PHÒNG GD&ĐT TP HUẾ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Trường Tiểu học Thuận Thành
Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
Thuận Thành, ngày 12 tháng 05 năm 2021
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
- Họ và tên:
TƠN NỮ KIM NHẬT
Nam/ nữ: Nữ
- Trình độ chun mơn nghiệp vụ: Đại học Sư phạm, Đại học Ngoại ngữ
- Chức vụ ( Đảng, Chính quyền, đồn thể): Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam,
Giáo viên
-Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thuận Thành
- Tên sáng kiến: Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học câu ghép
ở lớp 5
1/ Lý do chọn sáng kiến
Giáo dục Tiểu học có vai trị hết sức quan trọng. Đây là bậc học nền tảng trong hệ
thống Giáo dục phổ thông, do đó cần rất nhiều sự quan tâm của xã hội. Bằng chứng là đã
có nhiều sự đổi mới, cải cách đặc biệt về nội dung lẫn phương pháp dạy học nhằm ngày
càng hoàn thiện và nâng cao chất lượng giáo dục ở Tiểu học, tiêu biểu là việc thay đổi
chương trình sách giáo khoa mới đã bắt đầu được triển khai từ năm học 2020-2021.
Ở bậc Tiểu học, cùng với Tốn, mơn Tiếng Việt có vai trị vơ cùng quan trọng trong
việc hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt để học tập và
giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi, giúp học sinh (HS) có cơ sở tiếp
thu kiến thức các lớp trên. Trong mơn Tiếng Việt thì phân mơn Luyện từ và câu có nhiệm
vụ cung cấp nhiều kiến thức sơ giản về Tiếng Việt trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến việc
rèn luyện cho học sinh các kĩ năng dùng từ, đặt câu, sử dụng dấu câu, bồi dưỡng cho học
sinh thói quen dùng từ, nói và viết thành câu, có ý thức sử dụng Tiếng Việt có văn hóa
trong giao tiếp.
Qua tìm hiểu một số tài liệu có liên quan và phỏng vấn các giáo viên khối 5, chúng
tôi nhận thấy một số thực trạng dạy và học câu ghép ở lớp 5 như sau:
Trong giờ học Tiếng Việt, đặc biệt trong giờ dạy lý thuyết về câu ghép, giáo viên
thường chú trọng đến hình thành khái niệm về câu ghép, cách nối các vế câu trong câu
ghép mà chưa quan tâm đến việc dạy học sinh kỹ năng thể hiện mối quan hệ giữa những
sự việc nêu ở các vế câu bằng phương tiện ngơn ngữ thích hợp. Nhiều giáo viên thường
1
chỉ chú trọng việc truyền tải nội dung kiến thức mà chưa nắm vững mục đích dạy cho
học sinh kỹ năng để giao tiếp.
Ngữ liệu dạy câu ghép trong SGK chưa gây được hứng thú với HS, một số lệnh bài
tập cịn mơ hồ, khơng phù hợp với trình độ của HS. Đặc biệt hệ thống các bài học câu
ghép được bố trí xen kẽ giữa các tuần nên việc hệ thống hóa kiến thức cịn gặp nhiều
khó khăn
Trong các tiết học, nhiều GV dự kiến trước các câu trả lời của HS, nhưng chủ yếu
theo sách giáo viên (SGV), chưa sinh động như thực tế giao tiếp của HS nên gặp trở ngại
khi các em trả lời hoặc trả lời khơng đúng dự kiến của mình.
Rất ít GV nghiên cứu các tài liệu khác ngoài SGV khi chuẩn bị giáo án do phải dạy
nhiều môn, không đủ thời gian nghiên cứu sâu từng bài cũng như chưa chú ý nhiều đến
việc phân loại đối tượng học sinh, chú trọng dạy câu ghép theo hướng phát triển năng lực
của học sinh.
Đa phần các GV chủ yếu dạy học theo phương pháp truyền thống, thuyết trình, vấn đáp,
thảo luận nhóm, một số sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học. Đó là chưa kể những
giáo viên ở các trường khơng có điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo thì chủ yếu chỉ ghi chép
lên bảng.Việc sử dụng trò chơi còn ở mức đơn giản, GV chưa ứng dụng những phương
pháp, kĩ thuật dạy học tích cực như kĩ thuật mảnh ghép, sơ đồ tư duy “mindmap” hay mơ
hình graph để hệ thống hóa kiến thức, ... dẫn đến hiệu quả dạy học chưa cao, chưa phát
huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh.
Về học sinh, rất nhiều em phân biệt mục đích diễn đạt của câu ghép căn cứ vào
những dấu hiệu hình thức như dấu câu, các quan hệ từ trong câu, trong khi đó cần phải
dựa vào nội dung, mục đích giao tiếp để phân biệt mục đích diễn đạt của câu ghép.
Nhiều HS cũng chưa xác định đúng các vế câu ghép và chưa tạo lập được câu ghép đúng
mục đích theo yêu cầu bài tập. Đặc biệt nhiều em còn nhầm lẫn giữa câu đơn mở rộng
thành phần có các bộ phận song song với câu ghép.
Xuất phát từ những lí do trên, bản thân tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến “Một số biện
pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học câu ghép lớp 5”, nhằm giúp việc dạy câu
ghép nói riêng và dạy học Luyện từ và câu lớp 5 nói chung có hiệu quả và chất lượng theo hướng
đổi mới, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa giáo dục theo hướng “lấy người học là trung tâm” dựa trên
định hướng dạy Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp.
2
2. Giải quyết vấn đề- Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học câu
ghép lớp 5
2.1 Dạy câu ghép theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, dạy học theo
quan điểm giao tiếp
Dựa vào mục tiêu, nội dung và đặc điểm tâm sinh lý của HS, GV cần lựa chọn các
phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp. Cần sử dụng những PPDH phát huy
tính tích cực của HS, các PP đặc trưng của mơn tiếng Việt: PP phân tích ngơn ngữ, PP
luyện tập theo mẫu, PP giao tiếp (đọc, viết, nghe, nói trong các tình huống giao tiếp cụ
thể), PP thảo luận nhóm,…Ngồi ra, có thể lựa chọn nhiều PPDH khác gây được hứng
thú học tập của các em như: PP đóng vai, phương pháp diễn giảng, phương pháp sử dụng
phương tiện trực quan,…
Để dạy câu ghép theo quan điểm giao tiếp đúng mục đích, đúng định hướng, giáo viên
cần trang bị cho HS cách thức sử dụng tiếng Việt như một công cụ giao tiếp. Dạy câu
ghép phải đảm bảo tính hành dụng, đặt HS trong từng tình huống, hồn cảnh giao tiếp
khác nhau để rèn luyện kỹ năng tạo lập câu ghép và sử dụng câu ghép phù hợp với tình
huống, văn hóa giao tiếp, hình thành và phát triển các kĩ năng tiếng Việt. HS dễ xác định,
nhận biết câu ghép khi nghe, đọc, nói, viết, các em có thể đặt câu ghép rõ nội dung, thể
hiện đúng mối quan hệ giữa những sự vật nêu ở các vế câu bằng phương tiện ngơn
ngữ thích hợp. Cụ thể dạy câu ghép ở Tiểu học phải giúp học sinh phát triển các kĩ
năng sau:
- Kỹ năng nhận biết các kiểu câu ghép.
- Kỹ năng thể hiện mối quan hệ giữa những sự việc nêu ở các vế câu bằng phương
tiện ngơn ngữ thích hợp.
-Kỹ năng tạo lập câu ghép đúng ngữ pháp.
- Kỹ năng sử dụng câu ghép đúng mục đích giao tiếp ngồi thực tiễn
2.2 Sử dụng bản đồ tư duy giúp HS nắm vững kiến thức về câu ghép
Sử dụng Bản đồ tư duy (BĐTD) dưới dạng bản đồ hóa kiến thức mang lại hiệu quả
cao, đơn giản, dễ hiểu, giúp HS nhớ lâu, phát huy tính tích cực của HS, phù hợp với tâm
lý HS; đồng thời giúp HS hiểu sâu bản chất của vấn đề, phát triển tư duy logic, khả năng
phân tích tổng hợp. GV phát huy được tính sáng tạo, tối đa hố khả năng của mỗi HS và
phát huy sức mạnh tập thể. Đồng thời BĐTD rèn cho HS phương pháp tự học khoa học
3
ngay từ bậc tiểu học, giúp HS biết cách ghi chép có hiệu quả và nắm vững ý chính.
2.2.1 Các bước để tạo bản đồ tư duy bằng phần mềm Mindmap Mindmanager 21
Có thể thiết kế BĐTD bằng nhiều phần mềm (PM) như Mindjet Mindmanager, Freemind ,
Microsoft Office PowerPoint ,...Căn cứ những ưu điểm vượt trội của từng PM, tôi
quyết định lựa chọn và thiết kế bằng PM Mindmanager 21.
Bước 1: Tìm hiểu mục tiêu và lựa chọn nội dung
* Tìm hiểu mục tiêu bài học và xác định mục tiêu thiết kế
* Lựa chọn nội dung: Lựa chọn các thơng tin có mối liên hệ cấp bậc với nhau, cần
tổng hợp, hệ thống hoá. Trong phần câu ghép lớp 5 có thể thiết kế BĐTD ở tất cả các
bài, tùy nội dung mà lựa chọn thời điểm phù hợp: hình thành kiến thức mới, luyện
tập, thực hành hay hỗ trợ HS hệ thống hóa kiến thức.
Bước 2: Thiết kế bản đồ tư duy
* Hình thành ý tưởng: Tiến hành tìm hiểu, đưa ra các bước thực hiện thích hợp
* Sưu tầm và xử lí các tài liệu liên quan: xây dựng hoặc tìm kiếm hình ảnh, biểu tượng
dùng để thiết kế lưu ở thư mục
* Thiết kế: Gõ google, download phần mềm (PM) về máy tính với đường dẫn an toàn
sau: .
-Vào File/ New/ xuất hiện cửa sổ, chọn 1 bố cục trong nhiều bố cục phong phú (thuận
tiện cho ý đồ dạy). Ở đây nên chọn Right map
-Chọn tạo biểu đồ create map/ central topic/ gõ tên chủ đề trung tâm
-Kích vào dấu + bên phải central topic/ sẽ xuất hiện nhánh chính(main topic), gõ tên tiêu
đề nhánh chính
-Kích tiếp vào dấu + bên phải tiêu đề nhánh chính (main topic) sẽ xuất hiện subtopic
(nhánh phụ), gõ tên tiêu đề nhánh phụ
-Muốn tạo thêm nhánh phụ từ nhánh chính nào, ta lại tiếp tục kích vào dấu + bên phải
tên nhánh chính chứa nhánh phụ cần tạo; thực hiện tương tự với các nhánh còn lại
-Để tạo các nhánh con nhỏ hơn, kích vào dấu cộng ở nhánh phụ (subtopic). Tiếp tục thao
tác tương tự với các nhánh cấp thấp hơn.
-Để chỉnh sửa nội dung nhánh nào, chỉ cần kích vào nhánh đó, xuất hiện 4 dấu + và thay đổi
- Thay đổi kích cỡ các nhánh, kích tên nhánh, xuất hiện 4 dấu + hoặc ↔ để điều chỉnh
-Để xóa nhánh cũ, kích phải nhánh/ chọn delete Topic and subtopics (Xóa tên tiêu đề và
nhánh phụ)
- Chèn biểu tượng hoặc hình ảnh: Insert/ Icon hoặc Insert/ image
4
*Định dạng khác tương tự trong Word: Vào Format
+ chọn màu chữ : kích A
+ Chọn hình dạng chủ đề: chọn Topic
+ Màu nền: Fill color
shape
+ Đường viền: Line color
Bước 3: Lưu file: vào menu File > Save, chọn một trong những định dạng lưu mà chương
trình hỗ trợ.
Bước 4: Xuất BĐTD : có 2 dạng
+ Xuất BDTD thành ảnh: File/ export/ image: có thể in cho HS học
+ Xuất BĐTD thành Word dễ dàng, chuyển sang dạng ảnh và trình bày như văn bản phân
cấp thành các đề mục như bản đồ tư duy đã soạn thảo.
2.2.2 Vận dụng bản đồ tư duy vào tiết dạy câu ghép
Hình thành kiến thức mới
Thông qua hệ thống câu hỏi mà GV đã chuẩn bị, GV có thể sử dụng BĐTD để triển
khai dần thứ tự nội dung của bài học. Theo đó mạch kiến thức của bài học sẽ dần được
hé mở cho đến hết bài.
Ví dụ: Dạy bài “ Nối các vế bằng quan hệ từ” trang 32 . GV sau khi cho HS tìm hiểu
phần nhận xét và gọi 1 HS đọc ghi nhớ, chiếu BĐTD sau:
-Yêu cầu 1-2 HS dựa vào BĐTD đọc lại ghi nhớ
-Gọi 1-2 HS đặt câu ghép có sử dụng 1 QHT
- Tương tự cho HS đặt câu ghép có sử dụng các cặp QHT cịn lại. Gv có thể gợi ý nội
dung giao tiếp để H đặt hay hơn
-GV chốt lại toàn bộ kiến thức và mở rộng thêm kiến thức cho HS bằng phần lưu ý phân
biệt ý nghĩa biểu thị cũng như cách dung 3 quan hệ từ “do, tại, nhờ” để HS đặt câu phù
hợp .
Tương tự, để dạy kiến thức mới phần ghi nhớ hoặc củng cố kiến thức các bài “Nối các
vế câu ghép bằng quan hệ từ” trang 38,44, 54, hay “Nối các vế câu ghép bằng cặp từ hơ
ứng” trang 64, ta chỉ việc kích vào các nút trịn sau mỗi nhánh thì các nhánh con sẽ xuất
hiện. Dưới đây là hình ảnh BĐTD tơi đã thiết kế hoàn chỉnh để dạy bài Nối các vế
câu ghép bằng quan hệ từ (trang 32).
5
6
Luyện tập, thực hành: GV có thể sử dụng BĐTD trong quá trình luyện tập, củng
cố nhằm giúp các em nhớ lại lí thuyết đã học nhanh chóng, hoặc hướng dẫn HS trong
quá trình làm bài hiệu quả hơn.
Hệ thống hố kiến thức
Thay vì phải đọc thuộc những ghi nhớ từ dòng này qua dòng khác, GV tận dụng sức
mạnh của BĐTD để thể hiện tổng quát, đầy đủ nội dung kiến thức muốn truyền đạt, giúp
HS tiết kiệm nhiều thời gian học ở nhà, nắm chắc kiến thức. BĐTD không chỉ áp dụng
được sau từng bài học riêng lẻ, mà cịn hệ thống hố lượng lớn kiến thức, một nhóm các
bài học liên quan.
Chẳng hạn, sử dụng BĐTD để luyện tập, củng cố hoặc hệ thống toàn bộ kiến thức đã
học về câu ghép vào các tiết tăng hoặc ôn thi giữa kì, cuối kì II. Cần ôn mục nào, ta chỉ
cần kích vào nút hình trịn của mỗi nhánh tương tự như phần hình thành kiến thức mới.
Bất kì GV dạy lớp 5 nào cũng có thể sử dụng BĐTD mà tôi đã thiết kế để vận dụng
vào dạy học 8 bài liên quan nội dung câu ghép, chỉ cần lưu file về. Tất cả hướng dẫn
sử dụng và sản phẩm BĐTD tôi đã thiết kế đều lưu tại đĩa CD đi kèm sáng kiến.
Dưới đây là BĐTD hệ thống kiến thức toàn bộ câu ghép lớp 5 ở dạng cơ đọng và
BĐTD hệ thống hóa kiến thức chi tiết về câu ghép lớp 5 với các ví dụ
hay, mang tính giáo d ục, gần gũi thực tiễn giao tiếp của các em.
7
8
Lưu ý về dạy BĐTD theo hướng phân hóa đối tượng:
Đối với HS trung bình: Tập cho HS có thói quen tự ghi chép, tổng kết sau mỗi phần
ghi nhớ trong các tiết học về câu ghép. Ban đầu, GV cho các em làm quen với một số BĐTD
có sẵn, sau đó tập cho các em vẽ các từ khóa trung tâm, thông qua việc đặt ra các câu hỏi
gợi ý để các em tiếp tục vẽ ra các nhánh cấp 1, cấp 2, cấp 3… Hướng dẫn, gợi ý để các em
vẽ BĐTD vào một trang giấy kèm theo các biểu tượng giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến
thức khi cần.
Đối với HS khá giỏi: Sử dụng BĐTD để cả nhóm tìm cách giải quyết vấn đề hoặc
hệ thống hóa tồn bộ kiến thức về câu ghép. Sau khi mỗi nhóm “vẽ” xong, đại diện mỗi
nhóm hoặc một số thành viên trong mỗi nhóm “thuyết trình” BĐTD cho cả lớp nghe để
thảo luận, góp ý, bổ sung .
2.3 Hướng dẫn học sinh phân biệt các kiểu cấu trúc của câu đơn mở rộng thành
phần với câu ghép để tránh nhầm lẫn.
Việc HS nhầm lẫn giữa câu đơn mở rộng các thành phần với câu ghép diễn ra khá phổ
biến ở Tiểu học. Để giúp HS khắc phục điều này, GV cần giới thiệu các kiểu câu đơn
trong các tiết ơn Tiếng Việt, từ đó nhắc lại các kiến thức liên quan khi gặp phải những
câu đơn mở rộng xuất hiện trong sách giáo khoa, đồng thời cần tăng cường hệ thống bài
tập giúp HS phân biệt hiệu quả.
2.3.1 Giúp HS nắm vững cấu trúc các kiểu câu đơn dễ nhầm với câu ghép
Câu đơn : gồm một nịng cốt câu (bao gồm 2 bộ phận chính là chủ ngữ (CN) và vị ngữ
(VN).
Ngồi ra có 3 kiểu câu đơn mở rộng thành phần khá dài mà HS dễ nhầm với câu ghép
và một số trường hợp khác cần chú ý gồm:
a/ Câu đơn có nhiều bộ phận song song (BPSS) cùng giữ chức vụ CN
CN + CN + …. + VN
VD1: Hoa lá, quả chín, những vạt nấm ẩm ướt và con suối chảy thầm dưới chân / đua
nhau tỏa hương. (CN,CN,CN,CN +VN)
VD2: Ngoài suối, trên mấy cành cây cao, tiếng chim, tiếng ve/ cất lên inh ỏi, râm ran.
(TN, TN, CN, CN, VN)
VD3: Buổi sáng, núi đồi, thung lũng, làng bản / chìm trong biển mây mù.
(TN, CN, CN, CN+ VN)
9
b/ Câu đơn có nhiều BPSS cùng giữ chức vụ VN
CN + VN + VN + …..
VD1: Ánh nắng ban mai/ trải xuống cánh đồng vàng óng, xua tan dần hơi lạnh đầu
đông. (CN + VN, VN)
VD2: Xuân về, những chồi non /chồng tỉnh giấc, ngỡ ngàng nhìn khung trời mới
lạ.(CN + VN , VN)
VD3: Đến cuối thu, bàng / cởi bỏ chiếc áo choàng, hiên ngang vươn cao những cánh
tay gầy guộc, đón chào cái lạnh đầu đơng. ( TN, CN + VN,VN, VN)
c/ Câu đơn có nhiều BPSS vừa giữ năng CN, vừa giữ chức năng VN
CN + CN + …. + VN + VN + …..
VD1: Vườn bà ngoại, vườn nhà chị Út lúc nào cũng xanh tươi bốn mùa và có nhiều hoa
thơm quả ngọt. (CN, CN + VN, VN)
VD2:Nam , anh Tư ,chị Sáu, những người trong xóm/ la to, cố gắng chạy khỏi đám
cháy một cách nhanh nhất. (CN, CN, CN, CN + VN, VN)
d/ Một số câu tuy ngắn tưởng là câu đơn nhưng lại là câu ghép:
VD: Đêm/xuống, mặt trăng/ tròn vành vạnh. (CN + VN , CN + V N)
e/ Câu ghép tỉnh lược chủ ngữ với câu đơn:
Ví dụ: 1.Nếu là chim, tơi sẽ là lồi bồ câu trắng
2.Nếu là hoa, tơi sẽ là một đóa hướng dương
3Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm
4.Là người, tôi sẽ chết cho quê hương
(Bài 1 b, Luyện tập, Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ, trang 39)
Ở câu 1,2,3 bộ phận CN “tơi” bị tỉnh lược nhưng đó đều là câu ghép, đủ 2 vế giả thiết,
vế kết quả. Riêng câu 4 được coi là câu đơn, “là người” là trạng ngữ
2.3.2 Tăng cường hệ thống bài tập chất lượng để phân biệt câu đơn, câu ghép
Dưới đây là một số bài tập mẫu giúp HS rèn luyện kĩ năng phân biệt câu đơn, câu ghép
Câu 1: Hãy cho biết những câu văn sau là câu đơn hay câu ghép. Tìm CN, VN của
chúng.
a/ Ánh nắng ban mai trải xuống cánh đồng vàng óng, xua tan dần hơi lạnh đầu đơng.
b/ Làn gió nhẹ chạy qua, những chiếc lá lay động như những đốm lửa vàng, lửa đỏ bập
bùng cháy.
10
c/Mặt trăng trịn, to và đỏ, từ từ nhơ lên ở chân trời sau rặng tre đen mờ.
d/Nét duyên dáng của Hạ Long chính là cái tươi mát của sóng nước, cái rạng rỡ của
đất trời.
Câu 3. Câu nào dưới đây là câu ghép ? Câu nào là câu ghép, xác định các vế câu ghép
a. Lưng con cào cào và đơi cánh mỏng mảnh của nó tơ màu tía, nom đẹp lạ.
b. Ngày qua, trong sương thu ẩm ướt và mưa rây bụi mùa đông, những chùm hoa khép
miệng bắt đầu kết trái.
c. Sóng nhè nhẹ liếm vào bãi cát, bọt tung trắng xố.
d. Vì những điều đã hứa với cơ giáo, nó quyết tâm học thật giỏi.
e. Khi mặt trời chưa lặn hẳn, mặt trăng đã nhô lên.
g. Khi làng quê tôi đã khuất hẳn, tôi vẫn đăm đắm nhìn theo.
2.4. Tăng cường thảo luận nhóm, áp dụng kĩ thuật mảnh ghép trong dạy câu ghép
nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh
Tăng cường thảo luận nhóm tạo điều kiện hình thành và phát triển ở HS kỹ năng làm
việc, giao tiếp, HS học hỏi lẫn nhau, hợp tác giải quyết vấn đề, phát huy khả năng độc
lập suy nghĩ và sáng tạo. Trong dạy học câu ghép, thảo luận nhóm có thể được tiến hành
ở phần hình thành kiến thức mới và bài tập luyện tập. “Kĩ thuật mảnh ghép” là một trong
những kĩ thuật dạy học tích cực, GV tổ chức hoạt động học tập hợp tác kết hợp giữa cá
nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm, giúp HS hiểu rõ nội dung kiến thức, phát triển
kĩ năng trình bày, giao tiếp hợp tác; thể hiện khả năng, năng lực cá nhân, tăng cường
hiệu quả học tập.
*Cách tiến hành:
Giai đoạn 1: “Nhóm chuyên sâu”
Chia lớp thành các nhóm chuyên sâu (3-6 học sinh). Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ
nghiên cứu sâu một phần nội dung khác nhau, yêu cầu mỗi thành viên đều nắm vững và có
11
khả năng trình bày lại được nội dung, mỗi HS trở thành “chuyên sâu” của lĩnh vực đã tìm
hiểu trong nhóm mới ở giai đoạn tiếp theo.
Giai đoạn 2: “Nhóm mảnh ghép”
-Mỗi học sinh từ các nhóm “chuyên sâu” khác nhau hợp lại thành các nhóm mới, gọi là
“nhóm mảnh ghép”, đủ tất cả thành viên của nhóm “chuyên sâu”.
- Từng học sinh nhóm “chun sâu” lần lượt trình bày lại nội dung tìm hiểu. “Nhóm mảnh
ghép lắp ghép các mảng kiến thức tổng thể, khái quát toàn bộ nội dung từ các nhóm “chuyên
sâu”.
Cần lưu ý giao nhiệm vụ hết sức cụ thể (trưởng nhóm, thư kí, người phản biện, người liên
lạc với nhóm khác hoặc Gv hỗ trợ), nêu thời gian, khi học sinh thực hiện nhiệm vụ tại các
nhóm “chuyên sâu”, giáo viên cần quan sát và hỗ trợ kịp thời để đảm bảo hiệu quả hoạt
động nhóm.
Ví dụ minh họa áp dụng kĩ thuật mảnh ghép vào dạy bài “ Cách nối các vế câu ghép
“(Tiếng Việt 5, tập 2, trang 12) ở phần II/ Luyện tập
-Giai đoạn 1: GV chia lớp thành 6 nhóm yêu cầu các nhóm dựa vào sgk kết hợp hiểu biết
của bản thân và quan sát hình ảnh trên máy làm vào phiếu học tập.
Nhóm 1,2: Tìm và ghi vào phiếu câu ghép, gạch chân các vế câu ghép, nêu cách nối
các vế câu ghép trong đoạn a. (Phiếu 1 a)
Đoạn a
Câu ghép và các vế câu
Cách nối các vế câu ghép
Tương tự nhóm 3,4: đoạn b, nhóm 5,6 đoạn c
- Giai đoạn 2: Sau 3 phút GV yêu cầu các nhóm 1 và 2; 3 và 4; 5 và 6 quay lại tạo thành
4 nhóm mới và thảo luận thống nhất nội dung vào phiếu học tập lớn
+GV giao nhiệm vụ mới: Có mấy cách nối các vế câu ghép tìm thấy ở ba đoạn a,b,c?
- Sau 3 phút đại diện các nhóm lên báo cáo, các nhóm khác nhận xét bổ sung.
- GV chốt kiến thức:
Các câu ghép và các vế câu
Đoạn a
Cách nối các vế câu ghép
Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng 4 vế câu nối với nhau trực tiếp,
(2 trạng ngữ) thì tinh thần ấy lại sơi nổi, / nó giữa các vế có dấu phẩy.
kết thành một làn sóng vơ cùng mạnh mẽ, to
lớn,/ nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn,
nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước.
12
Đoạn b
Nó nghiến răng ken két, nó cưỡng lại anh,
nó không chịu khuất phục.
3 vế câu nối với nhau trực tiếp,
giữa các vế câu có dấu phẩy
Đoạn c
Chiếc lá thống tròng trành, chú nhái bén loay Vế 1 và vế 2 nối nhau trực tiếp,
hoay cố giữ thăng bằng/ rồi chiếc thuyền đỏ giữa 2 vế có dấu phẩy. Vế 2
thắm lặng lẽ xi dịng.
nối với vế 3 bằng quan hệ từ
“rồi”.
-Đại diện nhóm mảnh ghép báo cáo kết quả thảo luận nhiệm vụ mới:
-Có 2 cách nối các vế câu ghép trong bài tập 1:
+Nối trực tiếp bằng dấu phẩy và Nối bằng từ nối: quan hệ từ “rồi”
-GV bổ sung thêm kiến thức:Từ “thì” trong đoạn a nối trạng ngữ với các vế câu chứ không
phải nối hai vế câu trong câu ghép. Khi xác định các vế câu, nhớ để ý các trạng ngữ để
tránh nhầm.
Một số nội dung có thể áp dụng kĩ thuật mảnh ghép: tìm hiểu phần Nhận xét các bài : Cách
nối các vế câu ghép (trang 12), Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ , (trang 21), Nối các
vế câu ghép bằng quan hệ từ (trang 44) hoặc các tiết tăng có nội dung nâng cao, mở rộng
kiến thức như phân biệt các câu đơn và câu ghép dễ lẫn.
2.5 Đa dạng hóa các trị chơi trong dạy học câu ghép
Trò chơi học tập rất phù hợp với đặc điểm lứa tuổi HS tiểu học, khơng chỉ mang tính
giải trí mà cịn góp phần củng cố tri thức, kỹ năng đã học, giúp khơng khí lớp học thoải
mái, dễ chịu hơn. HS lựa chọn cho mình cách ứng xử đúng đắn, phù hợp trong tình huống,
hình thành năng lực quan sát, kỹ năng nhận xét, đánh giá. Từ đó các em u thích mơn học
hơn, tăng cường khả năng giao tiếp giữa GV với HS, giữa HS với HS. GV cần lưu ý mục
đích trị chơi phải giúp củng cố kiến thức về câu ghép, rèn luyện kỹ năng sử dụng câu ghép
trong giao tiếp. Hình thức cần đa dạng, phong phú, phối hợp được nhiều cơ quan vận động
và giác quan của HS; cách chơi đơn giản, dễ thực hiện; thưởng phạt phải cơng minh, có
sức thu hút và không nên lạm dụng PP này.Tôi xin giới thiệu một số trị chơi mà tơi đã thiết
kế và áp dụng có hiệu quả tại lớp.
Trị chơi 1: Thi đặt câu ghép: tiến hành sau khi học xong bài “ Câu ghép, trang 8, sử
dụng tên gọi khác nhau như “ Ai nhanh hơn” Hay “Truyền điện”. Yêu cầu HS đặt câu
ghép theo nội dung cho trước, chẳng hạn: Nói về việc giữ gìn tình bạn thân thiết
Hoặc “Đặt câu ghép theo tranh” (GV chuẩn bị 1 tranh phóng to có nội dung gần gũi với
cuộc sống của học sinh): rèn kĩ năng tìm từ, đặt câu ghép đúng ngữ pháp, khả năng quan
13
sát. Đội nào viết được nhiều câu ghép đúng ngữ pháp, dùng từ diễn tả đúng nội dung trong
tranh, đội đó sẽ thắng.
*Trị chơi 2: Chiếc nón kỳ diệu: nhằm luyện tập kĩ năng tạo câu ghép bằng cách thêm
vào một vế câu, củng cố kiến thức về câu ghép. GV chuẩn bị sẵn một loạt các câu ghép đã
được viết sẵn một vế câu bỏ vào một chiếc nón.
Tổ chức thi đua giữa các nhóm, các nhóm phải đọc ra được câu ghép hoàn chỉnh đúng ngữ
pháp, hợp với nội dung của vế câu.
*Trị chơi 3: Rung chng vàng: Tổ chức vào các tiết tăng với hệ thống câu hỏi trắc
nghiệm về câu ghép từ đơn giản đến nâng cao, soạn bằng phần mềm MS Powerpoint nhằm
chọn ra HS xuất sắc nhất rung chng.
Lưu ý: Sau mỗi trị chơi cần đánh giá, động viên, khen thưởng “sao điểm tốt”, tặng kẹo
cho cho các em. Nếu trong quá trình chơi có nhiều em đặt câu ghép hay, nhớ kiến thức
tốt hoặc có những em có tiến bộ rõ rêt, tơi sẽ tặng thư khen.
2.6 Mở rộng kiến thức, tăng cường hệ thống bài tập về câu ghép theo định hướng
giao tiếp
Đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực của HS, GV cần chú ý dạy học theo hướng phân
hóa đối tượng và dạy câu ghép theo quan điểm giao tiếp. Chúng tôi đề xuất bổ sung một
số kiến thức và xây dựng hệ thống bài tập theo quan điểm giao tiếp, góp phần phân hóa học
sinh gồm:
*Bài Câu ghép ( Tuần 19, trang 8): Phần Nhận xét chỉ đưa ra những câu ghép có
hai vế câu và phần Luyện tập chưa có nội dung cho HS thực hành đặt câu ghép theo tình
huống. Do vậy, tơi đề nghị bổ sung thêm bài tập để giúp HS hiểu thêm câu ghép có thể
do ba, bốn,.. vế câu tạo thành và sự cần thiết khi phải có câu ghép.Chẳng hạn: Đặt câu
ghép theo nội dung các bức ảnh sau:
.
A
B
14
Dựa vào nội dung 2 bức ảnh trên, HS có thể đặt ra rất nhiều câu ghép như:
1/Vì nạn chặt phá rừng bừa bãi diễn ra ngày càng nhiều nên diện tích rừng bị suy giảm
nghiêm trọng.
2/ Vì rừng là lá phổi xanh của nhân loại nên chúng ta cần tích cực tun truyền, bảo vệ rừng.
GV hỏi: Có thể ghép các câu ghép trên thành một câu ghép được khơng? Vì sao?
Sau đó u cầu HS tìm CN, VN trong mỗi vế câu ghép. Từ đó kết luận câu trên gồm 3 vế
câu ghép và mối quan hệ chặt chẽ giữa các vế câu.
*Bài Cách nối các vế câu ghép (Tuần 19, trang 10): Phần Luyện tập có thể bổ sung
thêm bài tập giúp HS thực hành nối các vế câu ghép bằng một trong hai cách
BT: Tìm các từ nối hoặc dấu câu thích hợp để điền vào ô trống:
a/ Gió thổi ào ào□ cây cối nghiêng ngả□ bụi cuốn mịt mù□ một trận mưa ập tới.
b/ Trong vườn, ánh trăng chiếu sáng trên các vòm lá□ vạn vật đang say ngủ.
c/ Những chú dơi bay lượn khắp vườn□ bác đom đóm ngồi chong đèn học bài.
d/ Mình khơng đạt học sinh giỏi cấp huyện□ mình rất ham chơi.
Gợi ý : a/ Điền dấu phẩy, dấu phẩy, dấu phẩy (hoặc từ “và”).
b/ Điền dấu phẩy (hoặc từ “và”); c/ Điền từ “cịn” ; d/ Điền từ “vì”.
*Bài Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ - Tuần 20, trang 21
Bổ sung bài tập đặt câu ghép có sử dụng quan hệ từ hoặc cặp quan hệ từ vì chưa có.
BT: Hãy đặt câu ghép với những quan hệ từ, cặp quan hệ từ sau:
a/...........thì.....
b/......và........
c/ Vì......nên
d/ Nhờ....mà
Gợi ý:
a/ Em đang chơi ngồi sân thì một cơn mưa chợt đến.
b/ Trong lớp em, bạn Phương Trinh học giỏi nhất Tiếng Việt và bạn Tịnh Thy giỏi nhất Tốn.
c/ Vì cô giáo ốm nên cả lớp rất lo lắng.
d/ Nhờ chị ấy hướng dẫn nhiệt tình mà cậu ấy đã biết cách làm bài toán.
*Bài Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ - Tuần 21, trang 32
Bổ sung bài tập sử dụng câu ghép trong các tình huống quen thuộc với các em như sau:
Hãy đặt 4 câu ghép chỉ nguyên nhân-kết quả nói về chủ đề học tập ở lớp em /về biến đổi
khí hậu/ dịch bệnh Covid 19.
Gợi ý:
Vì nhiều người chủ quan nên dịch bệnh càng ngày càng bùng phát.
Vì các y bác sĩ tuyến đầu đang nỗ lực cứu chữa bệnh nhân nên mọi người đều rất cảm
phục tấm lòng của họ.
*Bài Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ - Tuần 22, trang 38
Vì phần nhận xét chưa có ngữ liệu biểu thị quan hệ giả thiết- kết quả nên tôi đề xuất bổ
sung bài tập sau:
BT: Cặp quan hệ từ trong câu sau biểu thị quan hệ gì?
“Nếu thời gian có thể quay trở lại, em sẽ không bao giờ từ bỏ ước mơ của mình.”
-Nhiều em chưa phân biệt thế nào là giả thiết, thế nào là điều kiện và cần lưu ý trường hợp
đảo vế kết quả lên trước vế giả thiết-điều kiện. Vì vậy, có thể bổ sung ghi nhớ: “Đối với
15
các câu ghép được nối bởi các quan hệ từ hoặc cặp quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện
(giả thiết)–kết quả, các vế câu có thể đảo vị trí, các cặp quan hệ từ có thể tỉnh lược một yếu
tố. Giả thiết là những cái chưa xảy ra hoặc khó xảy ra ; cịn điều kiện là những cái có thể
có thực, có thể xảy ra”.
*Bài “Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ” - Tuần 22, trang 44
Cần bổ sung bài tập giúp HS sử dụng đúng quan hệ từ và biết đặt câu ghép chỉ quan hệ
tương phản vào các tiết tăng. Chẳng hạn: Tìm quan hệ từ hoặc cặp quan hệ từ điền vào chỗ
trống để tạo ra câu ghép biểu thị quan hệ tương phản:
a/ … ai nói ngả nói nghiêng
Lịng ta vẫn vững như kiềng ba chân.
b) ............ mọi người hết lòng động viên ............. nước mắt cô ấy cứ tuôn trào.
c/........gia đình gặp nhiều khó khăn.......bạn Nam vẫn phấn đấu học tốt.
d/............... ông nội tôi tuy đã 86 tuổi ....sáng nào ông cũng chạy tập thể dục từ công viên
Thương Bạc lên cầu Dã Viên.
Gợi ý: a/ Dù ai nói ngả nói nghiêng
Lịng ta vẫn vững như kiềng ba chân
b) Tuy mọi người hết lịng động viên nhưng nước mắt cơ ấy cứ tn trào.
c/ Tuy gia đình gặp nhiều khó khăn nhưng bạn Nam vẫn phấn đấu học tốt.
d/Mặc dù ông nội tôi đã 86 tuổi nhưng sáng nào ông cũng chạy tập thể dục từ công viên
Thương Bạc lên cầu Dã Viên.
Hiệu quả sáng kiến
Sau khi vận dụng một số PPDH, kĩ thuật dạy học tích cực như bản đồ tư duy, kĩ thuật
mảnh ghép, các trò chơi học tập, đặc biệt là kĩ năng phân biệt câu đơn và câu ghép, bổ
sung kiến thức cũng như đa dạng hóa hệ thống bài tập về câu ghép theo quan điểm giao
tiếp thì chất lượng học sinh được cải thiện rõ rệt về kiến thức và kĩ năng, nhiều em có rất
hứng thú, có ý thức, tích cực rèn luyện các kỹ năng ngôn ngữ trong giao tiếp. Đặc biệt về
kĩ thuật sơ đồ tư duy, tôi đã xuất bản đĩa CD gồm hướng dẫn cài đặt phần mềm
MindManager 21 và mở File bản đồ tư duy câu ghép để dạy trực tiếp trên lớp hoặc GV có
thể sao lưu, gửi mail dễ dàng. Cụ thể, qua theo dõi các tuần học, tính hiệu quả của sáng
kiến biểu hiện qua các bảng thống kê sau:
Kĩ năng
Thể hiện mối quan hệ
Nhận biết các kiểu
câu ghép.
giữa những sự việc nêu
ở các vế câu bằng
Tạo lập câu ghép
đúng ngữ pháp.
phương tiện ngôn ngữ
Sử dụng câu ghép
đúng mục đích giao
tiếp ngồi thực tiễn
thích hợp.
Thời gian
T
H
C
T
H
C
T
H
C
T
H
C
Tháng thứ nhất
20/29
8/29
1/29
22/29
6/29
1/29
25/29
4/29
0
20/29
8/29
1/29
(Tuần19 - 22)
69%
27,6%
3,4 %
75,9%
20,7 %
3,4%
86,2 %
13,8%
0
69%
27,6 %
3,4%
Tháng thứ hai
23/29
5/29
1/29
24/29
4/29
1/29
26/29
3/29
0
23/29
6/29
0
(Tuần 23 - 26)
79,3%
17,3
3,4%
82,8%
13,8%
3,4%
89,7%
10,3%
0%
79,3%
20,7%
0%
16
Tháng thứ ba
25/29
4/29
0
26/29
4/29
0
27/29
2/29
0
25/29
4/29
0
(tuần 27 - 30)
86,2 %
13,8%
0%
89,7%
13,8%
0%
93,1%
6,9%
0%
86,2 %
13,8%
0%
Tháng thứ tư
28/29
1/29
0
28/29
1/29
0
29/29
0
0
27/29
2/29
0
(Tuần 31- 34)
96,6%
3,4%
0%
96,6 %
3,4%
0%
100%
0%
0%
93,1%
6,9%
0%
Kết quả 4 tháng đánh giá cho thấy các em tiến bộ rõ rệt ở 4 kĩ năng cần đạt khi học câu ghép, tỉ
lệ tốt đạt trên 90 %, khơng có em nào chưa hồn thành. Ngồi ra, tỉ lệ học sinh làm đúng câu
hỏi về câu ghép ở bài kiểm tra giữa học kì II và cuối kì II đều đạt tỉ lệ đúng cao. Giữa học
kì II: trên 88 % HS làm đúng, cuối học kì II: 93 % HS làm đúng.
Đặc biệt vừa qua, em Nguyễn Lê Phương Trinh đạt giải Ba cấp cơ sở và thành tích xuất
sắc trong hội thi Hương (cấp thành phố) “Trạng Nguyên Tiếng Việt”, trong đó có gần 30%
nội dung câu hỏi liên quan đến câu ghép em đều hoàn thành tốt.
* Đánh giá về mức độ hứng thú học tập của HS lớp 5/4 thu được kết quả sau:
Mức độ hứng thú học tập của học sinh lớp 5/4 khi học câu ghép
Thích
Bình thường
Khơng thích
SL
Tỉ lệ
SL
Tỉ lệ
SL
Tỉ lệ
26
89,6 %
3
10,3 %
0
0%
Ghi chú:
-Mức độ thích: chăm chú nghe giảng, hăng hái phát biểu, khơng làm việc riêng
-Mức độ bình thường: nghe cô giáo giảng, phát biểu ý kiến, không nói chuyện
-Mức độ khơng thích: khơng chú ý nghe giảng, không hứng thú, làm việc riêng
Bảng số liệu cho thấy, tỷ lệ học sinh thích nội dung học tập câu ghép đạt tỉ lệ trên 89 %,
qua đó khẳng định sáng kiến đã phát huy hiệu quả.
Kĩ thuật bản đồ tư duy giúp tối đa hóa q trình ghi nhớ, khắc sâu kiến thức cho các
em, biết cách trình bày khoa học vấn đề, kĩ thuật mảnh ghép giúp phát huy tốt năng lực
cá nhân, khả năng giao tiếp, làm việc nhóm. Hầu hết tất cả các em lúc đầu thấy bỡ ngỡ, lo
lắng nhưng sau một thời gian các em tỏ ra hứng thú, tích cực trong q trình học tập, chủ
động tham gia thực hành các bài tập theo hướng giao tiếp tích cực, thảo luận hiệu quả, trình
bày khá tự tin, phù hợp với thực tiễn.
Sau khi dạy xong BĐTD trên lớp, GV có thể sử dụng file BĐTD đã xuất ra dạng ảnh in
cho HS dán ở góc học tập để ơn tập. Ngồi ra, các trò chơi đầy hào hứng và hệ thống bài
tập tăng cường theo định hướng giao tiếp đa dạng có hiệu quả rõ rệt, Gv phát hiện được một
số HS năng khiếu để bồi dưỡng Tiếng Việt. Bản thân cũng đã chia sẻ trong Tổ 5 để các cô
tham khảo, áp dụng cho HS của mình.
Có thể thấy, khả năng áp dụng sáng kiến rất cao, dễ thực hiện với tất cả giáo viên khối 5
17
nói chung và giáo viên Tiểu học nói riêng. Các giáo viên khối khác có thể tham khảo để
vận dụng thiết kế bản đồ tư duy với các nội dung tương tự ở phân môn LTVC.
3. Kết luận- bài học kinh nghiệm
Để có thể vận dụng hiệu quả sáng kiến “ Một số biện pháp góp phần nâng cao chất
lượng dạy học câu ghép” , tôi xin chia sẻ một số kinh nghiệm như sau:
- Đối với các cấp quản lý giáo dục Sở, Phòng tăng cường bồi dưỡng cơ sở lý luận, quan
điểm dạy học đặc biệt là quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt nói chung và dạy
học câu ghép nói riêng nhằm giúp GV định hướng đúng mục tiêu dạy học của cấp học.
- Đối với các trường, lớp dạy học 2 buổi/ngày: Ban Giám Hiệu các trường nên hướng dẫn
GV tăng cường rèn luyện kỹ năng sử dụng câu ghép thông qua hệ thống bài tập đa dạng ở
các tiết tăng để rèn luyện kỹ năng sử dụng câu ghép cho HS.
-Đối với GV, cần dạy học theo quan điểm giao tiếp, căn cứ vào mục tiêu và trình độ HS
của lớp, GV nghiên cứu kỹ bài trước khi lên lớp, lựa chọn và phối hợp nhiều phương pháp,
hình thức tổ chức dạy học phù hợp .
- Tích cực tham gia các đợt tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên do Sở, Phòng và nhà
trường tổ chức. Giáo viên cần phải tự đổi mới tư duy, tích cực đổi mới sáng tạo trong
dạy học, tìm hiểu các phần mềm, ứng dụng công nghệ thông tin và áp dụng các kĩ thuật
dạy học tích cực khác vào dạy câu ghép nói riêng cũng như phân mơn Luyện từ và câu
nói chung để đa dạng hóa , nâng cao chất lượng dạy học.
- Tăng cường áp dụng kiểm tra, đánh giá theo hướng đổi mới, phát triển năng lực người
học thông qua đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì. Đặc biệt áp dụng “Mẫu ghi
chép sự kiện hằng ngày” được tập huấn ở Modul 3 Bồi dưỡng thường xuyên môn Tiếng
Việt để cập nhật những tiến bộ của học sinh với những nhận xét, ghi chú cụ thể từ đó có
hướng bồi dưỡng học sinh năng khiếu hoặc giúp đỡ học sinh cịn chậm.
- Tích cực động viên học sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng về câu ghép vào giao tiếp,
những tình huống trong cuộc sống, khen ngợi, động viên học sinh dù là tiến bộ nhỏ.
-Luôn học hỏi, chia sẻ, hợp tác với đồng nghiệp trong việc dạy học câu ghép, đúc rút
kinh nghiệm trong quá trình áp dụng để kịp thời điều chỉnh.
18
Trên đây là một số bài học kinh nghiệm mà bản thân rút ra được nhằm góp phần thực
hiện sáng kiến có hiệu quả tốt nhất.
HỘI ĐỒNG XÉT SÁNG KIẾN CỦA ĐƠN VỊ
CƠ SỞ XÁC NHẬN, XẾP LOẠI
NGƯỜI VIẾT SÁNG KIẾN
(Kí tên)
(Ký tên, đóng dấu)
Tơn Nữ Kim Nhật
19