Tải bản đầy đủ (.doc) (35 trang)

VẬN DUNG PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA TRONG dạy học nội DUNG hue (1) (1)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (989.56 KB, 35 trang )

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP VINH
___________________________________________________________

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài:

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP
CÙNG THAM GIA TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG
TOÁN CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU

NĂM HỌC 2019 - 2020


PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP VINH
NĂM HỌC 2019 - 2020

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài:
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA
TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG TOÁN CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU

Giáo viên:
Số điện thoại:
Đơn vị:
Số phách:

Phan Thị Huệ
0949.006.428
Trường Tiểu học Vinh Tân
.....................................



MỤC LỤC


PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục ngày nay được coi là nền móng của sự phát triển kinh tế xã hội,
đem lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế quốc dân. Có thể khẳng định rằng khơng
có giáo dục thì khơng có bất cứ sự phát triển nào đối với con người, đối với kinh
tế, văn hoá. Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy học, nâng cao
chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất cho nhà trường là việc
làm không thể thiếu. Đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh cũng là một trong những giải pháp được
nhiều người quan tâm nhằm đưa các hình thức dạy học mới vào nhà trường. Một
trong những đổi mới dạy học Tốn là khơng q nhấn mạnh lí thuyết mà cần tạo
điều kiện và mơi trường học tập để học sinh được thực hành nhằm phát triển
năng lực tự làm việc bằng trí tuệ cá nhân và hợp tác trong nhóm với sự hỗ trợ
của giáo viên.
Xu hướng gần đây nhất trong giáo dục là tập trung vào các khả năng học
tập của học sinh. Những khả năng này được xác định bởi cơ cấu và sự phát triển
nhận thức, sự hiểu biết xã hội, các kiểu nhận thức và cảm thụ của học sinh.
Chính xu hướng này đã làm nổi bật những mối quan tâm đổi mới trong phương
pháp dạy học. Tại hội nghị Bloom năm 1976 đã nêu lên sự tham gia tích cực của
học sinh trong quá trình học tập là một chỉ số tuyệt vời về chất lượng dạy học.
Chuyển động đều là một dạng tốn điển hình ở lớp 5. Nhiều bài toán hay
về chuyển động thường chỉ mang cái vỏ hình thức “chuyển động đều”, cịn về
mặt tốn học nó chứa đựng nội dung của nhiều loại tốn điển hình khác ở tiểu
học như: Tìm hai số khi biết tổng và hiệu; hiệu và tỉ; tổng và tỉ số; trung
bình cộng; tỉ lệ thuận; tỉ lệ nghịch… và các phương pháp giải toán phong phú
như: giả thiết tạm; dùng chữ thay số, gán giá trị cụ thể để tính giá trị… của
tốn số học.

Biết phân tích bài tốn chuyển động đều thì mới nhận dạng được đặc điểm
tốn học và có phương pháp giải tốn phù hợp, hiệu quả. Vì vậy, các bài tốn
chuyển động đều có tác dụng rất tốt trong việc rèn luyện tư duy logic và kĩ năng
giải toán cho học sinh. Tuy nhiên, qua nhiều năm học được phân công dạy lớp 5.
Tôi nhận thấy đa số học sinh còn yếu và lúng túng khi giải các bài toán về
chuyển động đều. Khi truyền thụ kiến thức cho học sinh tơi ln có ý thức tìm
hiểu xem học sinh của mình cịn yếu về phần kiến thức nào để có biện pháp giúp
đỡ học sinh khắc phục.
Phương pháp cùng tham gia trong dạy học chứa đựng khả năng to lớn
trong việc hình thành ở học sinh kĩ năng nhận dạng đặc điểm toán học, đặc biệt
là tốn chuyển động đều. Chính vì thế, sáng kiến kinh nghiệm này tập trung vào
việc: “Vận dụng phương pháp cùng tham gia trong dạy học nội dung toán
chuyển động đều”.
1


PHẦN II. NỘI DUNG
I. Cơ sở khoa học
1. Cơ sở lí luận
a. Xuất phát điểm của phương pháp
Xuất phát điểm của phương pháp cùng tham gia là phương pháp “nghiên
cứu và hành động cùng tham gia” do Orlando Fals Borda đề xuất ở Colombia
xuất phát từ những tư tưởng của Kurrt Lewin - một người Đức nhập cư tại Hoa
Kì. Lí thuyết của phương pháp dựa vào nguyên tắc của việc học tập thực hành
thông qua suy nghĩ và hành động của học sinh.
Một xuất phát điểm nữa của phương pháp cùng tham gia là phương pháp
trực quan Metalan ở Đức do Eberhard Schnell và đồng nghiệp khắc họa trên cơ
sở trực quan hóa các vấn đề, các nhu cầu và cách giải quyết của học sinh.
b. Cơ sở xây dựng phương pháp cùng tham gia
- Tính năng động của học sinh trong quá trình tham gia vào hoạt động học

tập. Điều này xuất phát từ tính nhân văn trong giảng dạy và học tập, công nhận
các giá trị và quyền của mỗi cá nhân, mỗi nhóm học sinh và văn hóa xuất xứ của
mỗi học sinh, đó là xuất phát điểm của hành động.
- Giáo viên phải có năng lực hướng dẫn, tổ chức các hoạt động cho học
sinh. Hướng dẫn, tổ chức tốt tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động trao đổi giữa
các học sinh, phát huy tính sáng tạo trong suy nghĩ của mỗi học sinh.
- Nhận thức của học sinh cần được tôn trọng và được thoải mái, tự do
truyền đạt với nhau, chọn lọc để tìm ra kết quả tốt nhất.
- Phương pháp diễn giảng một chiều từ thầy đến trò cần được thay thế
bằng phương pháp đối thoại theo chiều ngang giữa thầy với trò hay trò với trò để
chia sẻ nhận thức và những ý tưởng mới.
c. Phương pháp cùng tham gia
* Khái niệm phương pháp cùng tham gia
Phương pháp cùng tham gia là phương pháp mà giáo viên tạo ra môi
trường hoạt động hợp tác giữa giáo
Người học
viên với người học, giữa người học
với người học, dựa vào sự chia sẻ tri
thức. Kinh nghiệm và giá trị giữa các
cá nhân với nhau, tạo ra sự chung sức,
chung tâm trí để giải quyết vấn đề,
nhiệm vụ học tập trong môi trường
Người dạy
Môi trường
nhóm, lớp.
2


* Các tác nhân
Phương pháp cùng tham gia được tạo bởi 3 tác nhân cơ bản: người học,

người dạy và môi trường học tập.
- Người học:
Là đối tượng tham gia vào quá trình nhận thức, đánh giá, xây dựng các
giải pháp chung để đạt được mục đích chung của tập thể và và mục tiêu cá nhân
là hình thành tri thức, kĩ năng, thái độ mới.
Người học với tư cách là đối tượng của hoạt động học, đồng thời là chủ
thể của hoạt động nhận thức, thể hiện tính tự giác, tính tích cực hành động trong
quan hệ với bạn, với thầy, với tài liệu và nội dung bài học để tìm kiếm, chiếm
lĩnh tri thức bằng các thao tác và hành động trí tuệ của chính mình. Người học
có mối quan hệ cộng đồng hợp tác với người dạy và với các thành viên khác
trong nhóm, lớp.
- Người dạy:
Người dạy là người giữ vai trò định hướng, chỉ đạo, tổ chức, điều khiển
người học trong môi trường học tập thuần nhất - mơi trường nhóm, lớp. Giúp
người học nhận thức được cái đích cần hướng tới; chỉ dẫn, dẫn dắt người học đi
tới đích cuối cùng - chiếm lĩnh được tri thức khoa học.
Chức năng chính của người dạy là giúp đỡ người học, hiểu người học,
làm nảy sinh tri thức, kĩ năng, thái độ mới ở người học với tư cách là người
hướng dẫn. Người dạy cần tránh hai thái cực: là người đọc thiết kế bài giảng
trước học sinh hay là người phổ biến khoa học. Mà người dạy phải là người dẫn
dắt người học kiến tạo tri thức mới một cách chủ động, tích cực và vững chắc.
- Mơi trường:
+ Mơi trường là tồn bộ những điều kiện vật chất và tinh thần diễn ra
xung quanh người dạy và người học. Là nơi diễn ra hoạt động dạy của giáo viên
và hoạt động học tập của học sinh.
+ Môi trường sư phạm tốt là môi trường mà người dạy và người học được
tạo điều kiện tốt nhất về vật chất và tinh thần cho hoạt động dạy và hoạt động
học. Trong đó người học được nghe hướng dẫn cách làm, được tự mình làm và
được xem người khác cùng làm, được tự mình đối chiếu với các kết quả của
mình với bạn. Cịn người dạy là người đóng vai trị tổ chức, trợ giúp, chỉ dẫn

người học đi đến mục tiêu cao nhất - chiếm lĩnh tri thức khoa học một cách chủ
động, tích cực.
Trong quá trình dạy học, giáo viên có thể tạo mơi trường học tập tích cực
bằng một số cách sau:
+ Thơng báo cho học sinh về nội dung bài học.
+ Đề ra yêu cầu và nhiệm vụ của người học trong tiết học.
3


+ Sử dụng các thủ thuật “tạo tình huống có vấn đề”, “tấn công não”, xây
dựng hệ thống câu hỏi mang tính có vấn đề cao… để kích thích hứng thú của
người học.
Điều kiện thực hiện các biện pháp trên:
+ Giáo viên cần nắm rõ đặc điểm tâm lí và trình độ nhận thức của học sinh.
+ Có nghệ thuật trong việc xây dựng tình huống và giải quyết tình huống.
+ Có kĩ năng xây dựng kế hoạch bài học.
+ Làm cho học sinh thấy rõ ý nghĩa của bài học đối với chương trình học
tập chung.
+ Xây dựng cho học sinh động cơ và thái độ học tập đúng đắn.
2. Cơ sở thực tiễn
Qua thực tiễn giảng dạy nhiều năm, qua việc tìm hiểu,
nghiên cứu chun mơn tơi nhận thấy:
- Về phía học sinh: Học sinh tiếp cận với tốn chuyển động
đều cịn bỡ ngỡ gặp nhiều khó khăn. Các em chưa nắm vững hệ
thống công thức, chưa nắm được phương pháp giải theo từng
dạng bài khác nhau. Trong q trình giải tốn học sinh cũng sai
lầm khi đổi đơn vị đo thời gian, kĩ năng tính tốn, kĩ năng giải
tốn có lời văn cịn nhầm lẫn. Học sinh trình bày lời giải bài tốn
cịn sai câu trả lời, khơng chặt chẽ, thiếu lơgíc. Một số em chưa
phân biệt rõ thời điểm gặp nhau và thời gian đi được, điều đó

dẫn đến sự nhầm lẫn rất đáng tiếc trong q trình giải tốn.
- Về phía giáo viên: Chưa chú trọng hướng dẫn học sinh
cách giải theo từng dạng bài; khơng chú ý quan tâm rèn kĩ năng
giải tốn một cách toàn diện cho học sinh. Thực tế, giáo viên
chưa biết cách phân loại, tổ chức, hướng dẫn học sinh phát huy,
vận dụng tối đa các kiến thức sẵn có để giải bài toán chuyển
động nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Là một người giáo
viên, trong quá trình dạy học nhiều năm, tơi rất u thích mơn
Tốn phần tốn chuyển động đều. Tôi luôn đặt ra câu hỏi phải
làm gì và làm như thế nào để giúp học sinh khắc phục những
sai sót đó và giúp các em có kỹ năng tính tốn thành thạo phát
huy tính sáng tạo, nhanh nhẹn, luyện trí thơng minh cho học
sinh. Chính vì vậy, tơi rất muốn mang đến cho học sinh của
mình vốn kiến thức phong phú và có hệ thống về mơn Tốn, đặc
biệt tơi muốn mang đến cho các em phương pháp giải tốn
chuyển động một cách khoa học, khơng nhầm lẫn giữa dạng
này với dạng khác. Để làm được việc đó, tơi đã đi sâu vào
nghiên cứu, tìm tịi, sáng tạo để tìm ra đặc điểm của mỗi bài,
4


mỗi dạng và có các phương pháp giải đặc trưng cho từng dạng
bài tập. Vì lý do đó, tơi mạnh dạn đưa ra một vài kinh nghiệm về
việc vận dụng phương pháp cùng tham gia giúp học sinh làm
tốt các bài toán phần chuyển động đều ở lớp 5.
II. Các bài toán số học về chuyển động đều
1. Các kiến thức cần ghi nhớ
- Quãng đường bằng vận tốc nhân với thời gian
S=v× t
- Vận tốc bằng quãng đường chia cho thời gian

v = S: t
- Thời gian bằng quãng đường chia cho vận tốc
t = S: v
2. Các bài toán chủ yếu
a. Bài toán đề cập đến một động tử tham gia chuyển động
Dạng toán vận dụng mối quan hệ giữa các đại lượng, sau đó đưa về dạng
tổng - tỷ, tổng - hiệu hoặc hiệu - tỷ để giải.
b. Các bài tốn tính vận tốc trung bình của một vật chuyển động trên một
quãng đường
Dạng 1: Thời gian bằng nhau: t1 = t2
VTB =

V1 + V2
2

Dạng 2: 2 quãng đường bằng nhau.
Các bước giải:
+ Tìm thời gian khi đi trên đoạn đường 1 km
+ Tìm thời gian khi về trên đoạn đường 1 km
+ Tìm thời gian cả đi và về trên đoạn đường 2 km
+ Tìm thời gian cả đi và về trên quãng đường 1 km
+ Tính vận tốc trung bình: 1: T (cả đi lẫn về trên quãng đường 1km)
Dạng 3: Cho biết thời gian và vận tốc cụ thể từng đoạn đường:
VTB =

V1 × t1 + V2 × t2
2

c. Dạng tốn chuyển động cùng chiều
+ Thời gian gặp nhau bằng quãng đường chia cho tổng hai vận tốc.

5


t = S: (v1 - v2)
d. Dạng toán chuyển động ngược chiều
+ Thời gian gặp nhau bằng quãng đường chia cho tổng hai vận tốc.
t = S: (v1 + v2)
Chú ý:
+ Tìm thời gian gặp nhau hay thời gian đuổi kịp ta phải xét 2 chuyển động
khởi hành cùng một lúc.
+ Khi vận tốc không đổi, quãng đường đi được tỉ lệ thuận với thời gian
+ Khi thời gian không đổi, quãng đường đi được tỉ lệ thuận với vận tốc.
+ Quãng đường không đổi vận tốc tỉ lệ nghịch với thời gian.
+ Muốn tính vận tốc trung bình, chú ý là thời gian đi phải bằng nhau.
e. Dạng toán vật chuyển động trên dịng nước
- Vận tốc xi dịng = vận tốc chuyển động của vật + vận tốc dòng nước.
- Vận tốc ngược dòng = vận tốc chuyển động của vật - vận tốc dòng nước.
- Vận tốc dịng nước = (vận tốc xi - vận tốc ngược): 2
- Vận tốc xuôi - vận tốc ngược = 2 x vận tốc dòng nước
- Vận tốc chuyển động của vật = (vận tốc xuôi + vận tốc ngược): 2
Giải dạng toán này chủ yếu vận dụng mối quan hệ giữa vận tốc và thời
gian (trên cùng quãng đường) sau đó đưa về dạng tốn tổng - tỷ hoặc hiệu - tỷ để
tìm thời gian hoặc vận tốc.
g. Động tử chạy đi chạy lại nhiều lần
Các bước giải:
+ Tìm quãng đường 2 động tử đi từ đầu đến lúc gặp nhau lần một
+ Tìm quãng đường động tử thứ nhất đi từ chỗ xuất phát đến chỗ gặp
nhau lần 1.
+ Tính qng đường 2 người gặp nhau lần 2.
+ Tìm quãng đường của động tử thứ nhất đi từ lúc xuất phát đến lần gặp

nhau lần 2.
+ Tìm quãng đường AB (lấy quãng đường mà động tử thứ nhất đi được
trừ cho khoảng cách 2 động tử gặp nhau lần thứ 2 với điểm mà động tử thứ 2
xuất phát).
h. Vật chuyển động có chiều dài đáng kể
+ Tàu có chiều dài L chạy qua một vật đứng yên bên đường (cột điện
chẳng hạn) thì thời gian tàu chạy qua = L: vận tốc của tàu
6


+ Tàu có chiều dài L chạy qua cái cầu có chiều dài d thì thời gian tàu chạy
qua cầu = (L + d): vận tốc của tàu
+ Tàu chạy qua vật đang chuyển động cùng chiều hoặc ngược chiều.
Được xét như bài toán hai chuyển động cùng chiều hoặc ngược chiều có tính
đến điểm xuất phát: Đầu tàu; đi tàu v.v..
* Tính vận tốc tàu = d: (thời gian tàu chạy qua cầu - thời gian đầu tàu đi
thêm quãng đường bằng độ dài thân tàu).
Lưu ý: Hiệu thời gian giữa thời gian tàu chạy qua cầu và thời gian đầu tàu
đi thêm quãng đường bằng độ dài thân tàu chính bằng thời gian đồn tàu vượt
qua điểm rào chắn. Suy ra:
Vận tốc tàu = d: T đoàn tàu vượt qua rào chắn
L = V đồn tàu × T đoàn tàu vượt qua điểm rào chắn
III. Thực trạng dạy và học nội dung toán chuyển động đều lớp 5 ở trường
Tiểu học
1. Thuận lợi
- Xác định dạng toán chuyển động đều là một dạng tốn cơ bản nhưng cịn
trừu tượng đối với học sinh Tiểu học nên trong sự chỉ đạo chuyên môn, các
trường đều tập dành ưu tiên cho việc phát triển năng lực của học sinh thông qua
các dạng tốn cơ bản, trong đó có chuyển động đều. Trong ma trận thi cuối năm
lớp 5 đều có nội dung dành cho chuyển động đều.

- Việc thực dạy của các trường đều bám sát vào thực tế. Các bài tập đưa ra
trên cơ sở vốn hiểu biết thực tế của các em nên dễ dàng cho học sinh trong quá
trình tiếp cận cũng như thực hành luyện tập. Cũng chính vì dạy học sát thực tế
nên học sinh tham gia tích cực, sơi nổi, tính hợp tác làm việc chung ngày càng
được củng cố, phát triển.
- Bản thân các giáo viên giảng dạy ln có những tìm tịi, luôn chú ý lựa
chọn ngữ liệu, bài tập phù hợp với đặc điểm học sinh lớp mình giảng dạy để đạt
hiệu quả cao nhất.
- Bản thân dạng toán chuyển động đều cũng chứa đựng sự hấp dẫn đối với
quá trình nhận thức của các em.
2. Khó khăn
- Một số giáo viên chỉ chưa thật sự có sự u thích đối với dạng toán này
nên nhiều khi chưa truyền được hết cái hay của dạng tốn này đến với học sinh.
Có khi giáo viên còn dạy theo kiểu “tủ đề” nên học sinh không tiếp cận được với
các dạng bài tập đa dạng, ở mức tư duy cao. Chính vì thế tạo ra độ ì, thói quen
giải các bài tập theo mẫu dẫn đến thiếu sự tích cực, hợp tác trong thực hiện các
bài toán chuyển động đều.
- Dạng toán này tuy hấp dẫn tính tích cực của học sinh nhưng lại không dễ
7


để học sinh có thể hiểu, vận dụng ở các bài tập mức 3, mức 4
- Các dạng toán chuyển động đều tương đối đa dạng, yếu tố phụ (giả thiết
đi kèm nhiều) nên học sinh cũng rất dễ nhầm lẫn, đôi khi bỏ qua các yếu tố phụ
khiến kết quả bài tốn chưa chính xác
- Qua q trình tìm hiểu chất lượng giải các bài toán dạng chuyển động
đều ở học sinh. Tôi đã tiến hành kiểm tra vở của học sinh một lớp 5 trong
trường. Việc kiểm tra được tiến hành sau khi các em học xong phần lí thuyết
tốn chuyển động đều và một số tiết luyện tập.
Số lượng bài: 3 bài (Bài 3 trang 171, bài 2 trang 172, bài 4 trang 174)

Số lượng học sinh được kiểm tra: 38 em
Kết quả như sau:
Sĩ số
38

Số học sinh
Đạt yêu cầu

Không đạt yêu cầu

25 = 65,7%

8 = 21,1%

Số bài không làm hết
5 = 13,2%

- Qua bảng số liệu trên cho thấy nhìn chất lượng về dạy loại tốn chuyển
động đều đã đạt yêu cầu. Tuy nhiên một số bài tốn có tính chất nâng cao học
sinh làm khơng trọn vẹn. Điều đó phản ánh phần nào việc dạy và học còn chưa
tận dụng triệt để những khả năng sẵn có trong học sinh.
Từ thực trạng trên tơi thấy cần phải tìm ra nguyên nhân dẫn đến những sai
lầm của học sinh khi giải loại tốn này để có hướng khắc phục.
3. Ngun nhân
- Chương trình Tốn chuyển động đều ít đồ dùng trực quan, nên rất dễ gây
nhàm chán với học sinh.
- Trong quá trình giảng dạy giáo viên còn xem nhẹ đến sự chủ động, sáng
tạo của học sinh.
- Một số giáo viên vẫn dạy Toán chuyển động đều lớp 5 với phương pháp
dạy học truyền thống, thiên về chủ yếu truyền đạt thông tin, chưa coi học sinh là

trung tâm.
- Nhiều giáo viên còn dạy chay áp đặt, chỉ đưa ra công thức rồi cho học
sinh áp dụng mà không tổ chức hướng dẫn các em chủ động tiếp cận, hình thành
kiến thức mới.
- Học sinh không đọc kĩ đề bài, thiếu sự suy nghĩ cặn kẽ dữ liệu và điều
kiện đưa ra trong bài tốn.
Ví dụ: (Bài 3 trang 140 Sách giáo khoa)
Quãng đường AB dài 25km. Trên đường đi từ A đến B, một người đi bộ
8


5km rồi tiếp tục đi ô tô trong nửa giờ thì đến B. Tính vận tốc của ơ tơ.
Có 4 học sinh trong lớp được kiểm tra vở đã giải như sau:
Vận tốc của ô tô là:
25 :

1
= 50 (km/h)
2
Đáp số: 50 km/h

Còn hầu hết học sinh làm đúng bài tốn với lời giải như sau:
Qng đường người đó đi bằng ô tô là:
25 - 5 = 20 (km)
Vận tốc của ô tô là:
20 :

1
= 40 (km/h)
2

Đáp số: 40 km/h

IV. Các giải pháp vận dụng phương pháp cùng tham gia trong dạy học nội
dung toán chuyển động đều
1. Nắm chắc quy trình triển khai một bài học sử dụng phương pháp cùng
tham gia trong dạy học giải các bài toán số học chuyển động đều
Bước 1: Phân tích thơng tin và xác định nhu cầu học tập của học sinh
Bước này gồm các hoạt động cụ thể như:
- Xác định mục tiêu cụ thể, các nội dung cần triển khai trong quá trình học
tập và nghiên cứu, đối tượng người học.
- Giáo viên cần nghiên cứu kĩ những tài liệu liên quan đến nội dung bài
học, xác định những thông tin có liên quan đến kiến thức cần truyền đạt.
- Giáo viên có thể thực hiện các bài test, kiểm tra nhanh thu những thơng
tin từ phía học sinh để nắm rõ khả năng học tập, nhu cầu, hứng thú học tập của
học sinh.
Bước 2: Xây dựng mục tiêu bài học:
- Giáo viên cần xây dựng mục tiêu bài học một cách rõ ràng, cụ thể phù
hợp với với mục đích đã xác định, đồng thời xác định nhiệm vụ cụ thể của người
học và người dạy. Mục tiêu bài học cần làm rõ theo các nội dung sau:
+ Mục tiêu về kiến thức - kĩ năng:
Về kiến thức bao gồm 6 cấp độ: Biết, hiểu, áp dụng, phân tích, tổng hợp
và đánh giá.
Về kĩ năng: Bao gồm các thao tác tư duy và các hành động chân tay:
phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, hệ thống hóa các kĩ năng thực
9


hành ứng dụng.
+ Mục tiêu năng lực, phẩm chất:
Về phẩm chất: Nội dung Tốn chuyển động đều nhằm hình thành và phát

triển các phẩm chất chủ yếu với những biểu hiện cụ thể như tính kỷ luật, kiên trì,
chủ động, linh hoạt, độc lập, hứng thú và niềm tin trong học tập.
Về năng lực: Nội dung Toán chuyển động đều nhằm hình thành và phát
triển những năng lực chung như: Năng lực tự chủ và tự học thông qua quá trình
học các khái niệm, kiến thức và kỹ năng Tốn học cũng như khi thực hành,
luyện tập hoặc tự lực giải tốn, giải quyết các vấn đề có ý nghĩa Tốn học; năng
lực giao tiếp và hợp tác thơng qua việc nghe hiểu, đọc hiểu, ghi chép, diễn tả
được các thơng tin Tốn học cần thiết trong văn bản Tốn học, thơng qua sử
dụng hiệu quả ngơn ngữ Tốn học kết hợp với ngơn ngữ thơng thường để trao
đổi, trình bày được các nội dung, ý tưởng, giải pháp Toán học trong sự tương tác
với người khác, đồng thời thể hiện sự tự tin, tôn trọng người đối thoại khi mơ tả,
giải thích các nội dung, ý tưởng Tốn học; năng lực giải quyết vấn đề và sáng
tạo thông qua việc giúp học sinh nhận biết được tình huống có vấn đề, chia sẻ sự
am hiểu vấn đề với người khác, biết đề xuất lựa chọn được cách thức, quy trình
giải quyết vấn đề và biết trình bày giải pháp cho vấn đề, biết đánh giá giải pháp
đã thực hiện và khái quát hóa vấn đề tương tự; bên cạnh đó thơng qua nội dung
Tốn chuyển động đều cịn góp phần hình thành và phát triển năng lực tính tốn,
năng lực ngôn ngữ và các năng lực đặc thù khác như năng lực tư duy và lập luận
Toán học nhằm trang bị học vấn cơ bản, khả năng thực hành vận dụng để giải
quyết vấn đề nảy sinh trong thực tế cuộc sống, cũng như rèn luyện khả năng
thích ứng, tham gia tích cực vào thực tiễn đời sống xã hội hiện đại.
Bước 3: Lập kế hoạch bài dạy:
- Các nội dung chính của bài dạy cần tính tốn sao cho phù hợp với thời
gian lên lớp.
- Mỗi nội dung chỉ phù hợp với một vài phương pháp nhất định.
- Giáo viên cần hạn chế thuyết trình.
- Tích cực đổi mới phương pháp dạy học để góp phần thay đổi khơng khí
lớp học. Tuy vậy khơng nên lạm dụng nhiều phương pháp trong 1 giờ học (tận
dụng các phương tiện sẵn có để tổ chức bài học).
- Mục tiêu bài dạy phải cụ thể, phù hợp với trình độ nhận thức của người

học, khơi gợi được khả năng sáng tạo của học sinh.
Trong quá trình xây dựng kế hoạch, giáo viên cần xác định mục tiêu cuối
cùng của từng phần học và hướng dẫn, giới thiệu mục tiêu cho học sinh để học
sinh có thể chủ động chiếm lĩnh tri thức.
Kế hoạch dạy học cần phải thể hiện rõ các phương pháp tác động, tổ chức,
10


điều khiển và giúp đỡ học sinh, những yếu tố mơi trường có thể ảnh hưởng đối
với học sinh, u cầu cần đạt đối với học sinh.
Bước 4: Tổ chức bài học
- Giáo viên nêu mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung cơ bản của tiết học.
- Tạo môi trường hợp tác giữa giáo viên và học sinh, giữa các học sinh
với nhau trong môi trường lớp học.
- Tổ chức bài học theo bản kế hoạch đã thiết kế.
Trong quá trình tổ chức thực hiện bài học giáo viên phải lưu ý tạo môi
trường học tập sôi nổi, hiệu quả giữa học sinh với nhau và giữa giáo viên và học
sinh. Giáo viên cần xử lí linh hoạt các tình huống sư phạm có thể xảy ra.
Bước 5: Đánh giá kết quả bài học
Khi kết thúc bài học giáo viên cần thu thơng tin phản hồi nhằm đánh giá
chính xác hiệu quả của phương pháp. Khi đánh giá kết quả của học sinh cần lưu
ý đến nội dung kiến thức cơ bản và mối liên hệ với thực tiễn.
2. Sử dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học trong quá trình triển khai
phương pháp
Do đặc điểm lứa tuổi của học sinh tiểu học và trình độ nhận thức cũng
như khả năng tư duy (tư duy trực quan cụ thể cịn chiếm ưu thế), nên giáo viên
có thể tổ chức cho học sinh cùng tham gia dưới các hình thức:
a. Làm việc cá nhân
Đây là hình thức thể hiện rõ nhất khả năng thâm nhập vấn đề của cá nhân
học sinh.

Sau khi gợi ý cách thức giải quyết vấn đề, giáo viên tổ chức cho các cá
nhân trình bày bài giải và kết quả trước lớp.
Các học sinh khác theo dõi kết quả của bạn, thảo luận, góp ý, bổ sung
hoàn thiện kết quả.
Giáo viên bổ sung thêm (nếu cần)
* Ví dụ: (Giáo viên nêu bài tốn) Một ơ tô dự kiến đi từ A với vận tốc
45km/giờ để đến B lúc 12 giờ trưa. Do trời trở gió mưa to nên mỗi giờ chỉ đi
được 35 km và đến B chậm 40 phút so với dự kiến. Tính quãng đường AB?
Cho học sinh đọc yêu cầu theo hình thức cá nhân.
Giáo viên gợi ý bằng hệ thống câu hỏi sau trả lời cá nhân:
+ Bài toán yêu cầu tìm gì? Qng đường AB.
+ Bài tốn đã cho biết những gì? Vận tốc dự định và vận tốc thực tế, thời
gian thực tế hơn thời gian dự định là 40 phút.
11




×