Tải bản đầy đủ (.pdf) (143 trang)

VÙNG VĂN HÓA NAM BỘ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (17.69 MB, 143 trang )

VÙNG VĂN
HĨA NAM
BỘ
Nhóm 6


Thành viên
Lê Thị Trà My.

2010422

Nguyễn Thị Cẩm Tú.

2010562

Triệu Hoàng Lan Anh.

2010318

Hỷ Thị Lan.

2010393

Vũ Thị Trang.

2010552

Đào Thị Như Quỳnh.
● Viên Ân Quỳnh.

2012090


2010488


Điều kiện tự nhiên
Vị trí
+ Phía tây giáp Vịnh Thái
Lan
+ Phía đơng và Đơng Nam
giáp biển Đơng
+ Phía bắc và Tây Bắc
giáp Campuchia và một
phần phía tây bắc giáp
Nam Trung Bộ

Lãnh thổ gồm
+ Đơng Nam Bộ: Đồng N
Bình Dương, Bình Phước, T
Ninh, Bà Rịa Vũng Tàu và th
phố Hồ Chí Minh.
Tây Nam Bộ: Long An, Tiền
Giang, Bến Tre, Vĩnh Long,
Trà Vinh, Đồng Tháp, Cần
Thơ, Sóc Trăng, An Giang,
Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà
.Mau


Sơng ngịi
Hệ thống sơng chính: Hai hệ
thống sơng lớn nhất là sông

Mê Công và sông Đồng Nai.
+ Sông Đồng Nai là con sông
dài nhất nước ta.
+ Sông Mê Công là hệ thống
sông lớn nhất vùng Đông Nam
Á, dài 4300km, chảy qua 6
quốc gia


Khí hậu

- Nam Bộ nằm trong khu vực đặc trưng của khí hậu nhiệt
đới gió mùa và cận xích đạo, nền nhiệt ẩm phong phú, ánh
nắng dồi dào, thời gian bức xạ dài, nhiệt độ và tổng tích ơn
cao.
- Biên độ nhiệt ngày đêm giữa các tháng trong năm thấp và
ơn hịa.
- Độ ẩm trung bình hàng năm khoảng từ 80-82%.
‐ - Khí hậu hình thành trên hai mùa khơ và mùa mưa
5


Lịch sử
hình
thành


Khoảng thế kỷ XVI

Cuối thế kỷ

VI

Nam Bộ
hoang vu

Người Việt
đến khai phá

1698

Thành lập phủ
Gia Định
1757

Thế kỷ XIII

Một bộ phận người Khmer
tới sinh sống rải rác.

Nam Bộ hình thành
chính thức đến mũi
Cà Mau – xác lập
chủ quyền của Việt
Nam


Nam Bộ là một vùng đất với đa dân tộc, nhưng tộc người chủ thể
chiếm số đông nhất (khoảng 90% dân số) và có vai trị phát triển của
vùng đất người Việt.
Họ chủ yếu là những lớp cư dân từ miền Bắc, miền Trung, nguồn gốc

xã hội cũng khác nhau: một số là tù nhân, tội đồ bị nhà nước phong
kiến đưa vào khai hoang giữa các đồn điền, một số là những người
giang hồ, dân nghèo đi tha hương biệt xứ, một số là quan lại được đưa
vào Nam khai phá vùng đất mới rồi ở lại.
Họ đem đến đây khơng chỉ có vật dụng, tư liệu sản xuất, gia đình…
mà cịn là vốn văn hóa ẩn trong tiềm thức.
8


VĂN
HOÁ
VẬT
CHẤT


VĂN HĨA CƯ TRÚ

Tây Nam Bộ mang tính
sơng nước nên họ khơng
xây những ngơi nhà mang
tính chất kiên cố mà xây
nhà mang tính chất rất đơn
giản và giản tiện (bởi sống
gần những con sông... dễ
gặp thiên tai).
10


Văn hóa cư trú
Nhà ở của người Việt Nam Bộ có 3 loại

chính: nhà đất cất dọc theo ven lộ, nhà sàn
cất dọc theo kinh rạch và nhà nổi trên sông
nước. Nhà nổi trên sông nước là nơi cư trú
đồng thời cũng là phương tiện mưu sinh
của những gia đình theo nghề nuôi cá bè,
vận chuyển đường sông, buôn bán ở các
chợ nổi, bán sỉ và bán lẻ trên sông.
à
h
N




VĂN HÓA ẨM THỰC



Do điều kiện địa lý đặc thù và giao lưu tiếp biến văn hóa, cơ
cấu bữa ăn thông thường của người Việt nơi đây đã được điều
chỉnh từ cơm– rau–cá– thịt thành cơm–canh– rau–tôm–cá. Để
cân bằng với khí hậu nóng, người Việt nơi đây rất chuộng ăn
canh và do tiếp biến các món canh chua của người Khmer nên
các món canh chua Nam Bộ cực kỳ phong phú.Thức ăn mang
tính chất thủy hải sản, vị mang tính chất ngọt hơn vị miền Bắc
và miền Trung


Do nguồn thủy sản dồi dào (cá, tôm, cua, rùa, rắn,
nghêu, sò, ốc, hến, lươn,...) giữ vai trò quan trọng

trong cơ cấu bữa ăn
Cũng do môi trường lắm tôm, cá nên các loại mắm
cũng phong phú hơn hẳn: mắm cá lóc, mắm cá sặc,
mắm cá linh, mắm tơm chua, mắm rươi, mắm cịng,
mắm ba khía, mắm ruốc, mắm nêm,....
Cách chế biến cũng đa dạng và đặc sắc: mắm sống,
mắm kho, mắm chưng, lẩu mắm, bún mắm,...


Mắm
ba
Khía

Đánh bắt cá 🐟


Từ các nguyên liệu thủy sản
phong phú kết hợp với các
loại rau trái đa dạng, người
Nam Bộ đã sử dụng nhiều
kỹ thuật nấu nướng khác
nhau (nướng, hấp, chưng,
luộc, kho, xào, khơ,
mắm,...) để chế biến các
món ăn khác nhau với
.nhiều hương vị độc đáo


Các món ăn đặc
trưng:


Bánh cóng (Sóc Trăng)

Bánh
tráng
phơi
sương
(Tây
Ninh)

Nem
chua
Cái
Răng
(Cần
Thơ)


Bún mắm Sóc Trăng

Dế cơm chiên Đồng Nai


Bún
riêu

Đng
dừa

Mắm

Chưng

Cơm
Cháy
Khó
Quẹt


TRANG PHỤC



Miền Bắc: có chiếc nón quai
thao, khăn mỏ quạ, quần nái
đen, cái áo tứ thân, quần lĩn,
có liền anh, liền chị.

Miền Trung: có áo dài
tím thướt tha của người
con gái Huế.


Miền Nam

Bộ đồ truyền thống “bộ bà ba”, nó giản lược
hóa chiếc áo tứ thân, cái quần nái đen với áo
dài để phù hợp với văn hóa sơng nước là
nền văn hóa năng động. Chiếc áo bà ba gọn
nhẹ rất tiện dụng khi chèo ghe, bơi xuồng,
lội đồng, tát mương, tát đìa, cắm câu giăng

lưới và có túi để có thể đựng một vài vật
dụng cần thiết. Chiếc khăn rằn được dùng
để che đầu, lau mồ hơi và có thể dùng quấn
ngang người để thay quần


+ Trang phục thường nhật của nam giới người Khmer
Nam Bộ cũng là bộ bà ba đen, quấn khăn rằn. Trong
dịp lễ tết, họ mặc áo bà ba trắng, quần đen (hoặc áo
đen, quàng khăn quàng trắng chéo ngang hông vắt lên
vai trái).
+ Người Chăm Nam Bộ cũng sử dụng những trang phục dân
tộc nhưng có tiếp nhận ảnh hưởng trang phục của các dân tộc
nguời cộng cư. Phụ nữ Chăm khi tiếp xúc với khách hoặc khi
ra đường đều đội khăn để che kín tóc


Riêng trong các ngày lễ thì
trang phục của người dân
Nam Bộ tề chỉnh, ngay
ngắn, lịch sự hơn. Bộ trang
phục được xem là lễ phục
phổ biến ngày xưa là bộ
khăn đóng áo dài may bằng
loại vải đắt tiền.
Bộ trang phục này thường được mặc khi dự lễ
cũng đình hay đám cưới, các dịp hiếu hỷ,...


Trang phục lễ tang

thường có màu trắng làm
từ vải thơ, thưa mà dân
gian hay gọi là vải tám, rẻ
tiền, không bền, khơng
đẹp, cốt để biểu thị tình
cảm của người đang sống
với người đã khuất với ý
nghĩa cha mẹ hoặc ông
bà mất rồi, con cái quá
đau buồn không thiết đến
việc ăn mặc nữa.


VĂN HOÁ Việc đi lại, vận chuyển càng phụ thuộc vào địa
hình đặc trưng của khơng gian Nam Bộ.
ĐI LẠI
Ở trên đất liền
thì dùng xe bị,
xe ngựa, xe đạp,
xe thồ, xe tải,...
Xe ngựa

Xe thồ


VĂN HĨA ĐI LẠI
Ở vùng sơng nước, xuồng,
ghe có vai trò đặc biệt quan
trọng, vừa là phươngHbbbb
tiện vận

chuyển tiện dụng vừa là
bbb
phương tiện mưu sinh và
phương tiện cư trú của một
số lớn các cư dân làm nghề
đò ngang, đò dọc, buôn bán
và nuôi cá trên sông.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×