Tải bản đầy đủ (.doc) (23 trang)

Một số biện pháp gây hứng thú cho trẻ 5 6 tuổi hình thành biểu tượng về số lượng và phép đếm tại trường mầm non )(

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.32 MB, 23 trang )

1
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Trẻ em những mầm non tương lai của đất nước, đất nước có giàu mạnh,
phồn vinh là nhờ vào thế hệ trẻ tương lai. Chủ tịch Hồ chí Minh mn vàn kính
u của chúng ta, lúc sinh thời người đã nói “Non sơng việt nam có được vẻ
vang hay khơng, dân tộc việt nam có được sánh vai với các cường quốc năm
châu hay khơng, chính là nhờ vào việc học tập của các cháu”.
Chính vì vậy phải chăm sóc giáo dục trẻ thật tốt ngay từ khi trẻ còn ở độ
tuổi Mầm non, vậy người giáo viên Mầm non ngoài việc hướng dẫn cho trẻ vui
chơi, cho ăn, cho ngủ, giáo dục trẻ trở thành những đứa trẻ lễ phép ngoan ngỗn
thơi chưa đủ, mà nhiệm vụ của người giáo viên Mầm non còn phải trang bị cho
trẻ những kiến thức ban đầu thông qua các hoạt động, trẻ được học mà chơi chơi
mà học. Từ đó dần hình thành nhân cách của trẻ và cũng từ đó trẻ được tiếp cận
với những kiển thức từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó.
Nếu ngay từ khi học mẫu giáo, trẻ đã nắm vững các khái niệm đơn giản về
số lượng, kích thước, hình dạng, định hướng khơng gian, thì sau này trẻ sẽ vững
vàng, tự tin khi tiếp nhận những kiến thức mơn tốn học ở lớp một. Trong các
hoạt động của giáo dục mầm non hoạt động làm quen với tốn(LQVT) đóng vai
trị quan trọng trong việc cung cấp những kiến thức biểu tượng toán ban đầu cho
trẻ trước khi vào trường tiểu học, đặc biệt trong việc chuẩn bị cho trẻ vào học lớp
1, hình thành cho trẻ những kiến thức, kỹ năng về tập hợp về số lượng, hình dạng,
kích thước, định hướng khơng gian.v.v…bồi dưỡng cho trẻ khả năng tìm tịi, quan
sát, so sánh, rèn luyện phương pháp tư duy, phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Hoạt
động LQVT là hoạt động học địi hỏi độ chính xác, lơgích cao. Để giúp trẻ lĩnh
hội các kiến thức một cách đơn giản nhưng hiệu quả nhất. Hoạt động LQVT phụ
thuộc vào nhiều yếu tố: Môi trường, cách tiếp cận, cơ hội, phương pháp.v.v..Dạy
trẻ LQVT là giúp trẻ hình thành một thế giới khoa học, hình thành những kỹ
năng, thói quen trong hoạt động học tập như kỹ năng sử dụng đồ dùng học tập, kỹ
năng phát biểu, chú ý lắng nghe cô giáo giảng bài. Trẻ được cùng nhau hoạt động
tập thể, cùng nhau kết thúc công việc. Góp phần giáo dục đạo đức, thẩm mỹ cho


trẻ, hình thành những yếu tố đầu tiên về nhân cách cho trẻ.
Trên thực tiễn giáo dục mầm non hiện nay cho thấy, việc hình thành biểu
tượng tốn chưa chú trọng xây dựng mơi trường học tập cho trẻ đồng thời ít tạo
cơ hội cho trẻ được luyện tập, theo hướng lồng ghép tích hợp...chưa được giáo
viên quan tâm đúng mức, Vì vậy hiệu quả của quá trình giáo dục đạt chưa cao.
Nội dung lồng ghép, đan xen còn rời rạc chưa hồ quyện vào nhau do vậy dẫn
đến tình trạng trẻ khó tiếp thu kiến thức, khơng hứng thú trong giờ học. Bên
cạnh đấy khả năng truyền đạt kiến thức cũng như thiết kế một hoạt động theo
hướng mở chưa sáng tạo. Sử dụng phương pháp chưa linh hoạt còn dập khuôn
theo hướng thụ động. Các biện pháp dạy học chưa được giáo viên sử dụng phù
hợp. Với ý nghĩa và tầm quan trọng của hoạt động làm quen với toán và thực
tiễn nêu trên, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: "Một số Biện pháp gây hứng thú
cho trẻ 5- 6 tuổi hình thành biểu tượng về số lượng và phép đếm tại trường
mầm non ” nhằm nâng cao hiệu quả của q trình giáo dục.
1.2. Mục đích nghiên cứu


2
Tìm ra những biện pháp tốt nhất, giúp trẻ 5 - 6 tuổi tiếp thu kiến thức cơ
bản chính xác và bền vững về biểu tượng toán sơ đẳng về số lượng và phép đếm
một cách hiệu quả.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Trẻ 5- 6 tuổi lớp Mẫu giáo lớn A3 Trường Mầm
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp thực nghiệm.

2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận
Thực hiện chương trình GDMN hiện nay với phương pháp dạy học: “ Lấy
trẻ làm trung tâm” nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của trẻ.Thơng
qua hoạt động làm quen với toán trẻ được trải nghiệm, được khám phá, tìm tịi
sáng tạo, được tự do giao tiếp, vui chơi, hợp tác, chia sẽ, dễ dàng tiếp thu kiến
thức, nhằm tăng thêm vốn kinh nghiệm về số lượng và phép đếm, đã được giáo
viên vận dụng để tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ.
Khi chơi với đồ vật trẻ muốn biết tại sao vật này lăn được nhưng vật kia
lại khơng lăn được, hình dạng, kích thước và chất liệu của chúng khác nhau như
thế nào? Hoặc trẻ muốn biết từng nhóm đồ vật có bao nhiêu vật và cách so sánh
các nhóm với nhau trẻ muốn biết nhóm này có số lượng nhiều hay ít hơn nhóm
kia bắt đầu trẻ muốn biết làm thế nào để cho hai nhóm được bằng nhau.v.v..
Tốn học đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của trẻ, giúp
trẻ làm quen với thế giới xung quanh, ngay từ đầu các cháu nhỏ đã tiếp xúc với
người lớn và thế giới đồ vật đa dạng, tất cả những thứ đó đều ảnh hưởng rất lớn
đến nhận thức của trẻ, dần dần trẻ có được những khái niệm giản đơn nhất về thế
giới xung quanh có nhu cầu muốn tìm tịi, phám phá về tính chất, đặc điểm của
sự vật hiện tượng, hình dạng, màu sắc, kích thước, vị trí, sắp xếp của chúng
trong không gian và đặc biệt là các biểu tượng về số lượng và phép đếm…qua
các hoạt động đa dạng dưới sự hướng dẫn của người lớn.
Từ đó trong tư duy của trẻ đã nảy sinh khái niệm thêm bớt số lượng để
hình thành các phép đếm một cách giản đơn nhất về phép cộng, trừ tạo nên số
lượng tương ứng. Xuất phát từ nhu cầu đó mà việc cho trẻ làm quen với biểu
tượng toán sơ đẳng là nhu cầu cần thiết. Làm thế nào để dạy trẻ những khái
niệm và biểu tượng về toán học mang tính chất trừu tượng nhưng lại phải phù
hợp với khả năng nhận thức của trẻ. Đòi hỏi giáo viên phải biết sử dụng linh
hoạt các phương pháp dạy học, tạo môi trường cho trẻ hoạt động giúp trẻ lĩnh



3
hội kiến thức dễ dàng nhằm hình thành những kiến thức ban đầu về toán học
cho trẻ.
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1. Thuận lợi
- Trẻ trong lớp cùng một độ tuổi nên mức độ nhận thức tương đối đồng
đều, một số trẻ có khả năng tư duy… tốn học vơ cùng phong phú và nhanh
nhẹn trong các hoạt động học.
Bản thân tôi đã có trình độ chun mơn vững, u nghề mến trẻ, chịu khó
học hỏi và trực tiếp giảng dạy cho trẻ làm quen với tốn theo chương trình mầm
non ở lớp 5 - 6 tuổi của trường nhiều năm.
Lớp học thơng thống có tương đối đầy đủ đồ dùng đồ chơi phục vụ cho
hoạt động làm quen với tốn, ln nhận được sự chỉ đạo sát sao của Ban giám
hiệu nhà trường.
2.2.2. Khó khăn
Một số trẻ khả năng thực hành về định hướng trong khơng gian cịn hạn
chế, chưa tích cực tham gia vào hoạt động.
Việc tổ chức các hoạt động giáo dục nhìn chung chưa phong phú. Cịn
mang tính rập khn theo tài liệu hướng dẫn. Giáo viên cịn nói nhiều, chủ yếu
dùng các phương pháp truyền thống, chưa phát huy được phương pháp dạy học
lấy trẻ làm trung tâm, chưa phát huy được tích cực của trẻ khi tham gia các hoạt
động. Môi trường lớp học được thay đổi thường xuyên theo từng chủ đề nhưng
nội dung và hình thức chưa phong phú, hấp dẫn đối với trẻ.
Đồ dùng dạy học chưa sáng tạo còn phụ thuộc vào các đồ dùng của nhà
trường. Đây là những nguyên nhân dẫn đến tiết học đang còn rời rạc, tiết dạy
đạt kết quả chưa cao, nên cũng ảnh hưởng tới việc trẻ thao tác thực hành trên đồ
vật đối tượng nhận biết số lượng và phép đếm, chưa gây hứng thú đối với trẻ, trẻ
dễ bị phân tán chú ý, mức độ hứng thú không cao.
Một số phụ huynh chưa nhận thức hết được yêu cầu và tầm quan trọng về
môn học. Chưa coi trọng việc học tập của con, cho con đi học khơng đúng giờ,

chưa chun cần, cịn coi nhẹ việc học tập của con vì chỉ nghĩ các cháu đến
trường mầm non chủ yếu là vui chơi và ăn ngủ và thường cho con nghỉ học tùy
tiện nên ít nhiều làm ảnh hưởng tới kết quả học tập của lớp. Một phần nhỏ trẻ
được bố mẹ, người thân dạy trước chương trình nên trẻ đếm, nhận biết số, tính
tốn nhanh, nhưng khi thực hành đếm số lượng trẻ bị lúng túng trong khi kết
luận số lượng tổng quát, trẻ trong giờ học khơng tập trung có biểu hiện phân tán
không muốn học.
2.2.3. Khảo sát thực tế
Qua khảo sát trên trẻ 33 cháu 5- 6 tuổi ở lớp A3 do tôi phụ trách tôi rút ra
một số vấn đề sau.
Bảng 1: Tổng hợp đánh giá các kỹ năng khi chưa có các biện pháp thực hiện


4
Xếp loại trẻ
S
T
T
1
2
3
4

Các kỹ năng
Tập hợp biểu
tượng số lượng
Xếp tương ứng 1-1
Kỹ năng đếm, so
sánh, thêm bớt
Kỹ năng đo


TST
KS

Tốt

Khá

Trung
bình

Yếu

Số trẻ

Số
trẻ

%

Số
trẻ

%

Số
trẻ

%


Số
trẻ

%

33

11

33

11

33

9

27

2

7

33

11

33

12


36

8

24

2

7

33

8

24

11

33

11

33

3

10

33


6

18

10

30

12

36

5

16

Từ những vấn đề trên việc tìm ra biện pháp tốt nhất để hình thành những
biểu tượng tốn sơ đẳng về số lượng và phép đếm cho trẻ 5 - 6 tuổi một cách
chính xác, bền vững, khắc phục được những khó khăn của địa phương, phát huy
được tính tích cực của trẻ là thiết thực là cấp bách và cũng là điều quan trọng
trong thực tế hiện nay.
Thực tế đó chính là điều tơi suy nghĩ. Làm thế nào để đưa trẻ vào hoạt
động với toán một cách tự nguyện, hứng thú, tích cực, nắm vững các kiến thức
và kỹ năng thực hành phép đếm, so sánh, thêm bớt, tách gộp, các số lượng,
nâng chất lượng đạt tốt khá lên và giảm trẻ yếu chưa đạt.Trẻ thực sự hứng thú
tham gia học tập theo hướng mở.Tôi đã mạnh dạn đưa ra một số biện pháp giúp
trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi hứng thú và hình thành các biểu tượng LQVT về số lượng
và phép đếm góp phần vào q trình thực hiện tổ chức hoạt động làm quen toán
cho trẻ như sau:

2.3. CÁC BIỆN PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
2.3.1. Biện pháp: Tự học, tự bồi dưỡng về phương pháp dạy học lấy trẻ
làm trung tâm. Nắm vững đặc điểm tâm sinh lý, phân loại đối tượng trẻ.
Tự học tự bồi dưỡng từ tài liệu là nguồn kiến thức vô tận và nếu như mỗi
người giáo viên luôn cố gắng tìm tịi và nghiên cứu, áp dụng vào thực tiễn cơng
tác giảng dạy thì sẽ giúp cho chúng ta nắm vững được những kiến thức cơ bản
và từ đó khơng ngừng sáng tạo trên cơ sở kiến thức đã có và nó cũng giúp mỗi
người giáo viên hồn thành ước mơ của mình mang lại thành cơng trong sự
nghiệp giáo dục. Nhận thức được điều này nên bản thân tôi luôn nêu cao tinh
thần tự học, tự bồi dưỡng chuyên mơn nghiệp vụ bằng cách nghiên cứu kỹ sách
chương trình cho mọi lứa tuổi mầm non, các mô đun chuyên đề bồi dưỡng
thường xuyên, sách tạp chí giáo dục mầm non hay các sáng kiến kinh nghiệm
của đồng nghiệp, đặc biệt là chuyên đề hè do phòng tổ chức. Thường xuyên truy
cập Internet để tìm thêm các tài liệu cũng như các giáo án hay để kham thảo. Để
từ đó tìm ra cho mình các hình thức, phương pháp mới nhằm tạo sự hứng thú
cho trẻ khi tham gia vào quá trình học tập.


5
Chính vì vậy mà qua những kỳ sinh hoạt chun mơn tơi thường xun
được trao đổi trị chuyện với đồng nghiệp, ghi chép lại những ý kiến hay sáng
tạo trong q trình giảng dạy đặc biệt là mơn tốn.

Ví dụ: Cách gây hứng thú bằng hình thức kể chuyện để dẫn dắt vào bài
dạy (Đếm số lượng trong phạm vi 7), cách chuyển tiếp bằng các câu đồng dao,
cách tổ chức trị chơi “Đi tìm kho báu” cách tạo nhóm thêm bớt bằng hình ảnh
paboy…
Ngồi ra khi tơi tham gia hội thi giáo viên giỏi cấp trường, cấp thị xã và
cấp tỉnh, làm bài thi lý thuyết và thi thực hành tiết dạy. Bản thân tôi sưu tầm các
giáo án hay của đồng nghiệp, từ đó tích lũy chun mơn nâng cao kinh nghiệm

và kiến thức cho bản thân như: Hiểu biết về số lượng và phép đếm ,hiểu biết về
đo lường, hiểu biết về hình dạng, hiểu biết về định hướng thời gian... Như vậy từ
việc hiểu biết chính xác về số lượng, con số, phép đếm ,về đo lường, định hướng
khơng gian, thời gian, hình dạng đó là những điều mà tôi và các giáo viên cần
nắm vững để có chủ động, sáng tạo, linh hoạt để tìm ra những phương pháp dạy
học sáng tạo nhất kích thích trẻ tích cực hoạt động mang lại hiệu quả cao trong
dạy trẻ làm quen với tốn.
Song song với cơng tác tự học tự bồi dưỡng với phương pháp dạy học lấy
trẻ làm trung tâm, thì tơi ln trú trọng vấn đề nắm vững được đặc điểm tâm
sinh lý và phân loại chất lượng của trẻ là vấn đề cần thiết để giáo viên biết cách
lựa chọn các phương pháp và cách thức tổ chức một tiết học để làm sao tất cả
các trẻ đều tham gia tích cực vào hoạt động. Vì vậy vào đầu năm học, tơi tiến
hành khảo sát chất lượng trên bằng cách thường xuyên trò chuyện tạo các tình
huống và tổ chức các trị chơi, gợi hỏi các kiến thức về toán học cho trẻ. Sau đó
tơi tiến hành phân nhóm đối tượng.
Căn cứ và chất lượng và đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ở lớp, tơi đã phân trẻ
ra các nhóm
- Nhóm 1: Trẻ tích cực tham gia hoạt động là những cháu mạnh dạn,
nhanh nhẹn ln tị mị, ham học hỏi, có tính sáng tạo và thường xuyên giao tiếp
với mọi người.
- Nhóm 2: Trẻ ít tham gia hoạt động hoặc có tham gia nhưng chưa nhiệt
tình, những cháu nhóm này chỉ trả lời khi cơ giáo hỏi, tính tự giác chưa cao.


6
- Nhóm 3: Trẻ lười hoạt động ít giao tiếp với bạn bè, còn rụt rè e ngại khi
trả lời yêu cầu của người khác.
- Đối với trẻ ở nhóm 1: Tơi ln tạo mọi tình huống buộc trẻ phải đặt câu
hỏi, suy nghĩ cách điều chỉnh, bổ sung, tìm ra cách xử lý các tình huống đó cho
trẻ trải nghiệm với các biể tượng về số lượng và phép đếm theo các cách khác

nhau và thường đặt những câu hỏi thế nào? Vì sao con biết ? Con làm cách nào
để có được kết quả đó ? Cho trẻ tự đoán kết quả trước khi thực hiện hay kể lại
những bước trẻ đã làm để được kết quả như vậy, từ đó trẻ có cơ hội thể hiện khả
năng diễn đạt của mình trả lời mạch lạc rõ ràng câu hỏi của người khác hỏi.
- Đối với nhóm trẻ 2: Tôi luôn quan tâm lắng nghe ý kiến của trẻ một cách
cởi mở, khơng vội vàng nơn nóng mà nhẹ nhàng động viên sự cố gắng của trẻ và
kết hợp với phụ huynh để tạo cho trẻ sự thoải mái và ln được trị chuyện, trao
đổi với bạn bè và mọi người, rèn thêm trẻ vào những lúc rảnh rỗi, hay mọi lúc
mọi nơi. Tôi luôn cố gắng gần gũi trò chuyện với trẻ để biết được đặc điểm tâm
sinh lý của trẻ. Tôi đã tổ chức khảo sát chất lượng trên trẻ hàng ngày, theo dõi
hoạt động của từng cá nhân trẻ, tổ chức cho trẻ hoạt động thường xuyên.
- Đối với nhóm trẻ 3: Trẻ lười hoạt động tôi để ý và quan tâm đến trẻ nhiều
hơn, gợi ý để trẻ được làm và trả lời, mặt khác tơi động viên cho trẻ được hoạt
động tích cực ở mọi thời điểm trong ngày, biểu dương khen thưởng kịp thời cho
trẻ luôn trước mặt các bạn để trẻ thích thú.
Ngồi việc giảng dạy trên tiết học, tơi cịn thường xuyên chia đối tượng
giỏi, khá, trung bình, yếu để tập luyện ở mọi lúc, mọi nơi.
Ví dụ: Cho trẻ So sánh số lượng của 3 đối tượng. Tôi chia cho mỗi trẻ 3
cái cây rồi yêu cầu trẻ đếm theo khả năng của trẻ sau đó tơi hỏi trẻ kết quả đếm
và tìm ra kết luận . Rồi khen ngợi trẻ, với những trẻ chưa làm được tôi cho trẻ
thực hành đếm lại và chỉ vào cây có số lượng nhiều rồi chỉ ra số lượng nhiều
hơn cho trẻ trả lời kết quả, những trẻ không biết cách đếm thì tơi hướng dẫn, gợi
ý cho trẻ cách đếm và lết luận rồi yêu cầu trẻ thực hiện lại.
Qua đó tôi đã nắm được mức độ nhận thức của các cháu và có kế hoạch
hướng dẫn riêng để cho trẻ phát triển đồng đều. Tơi thường xun khen ngợi,
khuyến khích, động viên trẻ hoạt động, hướng dẫn trẻ tùy thuộc vào mức độ
nhận thức của từng cháu, khơng nóng vội, không làm thay trẻ. Luôn chú ý đến
hoạt động theo cá nhân đặc biệt quan tâm đến trẻ yếu để động viên khuyến khích
trẻ kịp thời hơn tơi hiểu khơng phải trẻ nào cũng phát triển tốt, không phải lúc
nào trẻ cũng làm đúng như ta mong đợi vậy nên hãy học cách chấp nhận và tìm

ra biện pháp hay nhất để động viên trẻ cố gắng. Với những trẻ hiếu động tôi
thường giao nhiệm vụ cho trẻ thực hiện và khuyến khích kịp thời để kích thích
trẻ hứng thú tham gia hoạt động bằng những câu hỏi động viên ví dụ như: “Con
giỏi lắm, cịn làm gần đúng rồi hay giá như việc này mà có con tham gia thì cơ
tin đội con sẽ chiến thắng hoặc bạn Đạt mà chơi trò chơi này chắc bạn ấy sẽ làm
tốt lắm cho mà xem…Có như vậy từ từ tơi đã thuyết phục được các cháu và hiểu
rõ trẻ hơn để giúp trẻ ngày càng tiến bộ và luôn muốn được tham gia hoạt động
của cơ. Chứ tơi khơng nổi nóng mỗi khi trẻ làm sai hay sử dụng những câu nói
như: “Con làm sai hết rồi, làm như vậy là không đúng, con làm hỏng hết của cô
rồi hay con khơng thể chơi được trị chơi này”…tơi nghĩ đó là những câu nói tối


7
kỵ nhất đối với trẻ bởi trẻ nhỏ rất thích cơ khen rất thích được thử thách và
khơng phải lúc nào trẻ cũng làm đúng như ta mong đợi vậy nên hãy học cách
chấp nhận và tìm ra biện pháp hay nhất để động viên trẻ cố gắng. Từ biện pháp
này giúp tôi phân loại được đối tượng học sinh, từ đó có những biện pháp tác
động phù hợp với từng nhóm. Kết quả trẻ đã tự tin, tích cực tham gia vào các
hoạt động mang lại kết quả cao.
2.3.2. Biện pháp: Xây dựng môi trường học tập theo hướng mở, Làm
đồ dùng, đồ chơi sáng tạo là điều kiện cần thiết tạo cơ hội cho trẻ tham gia
hứng thú vào hoạt động nhận thức một cách tích cực.
Mơi trường học tập là yếu tố rất quan trọng trong quá trình hoạt động trải
nghiệm nhằm thoả mãn nhu cầu của trẻ. Đây là nguyên tắc dạy học quan trọng
để hình thành biểu tượng toán ban đầu cho trẻ mầm non. Với cách bài trí các góc
chơi, sử dụng hình ảnh, đồ dùng, đồ chơi bằng những chất liệu,... gần gũi với trẻ
nhất, tạo ấn tượng cho trẻ, sẽ giúp trẻ nhận ra một số điều gì đó khác thường liên
quan đến tốn học, trẻ tị mị, buộc trẻ phải đặt câu hỏi, suy nghĩ cách điểu chỉnh
bổ sung hợp lý.
Chính vì vậy tơi ln cố gắng trang trí lớp học, mơi trường xung quanh

làm sao vừa đẹp lại có giá trị sử dụng để khi nhìn vào đó trẻ dễ học, dễ lấy, dễ sử
dụng, như đếm, thêm bớt, màu sắc, hình dạng của các đồ vật…tất cả các đồ
dùng, đồ chơi đều được gắn mở 2 mặt. Đến mỗi hoạt động học chính hoặc hoạt
động góc trẻ có thể lấy vừa học và chơi theo chủ đề cô đã dạy để ôn và trải
nghiệm lại.
Đây cũng là nơi mà trẻ được giúp đỡ để thu nhận một khối lượng kiến
thức và kỹ năng nền tảng cần thiết cho việc học sau này. Vì thế giáo viên ln
sẵn sàng đón tiếp tất cả trẻ đến với mình, dành thời gian quan tâm đến từng trẻ,
từng nhóm, cả lớp.
Biết cung cấp cơ hội để tạo sự giao tiếp giữa cô và trẻ, giữa trẻ với nhau.
Biết sắp xếp lớp học theo cách khuyến khích trẻ hoạt động. Tạo cơ hội để phát
triển tư duy, phát triển các kỹ năng nhận thức xã hội, phát triển ngôn ngữ, hứng
thú trong học tập và khám phá thế giới xung quanh.
Tôi đã tận dụng thêm những nguyên vật liệu sẵn có từ thiên nhiên để làm
đồ dùng dạy học, đầu tư đồ dùng dạy học phục vụ cho hoạt động để trẻ luôn cảm
thấy hứng thú trong hoạt động học và tiếp thu kiến thức một cách thoải mái, nhẹ
nhàng hơn.
Đổi mới cách trang trí lớp tạo mơi trường tốn theo hướng mở lấy trẻ làm
trung tâm phù hợp từng chủ đề, tạo cơ hội để trẻ hoạt động trải nghiệm với đồ
dùng trang trí để lĩnh hội kiến thức.
Các đồ dùng, đồ chơi, hình ảnh trang trí khơng dán cố định mà được bố trí
trẻ có thể dễ dàng lấy sử dụng theo ý thích, ý tưởng của trẻ.
Ví dụ: Góc tốn được thiết kế có các nội dung chơi được thay đổi theo
từng chủ đề. Có nhiều đồ chơi được làm từ nguyên vật liệu khác nhau, màu sắc
hấp dẫn như: các mảnh gỗ, các loại hạt khô, ..., hoa, hạt nhựa xâu, hình khối,
chữ số, các loại rau, hoa, quả, con vật….để thu hút trẻ tham gia nhằm củng cố,
ôn luyện, tạo cơ hội cho trẻ học tập như: giúp trẻ so sánh chiều cao của 3 đối
tượng, phân biệt nhiều hơn ít hơn, nhận biết phía trên phía dưới, bên trong bên



8
ngồi, phía trước phía sau, ghép đơi, nhận biết các hình, tìm và ghép hình tương
ứng, sắp sếp theo quy tắc, đếm theo khả năng, đếm và nhận biết số, so sánh
nhiều hơn ít hơn, tách gộp.....Tất cả những mảng này đều mang tính mở, từ đồ
dùng cho đến nguyên vật liệu, hệ thống giá đựng học liệu dễ lấy, dễ tìm, dễ cất
để trẻ được thoải mái hoạt động, trải nghiệm thực hành theo khả năng của trẻ, và
được thay đổi phù hợp theo từng nội dung chơi, chủ đề. Cơ chuẩn bị nhiều hình
ảnh rời như hình các con vật, trẻ có thể sử dụng những hình ảnh này để xếp về
chủ đề…đếm số lượng, so sánh ở góc học tập.

(Hình ảnh xây dựng mảng tường mở cho trẻ hoạt động trải nghiệm với tốn)

Bên cạnh tạo mơi trường mở thì việc làm đồ dùng, đồ chơi tạo mơi trường
học tốn phong phú đa dạng cho trẻ là việc làm cấp thiết cho mổi giáo viên
trong quá trình giảng dạy, với mơn tốn là bộ mơn cần rất nhiều đồ dùng, đồ
chơi cho cấc tiết dạy. Bởi tư duy của trẻ mẫu giáo lớn còn mang tư duy trực
quan hành động sang tư duy lôgic, trẻ nhận biết các dấu hiệu bằng các dấu hiệu
đặc trưng về hình dạng kích thước và các biểu tượng số lượng cụ thể, rõ ràng. Vì
vậy để giúp trẻ có khả năng tư duy, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát tốt
nhằm phát triển tồn diện về đức, trí, thể, mỹ và lao động. Nhiệm vụ của mổi
giáo viên cần kết hợp giữa các yếu tố như: nắm vững phương pháp, hình thức
lên lớp và đồ dùng trực quan để đạy học, bởi đồ dùng, đồ chơi là chiếc cầu nối
giữa trẻ và hoạt động nhận thức, cho trẻ hoạt động với đồ dùng, đồ chơi là cách
thức giúp trẻ lĩnh hội kinh nghiệm sống sau này. Một tiết học không thể đạt kết
quả cao nếu như thiếu đồ dùng giảng dạy. Do đó việc lựa chọn đồ dùng phù hợp
với tiết dạy là vơ cùng quan trọng.
Ví dụ 1: Ở hoạt động làm quen với mơn tốn “Tách gộp trong phạm vi 8”
ở chủ đề thế giới thực vật tôi đã làm nhiều loại quả như: Táo, xoài, đu đủ, cam,



9
dâu tây, các loại củ cà rốt, khoai, cà chua, bí đỏ.., từ những nguyên vật liệu sưu
tầm, dễ kiếm như lõi giấy vệ sinh, lõi chỉ, vỏ hộp sữa chua, hay những quả bóng
hỏng, xốp màu, giấy màu, bút màu, để tạo thành đồ dùng phù hợp với tiết dạy
cho hoạt động làm quen với mơn tốn giúp trẻ hình thành các biểu tượng về số
lượng và phép đếm tích cực tham gia hoạt động.
Các đồ dùng trên khơng chỉ sử dụng trong hoạt động làm quen với toán mà
còn sử dụng trong các hoạt động khác nhau: Nhận biết, tạo nhóm, thêm bớt, tách
gộp trong phạm vi 10 sắp xếp theo quy tắc 1 - 2 - 1, 2 - 1 - 2… sắp xếp theo quy
tắc, biết so sánh thêm bớt của 3 đối tượng, so sánh chiều cao của 3 đối tượng,
gây hứng thú đối với trẻ.
2.3.3. Biện pháp: Đổi mới hình thức tổ chức. Sử dụng các phương
pháp linh hoạt sáng tạo trong việc dạy trẻ làm quen với tốn.
Đổi mới hình thức tổ chức và sử dụng các phương pháp linh hoạt, sáng
tạo là giải pháp tối ưu, nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo
của trẻ. Giúp trẻ phát triển cách học của mình, đặc biệt là phương pháp tự học;
Nó phát huy được tinh thần hợp tác, tương trợ, tơn trọng lẫn nhau; Kích thích
động cơ bên trong của trẻ, tác động đến tình cảm, đưa lại niềm vui, hứng thú cho
trẻ, tạo cơ hội cho trẻ phát triển kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, hịa
nhập, thích ứng với cuộc sống và phát triển những phẩm chất cá nhân như tính
kiên trì, lịng nhẫn nại, ý thức tập thể. Phương pháp dạy học lấy trẻ làm trung
tâm nhằm tạo cơ hội cho đứa trẻ được hoạt động nhiều hơn để từ đó giúp tơi
theo dõi, rèn kỹ năng cho trẻ một cách tốt hơn.
Tôi luôn biết vận dụng phương pháp dạy trẻ làm quen với tốn một cách
linh hoạt và tích cực chú ý đến phương pháp truyền thụ của mình để tránh nhàm
chán cho trẻ cũng như mang lại cho trẻ sự hứng thú trong học tập háo hức chờ
đợi những gì sắp diễn ra trong giờ học. Để làm tốt điều này đầu tiên phải nắm
vững khả năng nhận thức của trẻ trong lớp mình về tốn như thế nào? Đến mức
độ nào? Từ đó lựa chọn nhóm phương pháp cho phù hợp. Thường xuyên đổi
mới phương pháp dạy học phù hợp với từng chủ đề. Tùy nội dung của bài dạy

cũng như từng chủ đề, tơi lựa chọn nội dung tích hợp các bộ môn khác nhau
cùng liên quan đến chủ đề để làm nổi bật và phong phú thêm hoạt động.
Mạnh dạn đổi mới, sáng tạo và tích cực đưa những phương pháp mới vào dạy
học mang lại kết quả cao trên trẻ và thu hút được trẻ tích cực tham gia hoạt động
khi dạy trẻ “làm quen với tốn” tơi đã nghiên cứu một số phương pháp cũng như
thủ thuật để dạy trẻ như sau:
* Lựa chọn nội dung, sắp xếp nội dung vào các chủ đề:
Như chúng ta biết đối với bộ mơn làm quen với tốn ln địi hỏi mức độ
chính xác cao và có tính phát triển từ cao đến thấp, từ đơn giản đến phức tạp vậy
nên việc suy nghĩ cân nhắc, lựa chọn làm sao để phù hợp với khả năng của trẻ
lớp mình, cũng như phù hợp với từng giai đoạn, từng chủ đề là rất quan trọng.
Ví dụ: Chủ đề bản thân có 4 chủ đề nhánh tôi lựa chọn 4 đề tài phù hợp với
chủ đề như sau để dạy trẻ: Dạy trẻ xác định phía trên, phía dưới, phía trước, phía
sau của đối tượng có sự định hướng. Dạy trẻ xác định phía trên, phía dưới, phía
trước, phía sau của đổi tượng khác có sự định hướng. So sánh chiều cao của 3
đối tượng. Ôn nhận biết số lượng trong phạm vi 8;


10
Chủ đề động vật tôi chọn các đề tài sau: So sánh phát hiện quy tắc sắp xếp
và sắp xếp theo quy tắc. Đếm đến 8, tạo nhóm có 8 đối tượng và nhận biết số 8.
Chủ đề nước và hiện tượng tự nhiên: Đo dung tích của các vật so sánh và
diễn đạt kết quả. Đếm đến 10, tạo nhóm có 10 đối tượng và nhận biết số 10…Cứ
như vậy tùy từng giai đoạn, theo chương trình giáo dục và đặc điểm phát triển
nhận thức của trẻ và các chủ đề để tôi chọn đề tài phù hợp để làm sao không cao
cũng không thấp quá so với sự phát triển và khả năng của trẻ lớp tôi
* Lựa chọn hình thức tổ chức và sử dụng các phương pháp dạy học tích cực:
Khơng những lựa chọn nội dung mà để tiết dạy thành cơng thì lựa chọn
hình thức tổ chức tiết học là một trong những yếu tố quan trọng, cần thiết để
giúp trẻ nắm vững kiến thức và biết được trẻ hiểu bài đến đâu, cũng là cách giúp

trẻ lưu tâm vì vậy cách lựa chọn hình thức của giáo viên với các hình thức; Như
gây hứng thú cho trẻ, bằng các hình thức kể chuyện, hoặc trị chơi.
Ví dụ: Đếm số lượng 8 nhận biết số 8 bằng hình thức kể chuyện như:
Vào một buổi sáng đẹp trời thỏ mẹ nói với các con, hơm nay là sinh nhật
mẹ các con hãy vào rừng hái cho mẹ ít cà rốt. Đường xa nên các con phải đi
cẩn thận. Cả 7 chú thỏ cùng đi.(Xếp 7 chú thỏ ra hàng ngang). Thế rồi các anh
của thỏ nâu đã hái được cà rốt đem về tặng mẹ, riêng thỏ nâu mãi chơi nên
chẳng hái được củ nào(Xếp 7 củ cà rốt tương ứng với 7 chú thỏ sau đó cho trẻ
nhận xét. Chú Thỏ nào cũng có cà rốt để liên hoan . Thỏ Nâu khơng có cà rốt
ăn. Bây giờ phải làm thế nào được? Tặng 1 củ cà rốt cho Thỏ Nâu…
Trong q trình dạy tốn khơng những tổ chức dạy bằng các hình thức
trên mà tơi tổ chức dạy trẻ học theo nhóm, học theo tổ 2 bạn ngồi dối diện cùng
nhau học, cùng nhau trao đổi kiến thức và sửa sai cho nhau để trẻ được thực
hành, trải nghiệm trên đồ vật, đồ chơi nhiều hơn. Hình thức học nhóm đối với
trẻ là một trong những cách học mang lại hiệu quả cao nhất bởi khi học nhóm trẻ
sẽ khơng cịn nhút nhát và ln biết cách cùng bạn trong nhóm hồn thành
nhiệm vụ mà cơ giáo phó. Vì vậy trong giờ học tốn tơi thường hay tổ chức cho
trẻ học theo nhóm bằng cách chia ra các nhóm nhỏ và giao nhiệm vụ cụ thể cho
từng nhóm và u cầu hồn thành cơng việc sau một khoảng thời gian nhất định
để trẻ tự khám phá, trải nghiệm nhằm xác định sự hiểu biết của mình sau đó tơi
mới hỏi kết quả của từng nhóm và có sự động viên kịp thời để các nhóm ln có
sự thi đua.
Ví dụ 1: Tiết dạy thêm bớt chia nhóm số lượng 8 ra làm 2 phần. Cơ cho 3
nhóm học riêng và u cầu các nhóm phải chia 8 đối tượng đó thành 2 phần sao
cho 2 phần đó vẫn tổng bằng 8. Từng nhóm chia bằng các cách khác nhau. Sau
đó cơ hỏi nhóm đó cách chia và nói kết quả cách chia của tổ mình. Cơ tổng hợp
lại ý kiến và cho cả lớp xem lại từng cách chia của mổi nhóm. Tiếp theo cơ cho
các nhóm chia lại cách chia, nhưng khơng được trùng cách chia lần đầu.
Ví dụ 2: Ở tiết dạy đo dung tích bằng một đơn vị đo, để cho trẻ biết cái
chai màu đỏ lớn hơn hay chai màu xanh lớn hơn, tôi cho trẻ thực hành đong

nước vào 2 chai bằng một cái ca, sau đó cho trẻ nhận xét kết quả.Trong q trình
cho trẻ thực hành tơi thường cho trẻ hoạt động độc lập, tự do theo cá nhân hoặc
từng nhóm


11
Ví dụ 3: Thao tác đo chiều dài 2 đối tượng: Lấy 2 dây băng xanh, đỏ buộc
vào đầu của bạn đội trưởng cho trẻ nhận xét “Tại sao dây đỏ buộc được vào đầu
bạn con dây xanh thì khơng buộc được?” Trẻ nhận xét kết quả “Dây đỏ buộc
được vào vì dây đỏ dài hơn dây xanh” Tơi thường tạo ra các tình huống để trẻ
nhận xét độ dài của 2 hoặc 3 đối tượng có thể đặt các đối tượng chồng khít lên
nhau sao cho một đầu các đối tượng bằng nhau, đối tượng nào có phần thừa ra là
đối tượng đó dài hơn..
Ví dụ 4: Chủ đề Q hương - Đất nước - Bác Hồ, cơ nói: hàng năm “Lam
Kinh vinh dự được đón nhiều du khách về thăm quan Di tích lịch sử. Con sẽ
hướng dẫn khách đi từ sân bay Sao vàng về Lam Kinh..” Nào chúng mình bắt
đầu nhé.
Trẻ được tơi hướng dẫn chu đáo, chính xác: đặt một đầu thước trùng khít
lên một đầu của băng giấy, dùng bút vạch một đường thẳng sát với một đầu của
thước đo sau đó nhấc thước liên tục đặt một đầu thước trùng khít với vạch bút
vừa vạch cứ thế lần lượt ta đo đến hết. Kết quả cuối cùng là kết quả của phép đo.
Trẻ lấy chữ số tương ứng với các đoạn thẳng vừa đo được).Vậy tương ứng với
số mấy? Sau đó trẻ rút ra kết luận với cùng một đơn vị thước đo như nhau. Nếu
đoạn đường nào đo được nhiều lần hơn, đoạn đường đó dài hơn.Trẻ được trải
nghiệm với các trị chơi luyện tập đo bằng nắm tay, bước chân, gang tay…
Trong q trình trẻ học nhóm tơi ln quan sát các hoạt động của nhóm
để thấy được khả năng nhận thức cho trẻ. Đối với nhóm yếu kém hơn tơi dành
thời gian cho trẻ nhiều hơn và đặc ra các câu hỏi đơn giản, dễ hiểu gần gũi với
trẻ, đối với nhóm có nhận thức khá hơn tơi lại đưa các câu hỏi khó hơn địi hỏi
khả năng tư duy nhiều hơn nên những trẻ khá bớt nhàm chán vì khơng học lại

những gì mà mình đã biết cịn với những trẻ yếu sẽ tiếp thu được các kiến thức
vừa với khả năng của mình. Như vậy với hình thức học nhóm tạo cho trẻ được
thoải mái, tự do khám phá, tự mình nêu lên các ý tưởng để cùng các bạn thảo
luận và tìm ra kết quả tốt nhất cho nhóm của mình. Tuy nhiên trong một tiết tốn
thì ngồi việc lựa chọn hình thức thì câu hỏi của cơ cũng là một việc làm rất
quan trọng vì vậy tôi luôn suy nghĩ làm sao để câu hỏi vừa ngắn gọn lại dễ hiểu
và mang tính chất cơ đọng cũng như rèn khả năng tư duy cho trẻ là một điều
khơng đơn giản đối với mơn tốn, vậy nên theo tôi nghĩ chúng ta cần phải chú ý
đến câu hỏi để làm sao trẻ có thể hiểu nhớ lâu hơn khi cô hỏi.
* Sử dụng câu hỏi đàm thoại để kích thích phát triển tư duy:
Ví dụ 1: Trong giờ dạy trẻ so sánh, thêm, bớt để tạo sự bằng nhau giữa 2
đối tượng, tôi đặt câu hỏi: Để số hoa và số quả bằng nhau con phải làm như thế
nào? (Trẻ thêm hoặc bớt)
Ví dụ 2: Trong giờ dạy trẻ so sánh chiều dài của 3 đối tượng, tơi đặt câu hỏi:
Vì sao con biết băng giấy màu xanh dài hơn băng giầy màu đỏ? Vậy Băng giấy
nào dài nhất?, băng giấy nào dài hơn? Băng giấy nào ngắn nhất? Vì sao? Trong
q trình đàm thoại tơi ln chú ý đến phát triển ngôn ngữ và cung cấp khái
niệm về toán cho trẻ bằng nhiều câu hỏi khác nhau. Với những trẻ nhút nhát, cá
biệt tôi thường sử dụng câu hỏi dễ hơn, yêu cầu đơn giản hơn và có biện pháp
khen ngợi, động viên kịp thời để giúp trẻ tự tin hơn khi thực hiện nhiệm vụ.
Ví dụ: Khi trẻ cho trẻ nhận biết khối cầu tôi cho trẻ cùng lăn bóng. Tơi hỏi


12
trẻ: (Con có nhận xét gì về quả bóng? Hay: Quả bóng như thế nào? Trịn hay
khơng trịn? Vì sao nó lăn được? Từ đó tơi mới giới thiệu cho trẻ quả bóng có
dạng khối cầu và cho trẻ chọn khối cầu giơ lên.
Khi trẻ học tôi luôn cho trẻ thời gian để suy nghĩ và khuyến khích cho trẻ
phán đốn, tranh luận cùng bạn bè để tìm ra câu trả lời. Hệ thống câu hỏi tôi
luôn luôn dùng câu hỏi mở để khuyến khích sự tị mị và hiểu biết của trẻ và từ

đó để trẻ phát huy tính tích cực của mình và gây hứng thú cho trẻ hơn.
Để trẻ nhớ lâu và tự suy nghĩ giáo viên cần giúp trẻ kết nối những kinh
nghiệm, kỹ năng khám phá những biểu tượng tốn trong q trình quan sát, suy
nghĩ, giải quyết vấn đề. Với cách làm như vậy trẻ sẽ hứng thú hơn khi tham gia
vào bài học mà không nhàm chán.
* Sáng tạo khi tổ chức cho trẻ chơi với các trị chơi ơn luyện:
Khi tổ chức trị chơi cho trẻ cơ giáo cần phải hiểu biết rằng những trò chơi
phải được tổ chức hài hòa đảm bảo nguyên tắc tĩnh - động - tĩnh. Trò chơi trẻ
được chơi phải đơn giản đến phức tạp để tránh sự mệt mỏi nhàm chán cho trẻ.
Chính vì thế, tơi đã lựa chọn các trị chơi trong chương trình, báo Họa mi vào
tiết học, tùy vào từng chủ đề tôi lựa chọn trị chơi cho phù hợp.
Ví dụ 1: Trong giờ học phân biệt các khối ở chủ đề nghề nghiệp, tơi cho
trẻ chơi trị chơi (Chung sức) sau khi học xong bài: Cô nêu cách chơi, luật chơi
Cách chơi: Cơ sẽ chia lớp mình thành 2 đội. Nhiệm vụ của mỗi đội là lấy
rổ chọn đúng khối theo yêu cầu rồi di chuyển về vị trí cẩn thận khơng để khối
rơi mang về cho đội mình.
Luật chơi: Trong một bản nhạc trò chơi sẽ kết thúc. Nếu đội nào chọn
nhiều khối đúng yêu cầu sẽ giành chiến thắng.
Hoặc trong giờ phân biệt cao hơn - thấp hơn, tôi cho trẻ chơi trị chơi tơ
màu cây cao, cây thấp theo các màu khác nhau (Cây cao hơn màu xanh, cây thấp
hơn màu vàng, thấp nhất màu đỏ).
Khi cho trẻ chơi trị chơi đếm đến 8 thì chia trẻ thành 2 nhóm và chơi
chuyền trứng mỗi nhóm 8 quả, tổ nào chuyền nhanh và đúng số lượng thì tổ đó
thắng cuộc, sau đó cơ cho trẻ về ngồi 3 tổ 3 vịng trịn, cơ phát bưu thiếp và 8
bơng hoa và cùng dán bưu thiếp 8 bông hoa cho trẻ so sánh bưu thiếp và bơng
hoa. Hoặc cho trẻ chơi trị chơi “Cáo và thỏ” khi có hiệu lệnh Cáo bắt thì Thỏ về
đúng chuồng (mỗi chú thỏ một chuồng) số chuồng bằng số mà trẻ đang học.
Ví dụ: “Ơ tơ về đúng bến”.
Giáo viên chuẩn bị nhiều bến trong đó có một bến 7 chấm trịn, u cầu
về đúng bến đó; Sau đó cơ nâng dần u cầu về bến có 7 chấm trịn màu

xanh.v.v.. Hoặc với một mục đích rèn luyện khả năng nhận biết số lượng cơ có
thể thay đổi tình huống, đồ chơi khác nhau như: Thuyền về bến, về đúng nhà...
khi đó tác dụng củng cố càng vững chắc.
Khi tổ chức chơi, không những chú ý đến mục đích dạy học như cũng cố
kiến thức, rèn luyện kỹ năng mà cịn chú ý đến mục đích giáo dục như rèn luyện
phẩm chất đạo đức, qui tắc ứng xử. Chẳng hạn những trò chơi số lượng trẻ tham
gia chơi đơng hơn, trẻ phải biết kìm chế để đợi đến lượt mình chơi.
Tuy nhiên các trị chơi khơng nên lặp đi lặp lại ở cùng một tiết học, sẽ dẫn
đến trẻ bị nhàm chán, không hứng thú tham gia hoạt động. Yêu cầu của trò chơi


13
phải được nâng dần lên qua mỗi lần chơi thì mới phát huy tính sáng tạo tính tích
cực của trẻ, chính vì vậy tơi đã nghiên cứu, xác định nội dung bài dạy để chọn
trò chơi cho phù hợp và đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, tuỳ từng trị
chơi mà tơi chọn hình thức chơi phù hợp nhằm tạo hứng thú và huy động tối đa
số trẻ tham gia vào trò chơi.
2.3.4. Biện pháp: Phát huy tính tích cực cho trẻ “làm quen với tốn”
mọi lúc, mọi nơi và thông qua hoạt động học khác.
Để nâng cao chất lượng mơn tốn tơi trước hết phải lập được kế hoạch
xác định và nắm vững mục tiêu, nội dung đổi mới phương pháp và các hình thức
dạy học nhằm phát huy tính tích cực hoạt động học tập của trẻ, khuyến khích
chủ động sáng tạo dạy học, tập trung hướng vào trẻ, lấy trẻ làm trung tâm, để
kích thích tính tị mị, óc sáng tạo của trẻ .
- Thơng qua giờ đón trẻ : Để tạo cho trẻ có niềm say mê hứng thú với
mơn học làm quen với tốn tơi tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi, lắp ghép, xây
dựng xâu hạt, xâu vòng, xếp hình ...các con vật. các ngơi nhà, hoặc cắt, xé các
hình trên tranh, trên báo, hoặc nghe một số câu truyện, bài thơ, bài hát có liên
quan đến tốn, phù hợp với chủ đề đang học để trẻ được làm quen ngay từ khi
đến lớp

- Thông qua hoạt động như: Tạo hình, giáo dục âm nhạc, làm quen văn
học....tác động không nhỏ đến sự phát triển nhận thức ở lứa tuổi mẫu giáo. Quá
trình phát triển các hoạt động nhận thức nói chung và hoạt động nhận thức các
biểu tượng toán ban đầu cũng diễn ra trong khi trẻ được nghe kể chuyện đọc thơ
hoặc trẻ tự kể lại chuyện, đọc thơ.
Các câu chuyện cổ tích, truyện thơ dành cho trẻ có những giá trị văn học
nhất định nên thu hút được sự chú ý, cảm xúc nghệ thuật của trẻ giáo viên cần
tận dụng truyện thơ như một phương tiện để giáo dục nhân cách nói chung và
nhận thức các biểu tượng tốn nói riêng. Sau khi nghe kể chuyện, đọc thơ giáo
viên cần đàm thoại với trẻ về các yếu tố tốn học có trong mỗi truyện thơ, tuỳ
vào mỗi chủ đề giáo viên lựa chọn truyện thơ theo nội dung giáo dục có các biểu
tượng tốn học.
Khi kể chuyện, đọc thơ cần chú ý những đoạn tái hiện các hoạt động tri
giác số lượng, hình dạng kích thước .v.v.. Cần có ngữ điệu giọng đặt biệt để trẻ
ghi nhớ các biểu tượng đó.
Ví dụ: Câu chuyện “Sự tích bánh chưng bánh dày”. Câu hỏi đàm thoại:
- Câu chuyên có bao nhiêu nhân vật? Vua Hùng có mấy người con?...
- Lang Liêu làm mấy thứ bánh và những thứ bánh đó có ý nghĩa gì khơng?
Bài thơ: “Đàn gà con” Có bao nhiêu quả trứng? Nở ra bao nhiêu chú gà con?
Thơng qua hoạt động tạo hình nhiều kiến thức toán học được trẻ vận dụng
vào hoạt động nhận thức như hình dạng, màu sắc, độ to nhỏ, bố cục, xác định vị
trí..
Ví dụ: Qua việc mơ phỏng lại cách vẽ giúp trẻ tri giác tái tạo lại một số
hình dạng, kích thước tương ứng: Vẽ con gà: đầu trịn nhỏ, thân mình hình trịn
to, cánh hình tam giác.v.v.. hay qua những viên sỏi có kích thước, màu sắc
khác cũng tạo cho trẻ khả năng tư duy toán học và sáng tạo rất độc đáo, trẻ cảm
thấy hứng thú và tiếp thu kiến thức tốt hơn.


14


Mặt khác các hoạt động tạo hình là các hoạt động phản ánh sự vật hiện
tượng theo các yếu tố tốn học, sự phát triển các hoạt động tạo hình có ý nghĩa
quan trọng đối với sự phát triển năng lực vận dụng kiến thức của trẻ vào thực tiễn.
Hoặc: Trẻ vẽ lại các phương tiện giao thông từ các hình đó trẻ tri giác lại
các hình học trẻ đã học như: Vẽ người thân trong gia đình: Trẻ vận dụng các
hình hình học để vẽ được hình người như đầu là hình trịn; tay, chân, mình là
những hình chữ nhật, bàn tay, bàn chân là những hình tam giác.v.v..
- Thơng qua hoạt động góc. Trẻ sử dụng gạch, hộp sữa nhựa,...que tính
xếp thành các hình học, sử dụng dây chun để tạo hình học theo ý thích hoặc sử
dụng các hình học để tạo ra các hình khác nhau: 2 hình tam giác tạo thành 1 hình
chữ nhật hoặc 1 hình vng, 2 hình vng ghép lại thành 1 hình chữ nhật. khối
vng, khối chữ nhật, khối tam giác khối trụ v.v...Sử dụng các hình học xếp tạo
thành các đồ chơi đồ dùng theo ý tưởng sáng tạo của trẻ.

- Thơng qua hoạt động ngồi trời: Hoạt động ngồi trời là hoạt động mà
trẻ rất thích vì thay đổi môi trường học tập, tôi tận dụng sự hưng phấn của trẻ để
khai thác bổ sung thêm kiến thức, kỹ năng, về đồ vật có liên quan đến mơn tốn
cho trẻ.
Ví dụ: Cho trẻ quan sát ngơi nhà trẻ đã xếp được từ các nguyên vật liệu
trẻ kiếm được, hỏi về hình dạng...
Các con có nhận xét gì về ngơi nhà? (trẻ trả lời theo cách trẻ hiểu biết )
Mái nhà có dạng thế nào ? Mái nhà dạng hình tam giác, màu đỏ
Thân nhà dạng ra sao? Thân nhà dạng hình chữ nhật, màu xanh ...


15

- Thông qua hoạt động chiều: Để cũng cố lại kiến thức đã học giáo viên
nên tổ chức bằng nhiều trò chơi như cho trẻ chơi trò chơi vận động, chơi trị

chơi dân gian,...hoặc có thể lồng ghép các nội dung tiết học toán vào các bài
thơ, câu chuyện bài hát để dạy, giúp trẻ ghi nhớ sâu, nhớ lâu bài đã học.

Như vậy để nâng cao được kiến thức về bộ mơn tốn cho trẻ thơng qua
các hoạt động, bản thân là giáo viên cần phải dạy trẻ kiến thức cơ bản, bằng
những phương pháp gần gũi trẻ, ngắn gọn, đơn giản dễ hiểu, quan tâm sát sao,
khích lệ trẻ, động viên kịp thời những gì trẻ làm được, gợi ý hướng dẫn cho trẻ
chưa làm được, giúp trẻ ôn luyện kiến thức toán dể dàng, trẻ ghi nhớ sâu hơn,
lâu hơn về các biểu tượng toán, thúc đẩy nâng cao hiệu quả tiết dạy.
2.3.5. Biện pháp: Ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng:


16
Có thể nói cơng nghệ thơng tin là một trong những phương tiện, điều kiện
có tính khoa học, hiện đại hỗ trợ tích cực trong việc thực hiện chương trình giáo
dục mầm non hiện nay, đặc biệt là đổi mới phương pháp và hình thức dạy học.
Sự phối hợp giữa những hình ảnh, âm thanh sống động, hiệu ứng trình chiếu gây
cho trẻ sự hứng thú, kích thích trẻ trong quá trình quan sát và tri giác về một sự
vật hiện tượng nào đó. Đây có thể coi là một phương pháp ưu việt vừa phù hợp
với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, vừa thực hiện phương pháp dạy học “Lấy trẻ
làm trung tâm” một cách dễ dàng.
Đối với hoạt động “LQVT” tất cả trẻ cần được luyện tập thao tác với đồ
vật nhiều hơn nhằm củng cố kiến thức nếu quá lạm dụng CNTT thì làm hạn chế
hoạt động của trẻ. Vì vậy tùy vào từng bài dạy tôi nghiên cứu vận dụng đưa
CNTT bài giảng một cách linh hoạt thơng qua các trị chơi nhằm đảm bảo nội
dung kiến thức cung cấp và huy động tối đa trẻ tham gia vào hoạt động lĩnh hội
kiến thức.
Ứng dụng các phần mềm để thiết lập các trò chơi sáng tạo: nén âm thanh
vào biểu tượng như bài hát, nhạc, lời khen, tiếng động, câu hỏi….về một yêu
cầu nào đó trong trò chơi nhằm thu hút trẻ vào hoạt động. Sự xuất hiện của các

biểu tượng tùy chọn không mang tính áp đặt trẻ mà làm thỏa mãn nhu cầu khám
phá của trẻ kích thích trẻ hoạt động tích cực, hứng thú.
Ví dụ: Trong tiết tạo nhóm số lượng trong chủ đề động vật tôi tạo các hiệu
ứng, âm thanh, tiếng kêu các con vật, hình ảnh sinh động gây hứng thú với trẻ từ
đó gây được sự chú ý với trẻ hơn.
Ví dụ: Trị chơi “ Ơ số bí mật” Cơ có các ơ số và đằng sau mỗi ô số có
những chữ số hoặc những đồ dùng có số lượng trẻ cần học trẻ sẽ chọn chữ số
tương ứng với số lượng hoặc số lượng tương ứng với chữ số
Trò chơi chữ số đáng yêu: Trẻ chọn các nét rời ghép tạo thành các chữ số
theo yêu cầu hoặc theo ý thích của trẻ
Trị chơi: Ai đốn giỏi: Qua hình ảnh, tiếng kêu, câu đố và đốn nhanh chữ
số, hình, số lượng.. theo u cầu
Trị chơi: Ai chọn đúng: Qua hình ảnh trẻ quan sát xem con vật đó nằm ở
phía nào so với cây ( Tuỳ theo chủ đề cơ thiết lập cho phù hợp)
Ngồi ra trong thời gian nghỉ dịch COVID ở nhà tôi đã tự thiết kế một số
trò chơi ở dạng trắc nghiệm đúng sai và sau khi quay trở lại đi học, tôi sử dụng
để ôn luyện các kiến thức đã học cho trẻ, đó là các trị chơi:
+ Sắp xếp bút chì vào hộp theo thứ tự từ ngắn nhất đến dài nhất (chủ đề
trường Mầm non)
+ Sắp xếp các ngôi nhà theo thứ tự từ 1 đến 10 ( chủ đề gia đình)
+ Sắp xếp các cây theo thứ tự từ thấp nhất đến cao nhất ( chủ đề thực vật)
+ Trị chơi ơn luyện kỹ năng đếm và làm quen chữ số
+ Trò chơi cũng cố kiến thức về so sánh, thêm bớt trong phạm vi 6,7,8,9
+ Chọn cách chia đều các đối tượng ( 3-3, 4-4, 5-5…)
+ Rèn kỹ năng đếm từ 1 đến 10 ( chủ đề trường tiểu học)
Trẻ trực tiếp trải nghiệm trên slide và cùng bạn trong nhóm.


17
Việc ứng dụng CNTT vào hoạt động nhằm tạo cơ hội cho trẻ hoạt động

trong quá trình nhận thức như quan sát, so sánh, luyện tập… thơng qua các trị
chơi nhằm giúp trẻ vui học và lĩnh hội kiến thức tốt hơn.
2.3.6. Giải pháp: Phối hợp kết hợp phụ huynh trong việc nâng cao chất
lượng hình thành biểu tượng tốn tập hợp đếm và phép đo.
Ngoài các biện pháp các cách thức khác nhau nhằm giúp trẻ nâng cao
biểu tượng toán tập hợp, tập đếm và thao tác đo trong tiết học và mọi lúc mọi
nơi. Tơi cịn phối kết hợp cùng các phụ huynh của lớp về nhà rèn luyện thêm kỹ
năng so sánh, thêm bớt, tập đếm, thao tác đo cho trẻ. Cụ thể: Mời phụ huynh dự
một giờ dạy so sánh thêm bớt tạo sự bằng nhau giữa hai nhóm đối tượng và một
giờ dạy trẻ đo các đối tượng có độ dài khác nhau bằng một đơn vị đo.
Hàng ngày trao đổi cụ thể về khả năng nhận biết so sánh, đếm số đồ vật,
con vật, các thao tác đo của từng trẻ. Trao đổi với phụ huynh về kỹ năng sử dụng
đồ dùng học tập, đồ chơi cần thiết để luyện tập cho phù hợp vơi từng trẻ ở nhà.
Tuyên truyền cho phụ huynh hãy quan tâm đến trẻ như quan sát, giải quyết các
thắc mắc của trẻ, cho trẻ được thoải mái sáng tạo, xây dựng môi trường mở cho
trẻ hoạt động một cách tốt nhất, không những thế tôi gợi ý giúp phụ huynh phải
tham khảo các tài liệu như sách toán đố, sách bé vui học toán…Huy động phụ
huynh sưu tầm thêm nguyên vật liệu, phế liệu cho lớp để làm đồ chơi đồ dùng
học tập phục vụ cho việc cho trẻ làm quen với biểu tượng tốn thêm phong phú.
Từ đó giúp phụ huynh hiểu con hơn và giúp phụ huynh hiểu tầm quan trọng của
hoạt động “Cho trẻ làm quen với Tốn” là rất cần thiết và góp phần giúp trẻ có
tâm thế tốt khi bước vào cấp học khác.
2.4. Kết quả thực hiện
Với đề tài“Một số biện pháp gây hứng thú cho trẻ 5 - 6 tuổi hình thành
biểu tượng về số lượng và phép đếm tại trường mầm non Ngọc Trạo” Qua một
thời gian áp dụng những biện trên vào trong q trình giảng dạy trẻ, tơi thấy có
những kết quả như sau:
- Đối với trẻ: Trẻ lĩnh hội được các kiến thức, kỹ năng tư duy như: So
sánh, phân loại hình thành các biểu tượng về số lượng và phép đếm, thêm bớt,
tạo nhóm, định hướng trong khơng gian và thời gian. Tỷ lệ trẻ có kỹ năng xếp

tương ứng 1-1 và so sánh, phát hiện các quy tắc sắp xếp theo quy tắc đơn giản
và hiểu các khái niệm đơn giản về toán được nâng lên, đa số trẻ đã biết so sánh
phân biệt các hình học, hình khối. Biết đếm, nhận biết quan hệ số lượng trong
phạm vi 10, nhận biết các chữ số từ 0 - 10. Biết thực hiện và rất nhanh nhẹn
trong một số phép biến đổi đơn giản như thêm bớt, tạo nhóm, chia nhóm đồ vật
có số lượng trong phạm vi 7 chia ra 2 phần. Biết được các phía của bản thân và
của người khác. Biết đo dung tích bằng 1 đơn vị đo; Nhận biết về thời gian một
cách chính xác hơn...Trẻ mạnh dạn, tự nhiên hơn, biết đưa ra các câu hỏi thích
hợp, tiếp thu bài chủ động và tích cực hơn.
Bảng 2: Kết quả đánh giá các kỹ năng biểu tượng toán tập hợp
Tập đếm - số lượng và phép đo cuối năm học: 2020 - 2021 như sau:


18
S
T
T
1
2
3
4

Xếp loại trẻ
Các kỹ năng
Tập hợp biểu tượng số
lượng.
Xếp tương ứng 1-1
Kỹ năng đếm, so sánh,
thêm bớt.
Kỹ năng đo


TST
KS

Tốt

Khá

Trung
bình

Yếu

Số trẻ

Số
trẻ

%

Số
trẻ

%

Số
trẻ

%


Số
trẻ

%

33

23

70

10

30

0

0

0

0

33

25

76

8


24

0

0

0

0

33

24

73

9

27

0

0

0

0

33


23

70

9

27

1

3

0

0

- Đối với giáo viên: Sau khi đầu tư nghiên cứu tài liệu, tích lũy kinh
nghiệm bản thân tơi đã nắm vững phương pháp, Thiết kế và đổi mới hình thức tổ
chức làm cho giờ học sinh động, hấp dẫn luôn tạo ra cái mới trong tiết dạy. Với
những kinh nghiệm trên tôi đã nắm chắc được các phương pháp khi hướng dẫn
cho trẻ làm quen với toán tùy với từng đề tài, từng chủ đề cũng như các nội dung
và yêu cầu của môn học đề ra. Sáng tạo trong việc xây dựng góc mở, làm đồ
dùng, học liệu cho trẻ hoạt động học toán.
- Đối với phụ huynh: Phụ huynh nhìn nhận và ln tin tưởng và ủng hộ,
đa số họ đã nhận thức được rõ tầm quan trọng của mơn Tốn đối với trẻ 5 tuổi
nên đã giúp đỡ cô cháu cả về vật chất lẫn tinh thần, cùng cô thu gom nguyên vật
liệu phế thải để làm đồ chơi, đồ dùng học tập cho trẻ.
* Khả năng ứng dụng của đề tài:
Đề tài: "Biện pháp gây hứng thú cho trẻ 5- 6 tuổi hình thành biểu tượng

về số lượng và phép đếm ở trường mầm non" Qua đây tơi cũng mong rằng bộ
mơn Làm quen với tốn và đặc biệt là gây hứng thú và hình thành biểu tượng về
số lượng và pheps đếm cho trẻ sẽ khơng cịn là bộ mơn khó trong suy nghĩ của
giáo viên, mà nó sẽ là bộ mơn hấp dẫn, phong phú đối với cả cô giáo và các con.
Bên cạnh đó biện pháp thực sự có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu đổi
mới dạy học và giáo dục, phù hợp với đối tượng trẻ em mầm non và thực tiễn
nhà trường, địa phương trong cơng tác chăm sóc, ni dưỡng, giáo dục trẻ em và
cơng tác chăm sóc, giáo dục tại trường mầm non Ngọc Trạo.
Được nhà trường và đồng nghiệp ghi nhận hiệu quả mang lại từ việc sử
"Một số Biện pháp gây hứng thú cho trẻ 5- 6 tuổi hình thành biểu tượng về số
lượng và phép đếm tại trường mầm non Ngọc Trạo” trong công tác giáo dục trẻ
và được nhân rộng ra sử dụng trong phạm vi toàn trường.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Như vậy ta có thể khẳng định rằng: Hoạt động cho trẻ làm quen với biểu
tượng toán là một trong những nội dung quan trọng giáo dục trẻ mầm non.
LQVT đã góp phần quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ, tư duy ngơn ngữ,
giáo dục đạo đức, thẩm mỹ cho trẻ. Muốn thực hiện tốt hoạt động LQVT, cơ
giáo cần có kiến thức kỹ năng vững vàng, có tinh thần học hỏi, nhiệt tình. Biết
sử dụng phối hợp các phương pháp một cách linh hoạt, sáng tạo, khôn khéo và
phải hiểu rằng không phải lúc nào trẻ cũng làm được như mình mong muốn.


19
Giáo viên hãy xem đó là điều bình thường. Hãy coi các lỗi của trẻ là cơ hội để
trẻ tìm hiểu cái mới. Cho trẻ thời gian suy nghĩ là điều rất cần thiết. Khả năng
tiếp nhận của mỗi trẻ là rất khác nhau, giáo viên khơng nên nơn nóng nhận thấy
trẻ chưa làm được, giáo viên cần quan tâm, lắng nghe, đặt bản thân mình vào trẻ,
cần kiên nhẫn sử dụng câu hỏi gợi ý từng bước một, vui vẻ khuyến khích trẻ.
Thái độ thân thiện và lời khen ngợi gần gũi của giáo viên là động lực khích lệ,

động viên ấm áp đối với trẻ.
Cần khéo léo đưa các kiến thức toán học trong cuộc sống một cách thật
nhẹ nhàng, từng ít một. Giáo viên nên vận dụng linh hoạt các biện pháp sáng tạo
vận dụng các trò chơi học tập, trị chơi dân gian tốn học, bài hát, câu chuyện để
biến tiết học tốn khơ khan thành đề tài đầy lý thú đối với trẻ. Có như vậy vấn
đề làm quen với toán mới trở thành đề tài hấp dẫn trẻ. Trẻ tiếp nhận với niềm vui
sướng, tò mò, khám phá, niềm vui và khởi nguồn của sự say mê, hứng thú cần
tạo môi trường nuôi dưỡng cho trẻ niềm vui khi học toán để trẻ tiếp thu kiến
thức một cách nhẹ nhàng nhất.
Có như vậy và chỉ có như vậy thì trẻ mới học tốt hơn mơn học làm quen
với tốn 5 tuổi đạt kết quả như ta mong đợi. Những biện pháp trên qua quá trình
tổ chức thực hiện phương pháp dạy học tích cực, đã giúp giáo viên thích ứng với
những nhiệm vụ đa dạng, phức tạp trong quá trình giáo dục trẻ. Nhằm hệ thống
hóa kiến thức về phương pháp dạy học tích cực và nâng cao chất lượng toàn
diện cho trẻ, từ đó có những kỹ năng ứng xử linh hoạt với các tình huống sư
phạm. Giáo viên linh hoạt trong việc tổ chức các hoạt động và phối hợp các
phương pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục. Trẻ được trải nghiệm nhiều, trẻ chủ
động, tự giác, tích cực tìm tịi, khám phá góp phần giúp trẻ phát triển tồn diện.
3.2. Đề xuất, kiến nghị
3.2.1. Đối với nhà trường:
Cần tổ chức cho giáo viên tham gia giao lưu, học tập, trao đổi kinh
nghiệm với các đồng nghiệp ở các trường bạn để có thêm phong phú hơn các
kinh nghiệm, các biện pháp chăm sóc giáo dục cho các con phát triển tồn diện.
3.2.2. Đối với Phịng GD&ĐT:
Tổ chức các hoạt động học mẫu cũng như tiếp tục phát động các cuộc thi
làm các đồ dùng, đồ chơi học toán tự tạo để giáo viên có điều kiện tham gia học
tập, đúc rút kinh nghiệm và có thêm phong phú hơn các đồ dùng đồ chơi cho các
con hoạt động học tập.
Trên đây là "Một số Biện pháp gây hứng thú cho trẻ 5 - 6 tuổi hình
thành biểu tượng về số lượng và phép đếm tại trường mầm non Ngọc Trạo”

Tôi rất mong nhận được sự quan tâm, bổ sung, góp ý cũng như ý kiến của hội
đồng khoa học các cấp!
Tôi xin trân trọng cảm ơn!


XÁC NHẬN CỦA
HIỆU TRƯỞNG

20
, ngày 25 tháng 03 năm 2021
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
tôi viết không sao chép nội dung của
người khác
Người viết

XÁC NHẬN CỦA LÃNH ĐẠO PHÒNG GD&ĐT


21
TÀI LIỆU THAM KHẢO

STT

1

2

3
4
5

6
7

NHÀ XUẤT BẢN

NĂM XUẤT
BẢN

NXB Giáo Dục Việt
Nam

2018

Đề cương bài giảng lý luận và
phương pháp hướng dẫn trẻ làm
quen với Tốn

NXB- ĐHSP Thái
Ngun

2013

Tuyển tập trị chơi, bài hát, thơ
ca, truyện, câu đố theo chủ đề
cho trẻ 5-6 tuổi.

Viện chiến lược và
chương trình giáo dục.

2018


TÊN TÀI LIỆU
Hướng dẫn thực hiện chương
trình GDMN 5-6 tuổi

Giáo trình phương pháp cho trẻ
NXB –ĐHSP Huế
làm quen với tốn
Tạp chí Giáo dục mầm non
NXB-Đại học sư phạm
Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm NXB-ĐHSP Hà Nội
non
Tập san, intenet

2007
2017
2008


22
MỤC LỤC
Trang
1. MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
1.1. Lý do chọn đề tài............................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu......................................................................................2
1.3. Đối tượng nghiên cứu.....................................................................................2
1.4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................2
2. NỘI DUNG.......................................................................................................2
2.1. Cơ sở lý luận..................................................................................................2
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm..................3

2.2.1. Thuận lợi.....................................................................................................3
2.2.2. Khó khăn.....................................................................................................3
2.2.3. Khảo sát thực tế...........................................................................................3
2.3. CÁC BIỆN PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN:.........................................4
2.3.1. Biện pháp: Tự học, tự bồi dưỡng về phương pháp dạy học lấy trẻ làm
trung tâm. Nắm vững đặc điểm tâm sinh lý, phân loại đối tượng trẻ....................4
2.3.2. Biện pháp: Xây dựng môi trường học tập theo hướng mở, Làm đồ dùng,
đồ chơi sáng tạo là điều kiện cần thiết tạo cơ hội cho trẻ tham gia hứng thú vào
hoạt động nhận thức một cách tích cực.................................................................7
2.3.3. Biện pháp: Đổi mới hình thức tổ chức. Sử dụng các phương pháp linh
hoạt sáng tạo trong việc dạy trẻ làm quen với toán...............................................9
2.3.4. Biện pháp: Phát huy tính tích cực cho trẻ “làm quen với tốn” mọi lúc,
mọi nơi và thông qua hoạt động học khác...........................................................12
2.3.5. Biện pháp: Ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng:........................15
2.3.6. Giải pháp: Phối hợp kết hợp phụ huynh trong việc nâng cao chất lượng
hình thành biểu tượng tốn tập hợp đếm và phép đo..........................................16
2.4. Kết quả thực hiện.........................................................................................17
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.......................................................................18
3.1. Kết luận........................................................................................................18
3.2. Đề xuất, kiến nghị........................................................................................19
3.2.1. Đối với nhà trường:...................................................................................19
3.2.2. Đối với Phòng GD&ĐT:...........................................................................19
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................20


23




×