.
Tác giả Huỳnh Văn Sơn có bài viết: “Thực trạng một số kỹ năng mềm của
sinh viên Đại học Sư phạm” đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHSP Tp. Hồ Chí Minh
– Số 39 năm 2012 đã trình bày khái quát về những kết quả và hạn chế việc trang
bị kỹ năng mền cho sinh viên Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh sau khi tốt nghiệp,
đưa ra các phương pháp hỏi phù hợp và đánh giá chi tiết các phản hồi cũng như
thực trạng từ đó đánh giá đúng đắn về kỹ năng mềm đối với sinh viên.
Nguyễn Đỗ Hương Giang, Cao Đức Minh, Lèng Thị Lan với bài viết: “Nhu
cầu về đào tạo và rèn luyện kỹ năng mềm cho sinh viên trường Đại học Nông
lâm” của Trường Đại học Thái Nguyên đăng trên Tạp chí Giáo dục, số 444, Kì 2,
tháng 12/2018, trình bày về nhu cầu đào tạo và rèn luyện kỹ năng mềm cho sinh
viên trường trong quá trình học tập cũng như trong các hoạt động khác của trường,
với những chi tiết và khái quát đầy đủ để đưa ra các đánh giá về nhu cầu cần thiết
3
của sinh viên với những kỹ năng này muốn được đào tạo trong tương lai cũng như
cần thiết để ra trường.
Trần Ngọc Hân (2019), Phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên đại học Sài
Gòn đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp, TP. Hồ Chí Minh đưa ra những yêu cầu cụ thể
của loại kỹ năng mềm cần thiết đối với thị trường việc làm đối với sinh viên trường
đại học sài gịn từ đó đào tạo các kỹ năng mềm này phù hợp và cải thiện tăng các
vấn đề tìm kiếm việc làm sau tốt nghiệp.
Nhóm tác giả Nguyễn Đình Duy Nghĩa (Chủ nhiệm), Trần Phúc, Phan
Thanh Hùng, Lê Công Hồng, Nguyễn Đình Duy Tín, Nguyễn Thế Tình với bài
Nghiên cứu một số biện pháp giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên khoa giáo dục
thể chất - Đại học Huế theo tiếp cận năng lực của Trường Đại học Huế đề xuất
một số biện pháp nhằm khắc phục các hạn chế trong việc giáo dục kỹ năng mềm
cho sinh của khoa giáo dục thể chất đại học huế.
Các công trình khoa học trên đây, tuy mỗi cơng trình có phạm vi, hướng
tiếp cận nghiên cứu, mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu khác nhau về vai trò trang bị
kỹ năng mền cho sinh viên với cơ hội việc làm. Tuy nhiên, đối với sinh viên
trường Đại học Nội vụ Hà Nội, việc trang bị kỹ năng mền cho sinh viên mới chỉ
thông qua một số học phần mà chỉ dành riêng cho một số khoa, chuyên ngành.
Đến nay, chưa có cơng trình khoa học nào nghiên cứu đầy đủ, tồn diện, chuyên
sâu về “Vai trò của việc trang bị các kỹ năng mềm đối với cơ hội việc làm của
sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội hiện nay”. Vì vậy, hướng nghiên cứu
của đề tài là độc lập khơng trùng lặp với các cơng trình khoa học, luận văn, luận
án đã nghiệm thu, cơng bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu vai trò của trang bị kỹ năng mềm đến cơ hội việc làm của sinh
viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội từ đó chỉ ra những ưu điểm, những hạn chế
còn tồn tại và làm sáng tỏ các lý luận, thực tiễn, từ đó là cơ sở đề xuất giải pháp
4
chủ yếu đẩy mạnh kỹ năng mềm để làm tăng nhiều cơ hội việc làm cho sinh viên
sau khi ra trường.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến kỹ năng mềm và vai trò
của việc trang bị những kỹ năng mềm đến cơ hội việc làm và tăng cơ hội việc làm
cho sinh viên.
Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm
phát triển các kỹ năng mềm cho sinh viên.
Xác định yêu cầu và đề xuất một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh phát triển
các kỹ năng mềm cho sinh viên.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Kỹ năng mềm đối với sinh viên bậc Đại học chính quy tại Trường Đại học
Nội Vụ Hà Nội (Cơ sở ở Hà Nội)
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Sinh viên Đại học khóa 16, 17, 18 của các Khoa: Khoa học Chính trị, Khoa
Pháp luật Hành chính, Khoa Hành chính học, Khoa quản lý xã hội.
5. Phương pháp nghiên cứu khoa học
- Phương pháp luận: Phương pháp DVBC, DVLS, Tư tưởng Hồ Chí Minh,
Đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Đề tài sử dụng một số phương pháp cụ thể sau: so sánh, phân tích, tổng
hợp, thống kê, khảo sát thực tế, điều tra xã hội học, xử lý số liệu điều tra, phỏng
vấn,…
6. Giả thiết nghiên cứu
Nghiên cứu về kỹ năng mềm với cơ hội việc làm của sinh viên Trường Đại
học Nội vụ Hà Nội đưa ra các phân tích và tổng hợp về thực trạng từ đó thiết lập
các tiêu chuẩn về kỹ năng mềm, đưa các kỹ năng mềm phù hợp cũng như gắn liền
các kỹ năng này với sinh viên của từng ngành và làm tăng khả năng cũng như cơ
hội cho sinh viên có việc làm trong tương lai đồng thời khẳng định đưa các chỉ số
5
về chất lượng và tỉ lệ tham gia thị trường việc làm của sinh viên tăng lên trong
tương lai.
7. Đóng góp đề tài
- Đề tài hệ thống hóa một số lý luận về việc trang bị kỹ năng mềm đến cơ
hội việc làm của sinh viên.
- Đánh giá trang bị kỹ năng mềm đến cơ hội việc làm của sinh viên Trường
Đại học Nội vụ Hà Nội.
- Đưa ra Khung kỹ năng tiêu chuẩn và phương pháp tăng cơ hội việc làm.
- Đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm phát huy hết sức lực của trang bị kỹ
năng mềm đến cơ hội việc làm của sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
8. Cấu trúc của đề tài
Đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận và nội dung gồm có 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về trang bị kỹ năng mềm với cơ hội
việc làm của sinh viên
Chương 2: Thực trạng việc trang bị những kỹ năng mềm đến cơ hội việc
làm của sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc trang bị những kỹ năng
mềm cho sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội để tạo nhiều cơ hội việc làm.
6
CHƯƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANG BỊ KỸ NĂNG MỀM VỚI CƠ
HỘI VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm kỹ năng và kỹ năng mềm
1.1.1.1. Khái niệm kỹ năng
Kỹ năng có một sự đa dạng, phong phú trong cách hiểu và xuyên suốt trong
nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong các định nghĩa của nhiều nghiên cứu đã chỉ một
cách rõ ràng bên cạnh đó lại có một số đi sâu vào nó như là một lĩnh vực khoa học
như tâm lý học, giáo dục học, xã hội học, ...
Kỹ năng định nghĩa theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học định
nghĩa kỹ năng là: “Tay nghề chuyên môn” [6, Tr 563]. Kỹ năng định nghĩa theo
thu thập từ nhiều nguồn từ điển về ngôn ngữ đều cho thấy một số định nghĩa tương
đồng [23, Tr 24] như Từ Điển Vần bằng Tiếng Việt của Trần Văn Đạt đã định
nghĩa: “Là làm việc gì đó tốt bằng năng lực và sự khéo léo” [2, Tr 378]. Theo từ
điển Anh - Việt (English - Vietnamese Dictionary) định nghĩa Kỹ năng (skill) là:
“Khả năng làm việc gì tốt, sự khéo léo; sự tinh xảo; (hoặc) loại hình đặc biệt về
sự khéo tay” [13, Tr 1635]
Cùng với định nghĩa trên từ điển Cambridge mở rộng của Nhà xuất bản Đại
học Cambridge có một số định nghĩa về kỹ năng như sau: Khả năng thực hiện một
hoạt động hoặc công việc tốt, đặc biệt là vì bạn đã thực hành nó (Từ điển Tiếng
Anh Cambridge); Một khả năng đặc biệt để làm một cái gì đó (Từ điển Tiếng Anh
- Mỹ); Sự khéo trong làm một việc gì (tính từ); Một khả năng cụ thể mà bạn phát
triển thông qua đào tạo và kinh nghiệm và điều đó rất hữu ích trong một cơng
việc [21]
Trong số đó có Từ điển Giáo dục học của tác giả Bùi Hiền (2001) định
nghĩa Kỹ năng có vài điểm tương đồng với những khái niệm trong: “Kỹ năng là
khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và
điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy cho dù đó là hành động cụ thể hay hành
1
động trí tuệ” [5, Tr 220]
Quan điểm xem kỹ năng là một mặt của kỹ thuật của hành động, coi kỹ
năng như một phương tiện thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều
kiện của con người khi đã nắm vững mà không cần liên quan đến kết quả, nhóm
tác giả nghiên cứu khái quát: “Kỹ năng là cách thức cơ bản để chủ thể thực hiện
hành động, thể hiện bởi tập hợp những kiến thức đã thu lượm được, những thói
quen và kinh nghiệm”.
Quan điểm cịn lại thì xem kỹ năng là biểu hiện của năng lực con người,
coi kỹ năng là năng lực thực hiện một công việc kết quả với chất lượng cần thiết,
trong một khoảng thời gian cụ thể: “Kỹ năng một mặt của năng lực con người
thực hiện một cơng việc có kết quả”.
Một hướng khác giải thích khái niệm kỹ năng trên đã được nghiên cứu trong
sinh học và tâm lý học chỉ ra rằng chúng có sự liên hệ giữa ý chí của con người
với thế giới xung quanh và sự tương tác giữa những hành động đó để đảm bảo
hoạt động tồn tại và nhu cầu của con người xuyên suốt cuộc đời. Và như vậy,
nhóm có sự đồng tình với quan điểm đầu tiên hơn quan điểm thứ hai mặc dù quan
điểm thứ hai cũng trình bày rõ ràng nó phụ thuộc vào kết quả từ đó suy ra tiến
trình tạo ra kết quả đó.
Giải trình cho nguồn gốc của kỹ năng. Theo góc độ sinh học thì kỹ năng
được nghiên cứu là một hoạt động phản xạ thần kinh cao cấp ở động vật do Ivan
Petrovich Pavlov phát hiện thơng qua các thí nghiệm, ơng thấy rằng: “Phản xạ có
điều kiện là phản xạ chỉ có thể có sau khi cá thể hoặc động vật nào đã được tập
luyện, hoặc trải qua, mặc dù sinh ra chưa có cịn cá thể nào khơng trải qua q
trình nêu trên thì khơng thể có”, nếu phản xạ có điều kiện được lặp đi lặp lại sau
một thời gian sẽ hình thành một hoạt động phản xạ có thể nói tương đương hình
thành kỹ năng” [1, Tr 20]
Bên cạnh đó, ơng cũng chỉ ra rằng Phản xạ này chỉ duy trì khi và chỉ khi
hoạt động trên được duy trì thơng qua luyện tập, có trải nghiệm hoặc trải qua nó
một cách thành thạo nhưng chưa đạt tới mức thành thạo kỹ xảo nhất, nghiên cứu
2
khơng chỉ khẳng định tính vận động liên tục mà còn khẳng định sự ghi nhớ của
bộ não phản ứng với mơi trường bằng cách biểu hiện ra ngồi thơng qua những
vận động này.
Theo hướng của Tâm lý học có Lý thuyết Hoạt động có Sergei Rubinstein
và Alexei Leont'ev tiên phong vào những năm 1930. Lý thuyết này đặt và xem
xét toàn bộ một Hệ thống cụ thể bao gồm đối tượng (hoặc khách quan), chủ thể,
hiện vật trung gian (công cụ), quy tắc, cộng đồng và phân công lao động [19]
Điểm mạnh nhất của lý thuyết này nó thu hẹp cách giải thích giữa đối tượng
là cá nhân và xã hội bằng các hoạt động trung gian, cụ thể hơn là con người làm
trung gian thực hiện điều tiết và kiểm ra sự trao đổi của vật chát như hiện vật làm
trung gian và đối tượng trung gian và tự nhiên.
Lý thuyết trên cũng giải trình về mơi trường, lịch sử của con người, văn
hóa, vai trị của hiện vật, động lực và sự phức tạp của hoạt động thực tế.
Theo lý thuyết trên, giải trình Kỹ năng là “Sự vận động của con người một
cách xuyên suốt trong q trình sinh tồn đến phát triển xã hội thơng qua sự vận
dụng các nguồn tài nguyên một cách sáng tạo”, như tạo ra đối tượng trung gian,
đối tượng đó ở đây là hiện vật trung gian như công cụ, bao gồm tạo ra và sử dụng
vật thể (như rìu, cuốc, giấy viết, đồ đồng, máy tính, …) cho đến phi vật thể (như
chữ viết, tiếng nói, âm nhạc, hội họa, …).
Khi phải vận hành một loạt các công cụ trên nó hình thành kỹ năng sử dụng
và kỹ năng bộc lộ phi vật thể một cách linh hoạt hơn như sử dụng thành thạo máy
tính và thành thạo nói ngơn ngữ từ đó là nguồn cơn giải trình cho hoạt động của
một con người cho tới cộng đồng và xã hội.
Lý thuyết này cũng khẳng định sáng tạo bắt nguồn từ bộ não của con người
khi tiếp cận thế giới quan, điều này cực kì tương đồng với giải thích về vận động
trong triết học Mác – Lênin.
Tổng hợp tất cả những nguồn khái niệm và định nghĩa trên, nhóm đưa ra
kết luận sau: “Kỹ năng là khả năng của con người nhằm thực hiện các hoạt động
sao cho phù hợp với những mục tiêu, điều kiện được đặt ra một cách có kỹ thuật
3
hoặc chuyên biệt và giải quyết các vấn đề có trong đời sống”.
Kỹ năng được coi là giai đoạn trung gian giữa việc thực hiện hành động
dựa trên cơ sở của tri thức và sự vận dụng đúng những tri thức tương đương trong
q trình hồn thành các hoạt động cụ thể, nhưng chưa đạt tới hoặc đạt tới một
mức độ kỹ xảo nhất định.
Kỹ năng nhất là kỹ năng cơng việc, đó là lý do hình thành hệ thống đào tạo
nghề nghiệp hiện có ở bất kỳ quốc gia nào. Như vậy, đa số kỹ năng mà chúng ta
có được và hữu ích với cuộc sống của chúng ta là xuất phát từ việc chúng ta được
đào tạo. Và như thế, nền tảng kỹ năng của chúng ta trong cuộc sống là 98% do
được đào tạo và tự rèn luyện kỹ năng và chỉ 2% trong số đó xuất phát từ bản thân
mỗi chúng ta.
Kỹ năng có 2 loại bao gồm: Kỹ năng cứng hay Kỹ năng chuyên môn như
kiến thức, học vấn, bằng cấp, chứng chỉ, ... và Kỹ năng mềm là Kỹ năng tương
tác xã hội biểu hiện bởi Trí tuệ cảm xúc và Kỹ năng sống.
1.1.1.2. Kỹ năng mềm
Khác với kỹ năng cứng thì kỹ năng mềm là một khái niệm mới xuất hiện,
có thể nói là khá gần vì khác với kỹ năng cứng đây là một từ trừu tượng hóa chỉ
có một số định nghĩa hoặc tài liệu nêu ra chỉ tương đối và chưa chính xác tuyệt
đối, nhưng đổi lại đã có một một lượng lớn nghiên cứu đã làm tiền đề cho phát
triển khái niệm này, một số khác đã cho ra những hướng dẫn dạy học cụ thể tương
đồng với kỹ năng mềm như kỹ năng sống hoặc tâm lý học.
Ngày nay, trình độ học vấn và bằng cấp chưa đủ để quyết định trong việc
tuyển dụng lao động của nhiều doanh nghiệp và người sử dụng lao động. Họ còn
căn cứ vào yếu tố cá nhân như sự nhạy bén khi xử lý công việc và giao tiếp của
mỗi người lao động..., các yếu tố này được người ta gọi là “Kỹ năng mềm”.
Kỹ năng mềm là công cụ bổ trợ cho kỹ năng cứng chiếm phần trăm lớn hơn
nhiều do có sự đa dạng giữa các cá thể trong mỗi cá thể lại có tâm lý tính cách
khác nhau và là độc nhất.
Kỹ năng mềm chỉ là một tên gọi trong nhiều các tên gọi khác nhau như: kỹ
4
năng cá nhân, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng phi kỹ thuật, kỹ năng thiết yếu, kỹ năng
chuyển đổi,... thậm chí là tương đồng vì cơ bản chúng đều nhắm tới tâm lý của
con người khi tương tác với thế giới quan và quần thể, nếu kỹ năng mềm thực sự
nhắm tới những điều trên thì nó phải chiếm tới 90% trong cuộc sống của con
người và xuất hiện liên tục đến 50% trong mọi loại tài liệu và chỉ có gần 1/2 trong
số đó được nhắc tới trong một tài liệu nhất định, ngoại lệ thì có các sách self-help
thì chiếm hơn 80%. Như vậy, phải khẳng định mặc dù khơng được định nghĩa rõ
ràng nhưng lại có một tỉ lệ lớn liên quan đến thuật ngữ “Kỹ năng mềm” và các kỹ
năng thực sự trong đó.
Thuật ngữ “Kỹ năng mềm” lần đầu tiên được tạo ra bởi Quân đội Hoa Kỳ
vào cuối những năm 1960. Chính xác hơn là năm 1972, thuật ngữ "kỹ năng mềm"
được sử dụng chính thức.
Theo một tiếp cận mà đã đặt nền móng cho kỹ năng mềm là đặt ra thuật
ngữ “Trí tuệ cảm xúc” của Peter Salovey và John D. Mayer vào năm 1990 đã mơ
tả “Một hình thức trí thơng minh xã hội liên quan đến khả năng theo dõi cảm xúc
của người khác và của chính mình để phân biệt đối xử giữa họ và sử dụng thông
tin này để hướng dẫn suy nghĩ và hành động của một người” [16]
Bên cạnh đặt ra thuật ngữ trên Salovey và Mayer cũng khởi xướng một
chương trình nghiên cứu nhằm phát triển các biện pháp hợp lệ của trí tuệ cảm xúc
và khám phá tầm quan trọng của nó.
Daniel Goleman nhận thức được tác phẩm của Salovey và Mayer, và điều
này cuối cùng đã dẫn đến cuốn sách của ơng - Trí tuệ cảm xúc. Ơng đã mơ tả lại
những người có một mức độ thông minh thiên hướng về cảm xúc.
Khác với cách tiếp cận trên nhiều học giả khác nhau đã biên lại giải thích
đó dựa sát hơn vào định nghĩa của năm 1972, trong đó, nổi bật hơn họ khơng giải
thích kỹ năng mềm như đọc hiểu cảm xúc mà là sự biểu hiện cảm xúc đó khi tương
tác với môi trường xung quanh.
Trong từ điển Cambridge mở rộng của Nhà xuất bản Đại học Cambridge
có định nghĩa khác kèm với giải thích; Kỹ năng mềm(dt): “Khả năng giao tiếp
5
với nhau của mọi người và làm việc tốt với nhau; Chúng tôi đang tập trung vào
các kỹ năng mềm như xây dựng nhóm và giao tiếp; Kỹ năng mềm và ngoại hình
đang trở nên quan trọng hơn trong quyết định tuyển dụng của các công ty”.[21]
Tác giả Forland Jeremy (Forland Jeremy (2006)) từ Đội Quản lý và Công
nghệ của trường UC Davis Graduate School of Management cho rằng Kỹ năng
mềm là: “Một thuật ngữ thiên về mặt xã hội để chỉ những kỹ năng có liên quan
đến việc sử dụng ngơn ngữ giao tiếp, khả năng hịa nhập xã hội, thái độ và hành
vi ứng xử hiệu quả trong giao tiếp giữa người với người. Nói khác đi, đó là kỹ
năng liên quan đến việc con người hịa mình; chung sống và tương tác với cá
nhân khác; nhóm; tập thể; tổ chức và cộng đồng; ...” [15]
Từ nhiều học giả và tác giả khác nhau thì họ đều định kỹ năng mềm tương
đối giống nhau như là những kỹ năng mà con người có được ngồi yếu tố chun
mơn và sự chuyên nghiệp xét trên lĩnh vực công việc, đó cịn được xem là biểu
hiện của trí tuệ cảm xúc của con người, thể hiện khả năng tinh thần của cá nhân.
Nói cách khác, kỹ năng mềm thể hiện sự tồn tại và vận dụng một cách hiệu quả
những đặc điểm của cá nhân như: thân thiện, vị tha, biết chấp nhận người khác.
Tổng hợp từ các khái niệm và định nghĩa trên nhóm đưa ra kết luận sau:
“Kỹ năng mềm là khả năng của con người nhằm thực hiện các tương tác, hành
vi, biểu hiện trạng thái hướng tới một đối tượng khác sao cho đạt được độ hiệu
quả trong giao tiếp, các hoạt động, mục tiêu, lợi ích, ... một cách tốt nhất, hòa
hợp giữa con người với con người trong tập thể với nhau và giải quyết các vấn
đề cá nhân, xung đột có thể hoặc liên quan xảy ra”.
Đặc điểm khác với với kỹ năng cứng và một số định nghĩa khác bổ sung về
kỹ năng mềm:
(1) Kỹ năng mềm không phải là yếu tố thuộc về bẩm sinh. Chỉ có kỹ năng
cứng mới có thể bẩm sinh tự phát.
Kỹ năng mềm bản thân sinh ra đã có và cũng khơng phải là sự “chín muồi”
của những tố chất, hay cũng không thực là sự “sáng lóa” lên như bẩm sinh đã có
kỹ năng mềm ấy ở chủ thể, mà tất cả đều phải trải qua sự nỗ lực, tập luyện và phát
6
triển một cách đích thực, có biện pháp và phương pháp từ chính chủ thể cũng như
hỗ trợ của bài tập.
(2) Kỹ năng mềm là đa dạng do có sự xuất hiện của nhiều cá thể với đặc
điểm khác nhau như trong: tâm lý, suy nghĩ, niềm tin,...
(3) Kỹ năng mềm khơng chỉ là biểu hiện Trí tuệ cảm xúc mà còn là các
tương tác xã hội.
(4) Kỹ năng mềm được hình thành bằng con đường trải nghiệm chứ khơng
phải là sự “nạp” kiến thức đơn thuần.
Giống như kỹ năng cứng đều phải có sự trải qua thì mới hiểu được cách
làm, cách vận động nhưng kỹ năng mềm thì phải rèn luyện liên tục và trải nghiệm
có tính thực tế hơn thông qua các bài tập, các bài hướng dẫn và thực hành với
những người khác thậm chí là với một nhóm đơng số lượng từ đó rút ra các sửa
đổi cho bản thân mà sách vở “không thể” làm được.
(5) Kỹ năng mềm góp phần hỗ trợ cho “Kỹ năng cứng” nhưng không thay
thế. Kỹ năng cứng và kỹ năng mềm thường được đặt lên bàn cân và so sánh xem
giá trị bên nào hơn bên này nhưng những điều ấy cho đến nay là một vấn đề khơng
cịn đúng. Khi đứng tại vị trí là một nhà tuyển dụng ta ln mong nhân sự phải có
đủ thậm chí thừa có hai kỹ năng, nên câu trả lời ln là kỹ năng nào cũng có cũng
quan trọng. Tuy nhiên, tầm quan trọng ấy không phải lúc nào cũng ở trạng thái
cân bằng nó cịn phụ thuộc vào vị trí của bạn trong xã hội mà cán cân vai trò của
kỹ năng cứng và kỹ năng mềm sẽ thay đổi.
(6) Kỹ năng mềm không thể “cố định” với một số ngành nghề khác nhau.
Mỗi ngành nghề khác nhau sẽ có một mơ hình kỹ năng nghề khác nhau. Một số
ngành cần kỹ năng này nhưng không cần kỹ năng khác có thể dẫn tới lãng phí
chất xám và chun vụ, chính trong việc xác định kỹ năng nghề thì những kỹ năng
cơ bản và đặc trưng mang tính chuyên môn - nghiệp vụ và những kỹ năng mềm
cũng chưa được phân định rạch rịi. Vì thế, mỗi nghề nghiệp khác nhau khơng thể
có những kỹ năng mềm giống nhau.
Trong khi bạn có thể tham gia một loạt các khóa học về các kỹ năng cứng
7
nhưng bạn không thể học các kỹ năng mềm trong một lớp học, nó cần phải là một
trải nghiệm và bất kể cơng việc bạn đang ứng tuyển là gì, bạn cần ít nhất một số
kỹ năng mềm.
1.1.2. Khái niệm trang bị kỹ năng mềm
Trang bị định nghĩa theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Sửa soạn đầy đủ:
Mọi việc đều trang bị * Cấp phát đồ dùng: Tốn lính được ấy được trang bị với
vũ khí nhẹ” [7]
Theo từ điển Anh - Việt (English - Vietnamese Dictionary) định nghĩa trang
bị (equip): “Là cung cấp cho ai, cung cấp cái gì (nhằm một mục đích riêng) hoặc
để làm một việc gì đó” [13]
Bên cạnh đó, từ điển cũng định nghĩa một số từ loại liên quan như: Trang
bị (danh từ): Đồ vật cần thiết cho một mục đích riêng; Sự trang bị, hành động
trang bị một cái gì đó [13]
Một số nguồn định nghĩa khác cũng có các định nghĩa tương tự, tổng hợp
ta thấy trang bị là: “Cung cấp cho mọi thứ cần thiết để có thể hoạt động” [27]
Như vậy tổng hợp từ các định nghĩa trên nhóm rút ra kết luận về trang bị
kỹ năng mềm như sau:
Trang bị kỹ năng mềm: “Là một hình thức cung cấp, bổ sung hoặc sử dụng
những tài nguyên có sẵn cần thiết về hướng dẫn, cách làm, cách thực hiện các kỹ
năng tương tác và định hình, kiểm sốt trạng thái tâm lý”.
Trang bị kỹ năng mềm là một phần giáo dục đào tạo hiện nay cần thiết nhất,
sự phát triển của khoa học kỹ thuật và mơi trường có tác động rất lớn tới trẻ em
đặc biệt là lứa tuổi thanh thiếu niên, việc trang bị sẽ giúp họ nhận thức rõ ràng
hơn khi tương tác với con người, xã hội, mơi trường một cách hiệu quả và có tính
đạo đức đồng thời cũng đưa ra các hướng dẫn làm thế nào để kiểm soát bản thân
và giải quyết các vấn đề của họ.
1.1.3. Cơ hội việc làm
Theo từ điển tiếng việt định nghĩa cơ hội: “Dịp, lúc thích ứng: cơ hội may,
không bỏ qua cơ hội” [7, tr.175]
8
Theo Từ điển Cambridge mở rộng thì 2 từ Opportunity và Chance đều có
nghĩa là cơ hội: Một dịp cho phép một cái gì đó được thực hiện; Mức độ khả năng
điều gì đó sẽ xảy ra; Khả năng (rủi ro) của một điều gì đó tiêu cực sẽ xảy ra [21]
Thực tế, từ Opportunity có nghĩa khác là việc gì xảy ra nhờ may mắn hơn
là xảy ra nhờ điều kiện cụ thể hoặc hoàn cảnh.
Tổ hợp từ một số nguồn khác cũng có định nghĩa tương tự rằng: “Cơ hội
là những điều kiện thuận lợi mà chúng ta có đủ nguồn lực để nắm bắt và thực
hiện nó nhằm đạt được một cuộc sống tốt đẹp hơn”, hoặc “Cơ hội là điều kiện
thuận lợi để thực hiện nhằm đạt được mục tiêu hoặc hồn thành mục đích đến
một cách thuận lợi” [25, Tr 26]
Cơ hội ở đây bao gồm đủ nguồn lực là kinh tế và nắm bắt hoàn cảnh là giá
trị thị trường xuống đủ thấp với khả năng để thực hiện mua tạo ra giá trị tinh thần
hoặc vật chất giúp cuộc sống hạnh phúc và tốt đẹp hơn.
Theo đó, cơ hội cũng có một số đặc điểm chi phối tất cả các vấn đề có trong
bài: Cơ hội là bất biến; Cơ hội được tính bằng tỉ lệ giữa nguồn lực phù hợp với
hoàn cảnh hay khơng, tính khả thi biểu diễn trong suốt giai đoạn này; Cơ hội chỉ
xuất hiện khi đủ ít nhất 2 điều kiện: Đáp ứng đủ nguồn lực và hoàn cảnh phù hợp,
thiếu một trong hai điều kiện cơ hội khơng xuất hiện, tính khả thi cũng bằng khơng
trong suốt giai đoạn này.
Theo từ điển Tiếng Việt việc làm (dt): “Sinh kế, việc sinh sống: Kiếm việc
làm” [7]. Định nghĩa khác trên điển Cambridge mở rộng của Nhà xuất bản Đại
học Cambridge về việc làm (Job) nghĩa khác là công việc: “Công việc thường
xuyên mà một người làm để kiếm tiền” [13, Tr 21]
Tổng hợp từ các định nghĩa trên nhóm đưa ra kết luận sau về cơ hội việc
làm: “Cơ hội việc làm là tỉ lệ tương quan giữa khả năng thực hiện đáp ứng của
nhân sự với yêu cầu của nhà tuyển dụng được đặt trong một hoàn cảnh là thời
gian tuyển dụng được tổ chức và kết quả là tính khả thi nhận làm việc tại một vị
trí trong tương lai nhằm thay đổi cuộc sống bằng công việc này hoặc phát triển
bản thân qua các giá trị mà việc làm mang lại”.
9
Cơ hội việc làm xuất hiện khi đủ các điều kiện như sau:
(1) Người được tuyển dụng (hay theo danh từ khác như: nhân sự, người xin
việc, nguồn nhân lực, …) đều phải có hoặc trang bị cho bản thân các yêu cầu cầu
của nhà tuyển dụng như Kỹ năng cứng, Ngoại ngữ, Kỹ năng mềm,… thông qua
các bằng chứng, minh chứng như bằng cấp, chứng chỉ, văn bản điều động, bổ
sung, chấp thuận việc chuyển đổi công tác, chấp thuận tuyển dụng, và phải có
hiệu lực bao gồm con dấu có hiệu cung bởi cơ quan có thẩm quyền và chữ ký.
(2) Phải nằm trong khoảng thời gian mà cơ quan hoặc tổ chức đó tổ chức
tuyển dụng nhân sự và người được tuyển dụng phải thực hiện hành động xin vào
cơ quan hoặc tổ chức đó như nộp hồ sơ trực tiếp, đến phỏng vấn, gửi qua thư điện
tử (nếu được yêu cầu làm như vậy), … miễn là phải có hành động của người tuyển
dụng xin ứng tuyển trong suốt quá trình thời gian tuyển dụng. Sau hoặc trước thời
gian này đều khơng có nghĩa và cơ hội sẽ không đến.
(3) Mặc dù không nằm trong việc cơ hội xuất hiện nhưng để đảm bảo công
việc xin làm phải chắc chắn đem lại nếu không là lợi ích thì cũng phải là mơi
trường tốt phát triển bản thân và các giá trị nhằm chuẩn bị cho tương lai nếu có
nhu cầu thay đổi cơng việc khác.
Đối với sinh viên, các bạn thuộc nhóm giới trẻ nên tập hợp nhiều điều kiện
hơn những gì họ có khơng chỉ lao động chân tay mà cịn cả lao động trí óc và
tuyển dụng bởi Cơ quan hoặc Tổ chức như nhà nước, doanh nghiệp về kinh tế,
doanh nghiệp sử dụng lao động chuyên môn cao, tay nghề cao,... nhưng thực sự
muốn một cơng việc mang lại giá trị lợi ích cao thì phải tập hợp đủ các điều kiện
để bản thân và cách thức nắm bắt thực hiện nó. Ngồi ra muốn tập hợp đủ các
điều kiện thì cần có sự phát triển hợp lý và nâng cao hiệu quả của các điều kiện
đó.
1.2. Sự cần thiết phải trang bị kỹ năng mềm với cơ hội việc làm của
sinh viên
1.2.1. Trang bị kỹ năng mềm có ảnh hưởng rất lớn tới cơ hội việc làm
của sinh viên
10