Tải bản đầy đủ (.docx) (140 trang)

Hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay tại ngân hàng thương mại cổ phần nam á chi nhánh quy nhơn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (551.05 KB, 140 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

TRẦN THÚY KIỀU

HỒN THIỆN KIỂM SỐT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG

CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN NAM Á– CHI NHÁNH QUY NHƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TỐN

Bình Định - Năm 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

TRẦN THÚY KIỀU

HỒN THIỆN KIỂM SỐT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG

CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN NAM Á– CHI NHÁNH QUY NHƠN
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 8340301

Người hướng dẫn: PGS.TS. Đường Nguyễn Hưng


i



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là cơng trình nghiên cứu thực sự của cá
nhân tơi, chưa được cơng bố trong bất cứ một cơng trình nghiên cứu nào. Các
số liệu, nội dung được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn hợp lệ và
đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Tơi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình.
Tác giả luận văn

Trần Thúy Kiều


ii

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS. Đường
Nguyễn Hưng trong quá trình tơi viết và hồn thành luận văn.
Tơi xin bày tỏ lịng biết ơn tới các thầy cơ giáo Trường Đại học Quy
Nhơn đã truyền đạt kiến thức, tạo điều kiện giúp tơi trong q trình nghiên
cứu hồn thiện, bảo vệ luận văn này.
Tôi cũng xin cảm ơn Ban lãnh đạo, các cán bộ của Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Nam Á – Chi nhánh Quy Nhơn đã nhiệt tình giúp đỡ tơi trong
q trình tìm hiểu điều tra, phỏng vấn và thu thập số liệu phục vụ cho quá
trình thực hiện nghiên cứu này.

Tác giả luận văn

Trần Thúy Kiều



1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Q trình hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển đất nước theo hướng
tồn cầu hóa làm cho vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng tăng,
đặc biệt khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức
thương mại thế giới (WTO), quá trình này ngày càng toàn diện hơn, rõ nét
hơn và với tốc độ nhanh hơn.
Cùng với sự phát triển đó, các tổ chức kinh tế của Việt Nam cũng lớn
mạnh không ngừng, đặc biệt là sự thay đổi cả về chất và lượng của hệ thống
ngân hàng góp phần vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ngân hàng ra đời trong
yêu cầu tất yếu của thời đại, đáp ứng nhu cầu của đại đa số quần chúng. Ngày
càng phát triển và hồn thiện, ngân hàng đóng một vai trị to lớn trong sự phát
triển phồn thịnh của đất nước, là bộ mặt của nước ta khi trao đổi, giao dịch
với bên ngồi thơng qua các giao dịch mang tính chất quốc tế.
Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đã có tác động rất
lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hố, ngược lại
kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị
trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định
chế tài chính khơng thể thiếu được.
Nhưng song song với sự phát triển kinh tế, trên thực tế cho thấy mặc dù
đóng vai trị quan trọng như vậy trong nền kinh tế nhưng từ trước tới nay các
NHTM cũng đã gặp những khó khăn nhất định, đặc biệt là trong hoạt động
cho vay. Hoạt động cho vay là hoạt động phổ biến của tổ chức tín dụng, cũng
là hoạt động quan trọng trong nền kinh tế. Hoạt động này luôn được đánh giá
là một trongnhững nghiệp vụ ngân hàng phức tạp và có độ rủi ro cao. Để hoạt
động cho vay diễn ra được an toàn, hiệu quả tránh những rủi ro không mong
muốn, hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro xảy ra thì cần xây dựng và hồn thiện
kiểm soát nội bộ trong quản trị điều hành hoạt động cho vay.



2
Có thể khẳng định, kiểm sốt nội bộ hoạt động cho vay là vấn đề cấp
thiết hiện nay của ngành ngân hàng nói chung và Ngân hàng TMCP Nam Á –
Chi nhánh Quy Nhơn nói riêng, với mong muốn tìm hiểu thực trạng kiểm soát
nội bộ hoạt động cho vay, từ đó đề ra một số giải pháp để hồn thiện kiểm
soát nội bộ hoạt động cho vay tại Ngân hàng Ngân hàng TMCP Nam Á – Chi
nhánh Quy Nhơn, đó chính là lý do tơi chọn đề tài nghiên cứu “Hồn thiện
kiểm sốt nội bộ hoạt động cho vay tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam
Á

– Chi nhánh Quy Nhơn”.

2.Tởng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Kiểm sốt nội bộ hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động cho vay nói
riêng tại Ngân hàng thương mại là một đề tài không hề xa lạ, đã được các nhà
khoa học, nhà kinh tế quan tâm và có những cơng trình nghiên cứu mang tầm
vĩ mơ, đem lại hiệu quả trong hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại.
Dưới đây là một vài nghiên cứu trong tổng thể nội dung KSNB hoạt động cho
vay trong thời gian vừa qua:
Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Phan Thụy Thanh Thảo (2007) tại
Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh“Hồn thiện hệ thống kiểm
sốt nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng trong các Ngân hàng thương mại trên
địa bàn tỉnh Bình Dương”, (tài liệu Luận văn thạc sĩ tại thư viện trường Đại
học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh). Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng
bảng câu hỏi về Hệ thống kiểm soát nội bộ để khảo sát thực trạng kiểm soát
nội bộ nghiệp vụ tín dụng tại một số ngân hàng thương mại quốc doanh và cổ
phần trên địa bàn tỉnh Bình Dương, đánh giá tính hữu hiệu và những yếu kém
của hệ thống kiểm soát nội bộ trong việc phát hiện, ngăn ngừa rủi ro tín dụng.

Thơng qua việc phân tích, đánh giá các ưu, nhược điểm của hệ thống kiểm
soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng để đưa ra các giải pháp khắc phục các
nhược điểm của hệ thống nhằm đem lại khả năng kiểm soát tối ưu của NHTM
về hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của tác giả là toàn bộ


3
các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Bình Dương mà chưa đi sâu vào
từng thành phần của KSNB gắn với ngân hàng cụ thể.
Tác giả Lê Thị Ngọc với đề tài“Hồn thiện quy trình kiểm sốt nội bộ
hoạt động cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt
Nam Đồng Nai – chi nhánh Tân Biên” (2011) Luận văn thạc sĩ kinh tế,
Trường Đại học Lạc Hồng (tài liệu luận văn thạc sĩ tại trường Đại học Lạc
Hồng, Biên Hịa, Đồng Nai) đã trình bày quy trình kiểm sốt nội bộ hoạt động
cho vay tại chi nhánh một cách hoàn chỉnh nhất, rút ra được những khó khăn,
hạn chế mà chi nhánh đang gặp phải. Từ đó đưa ra những giải pháp hồn thiện
quy trình kiểm soát hoạt động cho vay.
Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Mậu Hạnh Nguyên (2015),
“Hoàn thiện cơng tác kiểm sốt nội bộ trong hoạt động cho vay tại Ngân
hàng Thương mại Cổ phần Bản Việt”, Trường Đại học Đà Nẵng (tài liệu luận
văn thạc sĩ tại thư viện trường Đại học Đà Nẵng), tác giả đã hệ thống lại các
lý luận về kiểm soát nội bộ, kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay tại ngân hàng
thương mại đồng thời phân tích thực trạng cơng tác kiểm soát nội bộ hoạt
động cho vay tại ngân hàng TMCP Bản Việt để rút ra những kết quả và hạn
chế của cơng tác này. Từ đó đề ra một số giải pháp để hồn thiện cơng tác
kiểm sốt nội bộ hoạt động cho vay tại ngân hàng TMCP Bản Việt. Tác giả đã
đi sâu phân tích từng bước trong quy trình cho vay tại đơn vị, trình bày cụ thể
về các thủ tục kiểm sốt trong quy trình tín dụng đồng thời nêu và trình bày
sai sót của việc kiểm tra chọn mẫu hồ sơ tín dụng.
Nguyễn Thị Hồi Giang (2015), Kiểm sốt nội bộ hoạt động tín dụng tại

ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Bắc Quảng Bình,
Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Đà Nẵng (tài liệu luận văn thạc sĩ tại
thư viện trường Đại học Đà Nẵng), luận văn đã chỉ rõ được những khuyết điểm
còn tồn tại trong hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ; đồng thời đưa ra các giải
pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ Ngân hàng.


4
Hoàng Thị Quỳnh Giao (2016), Hoàn thiện hoạt động kiểm soát nội bộ
đối với lĩnh vực cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
chi nhánh Quảng Trị, Trường Đại học Đà Nẵng (tài liệu luận văn thạc sĩ tại
thư viện trường Đại học Đà Nẵng).Trong bài luận văn, ngoài việc hệ thống lại
cơ sở lý luận, tác giả đã mơ tả tồn diện hoạt động kiểm soát nội bộ đối với
lĩnh vực cho vay tại Chi nhánh, từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể.
Nguyễn Kim Quốc Trung (2017), Mối quan hệ giữa kiểm soát nội bộ và
rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại, Tạp chí Tài chính, website:
tapchitaichinh.vn. Tác giả đã chỉ ra được mối quan hệ mật thiết giữa kiểm sốt
nội bộ và rủi ro tín dụng.
Nhìn chung các cơng trình nghiên cứu trên đã tạo ra được nền tảng kiến
thức về kiểm soát nội bộ trong hoạt động cho vay, đóng góp vào thực tiễn của
từng đơn vị. Trong bài luận văn này, tác giả đã kế thừa và khắc phục được một
số hạn chế còn tồn tại, đưa ra đánh giá khoa học về kiểm soát nội bộ hoạt
động cho vay, cụ thể là tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Nam Á – chi
nhánh Quy Nhơn. Mặt khác, quy trình kiểm sốt hoạt động cho vay được tác
giả tìm hiểu tại thời điểm hiện tại, có những khác biệt so với những tài liệu đã
tìm hiểu về kiểm sốt nội bộ hoạt động cho vay trước đó.Việc nghiên cứu đề
tài này nhằm để phát huy vai trò của kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay tại
đơn vị, thấy được những tồn tại hạn chế đang vướng mắc nhằm hồn thiện
kiểm sốt nội bộ hoạt động cho vay nói riêng và hệ thống kiểm sốt nội bộ tại
đơn vị nói chung, đưa Ngân hàng TMCP Nam Á – chi nhánh Quy Nhơn phát

triển bền vững, hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro xảy ra.
3.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
-

Phân tích, đánh giá thực trạng kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay tại

Ngân hàng TMCP Nam Á – chi nhánh Quy Nhơn.
-

Đề xuất giải pháp nhằm hồn thiện kiểm sốt nội bộ hoạt động cho vay

tại Ngân hàng TMCP Nam Á – chi nhánh Quy Nhơn trong thời gian tới.


5
4.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-

Đối tượng nghiên cứu: Kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay tại Ngân

hàng TMCP Nam Á – chi nhánh Quy Nhơn.
-

Phạm vi nghiên cứu: Hệ thống Kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng TMCP

Nam Á – chi nhánh Quy Nhơngiai đoạn 2016 - 2018.

5.

Phương pháp nghiên cứu
-

Sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong khoa học xã hội bao

gồm phương pháp thống kê, thu thập xử lý dữ liệu các bảng khảo sát bằng bảng
câu hỏi để khảo sát thực trạng công tác KSNB đối với hoạt động cho vay tại Nam

Á Quy Nhơn, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích và tổng hợp.
-

Đồng thời, bài luận văn sử dụng các số liệu, dữ liệu phù hợp với quá

trình phân tích thực tiễn và hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Nam Á – chi
nhánh Quy Nhơn. Luận văn cũng sử dụng các văn bản pháp luật của Nhà nước
liên quan đến lĩnh vực tài chính, tín dụng để phân tích làm sáng tỏ vấn đề.
6.

Ý nghĩa khoa học của đề tài
-

Giúp người đọc nắm được những lý luận cơ bản về kiểm soát nội bộ

trong ngân hàng thương mại.
-

Có cái nhìn tổng qt về những thành tựu và hạn chế trong cơng tác


kiểm sốt nội bộ hoạt động cho vay tại chi nhánh.
-

Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả KSNB hoạt động cho

vay tại ngân hàng TMCP Nam Á – chi nhánh Quy Nhơn.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, bài luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay trong NHTM
Chương 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay tại Ngân hàng

TMCP Nam Á – chi nhánh Quy Nhơn
Chương 3: Giải pháp hồn thiện kiểm sốt nội bộ hoạt động cho vay tại
Ngân hàng TMCP Nam Á – chi nhánh Quy Nhơn


6

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘHOẠT ĐỘNG
CHO VAY TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về Kiểm sốt nội bộ
1.1.1 Khái niệm
Trong lịch sử hình thành và phát triển, Kiểm sốt nội bộ ln là vấn đề
quan tâm của các nhà nghiên cứu khoa học, khái niệm Kiểm sốt nội bộ đã
được đúc kết và hình thành bằng nhiều cách khác nhau, qua thời gian khái
niệm này ngày càng đầy đủ và hoàn thiện hơn, thể hiện được tinh thần cốt lõi
của KSNB.
Trong những năm cuối thế kỉ XIX, thuật ngữ kiểm soát nội bộ bắt đầu
xuất hiện. Các kiểm toán viên bắt đầu quan tâm đến kiểm sốt nội bộ để thực

hiện cơng việc nhận xét báo cáo tài chính.
Những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, nhiều quan điểm khẳng
định kiểm soát nội bộ là công cụ để nhà quản lý ngăn ngừa gian lận, bao gồm
biển thủ tài sản và trình bày sai trên BCTC.
Theo khuôn khổ SAC (Systems Auditability and Control) - Kiểm soát và
Khả năng kiểm toán các hệ thống thơng tin, KSNB là một tập hợp các tiến
trình, các chức năng, các hoạt động, các hệ thống và con người – được tổ chức
thành từng nhóm hay được phân tách có mục đích nhằm bảo đảm việc đạt
được một cách có hiệu quả các mục tiêu mà có thể đo lường cụ thể.
Theo Liên đồn Kế tốn Quốc tế (2009), KSNB được hiểu là “một quá
trình được thiết kế và chịu sự chi phối của các nhà quản lý và các nhân viên
trong một tổ chức nhằm cung cấp sự đảm bảo hợp lý về việc đạt được các
mục tiêu liên quan đến độ tin cậy của BCTC, hiệu quả hoạt động và hiệu năng
quản lý và tuân thủ các quy định, luật lệ”.
Theo Basel (2010), KSNB là nhằm đảm bảo rằng ban quản lý cấp cao


7
thiết lập và duy trì hệ thống và quy trình KSNB đầy đủ và hiệu quả. Các hệ
thống và quy trình cần được thiết kế để đảm bảo trong các lĩnh vực bao gồm
báo cáo (tài chính và hoạt động), giám sát việc tuân thủ pháp luật, các quy
định và chính sách nội bộ, hiệu quả của hoạt động và bảo vệ tài sản.
Theo COSO năm 1992 (The Committee of Sponsoring Organizations of
the Treadway Commission)- Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về
chống gian lận khi lập báo cáo tài chính, KSNB là một q trình do người
quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết
lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lí nhằm thực hiện mục tiêu: (i) Báo cáo
tài chính đáng tin cậy; (ii) Các luật lệ và quy định được tuân thủ; (iii) Hoạt
động hữu hiệu và hiệu quả.
Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới nghiên cứu và định

nghĩa về kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ và có hệ thống. Đặc điểm của báo
cáo này là cung cấp một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, trong đó kiểm
sốt nội bộ khơng chỉ cịn là vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính mà được
mở rộng ra cho cả phương diện hoạt động và tuân thủ.
Sau hơn 20 năm, COSO đã ban hành bản cập nhật mới là COSO Internal
Control 2013, theo đó, KSNB là tiến trình được thiết lập và vận hành bởi hội
đồng quản trị, ban quản lý và các nhân sự khác, được thiết kế để đem lại một
sự bảo đảm hợp lý đối với việc đạt được các mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo
cáo và sự tuân thủ với các luật và quy định liên quan.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 315:“KSNB là quy trình do
Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực
hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của
đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả,
hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan”.[Chuẩn
mực kiểm tốn Việt Nam số 315, ban hành theo Thông tư số 214/2012/TT-


8
BTC có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 thay thế chuẩn mực400].
Theo điều 39, Luật kế toán Việt Nam năm 2015 nêu rõ: “Kiểm soát nội bộ
là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế tốn các cơ chế,
chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm
bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra.”
[Điều 39 Luật Kế tốn số 88/2015/QH13, có hiệu lực từ 01/01/2017].

Từ những khái niệm được đúc kết qua nhiều định nghĩa như trên, ta có
thể khái qt nội dung chính của khái niệm kiểm sốt nội bộ gồm những ý
chính sau:
-


Kiểm sốt nội bộ hướng đến việc đạt được các mục tiêu của tổ chức.

-

Kiểm sốt nội bộ là một tiến trình bao gồm các tác vụ và hoạt động

được thực hiện liên tục- là phương tiện để đạt được mục đích hơn là mục đích
cuối cùng.
-Kiểm sốt nội bộ được thực hiện bởi con người: KSNB khơng đơn
thuần là các chính sách và các hướng dẫn thực hiện các thủ tục, các hệ thống,
các khuôn mẫu, mà là về con người và các hành động được thực hiện ở các
cấp trong cơ cấu tổ chức để thực hiện kiểm soát nội bộ, làm cho kiểm sốt nội
bộ có hiệu lực.
-

KSNB đem lại sự đảm bảo ở mức độ hợp lý chứ không tuyệt đối cho

việc đạt được các mục tiêu của tổ chức.
-

KSNB có thể thích ứng với các cơ cấu tổ chức khác nhau, kể cả các bộ

phận khác nhau trong một tổ chức.
1.1.2 Ý nghĩa của Kiểm soát nội bộ
Kiểm soát nội bộ được thiết lập nhằm giúp cho tổ chức đạt được các mục
tiêu đã vạch ra và hạn chế đến mức thấp nhất các vấn đề bất lợi xảy đến với tổ
chức.Các q trình kiểm sốt trong một đơn vị được thiết kế nhằm ngăn ngừa
sự lặp lại không cần thiết các tác nghiệp, gây ra sự lãng phí trong hoạt động



9
và sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực trong doanh nghiệp. Định kỳ các nhà
quản lý thường đánh giá kết quả hoạt động bằng việc thực hiện các cơ chế
giám sát của hệ thống kiểm soát nội bộ doanh nghiệp, nhằm nâng cao khả
năng quản lý, điều hành của bộ máy quản lý doanh nghiệp.
KSNB được kỳ vọng có thể giải quyết được nhiều vấn đề trong tổ chức.
Giúp cho nhà quản lý thích ứng với mơi trường bên ngoài và bên trong tổ
chức thường xuyên biến đổi nhanh chóng.Một hệ thống KSNB hữu hiệu tạo
điều kiện bảo đảm kinh tế, hiệu quả và hiệu suất của các hoạt động, tính tin
cậy của báo cáo nội bộ và báo cáo bên ngồi. Tăng cường tính tn thủ với
các luật và quy định. Trên cơ sở đó, kiểm sốt nội bộ đóng góp vào việc bảo
đảm tính sinh lợi của khoản đầu tư chủ sở hữu của tổ chức.
1.1.3 Yêu cầu và nguyên tắc hoạt động của Kiểm soát nội bộ
Quy trình hoạt động và quy trình kiểm sốt nội bộ được xác định rõ ràng
bằng văn bản và được truyền đạt rộng rãi trong nội bộ công ty. Đảm bảo mọi
cán bộ, nhân viên tại đơn vị đều phải quán triệt được tầm quan trọng của hoạt
động kiểm tra, kiểm sốt nội bộ; vai trị của từng cá nhân trong q trình kiểm
tra, kiểm sốt nội bộ có liên quan đến chức năng nhiệm vụ của bản thân họ và
phải tham gia thực hiện một cách đầy đủ và có hiệu quả các quy định, quy
trình kiểm tra, kiểm soát nội bộ liên quan.
Các hoạt động rủi ro được phân tách rõ ràng giữa những nhân viên khác
nhau. Trong một tổ chức, các công việc cần phân công đồng đều, phù hợp với
năng lực và trình độ của từng cán bộ, tránh trường hợp người làm việc quá
nhiều người khơng có gì để làm, cơng việc chồng chéo dẫn đến nhiều rủi ro
khơng kiểm sốt được.
Tất cả các giao dịch phải được thực hiện với sự uỷ quyền thích hợp. Cơ
chế phân cấp ủy quyền rõ ràng, minh bạch; đảm bảo tách bạch nhiệm vụ,
quyền hạn của các cá nhân, các bộ phận trong đơn vị.Cơ chế phân cấp ủy



10
quyền phải được thiết lập, thực hiện một cách hợp lý, cụ thể, rõ ràng, tránh
các xung đột lợi ích; đảm bảo một cán bộ không đảm nhiệm cùng một lúc
những cương vị, nhiệm vụ có mục đích, quyền lợi mâu thuẫn hoặc chồng chéo
với nhau; đảm bảo mọi cán bộ trong đơn vị khơng có điều kiện để thao túng
hoạt động, bưng bít thơng tin phục vụ các mục đích cá nhân hoặc che giấu các
hành vi vi phạm quy định của pháp luật và quy định nội bộ.
Mọi nhân viên đều phải tuân thủ hệ thống kiểm soát nội bộ. Tổ chức cần
phải bảo đảm mọi thành viên của tổ chức chịu trách nhiệm về việc thực hiện các
trách nhiệm kiểm sốt nội bộ trong q trình thực hiện các mục tiêu của tổ chức.

Trách nhiệm kiểm tra và giám sát được phân tách rõ ràng. Việc kiểm tra
giám sát giúp phát hiện ngay các sai sót và gian lận hoặc sự không tuân thủ
nếu xảy ra trong quá trình làm việc của cá nhân. Trách nhiệm được phân tách
rõ nhằm đảm bảo việc kiểm tra, giám sát mang tính khách quan.
Định kỳ tiến hành các biện pháp kiểm tra độc lập. Kiểm tra là việc xem
xét một đối tượng có phản ánh đúng thực tế hoặc có tuân thủ các quy định đã
ban hành hay không. Kiểm tra độc lập giúp đảm bảo tính khách quan của quá
trình kiểm tra. Việc kiểm tra độc lập định kỳ giúp phát hiện ra các sai sót, gian
lận, ngồi ra cịn có tác dụng nhắc nhở, tạo nền nếp làm việc tuân thủ các quy
định, các yêu cầu công việc được giao.
Mọi giao dịch quan trọng phải được ghi lại dưới dạng văn bản. Việc ghi lại
dưới dạng văn bản là bằng chứng tốt nhất thể hiện được những gì đã thực hiện.

Thực hiện tốt những nguyên tắc đó sẽ mang lại cho cơng ty một hệ thống
kiểm sốt nội bộ hoạt động có hiệu quả, ngăn ngừa rủi ro và sai phạm, nâng
cao chất lượng thông tin khiến cho các nhà quản lý quản trị doanh nghiệp một
cách phù hợp nhất.
Mọi rủi ro có nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả và mục tiêu hoạt
động của đơn vị đều phải được nhận dạng, đo lường, đánh giá một cách

thường xuyên, liên tục để kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và có biện pháp quản


11
lý rủi ro thích hợp. Mỗi khi có sự thay đổi về các mục tiêu kinh doanh, các
sản phẩm, dịch vụ và các hoạt động kinh doanh mới, tổ chức tín dụng phải rà
sốt, nhận dạng các rủi ro liên quan để xây dựng, sửa đổi, bổ sung các cơ chế,
quy trình, quy định kiểm tra, kiểm sốt nội bộ phù hợp.
Hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ là một phần không tách rời của các
hoạt động hàng ngày của tổ chức tín dụng. Cơ chế kiểm tra, kiểm soát nội bộ
được thiết kế, cài đặt, tổ chức thực hiện ngay trong mọi quy trình nghiệp vụ,
tại tất cả các đơn vị, bộ phận của tổ chức tín dụng dưới nhiều hình thức như:
-

Cơ chế kiểm tra chéo giữa các cá nhân, các bộ phận cùng tham gia một

quy trình nghiệp vụ.
-

Quy định về hạn mức rủi ro cụ thể đối với từng cá nhân, bộ phận trong

việc thực hiện các giao dịch.
-

Quy trình và cơ chế thẩm định, kiểm tra, chấp thuận và duyệt cho phép

thực hiện các giao dịch; đảm bảo một quy trình nghiệp vụ phải có ít nhất 2
cán bộ tham gia, khơng có cá nhân nào có thể một mình tiến hành thực hiện
và quyết định một quy trình nghiệp vụ, một giao dịch cụ thể, ngoại trừ những
giao dịch trong hạn mức được tổ chức tín dụng cho phép phù hợp với quy

định của pháp luật.
Đảm bảo chấp hành chế độ hạch toán, kế tốn theo quy định và phải có
hệ thống thơng tin nội bộ về tài chính, về hoạt động, về tình hình tn thủ
trong tổ chức tín dụng và tình hình kinh tế, thị trường bên ngồi hợp lý, tin
cậy, kịp thời nhằm phục vụ cho công tác quản trị, điều hành có hiệu quả.
Hệ thống thơng tin, tin học của tổ chức tín dụng phải được giám sát, bảo
vệ một cách hợp lý, an tồn và phải có cơ chế quản lý dự phòng độc lập nhằm
xử lý kịp thời những tình huống bất ngờ như thiên tai, cháy, nổ… để đảm bảo
hoạt động kinh doanh thường xuyên, liên tục của tổ chức tín dụng.
Người điều hành các bộ phận, đơn vị nghiệp vụ, các cá nhân có liên quan


12
phải thường xuyên xem xét, đánh giá về tính hiệu lực và hiệu quả của hệ
thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ; mọi khiếm khuyết của hệ thống này phải
được báo cáo kịp thời với cấp quản lý trực tiếp; những khiếm khuyết lớn có
thể gây tổn thất hoặc nguy cơ rủi ro phải được báo cáo ngay cho Tổng giám
đốc (Giám đốc), Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát.
Tất cả các cá nhân, các bộ phận ở mọi cấp của tổ chức tín dụng phải
thường xuyên, liên tục kiểm tra và tự kiểm tra việc thực hiện các quy định,
quy trình nội bộ có liên quan và phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện
hoạt động nghiệp vụ của mình trước tổ chức tín dụng và pháp luật.
Lãnh đạo tại các đơn vị, bộ phận của tổ chức tín dụng phải báo cáo, đánh
giá về kết quả kiểm tra, kiểm sốt nội bộ tại đơn vị mình; đề xuất biện pháp xử lý
đối với những tồn tại, bất cập (nếu có) gửi lãnh đạo cấp quản lý trực tiếp theo
định kỳ hoặc đột xuất theo yêu cầu của lãnh đạo cấp quản lý trực tiếp.
1.1.4 Các mơ hình khn khổ Kiểm sốt nội bộ

a) Mơ hình SAS 55


SAS 55 (Statement on Auditing Standards No 55: Consideration of
Internal Control in a Financial Statement Audit) - chuẩn mực kiểm toán số 55
xem xét kiểm soát nội bộ trong kiểm toán báo cáo tài chính được ban hành bởi
Viện kế tốn viên CPA của Mỹ (The American Institute of Certified Public
Accountants (AICPA) vào năm 1988, đưa ra một khuôn khổ kiểm soát nội bộ.
Cấu trúc kiểm soát nội bộ của một tổ chức bao gồm các chính sách và thủ tục
được thiết lập nhằm đem lại sự bảo đảm hợp lý đối với việc đạt được các mục
tiêu cụ thể của tổ chức.
Một hệ thống kiểm soát nội bộ của một tổ chức gồm ba thành phần đó là
mơi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát.


13
Mơi trường kiểm sốt baogồm cả yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài,
thể hiện sự ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố khác nhau đến việc thiết lập,
tăng cường, hoặc điều chỉnh tính hiệu quả của các chính sách và thủ tục kiểm
sốt cụ thể. Mơi trường kiểm soát bao gồm các yếu tố: triết lý và phong cách
điều hành của nhà quản lý, cơ cấu tổ chức, hoạt động chức năng của hội đồng
quản trị và các ủy ban, các phương pháp thiết lập quyền hạn và trách nhiệm,
các phương pháp kiểm soát của ban quản lý đối với việc giám sát và theo dõi
kết quả hoạt động, các chính sách và các ảnh hưởng bên ngồi đối với hoạt
động của tổ chức.
Hệ thống thơng tin kế toán bao gồm: Hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống
sổ sách kế toán, hệ thống tài khoản và các báo cáo kế tốn. Hệ thống thơng tin kế
tốn có vai trị trung tâm kết nối các hệ thống khác (để cung cấp thơng tin về tình
hình mua hàng, bộ phận kế toán phải phối hợp với bộ phận lập kế hoạch mua
hàng, để cung cấp thông tin về tình hình tiêu thụ, bộ phận kế tốn phải phối hợp
với phòng kinh doanh hay bộ phận bán hàng, để cung cấp tình hình về lương, thì
bộ phận kế tốn phải phối hợp với phịng tổ chức…).


Thủ tục kiểm sốt:Là tồn bộ các chính sách, thủ tục được thực hiện
nhằm hỗ trợ nhà quản lý phát hiện và ngăn ngừa rủi ro, để đạt được mục tiêu
của đơn vị. Vì vậy, cần phải thiết kế và áp dụng nhiều thủ tục kiểm soát phù
hợp với đặc thù của đơn vị theo từng cấp độ và loại hình hoạt động.
Giám sát được thực hiện bởi 2 hình thức là giám sát thường xuyên hay
kiểm soát ở mức thấp (diễn ra ngay trong q trình hoạt động, thơng qua các
hoạt động quản lý và các thủ tục kiểm soát), giám sát định kỳ hay kiểm soát ở
mức cao thường được thực hiện thơng qua các nhà quản lý và bộ phận kiểm
tốn nội bộ, qua đó phát hiện những yếu kém trong hệ thống kiểm soát nội bộ
để đưa ra biện pháp cải thiện. Phạm vi và mức độ của giám sát định kỳ tuỳ


14
thuộc vào việc đánh giá rủi ro và tính hiệu quả của các thủ tục giám sát
thường xuyên.
Mặc dù chuẩn mực kiểm toán số 55 được ban hành với mục đích phục
vụ cho kiểm tốn viên trong q trình đánh giá tính hữu hiệu và hiệu quả của
hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính,
khn khổ kiểm sốt nội bộ với ba thành phần như trên có thể áp dụng cho
bất kỳ tổ chức nào.
b) Mơ hình COSO 2013
COSO là một khn khổ kiểm soát nội bộ được sử dụng rộng rãi và được
chấp nhận trong các sáng kiến quản trị doanh nghiệp đang phát triển ngày nay.
Nó cũng được tìm thấy nhiều trong các đánh giá về chuẩn mực Kiểm toán Số
70 (SAS 70).
Ủy ban bảo trợ các tổ chức của khuôn khổ Ủy ban Treadway (COSO) về
cơ bản xác định kiểm sốt nội bộ như là một q trình, được thực hiện bởi
một ban giám đốc của tổ chức, quản lý và nhân sự khác. Quy trình này được
thiết kế để cung cấp sự đảm bảo hợp lý về việc đạt được các mục tiêu về hiệu
quả và hiệu quả hoạt động, độ tin cậy của báo cáo tài chính và tuân thủ các

luật và quy định hiện hành.
1.

Kiểm soát nội bộ là một q trình. Nó là một phương tiện để kết thúc,

không phải là một kết thúc trong chính nó.
2.

Kiểm sốt nội bộ khơng chỉ đơn thuần là tài liệu hướng dẫn sử dụng

chính sách và các hình thức. Thay vào đó, nó được đưa vào bởi mọi người ở
mọi cấp độ của một tổ chức.
3.

Kiểm soát nội bộ chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý, chứ không

phải đảm bảo tuyệt đối, cho ban quản lý và hội đồng quản trị của một tổ chức.
4.

Kiểm soát nội bộ được hướng đến việc đạt được các mục tiêu trong

một hoặc nhiều danh mục riêng biệt nhưng chồng chéo.


15
Điều đáng chú ý về mối quan hệ với COSO và SAS 70 là khn khổ của
COSO để kiểm sốt nội bộ, bao gồm năm (5) chủ đề mở rộng sau đây:
1.

Mơi trường kiểm sốt


2.

Hoạt động kiểm sốt

3.

Đánh giá rủi ro

4.

Thơng tin và Truyền thơng

5.

Giám sát

Năm 1988, Viện Kế tốn Công chứng Mỹ (AICPA) đã ban hành SAS 55,
mô tả kiểm sốt nội bộ về ba thành phần chính: mơi trường kiểm soát, hệ
thống kế toán và các thủ tục kiểm sốt. Ngay sau đó, Ủy ban các tổ chức bảo
trợ (COSO) đã phát hành như sau: Kiểm soát nội bộ: Khung tích hợp, trong
đó kiểm sốt nội bộ được mơ tả như năm thành phần: mơi trường kiểm sốt,
hoạt động kiểm sốt, đánh giá rủi ro, thơng tin và truyền thơng và giám sát.
Do đó, vào năm 1995, AICPA đã thơng qua định nghĩa của COSO và đó là
năm thành phần kiểm soát nội bộ, ban hành SAS số 78 để bổ sung SAS số 55.
-

Mơi trường kiểm sốt: là tập hợp các chuẩn mực, các quy trình và các

cấu trúc thiết lập cơ sở cho sự vận hành của kiểm sốt nội bộ trong tổ chức.

Một mơi trường kiểm soát hữu hiệu cần đáp ứng 5 nguyên tắc sau:
-

Nguyên tắc 1: Đơn vị thể hiện sự cam kết về tính trung thực và các giá

trị đạo đức.
-

Nguyên tắc 2: Hội đồng quản trị thể hiện sự độc lập đối với người quản

lý và đảm nhiệm chức năng giám sát việc thiết kế và vận hành hệ thống kiểm
soát nội bộ tại đơn vị.
-

Nguyên tắc 3: Dưới sự giám sát của Hội đồng quản trị, nhà quản lý xây

dựng cơ cấu, các cấp bậc báo cáo, cũng như phân định trách nhiệm và quyền
hạn phù hợp cho việc thực hiện các mục tiêu của đơn vị.
- Nguyên tắc 4: Đơn vị thể hiện cam kết sử dụng nhân lực thông qua thu hút,

phát triển và giữ chân các cá nhân có năng lực phù hợp với mục tiêu của đơn vị.


16
-

Nguyên tắc thứ 5: Đơn vị chỉ rõ trách nhiệm giải trình của từng cá nhân

liên quan đến trách nhiệm kiểm soát của họ để đạt được mục tiêu được thiết lập.
-


Hoạt động kiểm sốt là tập hợp các chính sách và thủ tục nhằm đảm

bảo thực hiện các chỉ thị của nhà quản lý để giảm thiểu rủi ro đe dọa đến việc
đạt được mục tiêu của đơn vị. Hoạt động kiểm soát tồn tại ở mọi cấp độ tổ
chức trong đơn vị, ở các giai đoạn khác nhau của quy trình kinh doanh và bao
gồm cả các kiểm sốt đối với cơng nghệ.
Hoạt động kiểm sốt có thể bao gồm các hoạt động kiểm sốt thủ cơng
lẫn kiểm soát tự động như xét duyệt, xác minh, chỉnh hợp và phân tích rà sốt.
Phân chia trách nhiệm là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng tới việc lựa chọn và
xây dựng các hoạt động kiểm soát trong đơn vị. Khi việc phân chia trách
nhiệm khơng khả thi thì nhà quản lý sẽ đưa ra các hoạt động kiểm soát thay
thế phù hợp.
Các hoạt động kiểm soát liên quan tới 3 nguyên tắc của kiểm soát nội bộ
như sau:
-

Nguyên tắc 6: Đơn vị lựa chọn và xây dựng các hoạt động kiểm sốt để

giảm thiểu rủi ro xuống mức thấp có thể chấp nhận được.
-

Nguyên tắc 7: Đơn vị lựa chọn và xây dựng các hoạt động kiểm soát

chung đối với công nghệ nhằm hỗ trợ cho việc đạt được các mục tiêu của đơn vị.
-

Nguyên tắc 8: Đơn vị triển khai các hoạt động kiểm sốt thơng qua

chính sách và thủ tục kiểm soát.

-

Đánh giá rủi ro: mỗi đơn vị phải đối phó với hàng loạt rủi ro từ bên

trong lẫn bên ngoài. Rủi ro được định nghĩa là khả năng một sự kiện sẽ xảy ra
có thể tác động tiêu cực đến việc đạt được mục tiêu. Đánh giá rủi ro là q
trình nhận dạng và phân tích những rủi ro ảnh hưởng đến việc đạt được mục
tiêu, từ đó có thể quản trị được rủi ro.
-

Nguyên tắc 9: Đơn vị xác định mục tiêu một cách cụ thể, tạo điều kiện

cho việc nhận dạng và đánh giá các rủi ro liên quan đến mục tiêu.


17
-

Nguyên tắc 10: Đơn vị nhận dạng các rủi ro đe dọa mục tiêu của đơn vị

và phân tích rủi ro để quản trị các rủi ro này.
-Nguyên tắc 11: Đơn vị cân nhắc khả năng có gian lận khi đánh giá rủi ro
đe dọa đạt được mục tiêu.
-

Nguyên tắc 12: Đơn vị nhận dạng và đánh giá các thay đổi có thể ảnh

hưởng đáng kể đến hệ thống kiểm sốt nội bộ.
-


Thơng tin và truyền thơng: Thơng tin rất cần thiết cho việc thực thi

trách nhiệm kiểm soát trong đơn vị nhằm hỗ trợ cho việc đạt được mục tiêu
đã đề ra, Nhà quản lý thu thập, tạo lập và sử dụng thơng tin thích hợp và có
chất lượng từ các nguồn thơng tin bên trong lẫn bên ngồi đơn vị. Truyền
thông bên trong sẽ giúp truyền tải thông tin khắp cho tồn đơn vị. Truyền
thơng bên ngồi giúp truyền tải thơng tin thích hợp từ bên ngồi đơn vị đồng
thời cung cấp thông tin cho các đối tượng bên ngồi theo u cầu của họ.
Thơng tin và truyền thông liên quan đến 3 nguyên tắc sau đây:
-

Nguyên tắc 13: Đơn vị thu thập, tạo lập và sử dụng các thơng tin thích

hợp và có chất lượng nhằm hỗ trợ cho sự vận hành kiểm soát nội bộ.
-

Nguyên tắc 14: Đơn vị truyền thông trong nội bộ các thông tin cần thiết

nhằm hỗ trợ cho sự vận hành của kiểm sốt nội bộ.
-

Ngun tắc 15: Đơn vị truyền thơng với bên ngồi các vấn đề có tác

động tới việc vận hành của kiểm soát nội bộ.
- Giám sát: Hệ thống kiểm soát nội bộ cần được giám sát để đảm bảo hệ
thống kiểm soát nội bộ của đơn vị đang hoạt động hữu hiệu và hiệu quả. Giám
sát là q trình đánh giá chất lượng kiểm sốt nội bộ theo thời gian.
Giám sát hữu hiệu cần đáp ứng hai nguyên tắc:
- Nguyên tắc 16: Đơn vị lựa chọn, triển khai và thực hiện việc giám sát
thường xuyên và định kỳ để đảm bảo rằng các bộ phận của kiểm soát nội bộ

hiện hữu và hoạt động hữu hiệu.


18
-

Nguyên tắc 17: Đơn vị đánh giá và truyền đạt các khiếm khuyết về

kiểm soát nội bộ kịp thời cho các cá nhân có trách nhiệm để họ thực hiện các
hành động sửa chữa, bao gồm các nhà quản lý cấp cao và Hội đồng quản trị
khi cần thiết.
c) Mô hình Basel
Hệ thống lý luận về KSNB trong ngân hàng theo báo cáo của ủy ban
Basel bao gồm 2 phần:
Phần 1: Mục tiêu và vai trò của các nguyên tắc KSNB ngân hàng:
Theo ủy ban Basel: “KSNB là quá trình được thực hiện bởi Hội đồng quản
trị, ban điều hành và tồn thể nhân viên. Đó khơng chỉ là một thủ tục hoặc một
chính sách được thực hiện tại một thời điểm nào đó, mà cịn tiếp diễn ở tất cả các
cấp trong ngân hàng. Hội đồng quản trị và Ban điều hành thiết lập mơi trường
văn hóa tạo thuận lợi cho quá trình KSNB được hiệu quả và việc theo dõi sự hiệu
quả đó được diễn ra liên tục. Mỗi cá nhân trong một tổ chức phải tham gia vào
q trình đó”. Các mục tiêu chủ yếu của KSNB bao gồm:
-

Mục tiêu hoạt động: những hoạt động có hữu hiệu và hiệu quả. Mục

tiêu hoạt động gắn liền với sự hữu hiệu và hiệu quả của các ngân hàng trong
việc sử dụng tài sản và những nguồn lực khác để ngân hàng không bị lỗ. Mục
tiêu này cũng đảm bảo rằng nhân sự trong ngân hàng làm việc để đạt được sự
hiệu quả và tiết kiệm chi phí.

-

Mục tiêu thông tin: sự đáng tin cậy, đầy đủ và kịp thời của các thơng tin

quản trị và tài chính. Mục tiêu thơng tin đảm bảo rằng những báo cáo có liên
quan cho việc ra quyết định trong ngân hàng luôn được cung cấp kịp thời và
đáng tin cậy. Ngoài ra, cổ đông, những bộ phận giám sát và các đối tác bên ngoài
phải được cung cấp đầy đủ những báo cáo định kỳ, báo cáo tài chính đáng tin
cậy. Thơng tin cung cấp cho các nhà quản lý, HĐQT, cổ đơng và những bộ phận
giám sát phải hiệu quả, chính xác để các đối tượng đó làm căn cứ ra quyết định.


19
-

Mục tiêu tuân thủ: tuân thủ các quy định và luật hiện hành. Mục tiêu

tuân thủ đảm bảo rằng mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng phải tuân
theo các quy định của pháp luật, yêu cầu của NHNN, các quy đinh, quy chế
và chính sách, thủ tục của ngân hàng. Tất cả các điều này nhằm để bảo vệ
quyền lợi và danh tiếng của các ngân hàng.
Phần 2: Các nguyên tắc KSNB ngân hàng
Ủy ban Basel xây dựng 13 nguyên tắc thiết kế và đánh giá HTKSNB
trong ngân hàng. Về cơ bản, các nguyên tắc này giống như các yếu tố cấu
thành HTKSNB theo báo cáo của tổ chức COSO, bao gồm:
-

Giám sát điều hành và văn hóa kiểm sốt :

Ngun tắc 1: HĐQT có trách nhiệm xét duyệt và kiểm tra định kỳ toàn

bộ chiến lược kinh doanh và những chính sách quan trọng của ngân hàng,
hiểu rõ những rủi ro trọng yếu của ngân hàng, xây dựng những mức độ có thể
chấp nhận được đối với các rủi ro này và đảm bảo rằng ban điều hành đã thực
hiện các công việc cần thiết để xác định, đo lường, theo dõi và kiểm tra những
rủi ro này; xét duyệt cơ cấu tổ chức; đảm bảo rằng ban điều hành đang giám
sát sự hiệu quả của HTKSNB. HĐQT chịu trách nhiệm sau cùng về việc thiết
lập và duy trì một HTKSNB đầy đủ và hiệu quả.
Nguyên tắc 2: Ban điều hành chịu trách nhiệm thực hiện những chiến
lược và chính sách mà HĐQT đã phê duyệt; nâng cao việc xác định, đo lường,
theo dõi và kiểm soát những rủi ro phát sinh trong hoạt động của ngân hàng;
duy trì một cơ cấu tổ chức trong đó có sự phân công rõ ràng về trách nhiệm,
quyền hạn và các mối quan hệ giữa các bộ phận; đảm bảo rằng đã thực hiện
nhiệm vụ một cách hiệu quả; thiết lập những chính sách KSNB thích hợp;
kiểm tra sự đầy đủ và hiệu quả của HTKSNB.
Nguyên tắc 3: HĐQT, ban điều hành chịu trách nhiệm nâng cao đạo đức
và tính liêm chính, thiết lập văn hóa và làm cho tất cả nhân viên thấy rõ tầm


20
quan trọng của KSNB. Tất cả nhân viên ngân hàng cần hiểu rõ vai trị của
mình trong q trình KSNB và thực sự tham gia vào q trình đó.
-

Nhận biết và đánh giá rủi ro :

Nguyên tắc 4: Một HTKSNB hiệu quả đòi hỏi rằng phải nhận biết và
đánh giá liên tục những rủi ro trọng yếu có thể ảnh hưởng đến việc hoàn thành
kế hoạch của ngân hàng. Sự đánh giá này phải bao trùm tất cả các rủi ro hoạt
động của ngân hàng (rủi ro tín dụng, rủi ro chính sách quốc gia, rủi ro thị
trường, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro vận hành, rủi ro pháp lý và rủi

ro thương hiệu). KSNB cần xem lại những rủi ro chưa được kiểm soát trước
nay cũng như mới phát sinh.
-

Hoạt động kiểm soát và sự phân cơng, phân nhiệm:

Ngun tắc 5: Hoạt động kiểm sốt phải là một công việc quan trọng
trong các hoạt động hàng ngày của ngân hàng. Một HTKSNB hiệu quả đòi
hỏi thiết lập một cơ cấu kiểm sốt thích hợp, trong đó sự kiểm sốt được xác
định ở mỗi mức độ hoạt động. Những điều này bao gồm kiểm tra ở mức độ
cao nhất, kiểm tra hoạt động đối với các bộ phận, phòng ban khác nhau, kiểm
kê, kiểm tra sự tuân thủ những quy định ban hành và theo dõi sự không tuân
thủ; một hệ thống đã được phê duyệt; một hệ thống kiểm tra và đối chiếu.
Nguyên tắc 6: Một HTKSNB hiệu quả địi hỏi phân cơng hợp lý, các
công việc của nhân viên không mâu thuẫn với nhau. Những xung đột về
quyền lợi phải được nhận biết, giảm thiểu tối đa và tùy thuộc vào sự kiểm soát
độc lập và thận trọng.
-

Thông tin và truyền thông

Nguyên tắc 7: Một HTKSNB hiệu quả địi hỏi có dữ liệu đầy đủ và tổng
hợp về sự tuân thủ, về tình hình hoạt động, tình hình tài chính, cũng như những
thơng tin về thị trường bên ngồi có thể ảnh hưởng đến việc ra quyết định. Thơng
tin đáng tin cậy,kịp thời, có thể sử dụng được và trình bày theo biểu mẫu.


21
Nguyên tắc 8: Một HTKSNB hiệu quả đòi hỏi một hệ thống thơng tin
đáng tin cậy, có thể đáp ứng cho hầu hết các hoạt động chủ yếu của ngân

hàng. Hệ thống này phải lưu trữ và sử dụng dữ liệu bằng máy tính, an tồn,
được theo dõi độc lập và được kiểm tra đột xuất, đầy đủ.
Nguyên tắc 9: Một HTKSNB hiệu quả địi hỏi kênh trao đổi thơng tin
hiệu quả để đảm bảo bằng tất cả nhân viên đã hiểu đầy đủ và tuân thủ triệt để
các chính sách và các thủ tục có liên quan đến trách nhiệm và nhiệm vụ của
họ và đảm bảo rằng những thông tin cần thiết khác cũng được phổ biến đến
các nhân viên khác có liên quan.
-

Giám sát và sửa chữa những sai sót:

Ngun tắc 10: Hiệu quả tồn diện của HTKSNB là việc theo dõi, kiểm
tra phải liên tục. Việc theo dõi những rủi ro trọng yếu phải là công việc hàng
ngày của ngân hàng, cũng như là việc đánh giá định kỳ của bộ phận kinh
doanh và kiểm toán nội bộ.
Ngun tắc 11: Phải có kiểm tốn nội bộ toàn diện, hiệu quả và được
thực hiện bởi những người có năng lực, đào tạo thích hợp để có thể làm việc
độc lập. Cơng việc kiểm tốn nội bộ, cũng là việc theo dõi HTKSNB, phải
được báo cáo trực tiếp cho HĐQT hoặc Ban kiểm soát và Ban điều hành.
Nguyên tắc 12: Những sai sót của HTKSNB được phát hiện bởi bộ
phận kinh doanh, kiểm toán nội bộ, hoặc các nhân viên khác thì phải được
báo cáo kịp thời cho cấp quản lý thích hợp và ghi nhận ngay lập tức. Những
sai sót trọng yếu của KSNB phải được báo cáo cho Ban điều hành và HĐQT.
-

Đánh giá HTKSNB thông qua cơ quan thanh tra ngân hàng

Nguyên tắc 13: Cán bộ thanh tra ngân hàng đòi hỏi tất các các ngân hàng
cần có HTKSNB hiệu quả, phù hợp với bản chất, sự phức tạp, rủi ro vốn có hoạt
động ngân hàng và thích nghi được với sự thay đổi mơi trường, điều kiện của



×