BỘ NỘI VỤ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƢỜI HỌC
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TRONG VIỆC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XĨA ĐĨI GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM.
Mã số: ĐTSV.2021.05
Chủ nhiệm đề tài : Lê Hoàng Anh
Thành viên tham gia:1. Nguyễn Ngọc Kiên
2.Nguyễn Anh Trung
Lớp: 1805CTHA- Chính trị học
Giảng viên hƣớng dẫn: Ths. Lê Thị Thu
HÀ NỘI – 2021
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .................................................................................................... 1
LỜI CẢM ƠN .......................................................................................................... 2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT .............................................................................. 3
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU ....................................................................... 4
PHẦN MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 5
1. Lý do chọn đề tài: ............................................................................................... 5
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu: ....................................................................... 6
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:..................................................................... 7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: .................................................................... 7
5. Phương pháp nghiên cứu: .................................................................................. 7
6. Đóng góp mới của đề tài: ................................................................................... 8
7. Bố cục của đề tài (chi tiết hoá các chương, mục nghiên cứu): .......................... 8
Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH XĨA ĐĨI GIẢM
NGHÈO VÀ VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ .................................. 9
1.1 Quan niệm về đói nghèo và chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam. ..... 9
1.1.1. Quan niệm về đói nghèo ........................................................................... 9
1.1.2 Chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam .......................................... 12
1.2. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và vai trò của Hội trong xóa đói, giảm
nghèo .................................................................................................................... 16
1.2.1 Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam - một thành tố của hệ thống chính trị
Việt Nam ........................................................................................................... 16
1.2.2 Vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong thực hiện các chính
sách của đảng và nhà nước................................................................................ 19
Tiểu kết chƣơng 1 .................................................................................................. 24
Chƣơng 2 THỰC TRẠNG PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP
PHỤ NỮ TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XĨA ĐĨI, GIẢM
NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM ................... 25
2.1. Thực trạng thực thi chính sách xóa đói, giảm nghèo của Hội Liên hiệp phụ
nữ thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. ........................................................................ 25
2.1.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội ....................................................... 25
2.1.2. Đặc điểm tình hình hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ thị xã Duy Tiên
........................................................................................................................... 27
2.1.3. Thực trạng cơng tác xóa đói, giảm nghèo của Hội Liên hiệp phụ nữ Thị
xã Duy Tiên ....................................................................................................... 33
2.2. Đánh giá vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ trong thực hiện chính sách xóa
đói giảm nghèo trên địa bàn Thị xã Duy Tiên ..................................................... 43
2.2.1 Ưu điểm.................................................................................................... 43
2.2.2 Hạn chế: ................................................................................................... 45
2.2.3 Nguyên nhân hạn chế của công tác giảm nghèo ...................................... 45
Tiểu kết chƣơng 2 .................................................................................................. 47
Chƣơng 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN
HIỆP PHỤ NỮ TRONG VIỆC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ DUY TIÊN .............................................................................................. 48
3.1. Tham mưu xây dựng mơ hình xóa đói, giảm nghèo phù hợp với đặc thù địa
phương.................................................................................................................. 48
3.2. Phát huy tính tích cực chủ động của Hội viên .............................................. 49
3.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội liên hiệp Phụ nữ .......................... 51
3.4. Phát huy các nguồn lực và đa dạng hóa cách thức xóa đói, giảm nghèo...... 52
Tiểu kết chƣơng 3 .................................................................................................. 55
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 56
PHỤ LỤC ............................................................................................................... 58
PHỤ LỤC 1 .......................................................................................................... 58
PHỤ LỤC 2 .......................................................................................................... 61
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đề tài: “Phát huy vai trò của Hội Liên Hiệp Phụ nữ trong việc
thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo trên địa bàn Thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà
Nam.” là trung thực và chưa từng cơng bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây.
Các số liệu và nội dung trong đề tài là trung thực và khách quan, dựa trên kết quả
thu thập các thông tin, tài liệu thực tế.
Hà Nội, ngày tháng năm
Tác giả
1
LỜI CẢM ƠN
Để hồn thành được đề tài nhóm chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Giảng
viên hướng dẫn. Với sự chỉ bảo nhiệt tình và những bài học thiết thực, cụ thể
không chỉ trên lý thuyết và còn rất nhiều kinh nghiệm trong thực tiễn để chúng em
có thể vận dụng kiến thức vào xử lý các vấn đề của đề tài.
Và đặc biệt chúng em xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Thị ủy, UBND thị
xã Duy Tiên, Hội Liên Hiệp Phụ nữ của Thị xã Duy Tiên đã cho chúng em một số
thông tin, số liệu cụ thể và có liên quan đến đề tài, để đề tài hồn thiện một cách tốt
nhất.
Cơng trình nghiên cứu của nhóm vẫn cịn nhiều hạn chế và thiếu sót về trình
bày cũng như nội dung, thay mặt nhóm tác giả.Em rất mong nhận được sự giúp đỡ
của q thầy cơ đóng góp ý kiến để em có thể hồn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày tháng năm
Tác giả
2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ LĐ-TB & XH
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
CLB
Câu Lạc Bộ
KT-XH
Kinh tế - Xã hội
HĐND
Hội đồng nhân dân
LHPN
Liên hiệp phụ nữ
MTTQ
Mặt trận tổ quốc
LHPN
Liên hiệp phụ nữ
UBND
Uỷ ban nhân dân
3
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Số liệu
bảng
Tên sơ đồ, bảng biểu
2.1.3.1
Hội viên đăng ký học nghề
36
2.1.3.2
Các chương trình bồi dưỡng, hội nghị, hội
thảo chuyển giao công nghệ
37
Trang
2.1.3.3
Tỉ lệ hội viên tham gia các mức tiết kiệm do
Ngân hàng chính sách xã hội thị xã phát động
39
41
2.1.3.4
Tình hình quản lý và duy trì vốn vay Ngân
hàng Chính sách xã hội của Hội Liên hiệp phụ nữ
thị xã Duy Tiên 2016 - 2019
4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta ln khẳng định
vai trị to lớn của người phụ nữ Việt Nam. Do đặc thù dân tộc, Phụ nữ Việt Nam
khơng những là “nội tướng” trong gia đình mà cịn là “ngoại tướng” trên trận tiền;
đồng thời, cũng là người “trung hậu, đảm đang” xây dựng non sơng gấm vóc. Lịch
sử cho thấy, khác với phụ nữ ở nhiều quốc gia, phụ nữ Việt Nam trong suốt tiến
trình phát triển của dân tộc, họ là người luôn đồng hành cùng nam giới trong mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội, kể cả trong lĩnh vực quản lý và lãnh đạo đất nước.
Sự tham gia chủ động và tích cực vào hệ thống chính trị đất nước của phụ nữ Việt
Nam có thể nói là một nét đặc thù của văn hóa truyền thống tơn vinh phụ nữ.
Phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác
- Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ những văn kiện đầu tiên của mình đã
coi phụ nữ là lực lượng nòng cốt của cách mạng, coi giải phóng phụ nữ là sự
nghiệp chung của cách mạng vơ sản. Nhận thấy vai trị to lớn đó, Đảng ta đã tập
hợp lực lượng thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Hội ra đời và hoạt động
đã chứng minh vai trò to lớn của phụ nữ trong chiến lược phát triển quốc gia. Hội
có chức năng đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các
tầng lớp phụ nữ, tham gia xây dựng Đảng, tham gia quản lý Nhà nước. Ngồi ra
Hội cịn đoàn kết, vận động phụ nữ thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của nhà nước; vận động xã hội thực hiện bình đẳng giới.
Hội Liên hiệp phụ nữ thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam là bộ phận của Hội Liên
hiệp phụ nữ Việt Nam. Hội là nơi tập hợp đông đảo chị em phụ nữ của thị xã, tham
gia trực tiếp vào thực hiện các nhiệm vụ chính trị - kinh tế của thị xã và mang về
nhiều thành quả to lớn trong đó có cơng tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn.
Theo số liệu mới nhất của Bộ LĐ-TB & XH thì Hà Nam trong 6 tháng đầu năm
2019, tỷ lệ hộ nghèo giảm 0,04% (từ 3,28% xuống còn 3,24%); tỷ lệ hộ cận nghèo
giảm 0,05% (từ 4,63% xuống còn 4,58%).Thực hiện đề án, tồn tỉnh đã có trên
1.300 hộ nghèo trong tổng số 2.523 hộ nghèo (thuộc đối tượng hỗ trợ theo đề án)
được hỗ trợ xây dựng nhà ở. Đây là kết quả đáng ghi nhận, góp phần tích cực trong
thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững của tỉnh. Trong đó thị xã Duy Tiên là
đơn vị thực hiện tốt đề án này, đặc biệt từ cuối năm 2019, sau khi UBND tỉnh chỉ
đạo cụ thể, yêu cầu các địa phương hoàn thành đề án trong năm 2020. Trong khi đa
5
số người nghèo không thể vay mượn ai và họ hàng, anh em cũng khơng có khả
năng giúp đỡ nên họ rất e dè. Để đẩy nhanh tiến độ, Duy Tiên đã họp bàn thống
nhất các phương án, chỉ đạo các địa phương huy động xã hội hóa, vận động nhân
dân, các tổ chức chính trị - xã hội tham gia, vào cuộc như Hội Phụ nữ, Hội Nông
dân… Bằng cách đó, Duy Tiên chỉ cịn trên 60 hộ nghèo trong diện được hỗ trợ
nhà ở sẽ hoàn thành xây dựng trong năm nay. Có được kết quả này khơng thể
khơng kể đến sự chung tay góp sức của các đoàn thể, đặc biệt là Hội Liên hiệp Phụ
nữ thị xã Duy Tiên. Qua đó vai trị của phụ nữ trong cơng tác xố đói giảm nghèo
đã qua được Đảng, chính quyền và các đồn thể ở địa phương đánh giá cao. Tuy
nhiên, với tiềm năng và thế mạnh của Hội, khả năng đóng góp vào cơng cuộc xây
dựng tỉnh Hà Nam của Hội Liên hiệp phụ nữ thị xã cịn rất lớn.
Xuất phát từ những phân tích trên, tác giả chọn đề tài: “Phát huy vai trò của Hội
Liên Hiệp Phụ nữ trong việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo trên địa bàn
Thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.”làm đề tài nghiên cứu.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu:
Trong những năm qua, vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở nước ta được Đảng, Nhà
nước và các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương quan tâm, nghiên cứu.
Cho đến nay đã có nhiều cơng trình nghiên cứu, luận văn, luận án đề cập đến vấn
đề xóa đói, giảm nghèo, liên quan đến đề tài có thể kể đến một số cơng trình:
1. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Dự án đào tạo cán bộ làm cơng tác
xóa đói giảm nghèo ( 2004), Tài liệu tập huấn cán bộ xóa đói giảm nghèo cấp xã,
Nxb. Lao động xã hội.
2. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ( 2005), Quy định chuẩn nghèo mới
giai đoạn 2006- 2010, Số 2128/ LĐTB- XH- KHTC.
3. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ( 2011), Công bố kết quả tổng điều tra
hộ nghèo, cận nghèo
4. Nguyễn Thị Thanh Hòa, Nâng cao vị thế của phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ
đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Tạp chí Cộng sản, số 10/2010
5. Nguyễn Thị Thanh Hòa; Phát huy nội lực của phụ nữ trong phát triển kinh tế
và giảm nghèo bền vững; Tạp chí Cộng sản, số 3/ 2014.
6. Phượng Hồng, Biểu dương những điển hình phụ nữ làm kinh tế giỏi, Tạp chí
Lao động xã hội, số 10/2013.
7. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Đại hội XI- Đánh giá kết quả hoạt động của
Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam nhiệm kỳ 2007- 2012.
6
8. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đồng hành cùng Ngân hàng Chính sách xã
hội xóa đói giảm nghèo.
9. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
Trên cơ sở đánh giá thực trạng vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ thị xã Duy Tiên
tỉnh Hà Nam thời gian qua, đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm
phát huy vai trò của hội trong giai đoạn hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về chính sách, chính sách xóa đói giảm
nghèo, Hội liên hiệp phụ nữ.
Làm rõ thực trạng phát huy vai trò của Hội Liên Hiệp Phụ nữ thị xã Duy Tiên,
tỉnh Hà Nam.
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của Hội Liên Hiệp Phụ
nữ thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam trong thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
1. Đối tượng nghiên cứu :
Phát huy vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ trong việc thực hiện chính sách
xóa đói giảm nghèo trên địa bàn thị xã Duy Tiên tỉnh Hà Nam.
2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam
Phạm vi thời gian: 05 năm (2016 – 2020)
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Phương pháp tiếp cận nghiên cứu: Sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý
thuyết: sưu tầm, chọn lọc tài liệu liên quan đề tài; phân tích, tổng hợp, hệ thống
hóa, khái qt hóa những quan điểm liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xây dựng
khái niệm công cụ cho đề tài, đồng thời định hướng cho hoạt động nghiên cứu
đánh giá thực tiễn.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
+ Phương pháp phỏng vấn sâu, khảo sát thực tế
+ Phương pháp thảo luận nhóm
+ Phương pháp xử lí và phân tích thơng tin
+ Phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích số liệu, tư liệu có liên
quan
7
6. Đóng góp mới của đề tài:
Đề tài hệ thống hóa một số vấn đề về chính sách xóa đói giảm nghèo, Hội liên
hiệp phụ nữ và vai trò của Hội phụ nữ trong việc xóa đói giảm nghèo.
Đánh giá vai trò và hiệu quả hoạt động của Hội liên hiệp phụ nữ thị xã Duy
Tiên trong việc tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân tích cực tham gia
phát triền kinh tế với mục tiêu thoát nghèo của địa phương
Phục vụ học phần Chính Trị học đại cương, học phần Chính sách an sinh xã
hội.
7. Bố cục của đề tài (chi tiết hố các chương, mục nghiên cứu):
Ngồi phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài có 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chính sách xóa đói giảm nghèo và vai trị
của Hội Liên hiệp phụ nữ
Chương 2: Thực trạng vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ trong việc xóa đói,
giảm nghèo trên địa bàn Thị xã Duy Tiên tỉnh Hà Nam hiện nay.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội Liên
hiệp Phụ nữ trong thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn Thị xã
Duy Tiên tỉnh Hà Nam
8
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH XĨA ĐĨI GIẢM NGHÈO
VÀ VAI TRỊ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ
1.1 Quan niệm về đói nghèo và chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam.
1.1.1. Quan niệm về đói nghèo
Đói nghèo là một thực trạng của q trình phát triển kinh tế, xã hội, nó hiện hữu
trong cuộc sống như một yếu tố lịch sử, có thể sinh ra, tồn tại, phát triển và cũng có
thể mất đi ở mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi quốc gia hay mỗi xã hội.
Khơng có một định nghĩa chung về đói nghèo, khái niệm đói nghèo được dùng
rất lâu trên thế giới để chỉ tình trạng của một nhóm người trong xã hội khơng có
khả năng được hưởng “một cái gì đó” ở mức độ tối thiểu cần thiết, tuy nhiên quan
niệm đói nghèo chỉ mang tính chất tương đối bởi vì nó phụ thuộc vào điều kiện
khơng gian, địa lý, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, từng địa
phương, từng quốc gia.
Quan niệm của các tổ chức và chuyên gia quốc tế về đói, nghèo Tổ chức
UNDP đã đưa ra những định nghĩa về nghèo như sau:
- Sự nghèo khổ của con người: Thiếu những quyền cơ bản của con người như
biết đọc, biết viết và được nuôi dưỡng tạm đủ.
- Sự nghèo khổ về tiền tệ: Thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi
tiêu tối thiểu.
- Sự nghèo khổ chung: Mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định
như khơng có khả năng thỏa mãn những nhu cầu lương thực và phi lương thực chủ
yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở nước này hay nước
khác.
Hội nghị bàn về giảm đói nghèo trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do
ESCAP tổ chức vào tháng 9/1993 tại BangKok (Thái Lan), các quốc gia trong khu
vực đã thống nhất cho rằng: nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư khơng
được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa
nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng
địa phương.
Đây chính là một khái niệm chung nhất về nghèo, một khái niệm mở, có tính
chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện nét chính yếu, phổ biến về
nghèo. Các tiêu chí và chuẩn mực về mặt lượng hóa (định lượng) được bỏ ngỏ bởi
vì cịn phải tính đến sự khác biệt chênh lệch giữa điều kiện tự nhiên, điều kiện xã
9
hội và trình độ phát triển của mỗi vùng miền khác nhau. Vấn đề quan trọng nhất
mà khái niệm này đã đưa ra được đó chính là những nhu cầu cơ bản của con người,
nếu khơng được thỏa mãn thì họ chính là những người nghèo đói.
Từ khái niệm chung này, khi nghiên cứu thực trạng nghèo đói, người ta đã đưa
ra hai khái niệm khác, đó là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
Nghèo tuyệt đối: Đó là sự thiếu hụt so với mức sống (những nhu cầu) tối thiểu.
Nghèo tuyệt đối đề cập đến vị trí của một cá nhân, hộ gia đình trong mối quan hệ
với đường nghèo khổ mà giá trị tuyệt đối của họ cố định theo thời gian. Nghèo
tuyệt đối thường được tính trên những nhu cầu dinh dưỡng và một số hàng hóa
khác, do vậy một đường nghèo tuyệt đối được dùng để thực hiện các so sánh nghèo
đói.
Nghèo tương đối: Đó là sự thiếu hụt của các cá nhân/hộ gia đình so với mức
sống trung bình đạt được. Sự thiếu hụt này dựa trên cơ sở một tỷ lệ nào đó so với
mức thu nhập bình qn của dân cư, có quốc gia xác định dựa trên 1/2 thu nhập
bình qn, có quốc gia lại dựa trên 1/3 thu nhập bình quân.
Để so sánh sự nghèo khổ giữa các quốc gia với nhau, người ta sử dụng khái
niệm nghèo tương đối. Để đấu tranh chống nạn nghèo cùng cực thì dùng khái niệm
nghèo tuyệt đối. Tuy nhiên, cả hai khái niệm trên đều khơng hồn tồn đầy đủ.
Khái niệm nghèo tuyệt đối khơng tính đến sự khác nhau về mức sống ở các nước.
Khái niệm nghèo tương đối, khơng tính đến sự diễn biến của bối cảnh kinh tế xã
hội, do đó khơng tính đến diễn biến của những nhu cầu.
Quan niệm của Việt Nam về đói, nghèo:
Ở nước ta, quan niệm về đói, nghèo thường trực diện và đơn giản hơn như: đói
nghèo là khơng đủ ăn, nhà cửa dột nát, thường xun ốm đau, nhưng khơng có tiền
chữa bệnh, con cái không được đến trường... Dựa trên các khái niệm của các tổ
chức thế giới, Việt Nam đã đưa ra các khái niệm cụ thể về đói, nghèo và được
nghiên cứu ở các cấp độ: cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Chương trình mục
tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1998 - 2000 của Việt Nam đã đưa ra
các khái niệm: Nghèo, đói, hộ đói, hộ nghèo, vùng nghèo... và có các tiêu chí xác
định cho từng loại cụ thể.
Về khái niệm nghèo của Việt Nam cơ bản thống nhất với khái niệm nghèo đói
của ESCAP. Đói là tình trạng của một bộ phận cư dân nghèo có mức sống dưới
mức tối thiểu và thu nhập không đủ bảo đảm nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc
10
sống. Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai tháng,
thường vay mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả cho cộng đồng.
- Khái niệm đói cũng có hai dạng: đói kinh niên và đói cấp tính (đói gay gắt).
+ Đói kinh niên: Là bộ phận dân cư đói nhiều năm liền cho đến thời điểm đang
xét.
+ Đói cấp tính: Là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất do nhiều
nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro khác tại thời điểm đang xét.
- Hộ đói: Là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái không được học
hành đầy đủ, ốm đau không có tiền chữa bệnh, nhà ở tạm bợ...
- Hộ nghèo: Là hộ đói ăn nhưng khơng đứt bữa, mặc khơng đủ lành, khơng đủ
ấm, khơng có khả năng phát triển sản xuất.
- Xã nghèo: Là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, khơng có hoặc rất thiếu những cơ sở
hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm, nước sạch, trình độ dân trí thấp
v.v..
- Thị xã nghèo: là Thị xã có tỉ lệ hộ nghèo trên 50%.
Chuẩn nghèo Việt Nam là một tiêu chuẩn để đo lường mức độ nghèo của các hộ
dân tại Việt Nam. Chuẩn này khác với chuẩn nghèo bình quân trên thế giới. Theo
quyết định của Thủ tướng chính phủ Việt Nam 170/2005/QĐ-TTg ký ngày 08
Tháng 07 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 2010: “Khu vực nông thơn: những hộ có mức thu nhập bình qn từ
200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình qn từ 260.000
đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo”
Cho đến năm 2009, theo chuẩn nghèo trên, cả nước Việt Nam hiện có khoảng 2
triệu hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 11% dân số. Tuy nhiên, trên diễn đàn Quốc hội Việt
Nam, rất nhiều đại biểu cho rằng tỷ lệ hộ nghèo giảm khơng phản ánh thực chất vì
số người nghèo trong xã hội khơng giảm, thậm chí cịn tăng do tác động của lạm
phát (khoảng 40% kể từ khi ban hành chuẩn nghèo đến nay) và do là suy giảm kinh
tế. Theo chuẩn trên, nhiều hộ nghèo thoát nghèo nhưng vẫn khơng đủ sống và do
đời sống khó khăn nên rất nhiều người muốn còn được thuộc diện nghèo mãi để
còn nhận các khoản hỗ trợ như như vay vốn ưu đãi, bảo hiểm y tế..... Phó thủ
tướng Nguyễn Sinh Hùng cho rằng khơng thể duy trì chuẩn nghèo 200.000260.000 đồng như hiện nay mà cần rà sát và ban hành chuẩn nghèo mới cho năm
11
2011. Ngày 30 tháng 01 năm 2011, Quyết định Số 09/2011/QĐ-TTg ban hành
chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011- 2015:
Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình qn từ 400.000
đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống.
Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình qn từ 500.000
đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống.
Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ từ 900.000 đồng đến 1.300.000
đồng/người/tháng.
Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình qn từ 501.000 đồng
đến 650.000 đồng/người/tháng.
Kết quả rà soát nghèo mới nhât (năm 2020), tỷ lệ hộ nghèo năm 2012 là 3%
(giảm 0,8% so với cuối năm 2019)
1.1.2 Chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam
Chính sách của Nhà nước là định hướng hành động được nhà nước lựa chọn,
phù hợp với đường lối chính trị để giải quyết những vấn đề chung của xã hội trong
một thời kỳ nhất định. Chính sách có vai trị to lớn trong hoạt động quản lý xã hội
của nhà nước về tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Nếu chính sách phù hợp với tình hình thực tế của địa phương sẽ có tác dụng
thúc đẩy sự phát triển KT-XH góp phần thúc đẩy hộ nghèo vươn lên thoát nghèo,
làm giảm tỷ lệ hộ nghèo. Ngược lại, sẽ phản tác dụng, tạo ra cản trở sự phát triển
KT- XH của địa phương, gây lãng phí nhân lực, tiền của cũng như làm cho người
nghèo đã khó khăn lại càng khó khăn hơn.
Năng lực tổ chức, quản lý của chính quyền địa phương trong hoạt động giảm
nghèo bền vững: thường bị bỏ qua và chậm đổi mới, thể hiện ở các mặt sau:
Thứ nhất, tính chất và mức độ “hành chính quan liêu” trong các cấp đã ảnh
hưởng đến giải quyết vấn đề đói nghèo, thực hiện những chủ trương, chính sách
xóa đói, giảm nghèo trong thời gian qua biểu hiện ở các hoạt động:
Cứu trợ dân nghèo trong các đợt thiên tai bão lụt ở một số nơi rất chậm trễ, làm
diện đói nghèo kéo dài và lan rộng.
Việc xác định diện hộ nghèo theo quy định có những lệch lạc, dựa vào quan hệ
thân quen đưa vào diện nghèo những hộ không nằm trong tiêu chí nghèo, thậm chí
bớt xén tiền bạc mà đáng lẽ hộ nghèo được hưởng (thường ở cấp chính quyền cơ
sở và Thị xã).
12
Chất lượng xây dựng các luật kinh tế, xã hội cịn thấp so với thực tiễn, nên “dễ
thơng qua nhưng khó thi hành” ở cấp vĩ mơ. Quy trình làm luật hiện nay chỉ coi
trọng mặt chính sách, giải trình nội dung chính sách hay luật mà khơng địi hỏi giải
trình về mặt kỹ thuật tổ chức thực hiện, nhất là về mặt thanh tra, kiểm sốt. Vì vậy
đã có những trường hợp bất khả thi, hoặc dễ “lách luật” và lạm dụng. Đây là hạn
chế của cấp vĩ mô.
Thứ hai, tình trạng lãng phí ngày càng tăng trong q trình triển khai các dự án
kinh tế - xã hội, do chất lượng thấp trong xây dựng và thực hiện dự án, nên các dự
án khơng có khả năng hồn vốn, rủi ro cao, thời gian thực hiện kéo dài.
Tính chất hành chính quan liêu trong quản lý vĩ mơ gây lãng phí ở tầm quốc
gia cịn do nơn nóng muốn làm tất cả, khơng có ưu tiên và bước đi phù hợp. Cách
làm nặng về số lượng không chỉ gây lãng phí lớn, mà cịn để lại nhiều vấn nạn cả
về kinh tế và xã hội.
Thứ ba, tình trạng tham nhũng tác động không chỉ đến chất lượng và hiệu quả
phát triển, mà còn trực tiếp đến đời sống nhân dân. Hiện tượng tham nhũng xuất
hiện cả trong lĩnh vực giáo dục, lĩnh vực y tế, thậm chí cả trong dự án xóa đói,
giảm nghèo, cùng với những tác động tiêu cực của các dự án xây dựng, nhất là các
dự án sử dụng nhiều đất đai, làm cho vấn đề đói nghèo và ổn định xã hội khó giải
quyết.
Trong thời gian qua, thực hiện Chương trình 135 cũng như hỗ trợ giải quyết
đói nghèo đã góp phần giảm tỷ lệ nghèo, nhưng con số nghèo ở nông thôn và đơ
thị vẫn cịn cao. Nếu về mặt tổ chức, quản lý nhà nước khơng khắc phục tình trạng
hành chính quan liêu, lãng phí, tham nhũng thì các mục tiêu giảm nghèo giai đoạn
2011 - 2020 khó có triển vọng.
Xuất phát từ điều kiện thực tế nước ta hiện nay, xố đói giảm nghèo về kinh tế
là điều kiện tiên quyết để xố đói giảm nghèo về văn hóa, xã hội. Vì vậy, phải tiến
hành thực hiện xố đói giảm nghèo cho các hộ nông dân sinh sống ở vùng cao,
vùng sâu, hải đảo và những vùng căn cứ kháng chiến cách mạng cũ, nhằm phá vỡ
thế sản xuất tự cung, tự cấp, độc canh, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế sản
xuất nơng nghiệp trên tồn quốc theo hướng sản xuất hàng hố, phát triển cơng
nghiệp nơng thơn, mở rộng thị trường nông thôn, tạo việc làm tại chỗ, thu hút lao
động ở nông thôn vào sản xuát tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ là
con đường cơ bản để xố đói giảm nghèo ở nơng thôn.
13
Tiếp tục đổi mới nền kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá trên cơ sở nền kinh
tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Đó là con đường để cho mọi người vượt
qua đói nghèo, để nhà nước có thêm tiềm lực về kinh tế để chủ động xố đói giảm
nghèo. Đây là sự thể hiện tư tưởng kinh tế của Hồ chủ tịch:"Giúp đỡ người vươn
lên khá, ai khá vươn lên giàu, ai giàu thì vươn lên giàu thêm".Thực hiện thành
cơng chương trình xố đói giảm nghèo không chỉ đem lại ý nghĩa về mặt kinh tế là
tạo thêm thu nhập chính đáng cho người nơng dân ổn định cuộc sống lâu dài, là cơ
sở để cho sự tăng trưởng và phát triển một nền kinh tế bền vững, góp phần vào sự
nghiệp đổi mới đất nước. Ngồi ra cịn có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị xã hộilà
nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc tốt sức khoẻ nhân dân, từ đó giúp họ có thể tự
mình vươn lên trong cuộc sống, hồ nhập hơn trong cuộc sống cộng đồng, xây
dựng được các mối quan hệ xã hội lành mạnh, làm giảm khoảng cách giàu nghèo,
ổn định tinh thần, có niềm tin vào bản thân, có lịng tin hơn nữa vào đường lối và
chủ trương chính quyền địa phương. Đồng thời hạn chế và xoá bỏ được các tệ nạn
xã hội khác, bảo vệ môi trường sinh thái.
Nếu như, không giải quyết thành cơng các nhiệm vụ và u cầu xố đói giảm
nghèo thì sẽ khơng chủ động giải quyết được xu hướng gia tăng phân hố giàu
nghèo, có nguy cơ đẩy tới phân hoá giai cấp với hậu quả là sự bần cùng hố từ đó
đe doạ tình hình ổn định chính trị và xã hội làm chệch hướng XHCN của sự phát
triển kinh tế - xã hội. Không giải quyết thành cơng các chương trình xố đói giảm
nghèo sẽ khơng thể thực hiện được công bằng và lành mạnh xã hội vànhư thế mục
tiêu phát triển và phát triển bền vững sẽ không thể thực hiện được. Không tập trung
nỗ lực, khả năng và điều kiện để xố đói giảm nghèo sẽ không thể tạo được tiền đề
để khai thác và phát triển nguồn lực con người phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH
đất nước nhằm đưa nước ta đạt tới trình độ phát triển tương đương với quốc tế và
khu vực, thoát khỏi nguy cơ lạc hậu và tụt hậu.
Để giảm nghèo khơng chỉ địi hỏi sự nỗ lực, phấn đấu vươn lên của người
nghèo, mà cả sự phối hợp giúp đỡ của tồn xã hội, bên cạnh đó cần sự định hướng,
hỗ trợ và đầu tư nguồn lực rất lớn của nhà nướcthông qua việc ban hành các văn
bản quy phạm pháp luật, các chính sách, hỗ trợ về y tế, giáo dục, vốn… nhằm tác
động để thúc đẩy sự vươn lên của các hộ nghèo, tạo điều kiện cho các hộ nghèo có
thể tự sản xuất, phát triển kinh tế để thốt nghèo bền vững. Nhà nước đóng vai trị
là chủ thể của các chiến lược, chính sách, chương trình, dự án, kế hoạch, mục
tiêu…thực hiện giảm nghèo bền vững. Nhà nước tạo thuận lợi để người nghèo và
14
cộng đồng nghèo tiếp cận được các cơ hội phát triển sản xuất kinh doanh và hưởng
thụ được từ thành quả tăng trưởng một cách nhanh nhất và ổn định lâu dài. Như
vậy, cho thấy sự cần thiết phải thực hiện các chính sách để giảm nghèo bền vững.
Trong giai đoạn 2011-2015, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự
chỉ đạo thường xuyên, sát sao của Quốc hội, Chính phủ, với sự nỗ lực liên tục,
khơng ngừng của các cấp, các ngành và toàn xã hội, mục tiêu giảm nghèo của Việt
Nam đã thu được những kết quả quan trọng, tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ
14,2% (năm 2010), xuống còn 4,25% (năm 2015); cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các
Thị xã nghèo, xã nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được tăng cường, đời sống
người dân không ngừng được cải thiện cả về sinh kế và tiếp cận các dịch vụ xã hội;
thành tựu giảm nghèo của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận.
Tuy nhiên, công tác giảm nghèo cịn nhiều khó khăn, thách thức, vẫn cịn nhiều
nơi tỷ lệ nghèo ở mức cao, lên tới 50%, cá biệt trên 60-70%; nghèo đói ở nước ta
phân bố khơng đồng đều giữa các vùng miền và đối tượng; xu hướng rõ rệt tập
trung ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng bãi ngang ven biển và
hải đảo và đối tượng là người dân tộc thiểu số (tỷ trọng hộ nghèo dân tộc thiểu số
chiếm gần 50% tổng số hộ nghèo trong cả nước). Chính sách giảm nghèo cịn
chồng chéo, phân tán, thiếu tính hệ thống, nhiều chính sách chưa khuyến khích
người nghèo tích cực vươn lên thốt nghèo; cơ chế phối hợp, chỉ đạo, điều hành ở
các cấp còn nhiều hạn chế; chưa phát huy được vai trị tích cực của các tổ chức
chính trị - xã hội trong việc tham gia tổ chức các hoạt động giảm nghèo ở cơ sở;
chưa khơi dậy được tiềm năng thế mạnh của địa phương, sự tham gia chủ động,
tích cực, sáng tạo của người dân, của cộng đồng cùng nhau vươn lên thoát nghèo.
Để khắc phục những hạn chế, tồn tại trên, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện và
tổ chức thực hiện hệ thống chính sách, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương
trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020. Trên cơ sở đó
nhằm tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chính sách, giải pháp giảm nghèo, phấn đấu
hoàn thành trước thời hạn mục tiêu về giảm tỷ lệ hộ nghèo theo đúng Nghị quyết
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã đề ra.
Đẩy mạnh cơng tác tun truyền, giáo dục chính trị tư tưởng tạo sự chuyển biến
mạnh mẽ về nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền và trong tầng lớp nhân
dân về tiêu chí tiếp cận nghèo đa chiều, mục tiêu giảm nghèo bền vững, góp phần
tạo được sự đồng thuận và phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị,
sự đồng tâm, hiệp lực của toàn xã hội trong triển khai thực hiện Chương trình mục
15
tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020; khơi dậy ý chí chủ động,
vươn lên của người nghèo, tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả chính sách và nguồn
lực hỗ trợ của nhà nước, của cộng đồng để thoát nghèo, vươn lên khá giả; phát
động phong trào thi đua “Cả nước chung tay vì người nghèo - Khơng để ai bị bỏ lại
phía sau”. Nội dung của chương trình tập trung chủ yếu vào mấy vấn đề sau đây:
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm cơng tác giảm nghèo ở cơ sở;
- Rà sốt, bổ sung, sửa đổi chính sách giảm nghèo cho phù hợp với điều kiện
tình hình mới;
- Đẩy mạnh các hoạt động xóa đói giảm nghèo, từng bước thu hẹp khoảng cách
chênh lệch giàu – nghèo;
- Thực hiện có hiệu quả chính sách tín dụng đối với hộ nghèo;
- Đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng cho các địa bàn có tỉ lệ hộ nghèo cao;
- Đa dạng hóa nguồn vốn huy động phục vụ chương trình xóa đói giảm nghèo;
- Mở rộng hợp tác xóa đói,giảm nghèo với các tổ chức khu vực và quốc tế;
- Tăng cường công tác kiểm tra và giám sát, đánh giá kết quả việc thực hiện
các chương trình xóa đói, giảm nghèo.
1.2. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và vai trò của Hội trong xóa đói, giảm
nghèo
1.2.1 Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam - một thành tố của hệ thống chính trị
Việt Nam
Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự xuất hiện của giai cấp, nhà nước nhằm
thực hiện đường lối chính trị của giai cấp, đảng phái cầm quyền, do đó nó mang
bản chất, lý tưởng chính trị và phản ánh lợi ích của giai cấp cầm quyền. Hệ thống
chính trị là một bộ phận kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các thiết chế và thể
chế có quan hệ với nhau về mục tiêu, chức năng trong việc thực hiện quyền lực
chính trị. Trong các sách, báo và cơng trình nghiên cứu khoa học hiện nay, khái
niệm “hệ thống chính trị” thường được hiểu theo hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng, khái niệm “hệ thống chính trị” được sử dụng để chỉ tồn bộ
lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội với tư cách là một hệ thống hồn chỉnh bao
gồm các tổ chức, các chủ thể chính trị, các quan điểm, quan hệ chính trị, hệ tư
tưởng và các chuẩn mực chính trị.
Theo nghĩa hẹp, khái niệm “hệ thống chính trị” được sử dụng chỉ để hệ thống
các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động mang tính chính trị trong xã
hội gồm nhân dân, các tổ chức chính trị, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính
16
trị - xã hội có mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với quyền lực chính trị. Trong đó,
nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị và là nền tảng của hệ thống chính trị.
Ở Việt Nam, khái niệm hệ thống chính trị lần đầu tiên được Đảng ta sử dụng
trong Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá VI ( tháng
3-1989 ) thay cho khái niệm hệ thống chun chính vơ sản. Hệ thống chính trị đó
bao gồm : Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ( Liên đồn Lao
động Việt Nam, Hội Nơng dân Việt Nam, Đồn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh,
Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam), như vậy Hội Liên
hiệp phụ nữ Việt Nam là một bộ phận của các tổ chức chính trị xã hội và nằm
trong cấu trúc của hệ thống chính trị Việt Nam.
Hai là, về lịch sử hình thành của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Phụ nữ Việt Nam vốn sinh ra trong một đất nước với nền văn minh nông
nghiệp, dựa trên nền tảng nghề trồng lúa nước và thủ công nghiệp nên phụ nữ Việt
Nam đã trở thành lực lượng lao động chính. Bên cạnh đó, nước ta ln ln bị kẻ
thù xâm lược, đời sống nghèo khổ. Từ thực tế đó mà người phụ nữ Việt Nam có
bản sắc phong cách riêng: họ là những chiến sĩ chống ngoại xâm kiên cường dũng
cảm, là người lao động cần cù, sáng tạo, thơng minh, là người giữ vai trị đặc biệt
quan trọng trong việc giữ gìn, phát triển bản sắc và tinh hoa văn hoá dân tộc, là
những người mẹ dịu hiền, đảm đang, trung hậu đã san sinh ra những thế hệ anh
hùng của dân tộc anh hùng.
Dưới chế độ phong kiến và đế quốc, phụ nữ là lớp người bị áp bức, bóc lột, chịu
nhiều bất cơng nhất nên ln có u cầu được giải phóng và sẵn sàng đi theo cách
mạng. Ngay từ những ngày đầu chống Pháp, phụ nữ đã tham gia đông đảo vào
phong trào Cần Vương, Đơng Kinh Nghĩa Thục, Đơng Du, cịn có nhiều phụ nữ
nổi tiếng tham gia vào các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng san Việt Nam như :
Hoàng Thị Ái, Thái Thị Bôi, Tôn Thị Quế, Nguyễn Thị Minh Khai...
Từ năm 1927 những tổ chức quần chúng bắt đầu hình thành và thu hút đơng đảo
tàng lớp phụ nữ như Cơng Hội Đỏ, Nơng Hội Đỏ, các nhóm trường tế, số học nghề
và các tổ chức có tính chất riêng của giới nữ như:
Năm 1927 nhóm các chị Nguyễn Thị Lưu, Nguyễn Thị Minh Lãng, Nguyễn Thị
Thủy là ba chị em ở làng Phật Tích ( Bắc Ninh ) tham gia Thanh niên Cách mạng
đồng chí Hội, các chị tuyên truyền, xây dựng tổ học nghề đăng ten và học chữ;
17
Nhóm chị Thái Thị Bơi có các chị Lê Trung Lương, Nguyễn Thị Hồng, Huỳnh
Thuyên tham gia sinh hoạt ở trường nữ học Đồng Khánh;
Năm 1928, nhóm chị Nguyễn Thị Minh Khai củng Nguyễn Thị Phúc, Nguyễn
Thị An tham gia sinh hoạt hội đỏ của Tân Việt. Nhóm này liên hệ với chị Xân, chị
Thiu, chị Nhuận, chị Liên thành lập từ Phụ nữ Giải phóng ở Vinh.
Năm 1930, trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, ở Nghệ An, Hà Tĩnh có
12.946 chị tham gia phụ nữ giải phóng, cùng nhân dân đấu tranh thành lập chính
quyền Xơ Viết ở trên 300 xã. Ngày 1/5/1930, đồng chí Nguyễn Thị Thập đã tham
gia lãnh đạo cuộc đấu tranh của hơn 4.000 nông dân ở hai Thị xã Châu Thành, Mỹ
Tho, trong đó có hàng ngàn phụ nữ tham gia.
Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập, Cương lĩnh đầu tiên
của Đảng đã ghi: Nam nữ bình quyền . Như vậy Đảng sớm nhận rõ, phụ nữ là lực
lượng quan trọng của cách mạng và để ra nhiệm vụ : Đảng phải giải phóng phụ nữ,
gắn liền giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp với giải phóng phụ nữ. Phụ nữ
phải tham gia các đồn thể cách mạng ( cơng hội, nông hội ) và thành lập tổ chức
riêng cho phụ nữ để lôi cuốn các tầng lớp phụ nữ tham gia cách mạng.
Chính vì vậy mà ngày 20/10/1930, Hội Liên hiệp Phụ nữ chính thức được thành
lập. Sự kiện lịch sử này thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng đối với vai trò của
phụ nữ trong cách mạng, đối với tổ chức phụ nữ, đối với sự nghiệp giải phóng phụ
nữ. Trong qua trình hình thành và tồn tại, hội Liên hiệp phụ nữ đảm nhận một số
chức năng quan trọng, trong đó phải kể đến chức năng đại diện chăm lo, bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ, tham gia xây dựng
Đảng, tham gia quản lý Nhà nước; đoàn kết, vận động, phụ nữ thực hiện đường lối,
chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vận động xã hội thực
hiện binh đẳng giới…
Bên cạnh các chức năng, hội Liên hiệp phụ nữ đồng thời đảm nhiệm một số
nhiệm vụ quan trọng như:
Tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, lý tưởng cách mạng, phẩm chất đạo
đức, lối sống đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Vận động các tầng lớp phụ nữ chủ động, tích cực thực hiện đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng,
Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc ; vận động, hỗ trợ phụ nữ
nâng cao năng lực, trình độ, xây dựng gia đình hạnh phúc; chăm lo cải thiện đời
sống vật chất, tinh thần của phụ nữ.
18
Tham mưu đề xuất, tham gia xây dựng, phản biện xã hội và giám sát việc thực
hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên
quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, gia đình và trẻ em
Xây dựng, phát triển tổ chức Hội vững mạnh.
Đoàn kết, hợp tác với phụ nữ các nước, các tổ chức, cá nhân tiến bộ trong khu
vực và thế giới vì bình đẳng, phát triển và hịa bình
Với chức năng và nhiệm vụ như trên, hội Liên hiệp phụ nữ có vị trí, vai trị vơ
cùng quan trọng trong hệ thống chính trị nước ta, là bộ phận tích cực trong q
trình thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà
nước.
1.2.2 Vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong thực hiện các chính
sách của đảng và nhà nƣớc
Năm 1998 lần đầu tiên giảm nghèo đã trở thành một chính sách nằm trong hệ
thống chính sách xã hội của quốc gia. Từ đó đến nay, cơng tác xóa đói giảm nghèo
của Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định như: luôn đạt và vượt mục
tiêu đề ra qua các giai đoạn, hoàn thành vượt mức mục tiêu thiên niên kỷ về giảm
nghèo trước 10 năm.
Hội nghị Trung ương lần thứ 5 khóa VII đã đề ra chủ trương xóa đói giảm
nghèo trong chiến lược phát triển nông thôn, nông nghiệp và nông dân cũng như
trong chiến lược phát triển chung của xã hội và đã trở thành một chủ trương chiến
lược, nhất quán, liên tục được bổ sung, hoàn thiện qua các kỳ Đại hội của Đảng.
Nguồn lực để thực hiện công tác giảm nghèo được huy động tối đa, không chỉ
bằng Ngân sách Nhà nước mà còn huy động được sự tham với tỉnh thần trách
nhiệm cao của các tập đoàn kinh tế, các Tổng Công ty nhà nước, Ngân hàng
thương mại... và đặc biệt là từ chính bản thân người nghèo. Phối hợp nhiều phương
thức hỗ trợ người nghèo như hỗ trợ người nghèo trong vay vốn tín dụng ưu đãi, hỗ
trợ về nhà ở, hỗ trợ về cung cấp và tạo điều kiện duy trị với các loại dịch vụ, hỗ trợ
giao đất, giao rừng, về đào tạo nguồn nhân luc....
Thực hiện Nghị quyết của Đảng và Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói,
giảm nghèo, trong những năm qua, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã chủ động,
sáng tạo đề ra các chương trình hành động thiết thực và lãnh đạo, vận động phụ nữ
ca nước tham gia tích cực vào cơng cuộc xóa đói, giảm nghèo.
Vai trị của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong xóa đói, giảm nghèo được thể
hiện rõ trên các phương diện:
19
Một là, Hội Liên hiệp phụ nữ có vai trị quan trọng trong việc tuyên truyền,
giáo dục phụ nữ về những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước
về xóa đói, giảm nghèo
Tuyên truyền, giáo dục là một bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng của
Đảng, là nhiệm vụ trọng tâm của các cấp Hội Liên hiệp phụ nữ. Thực hiện tốt công
tác tuyên truyền, giáo dục trong các cấp Hội sẽ góp phần triển khai chủ trương của
Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước đến cán bộ, hội viên và các tầng lớp phụ
nữ. Đồng thời nâng cao nhận thức, kỹ năng hành động, bồi dưỡng giáo dục phẩm
chất đạo đức cho cán bộ, hội viên, phụ nữ và điều chỉnh những nhận thức sai lệch
cũng như đấu tranh với những quan điểm sai trái trong cuộc sống, thực hiện định
hướng và điều chỉnh dư luận xã hội
Công tác tuyên truyền, giáo dục của Hội được triển khai gắn kết chặt chẽ với
các phong trào thi đua các cuộc vận động với nội dung phong phú, hình thức đa
dạng, thực hiện hiệu qua các đề án tiêu đề án tuyên truyền, giáo dục sẽ xóa đói
giảm nghèo. Bên cạnh đó mục đích của sao đói, giảm nghèo cũng được xác định rõ
hơn khơng chỉ dừng tich lũy cá nhân mà quan trọng hơn đã hình thành văn hóa tiết
kiệm trong mọi hội viên, trong từng gia dinh, đời sống xã hội. Nguồn tiết kiệm này
để tạo thành nguồn vốn nội lực quan trọng của Hội do chị em huy động trực tiếp
quản lý công khai, minh bạch và được sử dụng cho mục tiêu vay vốn để giảm
nghèo, phát triển kinh tế của hội viên phụ nữ loại động này được nhân lên thành
sức mạnh qua việc cho phụ nữ nghèo vay vốn để thoát nghèo, chị em thoát nghèo
lại tiết kiệm để chị em nghèo khác được vay.
Đặc biệt, trong năm 2013, đợt thi đua: “ Làm theo Bác, thực hành tiết kiệm giúp
nhau giảm nghèo bền vững” chào mừng 65 năm ngày Bác Hồ ra “ Lời kêu gọi thi
đua ái quốc toàn quốc” được triển khai 100% số xã trên toàn quốc, với hơn 11 triệu
hội viên ( 73,5 % tổng số hội viên ) hưởng ứng, tiết kiệm được trên 3.200 tỷ đồng
cho hơn 1 triệu hội viên phụ nữ vay để phát triển sản xuất. Ngoài việc củng cố các
mơ hình tiết kiệm hiện có, đã xuất hiện thêm nhiều mơ hình, cách thức thực hiện
sáng tạo, hiệu quả, phù hợp với nhu cầu thực tế của hội viên phụ nữ. Có thể kể đến
một số mơ hình tiêu biểu như : Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với
mơ hình tiết kiệm để mua đồ cùng mới, ủng hộ đồ dùng cũ còn sử dụng được cho
hộ nghèo, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long với mơ hình tổ hùn lúa ;
Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Khánh Hịa có mơ hình phối hợp với cơng ty bảo hiểm
Manulife, Prudential tổ chức cho chị em mua bảo hiểm từ nguồn tiết kiệm trong
20
chi tiêu của gia đình... Đợt thi đua này khơng chỉ tạo thành một phong trào sâu
rộng, mà còn định hướng giúp các cấp Hội nhận thức rõ hơn mục đích, ý nghĩa của
việc tạo thói quen tiết kiệm chính là cách phát huy nội lực của chị em
Hội cũng xác định răng giúp phụ nữ thực hiện xóa đói, giảm nghèo trước tiên
phải huy động sự tham gia chủ động, tích cực của chính bản thân phụ nữ Chính vì
vậy, tạo nguồn để giúp phụ nữ xóa đói, giảm nghèo tử ngay trong nội lực phong
trào phụ nữ được Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam coi trọng hàng đầu
Hai là, Hội Liên hiệp phụ nữ phát động các phong trào thực tiễn giúp phụ nữ
xóa đói, giảm nghèo.
Hoạt động hỗ trợ phụ nữ nghèo được các cấp Hội tiếp tục đẩy mạnh, tập trung
nâng cao chất lượng, hiệu quả, coi trọng phát huy nội lực của phụ nữ để giảm
nghèo bền vững. Các phong trào “ Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế ”, “ Giúp
phụ nữ nghèo có địa chỉ ”. được duy trì bền bỉ trong suốt những năm qua, tiếp sức
cùng các cuộc vận động lớn “ Mái ấm tình thương ”, “ Thực hành tiết kiệm theo
gương Bác” với nhiều hình thức sáng tạo “ Hũ gạo tiết kiệm Nuôi heo đất được
triển khai sâu rộng khắp cả nước đã tạo nên nguồn nội lực to lớn trị giá trên 3400
tỷ đồng giúp cho trên 5 triệu lượt phụ nữ trong nhiệm Kỳ 2007- 2012.
Cùng với việc phát động các phong trào giúp phụ nữ xóa đói, giảm nghèo, thì
cơng tác dạy nghề, đào tạo việc làm cũng được các cấp Hội quan tâm, chú ý với
việc trển khai thực hiện Đề án hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010
- 2015 trên phạm vi toàn quốc. Hệ thống cơ sở dạy nghề và giới thiệu việc làm của
Hội được quy hoạch trong tổng thể chung của cả nước và được củng cố, phát triển.
Dạy nghề cho lao động nữ nông thôn được tập trung triển khai, không chỉ tại các
cơ sở dạy nghề của Hội mà còn dưới hình thức phối hợp, liên kết, mở lớp lưu động
Hoạt động dạy nghề được tổ chức linh hoạt, gắn kết chặt chẽ hơn với hỗ trợ tạo
việc làm thông qua hỗ trợ vốn và mở rộng hợp tác với các đối tác để tạo việc làm
tại chỗ cho lao động nữ. Đến cuối năm 2011 chỉ riêng các cơ sở dạy nghề của Hội
đã dạy nghề được cho hơn 200 ngàn lao động nữ, giới thiệu việc làm cho gần
700.000 lao động nữ. Các cấp Hội đã phối hợp, liên kết để dạy nghề cho hơn 1,1
triệu lượt lao động nữ. Với nỗ lực không ngừng và bằng nhiều giải pháp, phối hợp
giữa hỗ trợ vốn với hướng dẫn kiến thức, kinh nghiệm làm ăn, dạy nghề, tạo việc
làm, xây dựng mơ hình phát triển kinh tế, giúp khởi sự doanh nghiệp... : 5 năm qua
( 2007- 2012 ) các cấp Hội đã giúp trên 2,2 triệu lượt phụ nữ nghèo phát triển kinh
tế, trong đó 17 ngàn hộ nghèo cho phụ nữ làm chủ đã thoát nghèo ; trên 256 nghìn
21
nữ chủ doanh nghiệp được tiếp cận vốn vay, đóng góp vào thành tựu phát triển
kinh tế giảm nghèo của cả nước.
Ba là Hội liên hiệp phụ nữ ra động các nguồn lực vật chất, tinh thần và phải kết
hợp với các lực lượng giúp phụ nữ thực hiện xóa đói, giảm nghèo.
Hoạt động khai thác, quản lý nguồn vốn từ các Ngân hàng, các chương trình, dự
án, các nhóm phụ nữ tiết kiệm, đặc biệt từ Ngân hàng Chính sách xã hội được các
cấp Hội tiếp tục đẩy mạnh. Đến cuối năm 2011, tổng dư nợ các nguồn vốn do các
cấp Hội quản lý đạt trên 47 ngàn tỉ đồng, giúp hơn 12 triệu lượt phụ nữ nghèo được
vay vốn, đầu tư cho sản xuất kinh doanh. Riêng nguồn vốn ủy thác từ Ngân hàng
Chính sách xã hội đạt dư nợ trên 40 ngàn tỉ đồng, tỷ lệ hoàn trả luôn ở mức 99 %.
Hàng năm, phối hợp với ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hội đã tổ
chức tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho trên 2,4 triệu lượt phụ nữ, góp
phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả sản xuất kinh doanh của phụ nữ.
Bên cạnh đó, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đồng hành cùng Ngân hàng chính
sách xã hội xóa đói, giảm nghèo. 13 năm đồng hành với Ngăn hàng chính sách xã
hội cho người nghèo vay vốn ưu đãi, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam luôn lồng
ghép chương trình vay vốn với các hoạt động Hội nhằm hỗ trợ tốt nhất cho thành
viên vay vốn. Đây là một trong những hoạt động được các chính quyền địa phương
và cộng đồng đánh giá cao. Chương trình khơng chỉ đã mang lại hiệu quả thiết thực
cho phụ nữ nghèo phát triển kinh tế, cải thiện đời Sống vật chất, tinh thần
Cùng với làm tốt cơng tác tín dụng, các cấp Hội đã lồng ghép các hoạt động
Hội để đảm bảo duy trì tín dụng bền vững như : tuyên truyền vận động chị cm vay
vốn đăng ký thoát nghèo, chủ động làm kinh tế, không ỷ lại ; củng cố tổ chức tổ
vay vốn; tập huấn nghiệp vụ, chính sách mới ; vận động tiết kiệm, phân cơng cán
bộ theo dõi địa bàn, tập trung cao ở địa bàn có nợ q hạn tăng cao số dư tín dụng
giảm hoặc giải ngân không đúng kế hoạch, tăng cường kiểm tra giám sát, gắn kết
các giải pháp hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế : hướng dẫn bình. xét đảm bảo công
khai, dân chủ, đúng đối tượng….
Hoạt động tín dụng được chị em hướng ứng tích cực. Tính đến 30/6/2015, số dư
tiết kiệm tại Ngân hàng chính sách xã hội đạt gần 1.500 tỷ, chiếm 23,4 % tổng huy
động tiết kiệm của Hội với trên 1,863 ngàn hội viên của 60,583 chi, tổ nhóm tín
dụng tham gia.
Năm năm qua, trên 2,7 triệu lượt hộ nghèo được các cấp Hội giúp đỡ, trong đó
gần 450.000 hộ do phụ nữ làm chủ đã thoát nghèo ; hỗ trợ xây dựng và sửa chữa
22